Đề Xuất 2/2023 # Bệnh Học Ngoại Khoa Ung Thư Thực Quản # Top 5 Like | Growcaohonthongminhhon.com

Đề Xuất 2/2023 # Bệnh Học Ngoại Khoa Ung Thư Thực Quản # Top 5 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bệnh Học Ngoại Khoa Ung Thư Thực Quản mới nhất trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ungthư thực quản là loại ung thư hay gặpvà nằm trong danh sách 10 loại ung thư hàng đầu ở Việt Nam, bệnh tiến triển ban đầu rấtthầm lặng. Tần suất mắc bệnh thay đổi tùytheo vùng địa dư, có thể doyếu tố môitrường và dinh dưỡng. Hiện nay, mặc dù có nhiềutiến bộ trong ngoại khoa và cácphương pháp điều trị phối hợp nhưng tỷ lệ bệnh nhân sống sau 5 năm chỉ dưới 20%.

Các yếu tố thuận lợi

Các bệnh lý ở thực quản: Trào ngược dạ dày-thực quản, viêm thực quản mạn tính do trào ngược, loét Barette thực quản, phình thực quản, sẹo thực quản do bỏng hóa chất…đều có thể dẫn đến ung thư thực quản.

Sơ lược giải phẫu

Cách phân chia thực quản

Về mặt phẫu thuật thực quản được chia làm 3 đoạn:

1/3 dưới: Bắt đầu từ bờ dưới tĩnh mạch phổi cho tới tâm vị (cách cung răngtrên 40cm), đoạn này dài chừng 7cm.

Giải phẫu bệnh

Cũng như ở mọi đoạn khác của đường tiêu hóa, về mặt đại thể của ung thư thực quản có những thể sau:

Thể sùi: Một vùng niêm mạc thực quản dài 1-2cm, có khi 7-8cm sùi lên những nụ trông giống như hình hoa súp-lơ không đều, cứng, trên bề mặt có những nụ sùi có những chỗhoại tử, mủn nát, rớm máu, có khi tạo thành những ổ loét.

Thể thâm nhiễm: Ung thư thể thâm nhiễm chủ yếu phát triển ở lớp niêm mạc xâm lấn vào lớp dưới niêm mạc rồi vào lớp cơ, phát triển theo hình vòngnhẫn, do đó làm ống thực quản bị chít hẹp.

Thể loét: Ung thư thể loét là hay gặp nhất, kích thước có thể lớn nhỏ khác nhau, có bờ rõ, chung quanh ổ loét thành thực quản bị nhiễm cứng. Có loétchiếm hết chu vi của lòng thực quản.

Ba hình thái trên ít gặp đơn độc mà thường kết hợp với nhau để tạo thành các thể trung gian. Ngoài ra kết hợp với khối u thường thấy giãn thực quản bên trên khối u kèm hiện tượng viêm nhiễm.

Phần lớn là ung thư biểu bì hay còn gọi là ung thư biểu mô tế bào gai, chiếm90%, thường là tế bàobiệt hóa có sừng hoặc không có sừng. Ung thư biểu mô dạng tuyến chỉ gặp khoảng 5-10%, ở phầndưới của thực quản và tâm vị. Loại ung thư này khó phânbiệtđược là từ thực quản hay từ dạ dày phát triển ra, hay gặp ở thực quản Barrett.

Sarcoma thực quản rất hiếm gặp, có tỷ lệ khoảng 0,1-1,5% trong tất cả các khối u củathực quản. Loại này thường định vị ở đoạn thực quản ngực hoặc cổ.

Ung thư 1/3giữa nằm trong phần hẹp của trung thất nên dễ xâm lấn sang các tổ chức chung quanh như khí phế quản, quaiđộng mạch chủ, màng phổi, dây thần kinh quặt ngược, ốngngực. Ungthư 1/3dưới thực quản nằm ở vùng rộng của trung thất, có mô mỡ lỏng lẻobao bọc, vì vậy chậm xâm lấn ra chung quanh; ở đây khối u xâm nhậpvào cộtsống, màng tim, màng phổi phải và có thể vào cơ hoành, cộtsống, động mạch chủdưới.

Biểu hiện lâm sàng

Triệu chứng cơ năng

Nuốt nghẹn

Lúc bệnh mới bắt đầu, tổ chức ung thư còn khu trú, biểu hiện bởinhững rốiloạn khi nuốt, nhất là với thức ăn đặc. Nghẹn có khi tăng lên, có khi giảm xuống đôi chút nhưng baogiờ cũng có, vì ngoài thương tổn thực thể do khối u, bệnhthường cókèm theo yếutố viêm nhiễm, phù nề tại chỗ. Sau khoảng 2 tháng,triệu chứng nuốt nghẹn sẽ tăng lêndần và kéo dài, mới đầu chỉthấy nuốt nghẹn với thức ăn đặc, về sau nghẹn cả với thức ăn lỏng như cháo, nước.

Nôn Tiết nhiều nước bọt

Triệu chứng thực thể

Khi bệnh nhân đến tương đối sớm thì thăm khám thực thể thường không phát hiện gì. Nhưng khi đến muộn, lúc đã có di căn thì có thể sờ thấy hạch thượng đòn, hạch vùng trên rốn, gan lổn nhổn, di căn xương…

Triệu chứng toàn thân

Cận lâm sàng

Trên hình ảnh X quang chiếu hoặc chụp, cần phảixác định rõ vị trí của thương tổn, mức độ phát triển của khối u theo chiều dọc của thực quản, tình trạng của thực quản trên chỗ có tổn thương, các tổ chức chung quanh thực quản.

Chụp thực quản có baryt ở các tư thế thẳng, nghiêng, chếch lấy toàn bộ thực quản, ta có thể thấy những hình ảnh sau:

Một hình khuyết có đường bờ nham nhở, ngoằn ngoèo, thấy trong ung thư thể sùi.

Lòng thực quản ở một đoạn nào đó hẹp nhỏ lại, cứng gặptrong ung thư thể thâm nhiễm.

Một ổ đọng thuốc hình tròn, hình bầu dục hay hình thấu kính tương ứng với ung thư thể loét.

Các biểu hiện trên là biểu hiện của các thương tổn lớn khi bệnh nhân đến trễ.Trong giai đoạn sớm của bệnh, khi thương tổn còn nhỏ, với phương pháp chụp X quang thông thường không phát hiện được, lúc đó cần phải dùng các phương pháp X quang khác.

Chụp đối quang kép: Cho thấy hình dạng các lớp niêm mạc bị thay đổi.

Đây là triệu chứng sớm nhất của ung thư thực quản.

Quay phim X quang cho thấy một đoạn thực quản khi co bóp không còn mềm mại bình thường.

Tóm lại, X quang giúp chẩn đoán xác định bệnh, chẩn đoán vị trí ung thư và chẩn đoán độ lớn của thương tổn. Bên cạnh chụp thực quản, người ta còn chụp phim phổithẳng, nghiêng để xác định tình trạng nhu mô phổi, tình trạng màng phổi và bóng tim.

Nội soi và sinh thiết

được vị trí khối u. Những thương tổn ở giai

Siêu âm nội soi

Các xét nghiệm cao cấp khác

Hiện nay, tùy theo điều kiện ở một số nơi người ta sửdụng một số xét nghiệm cao cấp như CT scan ngực, CT scan bụng hay thậm chí PET-scan đểlượng giá mức độ lan rộng của khối ung thư, hạch lympho và các nốt di căn ởgan, cung mạch vành vị và để xem bệnh nhân cònkhả năngphẫuthuật điều trị triệt để không.

Chẩn đoán xác định

Trong những năm gần đây, mặc dù có nhiều tiến bộ về mặt kỹ thuật thăm dò nhưng tỷ lệ ung thư thực quản được phát hiện sớm không nhiều (10%) vì khó thấythương tổn sớm của ung thư thực quản trên phim chụp thực quản.

Chẩn đoán ung thư ở giai đoạn muộn thường dễ dàng vì bệnh nhân đến viện với cảmgiác nuốt vướng hay đã có nghẹn, có khibị nghẹn đã nhiều tháng. Cótrường hợp vào viện đã hoàn toàn nghẹn không thể ăn uống được, ngay cả với thức ăn lỏng cũng không nuốt được. Thường xuyên ứ đọng nước bọt, đờm dãi, hơithở hôi…Tình trạng toàn thân xấu, gầy sút nhiều, có khi chỉcònda bọc xương.

Tùy theo giai đoạn có thể kết hợp với X quang, nội soi thực quản, sinh thiết,siêu âm nội soi để chẩn đoán.

Chẩn đoán phân biệt

Trong giai đoạn muộn của ung thư thực quản, chẩn đoán dễ, nhưng khi đến sớm cần chẩnđoán phân biệt với các bệnh sau:

Co thắt tâm vị là bệnh cũng thường gặp, nhưng tiến triển bệnh khá dài và không thường xuyên khó nuốt như trong ung thư thực quản.

Túithừa thực quản: Phát triển chậm, không có gầy sút cân, trên X quang có chuẩn bị thấy thành thực quản lồi.

Phân chia giai đoạn trong ung thư thực quản

Vấn đề đặtra đầu tiên đối với một bệnh nhân được chẩn đoán là ung thư thực quản đó là bệnhnhân có thểđiều trị phẫu thuậttriệtđể, điềutrị phẫu thuật tạm thời hay chỉ điều trị triệu chứng không phẫu thuật. Đây là một vấn đềthực sựkhó khăn bởivìđánhgiágiaiđoạn củaung thư thực quản trước phẫu thuật ít chính xác. Sau phẫu thuật ta có thể phân chia giaiđoạntheo TNM được AJCC và UICC đưa ra năm 1988.

Phẫu thuật triệt để

Phẫu thuật triệt để được thực hiện với cắt thực quản mang theo khối u và táilập lưu thông tiêu hóa. Phẫu thuật có thể qua đường mổ bụng-ngực, bụng đơn thuần, bụng-ngực-cổ hay quan đường nội soi bụng-ngực. Lưu thông tiêu hóa được tái lập bằng vạt dạ dày cuộn ống, quai ruột non hay đại tràng.

Tóm lại, hiện nay đối với ung thư thực quản có 5 loại phẫu thuật và mỗi loại có đặc điểm riêng:

Phẫu thuật Sweet (mở ngực-bụng). Đây là đường mổ tốt cho thương tổn 1/3 dưới thực quản. Nhược điểm là không bóc tách và nạo hạch lên cao được.

Cắt thực quản không mở ngực, chỉ mở bụng, cổ, tách thực quản (phương pháp Orringer). Nhược điểm là không lấy rộng môquanh thực quản, chỉ áp dụng cho những trường hợp u nhỏ, mới khu trú ở 1/3 trên và dưới. Ưu điểm là ít đau sau mổ.

Cắt thực quản qua nội soi lồng ngực: Hiện nay được áp dụng ngày càng nhiều.

Phẫu thuật tạm thời

Đặt ống nong trong lòng thực quản: Ống này cho phép nuôi dưỡng bệnh nhân bằng các chất lỏng và các thức ăn đặc đã được nghiền nhỏ.

Phẫu thuật bắc cầu (Pontage): Trong phẫu thuật này, thương tổn được giữ nguyên. Dùng một đoạn ống tiêu hóa (một quai ruột non, một đoạn) cắt hai đầu, giữ nguyên mạc treo, bắt cầu từ thực quản cổ tới dạ dày. Đoạn ghép này nằm trước hoặc sau xương ức. Phẫu thuật không cần mở lồngngực.

Tuy nhiên, xạ trị phối hợp chưa cho thấy hiệu quả trên kéo dài thời gian sống thêm.

Bệnh Học Ngoại Khoa Ung Thư Dạ Dày

Ungthư dạ dày là một trong những ung thư ống tiêu hóa thường gặp, trong thực tế tiên lượng vẫn không thay đổi nhiều từ nhiều năm nay. Thời gian sống đến 5 năm củaung thư dạ dày khoảng 15%và thời gian sống 5 năm sau phẫu thuật triệt căn khoảng 30%.Kết quả nàylà do chẩn đoánmuộn mặc dù có nội soi chẩn đoán và do ít tiến bộ trong điều trị ngoại khoa.

Ung thư dạ dày phân bố không đồng đều ở mọi vùng trên thế giới.

Chiếm tỷ lệ cao ở Nhật Bản và Nam Mỹ. Tỷ lệ thấp ở Bắc Mỹ và úc.

Ở Pháp, ung thư dạ dày đứng hàng thứ tư sau ung thư đạitràng 14%, ung thư vú 12%, ung thư phổi 11%.

Ungthư dạ dày hiếm gặp < 50 tuổi, tần suất này tăng lên theo tuổi.

Tại HàNội, theo thống kê thìtỷ lệ ung thư dạ dày cùng ung thư phổi chiếm 30% các loại ung thư. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, ung thư dạ dày chiếm hàng thứ batrong các loại ung thư ở nam giới và đứng hàng thứ tư trong cácloại ung thư ở nữgiới.

Giải phẫu bệnh

Có 3 loại theo Borrmann và Kajitani

Khu trú: Dạng loét hoặc loét sùi.

Thể trung gian.

Vị trí

Gặp nhiều ở vùng hang, môn vị 60%

Kích thước của khối u cũng có giá trị tốt cho việc tiên lượng. U <2cm: Thời gian sống đến 5 năm khoảng 80%.

Xâm lấn các chuỗi hạch xa là một yếu tố xấu cho tiên lượng của bệnh.

Về tế bào học

Phân loại của Lauren1965: Loại biệt hóa tốt (ung thư biểu mô tuyến thể ruột- Adenocarcinoma týp intestinal) và loại không biệt hóa (týp diffuse).

Khoảng 50% ung thư dạ dày là loại biệt hoá tốt, 30% loại không biệt hoá và 15% không xác định được.

Tiên lượng tốt đối với ung thư loại biệt hoá tốt.

Những bệnh có nguy cơ cao

Loét dạ dày, polypdạ dày, thiếu máu Biermer.

Bệnh Ménetrier, tiền sử cắt 2/3 dạ dày hơn 15 năm.

Viêm dạ dày xơ teo, mạn tính.

Phân chia các nhóm hạch dạ dày

Phân chia làm 3 loại (Hautefeuille,1982).

N0=Không có sựxâm lấn hạch.

HạchN + 0=Xâm lấn hạch quanh khối u.

Phân loại của các tác giả Nhật Bản: Chia 16 nhóm hạch: N1 nhóm hạch gần, N2 nhóm hạch xa, N3 di căn xa. Thương tổn thay đổi tùy theo vị trí của ung thư dạ dày.

Triệu chứng

Chán ăn kèm sút cân là dấu hiệu hay gặp nhất của ung thư dạ dày,gặp trong 95% các trường hợp được chẩn đoán ung thư dạ dày.

Hội chứng hẹp môn vị.

Nôn ra máu đại thể gặp < 5% các trường hợp, mặc dù thiếu máu và có máu ẩn trong phân rấthay gặp. Thiếu máu dạng nhược sắc.

Trướng bụng là dấu hiệu rấthiếm gặp nhưng có thể sờ thấy khối u trong 50%các trường hợp. Có thể có gan lớn, dấu hiệu nàygợi ý di căn gan. Di căn phúc mạc có thể gây bụng bángnhiều, hoặc di căn buồng trứng (u Krukenberg) hoặc di căn túi cùng Douglas. Các biểu hiện muộn này có thể gây đau ở tiểukhung và táobón. Có thể sờ thấy hạch ở hố thượng đòn trái, đây là những dấu hiệu lâm sàng kinh điển chứng tỏ ung thư dạ dày đang tiến triển.

Bệnh nhân có thể không có triệu chứng cho đến khi u xâm lấn vào toàn bộ thành dạ dày và các cơ quan kế cận hoặc di căn rộng.

Cận lâm sàng

Nội soi

Nộisoi cho phép xác định chẩn đoán về mặt đại thể (thể loét, thể sùi hay thể thâm nhiễm), vị trí, hình ảnh tổn thương. Nội soi còn giúp sinh thiết tổn thương để xác định tính chấtmô bệnh học. Hạn chế của nội soi: Khi tổn thương ở đáyvị, tổn thương ung thư nông dạng viêm xước niêm mạc hoặc ung thư ở nhiều vị trí. Trong trường hợp ung thư dạng loét cần phải sinhthiết nhiều vị trí, tối thiểu 15 vị trí ở bờ ổ loét. Trong trường hợp ung thư thâmnhiễm hoặc thể teo đét hoặc sinh thiết quá nông thì kết quả có thể âm tính.

Nội soi còn giúp sàng lọc ung thư dạ dày trong cộngđồng. Thường tiến hành nội soi ở những bệnh nhân có nguy cơ cao, trên 40 tuổi.

Chụp thực quản – dạ dày – tá tràng cản quang (TOGD) Chụp cắtlớp vi tính (CT scan)

Siêu âm qua nội soi

Kỹ thuật này cung cấp thông tin chính xác về độ sâu của sự xâm lấn qua thành dạ dày. Tuy nhiên kỹthuật này đòi hỏi trang thiết bị đắt tiền và người thực hiện có chuyên môn cao.

Soi ổ bụng ngàycàngđược sửdụng nhiều hơn và được xemnhư là công cụ giúp phân độ ung thư đồng thời xác định sự hiện diện của di căn nhỏ trong ổ phúc mạc hoặc ở gan mà không thể phát hiện được trên CT scan.

Các chất chỉ điểm ung thư

Cho đến nay, có nhiều chất chỉ điểm hay còn được gọi là chất đánh dấu ung thư khác nhau được sử dụng trong chẩn đoán, theo dõi và tiên lượng các u ác tính ở bụng và ở ống tiêu hoá.

Đối với ung thư dạ dày, có một số chất được sử dụng như CEA hay CA19- 9, tuy nhiên, giá trị của chúng trong chẩn đoán còn rất thấp. Vì vậy, các chất đánh dấu ung thư này được sử dụng chủ yếu trong theo dõitái phát tại chỗ hay di căn xa sau phẫu thuật ung thư dạ dày.

Chẩn đoán xác định

Chẩn đoán chủ yếu dựa vào cận lâm sàng,trong đó quan trọng nhất là nội soi dạ dày bằng ống soi mềm. Chụp dạ dày cản quang chỉ có tác dụng hỗ trợ.

Chẩn đoán giai đoạn

Phân chia giai đoạn theo TNM T: Khối u (Tumor)

Tis: U giới hạn ở niêm mạc, không đi qua màng đáy.

T1: U giới hạn ở lớp niêm mạc hay dưới niêm mạc.

T2: U xâm lấn vào lớp cơ niêm và có thể lan rộng nhưng khôngvượt quá lớp thanh mạc.

T3: U xuyên qua lớp thanh mạc nhưng không xâm lấn vào cơ quan kế cận. T4: U xâm lấn vào các cơ quan kế cận.

N: Hạch (Nodes)

N0: Không có xâm lấn hạch bạch huyếtvùng.

N1:Xâm lấn hạch bạch huyết quanh dạ dày trong vòng 3cm quanh khối u nguyên phát và chạy dọc theo bờ cong nhỏ hoặc bờ cong lớn.

N2:Xâm lấnhạch bạch huyếtvùng trên 3cm so với khối u nguyên phát, kể cả những hạch nằm dọc theo động mạch vị trái, động mạch lách, động mạch thân tạng và động mạch gan chung.

N3:Xâm lấn các hạch bạch huyết khác trong ổ bụng như hạch cạnh động mạch chủ, hạch rốn gan tá tràng, hạch sau tuỵ và các hạch mạc treo.

M: Di căn

M0: Không có di căn xa.

M1: Có di căn xa.

U xâm lấn trực tiếp vào các cấu trúc kế cận. Giaiđoạn 4: Di căn xa.

Can thiệp ngoại khoa là chủ yếu.

Tỷ lệ điều trị triệt căn khoảng 50%.

Điều trị ung thư dạ dày cần thiết phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa phẫu thuật viên với nhà giải phẫu bệnh.

Cho dù phân loại nào đi nữa thì mục đích điều trị ung thư dạ dày là điều trị triệt để cắt từ 2-5 cm trên khối u tùy theo kích thước khối u, lấy tế bào làm sinh thiết tức thời trong mổ, cắt bỏ mạc nốilớn.

Cắt dạ dày bán phần hay toàn bộ

Cắt dạ dày bán phần hoặc cắt 3/4 được áp dụng cho những ung thư dạ dày ở vùng hang vị hay 1/3 phần xa của dạ dày (60% trường hợp).

Cắt dạ dày toàn bộ theo yêu cầu được áp dụng cho những ung thư dạ dày ở 1/3 giữa hoặc 1/3 trên hoặc những ung thư lớn xâm lấn toàn bộ dạ dày, sau đó tái lập lưu thông tiêu hóa bằng miệng nối Y.

Cắtdạ dày toàn bộ theo nguyên tắc cho những ung thư vùng hang vị dạng xâm lấn hoặc lan tỏa, ung thư dạ dày nhiều chỗ hoặc ung thư tái phát ở mỏm cắt dạ dày còn lại.

Nạo lấy hạch bị xâm lấn

Đây là một kỹ thuật bắt buộc, có giá trị đánh giá tiên lượng của bệnh.

Kết quả: Tử vongphẫu thuật từ 20% theo các phẫu thuật viên Nhật Bản và10%theo các phẫuthuật viên phương Tây. Kết quả phụ thuộc vào cách phẫu thuật, vị trí, tính chất xâm lấn của ung thư.

Các phương pháp điều trị khác

Hóa trị liệu, áp dụng cho những bệnh nhân không có chỉ định mổ hoặc mổ mà không cắt dạ dày được. Hiện nay người ta sử dụng đa hóa trị liệu.

Phác đồ F.A.M (5FU +Adriamycin +Mytomicin), hoặcFAMe(5Fu + Adriamycin + Methyl CCNV) đôi lúc cũng không cải thiệnđược tiên lượng.

5FU (tiêm tĩnh mạch): 600mg/m2 cơ thể/ngày(vào cácngày1-8-29-36).

Adriamycin (tiêm tĩnh mạch): 30mg/m2/ngày (1-29ngày).

Mytomicin (tiêm tĩnh mạch): 10mg/m2/ngày 1. Chu kỳ 56 ngày.

Hóa trị liệu hỗ trợ sau phẫu thuật tỏ ra cũng cần thiết, tuy nhiên vấn đề cải thiện tiên lượng cũng chưa rõràng.

Có thể áp dụng khi ung thư tái phát, ung thư dạ dày di căn phổi, hạch thượng đòn.

Giải Phẫu Bệnh Học: Bệnh Lý Thực Quản

Giải phẫu bệnh học: Bệnh lý thực quản

Thực quản là 1 ống cơ nối giữa vùng hầu và tâm vị của dạ dày, dài 10 cm ở trẻ sơ sinh và 23 đến 25 cm ở người lớn. Ở đầu trên của thực quản, cơ nhẫn hầu tạo thành cơ thắt thực quản trên; đoạn dưới của thực quản ngang với cơ hoành, dài khoảng 2-4 cm, tạo thành cơ thắt thực quản dưới. Thành thực quản gồm 4 lớp: niêm mạc, dưới niêm mạc, cơ và áo ngoài. Lớp niêm mạc được lót bởi biểu mô lát tầng không sừng hoá; lớp áo ngoài không tạo ra được 1 lớp thanh mạc thực sự như trong phần còn lại của ống tiêu hoá, chính vì vậy, các tổn thương nhiễm khuẩn và ung thư của thực quản dễ lan rộng vào trung thất sau, đến các tạng khác trong lồng ngực. Thức ăn nuốt vào được đưa xuống dạ dày nhờ vào sự phối hợp nhịp nhàng giữa các nhu động thực quản và hoạt động đóng mở của cơ thắt thực quản dưới.

XƯỚC THỰC QUẢN (lacerations) :

Thường gặp ở người nghiện rượu, tình trạng nôn mửa quá mức sau uống rượu có thể gây ra các vết xước dọc tại chỗ nối thực quản- dạ dày, còn gọi là vết xước Mallory – Weiss, có chiều dài thay đổi từ vài mm đến vài cm. Vết xước có thể chỉ nông ở lớp niêm mạc hoặc sâu tới mức xuyên thấu thành thực quản. Về mặt vi thể, có hiện tượng xuất huyết tại bờ vết xước, thấm nhập tế bào viêm; diễn tiến nói chung nhẹ nhàng, lượng máu ói ra không nhiều, ít khi phải can thiệp ngoại khoa; các vết xước sẽ lành và không để lại di chứng (Hình 8).

Hình: Vết xước thực quản (mũi tên)

TRƯỚNG NỞ TĨNH MẠCH THỰC QUẢN (varices):

Là hậu quả của tình trạng tăng áp lực tĩnh mạch cửa do xơ gan (chủ yếu là xơ gan rượu); máu từ tĩnh mạch cửa phải đi vòng theo các nhánh tĩnh mạch bàng hệ, nằm trong lớp niêm mạc và dưới niêm của đoạn dưới thực quản để trở về tim, kết quả là các tĩnh mạch này sẽ bị trướng nở dần do sự gia tăng áp lực máu trong lòng mạch.

Các tĩnh mạch trướng nở chạy ngoằn ngoèo, tập trung chủ yếu trong lớp dưới niêm mạc của đoạn 1/3 dưới thực quản; lớp niêm mạc bị đẩy nhô vào lòng thực quản nên dễ bị viêm loét, có thể làm vỡ tĩnh mạch thực quản gây ói máu ồ ạt; đây cũng là nguyên nhân gây tử vong thường gặp ở các bệnh nhân xơ gan. (Hình 9)

Hình: Các tĩnh mạch trướng nở ngoằn ngoèo (mũi tên, A); Các tĩnh mạch trong lớp dưới niêm mạc giãn rộng chứa đầy hồng cầu (B)

VIÊM THỰC QUẢN (esophagitis):

Viêm thực quản là một bệnh lý rất thường gặp ở người lớn nhưng ít thấy ở trẻ em. Viêm thực quản có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau:

Trào ngược dịch vị lên thực quản: là nguyên nhân hàng đầu, dịch vị có tính acid làm tổn thương niêm mạc thực quản, gây ra tình trạng viêm thực quản (viêm thực quản trào ngược) (reflux esophagitis)

Các tác nhân kích thích như đặt ống thông dạ dày quá lâu; dùng các chất kích thích như rượu, các dung dịch acid hoặc kiềm, thức uống quá nóng, các hoá chất điều trị ung thư, tia xạ…

Các tác nhân nhiễm trùng như vi khuẩn, virút (HSV…), nấm.

Hình thái tổn thương:

Đại thể: thay đổi tuỳ loại viêm thực quản, thời gian và mức độ tác động của tác nhân gây viêm. Đối với viêm thực quản trào ngược; nếu viêm nhẹ, chỉ thấy niêm mạc thực quản sung huyết hơi đỏ; trường hợp viêm nặng, niêm mạc có thể bị loét, hoại tử, xuất huyết, hình thành mô hạt viêm và hoá xơ gây hẹp lòng thực quản.

Vi thể:

Trong trường hợp viêm thực quản trào ngược mức độ nhẹ, có 3 hiện tượng sau:

Thấm nhập các tế bào viêm trong lớp biểu mô như bạch cầu đa nhân ái toan (xuất hiện sớm nhất), BCĐNTT, limphô bào.

Các nhú của mô đệm niêm mạc bị sung huyết, nhô cao đến 1/3 trên lớp biểu mô (Hình 10).

Liên hệ lâm sàng: Triệu chứng của viêm thực quản thay đổi tuỳ theo mức độ viêm, gồm có ợ chua, cảm giác nóng rát sau xương ức, khó nuốt, ói máu, đi cầu phân đen.

Hình: Tăng sản lớp đáy biểu mô (mũi tên dài) và thấm nhập bạch cầu ái toan (đầu mũi tên)

Viêm thực quản trào ngược kéo dài có thể dẫn đến thực quản Barrett cùng với nguy cơ hoá ác của nó.

THỰC QUẢN BARRETT

Là biến chứng của tình trạng trào ngược kéo dài của dịch vị lên thực quản. Trong thực quản Barrett, lớp biểu mô lát tầng không sừng hóa bình thường ở đoạn dưới thực quản được chuyển sản thành biểu mô trụ tiết nhầy (kiểu dạ dày – ruột), có lẽ để thích nghi tốt hơn với môi trường acid gây nên bởi sự trào ngược dịch vị.

Hình: Vùng niêm mạc đỏ mượt của thực quản Barrett (A) Biểu mô lát tầng của thực quản được thay thế bởi biểu mô trụ kiểu dạ dày – ruột.

Hình thái tổn thương:

Đại thể: biểu hiện của thực quản Barrett là một vùng niêm mạc có mầu đỏ mượt, xuất hiện ở chỗ nối thực quản – dạ dày, chạy vòng hết chu vi lòng thực quản hoặc phân bố thành nhiều đám rải rác; tương phản rõ rệt với mầu hồng nhạt của niêm mạc thực quản bình thường ở phía trên và mầu hồng nâu của niêm mạc dạ dày bên đưới.

Vi thể: biểu mô lát tầng không sừng hóa của thực quản bị thay thế bởi biểu mô trụ tiết nhầy (kiểu dạ dày – ruột); trong đó có thể tìm thấy những vùng bị nghịch sản từ nhẹ đến nặng, với hình ảnh nhân tăng sắc, xếp chồng chất lên nhau. (Hình 11)

Liên hệ lâm sàng: người bị thực quản Barrett có nguy cơ carcinôm tuyến thực quản tăng 30-40 lần so với người bình thường, do lớp biểu mô trụ chuyển sản có thể bị nghịch sản, rồi chuyển thành ung thư.

U THỰC QUẢN

Carcinôm tế bào gai thực quản

Dịch tễ học: carcinôm tế bào gai thực quản chiếm 6% ung thư ống tiêu hóa; thường gặp ở tuổi sau 50; xuất độ mắc bệnh ở giới nam nhiều hơn giới nữ từ 2/1 đến 20/1. Một số yếu tố nguy cơ được ghi nhận:

Bệnh lý thực quản: viêm thực quản kéo dài, hội chứng Plummer – Vinson (màng thực quản, thiếu máu nhược sắc, viêm teo lưỡi).

Uống rượu, hút thuốc lá, nhai trầu.

Chế độ ăn thiếu vitamin (A,C, riboflavin, thiamin, pyridoxin), thiếu yếu tố vi lượng kim loại (kẽm, molybdenum), thức ăn bị nhiễm nấm hoặc có chứa nitrosamines.

Một số cơ địa di truyền: chứng da dày sừng (tăng sừng lòng bàn tay và bàn chân).

Hình thái tổn thương

Đại thể: vị trí ung thư: 20% ở 1/3 trên, 50% ở 1/3 giữa và 30% ở 1/3 dưới thực quản. Khởi đầu là 1 vùng dày lên của niêm mạc có màu trắng xám; sau khoảng thời gian từ vài tháng đến vài năm, tổn thương phát triển thành các dạng sau (riêng biệt hoặc phối hợp):

Dạng chồi sùi nhô vào lòng ống (60%).

Dạng loét (25%) do khối u bị hoại tử, ăn sâu xuống bên dưới; có thể làm thủng cây phế quản, động mạch chủ, hoặc màng bao tim.

Dạng thâm nhiễm lan tỏa (15%) làm dầy cứng thành thực quản và hẹp lòng ống.

Vi thể: hầu hết là carcinôm tế bào gai có độ biệt hóa tốt hoặc vừa. (Hình 12)

Liên hệ lâm sàng: diễn tiến ban đầu âm thầm, về sau mới có triệu chứng khó nuốt ngày càng tăng (nghẹn đặc sặc lỏng), bệnh nhân bị suy dinh dưỡng do ăn uống kém, có thể bị xuất huyết hoặc nhiễm khuẩn nhiễm độc do khối u lở loét hoại tử. Khi được phát hiện, u thường đã quá lớn, xâm nhập nên khó phẫu thuật được; ngay cả khi có thể cắt bỏ, tỉ lệ tái phát tại chỗ và di căn xa cũng cao. Ung thư 1/3 trên thường di căn đến hạch cổ, 1/3 giữa đến hạch trung thất và hạch cạnh khí quản, 1/3 dưới đến hạch thân tạng (Celiac) và hạch quanh dạ dày.

Hình 12 : Carcinôm tế bào gai thực quản dạng sùi loét (A); Các đám tế bào gai biệt hoá vừa xâm nhập (B).

Carcinôm tuyến

Hầu như tất cả các trường hợp carcinôm tuyến thực quản đều xuất hiện trên nền thực quản Barrett, với tỉ lệ ngày càng tăng; ở Mỹ, tỉ lệ này ngang bằng với carcinôm tế bào gai. Bệnh nhân thường trên 40 tuổi, xuất độ mắc bệnh của giới nam cao hơn giới nữ.

Hình thái tổn thương:

Đại thể: thường xuất hiện trên nền thực quản Barrett , ở 1/3 dưới của thực quản và có thể xâm lấn xuống tâm vị của dạ dày. Tổn thương ban đầu có dạng phẳng hoặc hơi gồ lên với lớp niêm mạc bên trên còn nguyên vẹn, về sau phát triển thành khối lớn sần sùi hoặc xâm nhiễm lan toả hoặc loét sâu xuống bên dưới. (Hình 13)

Vi thể: đa số là carcinôm tuyến tiết nhầy giống carcinôm tuyến của ruột, độ biệt hoá tốt, vừa hoặc kém; các tế bào tuyến ác tính dị dạng, nhân tăng sắc; tạo thành ống tuyến hoặc các đám đặc tuỳ theo độ biệt hoá. Một số rất ít trường hợp có dạng ung thư tế bào mặt nhẫn của dạ dày.

Hình: Carcinôm tuyến thực quản

Bệnh Học Ngoại Ung Thư Bàng Quang

U bàng quang là loại u thường gặp nhất trong các loại u đường tiết niệu. Theo Hội ung thư Mỹ, thì năm 1994 có khoảng 51.200 bệnh nhân mới, và đã có khoảng 10.600 bệnh nhân tử vong. Trung bình hàng năm có khoảng 10.000 bệnh nhân tử vong vì u bàng quang. Tỉ lệ tử vong ở người da đen thấp hơn ở người da trắng.

Tỷ lệ mắc bệnh ở nam nhiều hơn ở nữ, khoảng 3:1. Ở nam giới, u bàng quang được xếp hàng thứ 4 trong số các ung thư, ở nữ thì được xếp hàng thứ 5. Người da đen có tỉ lệ u bàng quang khảng 1/2 người da trắng.

Ở Việt , u bàng quang ngày càng được phát hiện nhiều hơn. Bệnh thường gặp nhiều ở người lớn từ 40-70 tuổi (78%) và ở nam nhiều hơn ở nữ.

U bàng quang có hai loại: lành tính và ác tính, tuy nhiên, u có xu hướng dễ trở thành ác tính. Do đó u bàng quang cần được chẩn đoán sớm, điều trị sớm, tích cực thì tiên lượng mới tốt.

Theo y văn thế giới, tỉ lệ sống quá 5 năm ở u nông lá 52-73%, giảm xuống còn 25-47% khi ở thể sâu.

U bàng quang rất hay tái phát. Tỉ lệ tái phát khoảng 52-73% từ 3-15 năm, do đó chế độ theo dõi bệnh nhân có u bàng quang là chế độ theo dõi suốt đời.

Nguyên nhân

Những yếu tố sau đây được cho là có nhiều nguy cơ trong tác động hình thành ung thư bàng quang.

Hút thuốc lá

Hiện nay, hút thuốc lá được xem như là một nguyên nhân gây ung thư bàng quang ở người. Hút thuốc là tăng nguy cơ mắc u bàng quang lên 2-5 lần. Hóa chất đặc hiệu gây ung thư trong thuốc lá chưa được xác định chính xác, mặc dù trong khói thuốc lá có chứa chất gây ung thư như nitrosamin và 2 napthylamin.

Môi trường làm việc

Một số các hoá chất được xác định là có thể gây ung thư bàng quang:

Các amin thơm.

Polycyclic hydrocarbon.

Những hoá chất này thường gặp trong các ngành kỹ nghệ nhuộm, cao su, thuộc da, sơn, hoá chất…Hoá chất amin có thể vào cơ thể vào bằng đường mũi, mồm và qua da, từ đó các hoá chất theo đường máu tới gan và chuyển hoá thành ortho aminophenol dưới tác dụng của acid glucoronic, và được bài tiết qua thận xuống bàng quang. Tại đây men bêta glucuronidase thuỷ phân orthoaminophenol để giải phóng orthophenol là chất có thể kích thích ung thư phát triển sau khi hấp thụ qua niêm mạc bàng quang.

Càphê: Được xem là một chất có thể gây ung thư bàng quang không thường xuyên và kém.

Đường saccharin: Đã được chứng minh gây ung thư trong thực nghiệm. Nước uống có chlor: một vài nghiên cứu cho thấy rằng nước uống có chlor có nguy cơ tăng u bàng quang lên 1.6 đến 2.0 lần.

Thức ăn: Ăn thức ăn nhiều mỡ và cholesterol có thể làm tăng tỉ lệ mắc ung thư bàng quang.

Người ta thấy ở những người sử dụng quá nhiều thuốc giảm đau có chứa phenacetin dễ có nguy cơ bị ung thư bàng quang. Cyclophosphamid cũng có thể gây ung thư bàng quang.

Ký sinh trùng và các bệnh mạn tính

Nhiều tác giả đã chứng minh ký sinh trùng Schistosomia heamatobium là tỉ lệ mắc bệnh ung thư càng cao lên. Ung thư loại này 85% là tế bào thể gai, khác với thể thông thường là loại tế bào chuyển tiếp.

Giải phẫu bệnh

Phân loại ung thư bàng quang

Thành bàng quang có 3 lớp:

Lớp niêm mạc.

Lớp cơ vân và trơn.

Lớp thanh mạc.

Trong lớp niêm mạc và lớp cơ có nhiều mạch máu, thần kinh và ở vùng tam giác có một số tuyến. Tất cả các thành phần trên đều có thể phát triển thành các u khác nhau ở bàng quang nhưng 97% u bàng quang là loại u niêm mạc bàng quang. Sự phân biệt u niêm mạc lành hay ác tính khi u còn ở lớp niêm mạc rất khó khăn.

Tuỳ theo tính chất ác hay lành tính mà các khối u được gọi theo các tên khác nhau.

U bàng quang nguyên phát.

Sự phát triển của u vào niêm mạc bàng quang

Trên thực nghiệm, người ta đã chứng minh sự phát triển của u bàng quang diễn biến qua 4 giai đoạn:

Giai đoạn quá phát phục hồi

Một vài giờ sau khi tiếp xúc với hoá chất, hai ba lớp tế bào của niêm mạc bị phù nề. Tế bào to lên và mất đi tỉ trọng nguyên sinh chất. Trong nhân tế bào xuất hiện chất chromatin, số lượng hạt nhân gia tăng, mạch máu dưới lớp niêm mạc giãn và sung huyết.

Lớp màng đáy chưa bị tác động. Ở giai đoạn này nếu tác nhân gây ung thư được lấy bỏ, tế bào lại hồi phục.

Giai đoạn quá phát không phục hồi thể nhân hay thể gai

Nếu tác nhân gây ung thư tiếp tục tác động tới niêm mạc bàng quang, người ta thấy xuất hiện những ổ quá phát thể nhân hay thể gai.

Trong lớp niêm mạc có nhiều mạch máu nhỏ, xung quanh có nhiều tế bào phát triển tạo thành các gai nhỏ. Nhân tế bào to bất thường và có nhiều hạt nhân.

Những gai này có chiều hướng phát triển trên bề mặt thành bàng quang tạo thành hình ảnh quá phát thể gai

Giai đoạn u gai

Các gai phát triển tiếp tục tạo thành u gai trên mặt niêm mạc bàng quang và phát triển xâm lấn qua lớp màng đáy.

Giai đoạn u ác

Lớp màng đáy bị phá huỷ, có thể do chất men tan của tế bào ung thư, tế bào u hơi nhỏ lại và nhân tế bào tròn và to ra.

Ung thư tiếp tục phát triển theo chiều sâu và lan rộng theo các phía hoặc theo các đường tua riêng biệt xuống phía dưới hoặc di căn theo đường máu hay đường bạch mạch tới các hạch 88%, gan (11%), phổi (34%), xương 22%

Phân loại vi thể u bàng quang

Thông thường người ta đánh giá độ ác tính của u bàng quang theo 2 cách:

Độ xâm lấn theo chiều sâu.

Độ biệt hoá của tế bào.

Phân loại theo độ xâm lấn của khối u

Theo TMN (phân độ năm 1997) .

Tx không xác đinh được u nguyên phát .

Ta U nhú không thâm nhiễm .

T1 U thâm nhiễm lớp dưới niêm mạc .

T2 U thâm nhiễm vào lớp cơ .

T2a U thâm nhiễm vào lớp cơ trong .

T2b U thâm nhiễm vào lớp cơ ngoài .

T3 U thâm nhiễm vào tổ chức quanh bàng quang .

T3a Thâm nhiễm về vi thể T3b Thâm nhiễm về đại thể .

T4 U thâm nhiễm vào một trong các cơ quan sau: T iền liệt tuyến, tử cung, âm đạo, thành tiểu khung, thành bụng.

T4a U thâm nhiễm vào tiền liệt tuyến, hoặc tử cung hoặc âm đạo .

T4b U thâm nhiễm vào thành tiểu khung hoặc thành bụng .

N (hạch)

Nx Không xác định được hạch di căn .

M (di căn xa)

Mx Không xác định được di căn xa .

M0 Không có di căn xa.

Phân loại theo độ biệt hoá của tế bào

Độ I: Khối u biệt hoá hoàn toàn. Lớp màng đáy không bị xâm lấn. Khối u nhỏ thường thể nhú. Điều trị cắt đốt nội soi tốt. Không có tác dụng điều trị tia xạ

Độ II: Khối u thường thể nhú, tế bào kém biệt hoá và đã ăn lan tới lớp màng đáy nhưng chưa tới lớp cơ. Thường được điều trị bằng cắt đốt nội soi và ít nhạy cảm với tia xạ.

Độ III và độ IV: Khối u có tế bào kém hoặc không biệt hoá. Khối u thường ở thể nhân hơn thể nhú. Điều trị cắt đốt ít kết quả và nhạy cảm với tia xạ.

Bảng phân loại độ biệt hoá của Broders

Bảng phân loại vừa định tính vừa định lượng.

Độ I: 0 – 25% tế bào không điển hình.

Độ II: 25 – 50% tế bào ít biệt hoá.

Độ III: 50 – 75% tế bào không biệt hoá.

Triệu chứng lâm sàng và chẩn đoán

Triệu chứng lâm sàng

Là triệu chứng phổ biến nhất (90-95%).Đái máu toàn bãi hay cuối bãi. Xuất hiện đột ngột và cũng hết đột ngột. Đái máu không đau và có thể có máu cục kèm theo, đái máu thường hay tái phát. Đái máu nhiều lần là cho bệnh nhân thiếu máu.

Rối loạn tiểu tiện: Thường xuất hiện khi có viêm nhiễm kèm theo, bệnh nhân có thể có đái buốt, đái rắt và đối với người cao tuổi có u xơ TLT, bệnh nhân đái khó và đái nhiều lần.

Triệu chứng khác: Trường hợp u bàng quang tiến triển và lớn, bệnh nhân có thể có triệu chứng đau vùng hông do tắc nghẽn niệu quản, phù chi dưới, xuất hiện khối u ở vùng hạ vị, mất cân nặng, đau bụng hoặc đau xương.

Thăm trực tràng: K hi u ở thể nông, thăm trực tràng không phát hiện gì, nhưng khi u ở thể sâu (pT2 trở lên) có thể thấy thành bàng quang cứng, không di động, hoặc sờ thấy khối u. Trong trường hợp u bàng quang, cần phải thăm trực tràng kết hợp (thăm khám âm đạo ở nữ giới) trong điều kiện có giảm đau, thậm chí gây mê.

Cận lâm sàng

Ngoài các xét nghiệm thông thường về nước tiểu và máu để đánh giá tình trạng viêm nhiễm, thiếu máu, chức năng thận.. các xét nghiệm có thể góp phần chẩn đoán u bàng quang:

Xét nghiệm nước tiểu tìm tế bào

Xét nghiệm này có độ chính xác cao (95%) trong chẩn đoán ung thư có độ biệt hoá cao và ung thư insitu, nhưng ít có giá trị hơn trong chẩn đoán ung thư có độ biệt hoá thấp (độ chính xác 10-50%) lấy nước tiểu buổi sáng, quay ly tâm soi tế bào theo phương pháp Papanicolaou có thể phát hiện tế bào u. Nhiều khi phải làm nhiều lần.

Siêu âm

Qua siêu âm thành bụng hoặc qua trực tràng ta có thể thấy rõ hình ảnh khối u, và có thể phần nào đánh giá độ xâm lấn của u vào thành bàng quang. Kết quả chính xác tốt (80-90%).

X quang

Chụp hệ tiết niệu cản quang tĩnh mạch (UIV) hoặc chụp bàng quang với thuốc cản quang có thể phát hiện hình ảnh khối u, hoặc độ cứng (không đối xứng) của thành bàng quang do khối u xâm lấn thành bàng quang kém mềm mại.

Ngoài ra có thể kiểm tra hình ảnh thận, niệu quản để phát hiện u ở thận hoặc niệu quản. Trường hợp này u bàng quang có thể là thứ phát của u thận.

Chụp cắt lớp vi tính (CT scanner)

Có thể cho phép phát hiện được các khối u nhỏ, hoặc các hạch di căn của khối u ở xung quanh bàng quang.

Đếm tế bào theo dòng

Phương pháp này cho phép đo được lượng AND của tế bào nhờ vào huỳnh quang, nghiên cứu được sự thay đổi số lượng AND tương ứng với số nhiễm sắc thể của tế bào chẩn đoán tế bào loạn sản hoặc hiện tượng mất kháng nguyên ABO của tế bào u.

Soi bàng quang và sinh thiết

Là thủ thuật quan trọng giúp chẩn đoán chính xác u bàng quang và các giai đoạn phát triển của u, nhưng phải tiến hành trong điều kiện vô khuẩn và thận trọng. Khi soi bàng quang cần đánh giá:

Sinh thiết để đánh giá độ phát triển của u. Việc sinh thiết được tiến hành theo các vị trí đã được qui định gọi là “định bản đồ bàng quang” (Bladder mapping).

Dựa vào các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng như trình bày ở trên

Chẩn đoán phân biệt

Viêm bàng quang

Viêm bàng quang có thể gây đái máu, bệnh nhân có đái buốt, đái rắt. Có hội chứng nhiễm khuẩn. Thử nước tiểu có hồng cầu, bạch cầu và soi bàng quang thấy hình ảnh viêm không có u.

Lao bàng quang hoặc lao đường tiết niệu

Làm xét nghiệm BK trong nước tiểu. Chụp phim UIV có thể thấy loét lao đài thận, soi bàng quang không thấy u, thấy hình ảnh viêm lao, dung tích bàng quang bé.

Sỏi bàng quang. U xơ tiền liệt tuyến.

Đái máu thường toàn bãi và kéo dài, có thể đau vùng thắt lưng, trường hợp u thận lớn, có thể khám thấy thận lớn, cứng. Soi bàng quang để loại trừ u bàng quang đồng thời xác định vị trí chảy máu. Chụp hệ tiết niệu cản quang tĩnh mạch hoặc siêu âm phát hiện u.

Thường do khối u loét gây chảy máu nhiều.

Nhiễm khuẩn

Nhiễm khuẩn bàng quang xảy ra do khối u bàng quang bị loét. Bệnh nhân đái máu, đái buốt và rắt.

Khi khối u ăn lan đến tam giác bàng quang, hoặc do u lớn làm bít tắc lỗ cổ bàng quang gây bí tiểu

Khi u chèn ép vào niệu quản, có thể làm ứ tắc nước tiểu ở niệu quản và thận. ứ nước có thể một bên hoặc cả 2 bên.

Thủng bàng quang hoặc các cơ quan lân cận

Khối u phát triển ăn thủng bàng quang vào các tổ chức xung quanh: gây thủng vào trực tràng, đường sinh dục…

Nguyên tắc điều trị

Điều trị u nông (pTa-pT1)

Cắt đốt nội soi: Là phương pháp cơ bản đối với mọi loại ung thư bàng quang nông, nhằm mục đích lấy toàn bộ các khối u nhìn thấy được và đem làm xét nghiệm giải phẫu bệnh lý để có được chẩn đóan chính xác về mặt mô bệnh học (loại tế bào, mức độ biệt hóa, mức độ xâm lấn vào thành bàng quang của khối u). Khi phẫu thuật phải cắt xâm lấn khối u tới lớp cơ để lấy hết chân khối u. Đối với các khối u bàng quang nông thì chỉ phương pháp này thôi là đủ; tuy nhiên, 70% các trường hợp sẽ tái phát. Do đó, sau khi cắt đốt nội soi cần kết hợp thêm với hóa trị liệu hoặc miễn dịch trị liệu tại chỗ.

Đối với u tái phát và có chiều hướng phát triển ăn xâm lấn và giảm độ biệt hóa thì cắt nội soi đơn thuần chưa đủ, cần phải phối hợp với điều trị hoá chất hay tăng cường miễn dịch tại chỗ.

Cắt nội soi + hoá chất (Adriamycine, Mytomicine C…) .

Cắt nội soi + BCG: Thibaut và Camey đã sử dụng BCG sống ở nhiệt độ 6 đến 4 C bơm vào bàng quang sau ngày cắt nội soi (75mgBCG + 60mlNaCl 9%o) .

1 tuần 1 lần trong 6 tháng đầu sau khi cắt nội soi .

15 ngày 1 lần trong 3 tháng tiếp theo .

1 tháng 1 lần trong 15 tháng cuối.

Điều trị u xâm lấn

Phẫu thuật

Cắt bàng quang bán phần: N gày nay ít sử dụng bởi vì bản chất của u bàng quang là hay tái phát (70%), sau khi đã loại trừ phần bàng quang có u thì thời gian sau u lại tái phát ở phần khác. Do đó, chỉ chỉ định đối với các trường hợp chắc chắn là u chỉ có một vị trí độc nhất ở phần đáy và thành bên của bàng quang.

Cắt bàng quang – TLT toàn bộ: Đ ây là phẫu thuật ngày nay được ứng dụng rộng rãi để điều trị u bàng quang xâm lấn vì nó loại bỏ tận gốc mầm ung thư tại bàng quang. Tuy nhiên, đây là phẫu thuật tương đối nặng nề do đó chỉ áp dụng ở những bệnh nhân có thể trạng tốt. Hai niệu quản sẽ được cắm vào đoạn hồi tràng biệt lập đưa ra ngoài thành bụng (phương pháp Bricker) hoặc cắm vào một bàng quang mới tạo hình từ ruột (Studer, Hautmann, Camey…).

Điều trị bằng tia xạ

Áp dụng đối với trường hợp ung thư đã di căn không có khả năng phẫu thuật.

Điều trị bằng hoá chất toàn thân

Một số hoá chất chống ung thư đã được sử dụng, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có hiệu quả cao và cũng chỉ áp dụng điều trị tạm thời.

Bệnh nhân sau điều trị phẫu thuật cần được theo dõi và kiểm tra định kỳ siêu âm, soi bàng quang, tế bào nước tiểu tối thiểu 3 tháng/ lần. X quang phổi tối thiểu 1/2 năm lần.

Tái phát 52-73% từ 3-15 năm sau. Do đó cần có chế độ theo dõi bệnh nhân suốt đời, 6-12 tháng/lần kiểm tra bằng lâm sàng, thử nước tiểu và siêu âm hoặc soi bàng quang. Nếu thấy bắt đầu tái phát, thì điều trị tiếp ngay.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bệnh Học Ngoại Khoa Ung Thư Thực Quản trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!