Đề Xuất 2/2023 # Cac Dau Hieu Va Hinh Anh X Quang Nguc # Top 2 Like | Growcaohonthongminhhon.com

Đề Xuất 2/2023 # Cac Dau Hieu Va Hinh Anh X Quang Nguc # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Cac Dau Hieu Va Hinh Anh X Quang Nguc mới nhất trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Published on

Cac dau hieu va hinh anh x quang nguc http://chiaseykhoa.com/sach-thuc-hanh-x-quang-nguc/

1. 27 PHẦN 2. CÁC DẤU HIỆU VÀ HÌNH ẢNH X-QUANG NGỰC Trong phần trước chúng ta đã đi qua những khái niệm cơ bản trong phân tích X-quang ngực thường quy và CT ngực. Khi khám lâm sàng trước tiên chúng ta cần phải biết ghi nhận các dấu hiệu, triệu chứng của bệnh rồi từ đó mới đi đến chẩn đoán bệnh (chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt). Cũng như vậy trong phân tích X-quang, chúng ta cũng cần biết các dấu hiệu (sign), các hình ảnh (pattern) bất thường – triệu chứng học X-quang, trước khi quyết định chẩn đoán. Bước phát hiện triệu chứng X-quang là bước quan trọng. X-quang là ngành khoa học mô tả nên để dễ nhận biết và dễ nhớ, người ta thường gán các dấu hiệu, hình ảnh bất thường phổ biến với hình ảnh thường gặp trong cuộc sống hàng ngày (thí dụ hình tổ ong, hình ria mép viên cảnh binh, hình lục lạc ngựa, kính mờ…). Các triệu chứng X-quang này cũng luôn cần được phân tích dưới đôi mắt của người nắm vững cơ chế sinh bệnh học để giải thích sự hình thành và tiến triển của các hình ảnh bất thường. Mặc dù việc đặt tên cho các dấu hiệu và hình ảnh X-quang sẽ đề cập sau đây có thể làm chúng ta khó nhớ nhưng đây là các thuật ngữ đã được chấp nhận và với các thuật ngữ này, chúng ta sẽ dễ dàng giao tiếp, trao đổi thông tin giữa những người làm lâm sàng và chuyên khoa X-quang ở tất cả mọi nơi. Trong phần này chúng ta sẽ kết hợp phát hiện, phân tích các dấu hiệu, hình ảnh X-quang trên cả phim ngực thường quy và phim CT ngực. 1. Dấu hiệu phế quản hơi (Air bronchogram sign) Chúng ta thường nói đến dấu hiệu này trong các tổn thương lấp đầy phế nang.

2. Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực: THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC 28 Hình 2.1. Dấu hiệu phế quản hơi trên X-quang thường quy (A) và CT (B).CT ngực cho thấy mờ nhu mô dưới màng phổi hai bên với hình phế quản hơi (mũi tên) trong một trường hợp viêm phổi. Đây là dấu hiệu có dạng vệt sáng, chia nhánh, thể hiện hình ảnh phế quản hay tiểu phế quản đi qua một vùng nhu mô phổi mờ, không có không khí (hình 2.1). Dấu hiệu phế quản hơi cho thấy là hình mờ quanh nó có bản chất là nhu mô phổi chứ không phải là trung thất hay màng phổi. Các tổn thương nhu mô phổi có thể thấy hình ảnh này là viêm phổi nhiễm khuẩn (thường chỉ thấy ở giai đoạn đầu), ho máu, phù phổi, sarcoidosis… Cũng có thể thấy trong xẹp phổi không do tắc nghẽn phế quản trung tâm. Mặc dù ung thư có khuynh hướng tạo các tổn thương dạng u đặc nhưng hình phế quản hơi cũng có thể thấy và là đặc trưng của u lymphoma và ung thư tế bào phế quản-phế nang. 2. Dấu hiệu hình liềm hơi (Air crescent sign) Một khối phát triển trong một hang có sẵn, hoặc một vùng viêm phổi đang hoại tử và tạo hang, có thể tạo một khoảng khí giữa nội dung bên trong và thành hang và cho hình ảnh liềm hơi (hình 2.2). Khối bên trong thông thường là khối u nấm. Hình 2.2. Hình dấu hiệu liềm hơi. CT cho thấy tổn thương phổi dạng nốt ưu thế dưới màng phổi do thuyên tắc nhiễm khuẩn. Một số tổn thương nốt hóa hang và tạo ra hình ảnh liềm hơi (mũi tên).

3. THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC: Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực 29 3. Dấu hiệu phồng rãnh liên thùy (Bulging fissure sign) Kinh điển đây là hình ảnh viêm phổi thùy do K.pneumonia. Sự lan rộng toàn bộ một thùy của tổn thương làm cho rãnh liên thùy phồng. Hình 2.3. Hình dấu hiệu rãnh liên thùy phồng. Trên phim thẳng (A) và nghiêng (B) là hình ảnh viêm phổi thùy, thường do K.pneumonia. Trên phim nghiêng thấy ranh giới dưới là kết hợp của hai đoạn rãnh liên thùy (rãnh liên thùy nhỏ phía trước – mũi tên ngắn và đoạn trên của rãnh liên thùy lớn phía sau – mũi tên dài). 4. Dấu hiệu ranh giới cơ hoành liên tục (Continuous diaphragm sign) Bình thường theo nguyên lý dấu hiệu bóng, phần cơ hoành dưới bóng tim không nhìn thấy vì tim, cơ hoành và gan cùng nằm trên một mặt phẳng và cùng cản tia dạng nước. Trong trường hợp giữa tim và cơ hoành có một khoảng khí chúng ta sẽ thấy bờ của gan liên tục dưới bóng tim hay là dấu hiệu ranh giới cơ hoành liên tục. Dấu hiệu này cho phép chúng ta chẩn đoán có tràn khí trung thất. Hình 2.4. Dấu hiệu cơ hoành liên tục. Trên phim ngực thẳng có hình ảnh tràn khí trung thất, cơ hoành nhìn thấy liên tục (mũi tên). Khí trung thất cũng được nhìn thấy ở vùng cổ hai bên (mũi tên không liền nét). 5. Dấu hiệu mạch đồ trên CT (CT angiogram sign) Dấu hiệu mạch đồ trên CT dùng để chỉ hình ảnh mạch máu có thuốc cản quang trong một vùng phổi kém thông khí. Các mạch máu được

4. Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực: THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC 30 nhìn thấy ưu thế tương phản với nền phổi mờ kém cản tia hơn (hình 2.5). Hình ảnh này gặp trong ung thư tế bào phế quản-phế nang, lymphoma và cũng có thể thấy trong trong các bệnh lý khác, trong đó có viêm phổi nhiễm khuẩn. Hình 2.5. Hình dấu hiệu mạch máu đồ. Trên phim CT có cản quang chúng ta thấy hình ảnh ung thư tế bào phế quản-phế nang thùy dưới trái. Các mạch máu phổi (mũi tên) thấy rõ trên nền nhu mô phổi cản tia kém hơn. 6. Dấu hiệu rãnh sâu (Deep sulcus sign) Dấu hiệu này chỉ hiện tượng tràn khí màng phổi trên phim chụp tư thế nằm. Ở tư thế này khoang khí màng phổi sẽ không giống như trên phim thẳng đứng (khoảng khí nằm dọc thành bên lồng ngực). Chúng ta sẽ thấy vùng tràn khí lấn sâu vào phía trong lồng ngực, không mang hình dạng tràn khí thông thường, thường làm cho góc sườn và tâm hoành nhìn rõ trên phim. Hình 2.6. Hình dấu hiệu rãnh sâu. (A) Trên phim ngực thẳng tư thế nằm có hình ảnh tràn khí màng phổi hai bên. Khoang khí hai bên rộng, lấn sâu vào trong thành ngực (mũi tên). (B) Cũng trên phim ngực thẳng tư thế nằm của một bệnh nhân thở máy bị tràn khí màng phổi do khí áp. Trên phim chúng ta thấy mở rộng góc sườn hoành phải, tràn khí trung thất, dưới da ngực và cổ. 7. Dấu hiệu phổi rơi (Fallen lung sign) Dấu hiệu này chỉ một trường hợp phổi xẹp (thường do chấn thương

5. THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC: Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực 31 ngực gây xẹp phổi) kèm theo gãy phế quản làm cho phổi không còn được treo ở vị trí bình thường tương xứng với rốn phổi mà như bị rơi xuống thấp và ra ngoài (tư thế đứng) hay ra sau (tư thế nằm thấy trên CT). Hình ảnh này cần phân biệt với xẹp phổi do tràn khí màng phổi. Trong trường hợp tràn khí màng phổi, phổi xẹp và co lại theo hướng về rốn phổi. Hình 2.7. Dấu hiệu phổi rơi. Trên phim thẳng tư thế nằm một bệnh nhân chấn thương do tai nạn. Có tràn khí màng phổi ở bên phải tồn tại dai dẳng mặc dù đã được mở màng phổi đặt ống dẫn lưu. Điều này cho thấy khoảng trống màng phổi bên ngực phải không phải là do tràn khí màng phổi mà do xẹp phổi hậu quả của gãy một phế quản lớn. Phổi bị xẹp lại, rơi xuống dưới và ra ngoài thay vì co lại về phía trong, rốn phổi. 8. Dấu hiệu phẳng đoạn eo thắt (Flat waist sign) Dấu hiệu này chỉ hiện tượng trở nên phẳng ở bờ ngoài của hình lồi quai động mạch chủ và của động mạch phổi kế cận trên hình trung thất phim ngực thẳng. Hình ảnh này gặp trong trường hợp xẹp nặng thùy dưới bên trái và tạo ra sự dịch chuyển về phía bên trái và xoay tròn của tim. Hình 2.8. Dấu hiệu phẳng đoạn eo. Trên phim thẳng cho thấy vùng thùy dưới bên trái trở nên mờ do xẹp. Chúng ta không còn thấy đường cong cơ hoành trái ở khoảng giữa (kết quả của hiện tượng dấu hiệu bóng). Phế quản thùy dưới trái trở nên đứng hơn bình thường (mũi tên ngắn). Sự dịch về phía trái và xoay của tim ở vùng xẹp phổi tạo ra hiện tượng phẳng của đường cong hình lồi quai động mạch chủ và đoạn động mạch phổi tiếp nối bên dưới (mũi tên dài). 9. Dấu hiệu ngón tay trong găng (Finger- in- glove sign) Trong bệnh nấm phổi – phế quản do Aspergillus. Biểu hiện bằng dị ứng thứ phát do quá mẫn, phế quản chứa dịch nhầy phế quản, xác tế bào, bạch cầu ái toan, sợi nấm. Phế quản tổn thương biểu hiện trên X-quang bằng những hình mờ hình dạng dễ nhận biết.

6. Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực: THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC 32 Hình 2.9. Dấu hiệu ngón tay trong găng. (A) Trên phim thẳng bệnh nhân bị xơ hóa nang và nấm dị ứng phổi – phế quản. Phế quản tiếp cận vùng tổn thương bị giãn căng chứa dịch nhầy, nhiều bạch cầu ái toan, tế bào thoái hóa và sợi nấm tạo nên hình ảnh ống và hơi giống khối u (mũi tên). Hình ảnh này có thể khu trú, thường ở đáy. Có thể lan tỏa dạng giãn phế quản. (B) Trên phim CT có hình giãn phế quản thùy dưới trái trong lòng chứa đầy dịch. 10. Dấu hiệu chữ S (Golden S sign) Khi một thùy bị xẹp quanh một khối u trung tâm sẽ làm cho nhu mô phổi vùng xẹp tăng đậm độ, co lại hướng về phía khối u trung tâm tạo thành một hình ảnh có chu vi lõm. Ở vùng trung tâm, khối u là hình ảnh có chu vi lồi. Liên kết hai bất thường tăng đậm độ cản tia này sẽ cho hình ảnh mờ có chu vi hình chữ S xuôi hoặc ngược. Dấu hiệu này khá quan trọng vì nó có ý nghĩa là có tắc nghẽn trung tâm và ở người lớn thì nhiều khả năng là ung thư phế quản. Hình 2.10. Dấu hiệu chữ S. (A) Phim thẳng của một bệnh nhân ung thư phế quản thùy trên phải. (B) CT cho thấy: khối u nội lòng phế quản làm xẹp thùy trên phổi phải và làm dịch chuyển rãnh liên thùy nhỏ (mũi tên không liền nét) về phía rốn phổi. Khối u tạo ra hình ảnh ranh giới lồi về phía nhu mô phổi (mũi tên liền nét). Bờ ngoài của các bất thường trên phim tạo thành hình chữ S ngược.

7. THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC: Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực 33 11. Dấu hiệu quầng sáng (Halo sign) Dấu hiệu này để chỉ một quầng mờ nhạt trên phim CT. Quầng mờ này bao quanh hoặc có dạng như vầng mờ đều quanh một tổn thương nốt hay vùng đông đặc mờ đậm hơn. Mặc dù hầu hết các nốt phổi gây chảy máu đều có thể tạo ra dấu hiệu này nhưng trên bệnh nhân leukemia, nếu thấy dấu hiệu trên thì cần nghĩ đến hiện tượng xâm nhiễm sớm của nấm Aspergillus. Hình 2.11. Dấu hiệu quầng sáng. Trên CT cắt ngang vùng đỉnh phổi cho thấy có nốt mờ và vùng đông đặc hai bên với quầng sáng mờ nhạt hơn (dạng kính mờ) bao quanh (mũi tên). Bệnh nhân leukemia và hình ảnh này gợi ý nhiễm nấm Aspergillus. 12. Dấu hiệu lồi Hampton (Hampton hump sign) Nhồi máu phổi sau thuyên tắc phổi tạo ra một vùng mờ bất thường trên X-quang ngực. Hình mờ này luôn tiếp xúc với màng phổi và có nhiều dạng khác nhau. Khi đường ranh giới trong có dạng tròn, nó được gọi là dấu hiệu lồi mà Hampton và Castleman mô tả. Hình 2.12. Dấu hiệu lồi Hampton. Trên CT cửa sổ phổi (A) chúng ta thấy một hình mờ ngay dưới màng phổi thùy dưới phổi trái (mũi tên). Hình mờ dạng lồi này là nhồi máu phổi sau thuyên tắc động mạch phổi. Chúng ta cũng thấy có tràn dịch màng phổi hai bên, hình ảnh hay gặp trong thuyên tắc động mạch phổi cấp. Trên

8. Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực: THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC 34 CT cửa sổ trung thất (B) chúng ta thấy hình ảnh mờ nhạt trong động mạch phổi trái dạng khuyết yên ngựa nối từ phân thùy lưỡi xuống thùy dưới (mũi tên) giải thích nguyên nhân tổn thương dạng lồi ở cửa sổ phổi. 13. Dấu hiệu móc bờ cơ hoành (Juxtaphrenic peak sign) Dấu hiệu này chỉ một hình ảnh bất thường nhỏ dạng tam giác làm mất đi hình dạng bình thường của bờ hoành. Đây là hình ảnh thứ phát sau tổn thương gây xẹp phổi ở phía trên. Hình ảnh này được tạo nên bởi hiện tượng kéo màng phổi hoặc rãnh liên thùy lớn và dây chằng dưới màng phổi. Hình 2.13. Dấu hiệu móc bờ cơ hoành: Trên phim thẳng một bệnh nhân đã được điều trị xạ trị cho thấy bên cạnh trung thất có hiện tượng xơ hóa trung thất hai bên và kéo rút vị trí rốn phổi cao hơn bình thường (mũi tên không liền nét). Cơ hoành trái cao hơn bình thường và có dấu hiệu móc nguyên nhân do mất thể tích phổi phía trên (mũi tên liền nét). 14. Dấu hiệu liềm khí (Luftsichel sign) Khi xẹp thùy trên trái, phân thùy đỉnh của thùy dưới là nơi nằm giữa quai động mạch chủ và thùy trên bị xẹp, có hiện tượng tăng ứ khí (hyperinflated). Khu vực này trở nên sáng hơn bình thường và có dạng hình liềm do bờ ngoài của quai động mạch chủ nằm ở phía trước che đi một phần phía trong của khu vực tăng ứ khí này. Dấu hiệu này thường thấy ở bên trái do tính chất giải phẫu hai bên khác nhau và bên phải có rãnh liên thùy nhỏ. Khi thấy dấu hiệu này cần nghĩ đến xẹp thùy trên và nhiều khả năng là ung thư phế quản ở người lớn. Hình 2.14. Dấu hiệu liềm khí: Trên phim thẳng (A) thấy một quầng sáng hình liềm

9. THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC: Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực 35 tiếp giáp với quai động mạch chủ (mũi tên). Chúng ta cũng thấy phổi trái mờ hơn, mất ranh giới bên trái của tim và cơ hoành trái cao hơn bình thường do xẹp thùy trên trái và dấu hiệu bóng. Trên phim nghiêng (B) chúng ta thấy rõ có dịch chuyển vị trí rãnh liên thùy lớn ra phía trước và mờ toàn bộ thùy trên trái (mũi tên). 15. Dấu hiệu bề mặt khối băng tan chảy (Melting ice cube sign) Dấu hiệu này để chỉ sự xuất hiện của hiện tượng đang hồi phục (resolving) của nhồi máu phổi trên phim thẳng và CT, nhìn giống như hình ảnh tan chảy bề mặt khối băng từ ngoài dần vào trong. Hình ảnh này cần phân biệt với hình mờ do viêm phổi đang hồi phục. Trong trường viêm phổi hình mờ hồi phục có dạng lốm đốm. Hình 2.15. Dấu hiệu bề mặt khối băng tan chảy: (A) Hình ngực thẳng một bệnh nhân nam 69 tuổi có bệnh sử 6 tuần ho, đau ngực, ho máu cho thấy mờ khoảng dưới màng phổi hai bên, gần góc sườn hoành (mũi tên) do nhồi máu phổi. (B) Phim CT ngực 2 tuần sau đó cho thấy có hình mờ ngoại vi hai bên (mũi tên), hình ảnh điển hình của nhồi máu phổi đang hồi phục. Hình ảnh này không có dạng hình nêm hoặc tròn của nhồi máu cấp. Sự hồi phục của nhồi máu từ ngoại vi vào trung tâm tạo ra hình ảnh giống như bề mặt băng đang tan chảy. 16. Dấu hiệu hình nhẫn quanh động mạch (Ring around the artery sign) Dấu hiệu này để chỉ một hình tròn sáng rõ bao quanh động mạch phổi phải được nhìn thấy ở tư thế chếch trước trong một trường hợp tràn khí màng phổi.

10. Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực: THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC 36 Hình 2.16. Dấu hiệu hình nhẫn quanh động mạch: (A) Hình ngực chếch trước đứng của một bệnh nhân có suy hô hấp cấp cho thấy có hình vành tròn sáng quanh động mạch phổi phải (mũi tên) nguyên nhân do tràn khí màng phổi trung thất. (B) Trên CT hình ảnh này thấy rõ hơn. 17. Dấu hiệu dầy màng phổi (Split pleural sign) Bình thường màng phổi tạng và màng phổi thành mỏng và sát nhau không nhìn thấy được trên CT ngực. Khi tràn dịch màng phổi dịch tiết, khoang màng phổi có dịch, màng phổi bị dầy lên tạo ra hình ảnh màng phổi rõ trên phim. Hình 2.17. Dấu hiệu dầy màng phổi trên CT ngực: Phim CT ngực có cản quang cho thấy màng phổi có dịch và hình ảnh lá thành, lá tạng màng phổi dầy và tách nhau. 18. Dấu hiệu Westermark (Westermark sign) Dấu hiệu này dùng để chỉ hiện tượng thiếu máu của phổi ở phía sau một động mạch phổi bị tắc do thuyên tắc động mạch phổi.

11. THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC: Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực 37 Hình 2.18. Dấu hiệu Westermark: (A) Trên phim ngực thẳng cho thấy hiện tượng thiếu máu của phổi phải, gọi là dấu hiệu Westermark. Phổi phải mạch máu giảm nhiều so với phổi trái và làm cho phổi phải trở nên sáng hơn. (B) CT cửa sổ phổi cho thấy rõ hơn hiện tượng giảm mạch máu phổi bên phải. Chúng ta cũng thấy có tràn dịch màng phổi bên phải. (C) CT cửa sổ trung thất cho thấy có huyết khối phát triển động mạch phổi lan sang cả nhánh phải (mũi tên). 19. Dấu hiệu cột sống (spine sign) Tổn thương ở thùy dưới phổi có thể sẽ không nhìn rõ trên phim thẳng. Trong trường hợp này phim nghiêng thường giúp nhìn rõ hơn khi có dấu hiệu cột sống. Bình thường các thân đốt sống trên phim nghiêng trở nên sáng dần từ trên xuống dưới. Khi có tổn thương phổi, sự sáng dần này trở nên bị gián đoạn. Hình 2.19. Dấu hiệu cột sống: (A) Phim thẳng của một bệnh nhân viêm phổi thùy dưới phổi trái. Chúng ta thấy đáy phổi trái mờ hơn bình thường. (B) Nhìn nghiêng cho thấy hình mờ này che lấp cột sống làm mất đi hiện tượng tăng sáng dần của cột sống từ trên xuống dưới. Đây là dấu hiệu điển hình của bất thường của thùy dưới, thường là viêm phổi, gọi là dấu hiệu cột sống.

14. Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực: THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC 40 Hình 2.22. Hình ảnh nang: (A) Hình ảnh nang trên một bệnh nhân bệnh u cơ trơn- bạch huyết (lymphangioleiomyomatosis): các nang thành mỏng phân bố đồng đều xen kẽ với những vùng phổi lành. (B) Hình ảnh dạng nang trên một bệnh nhân khí thũng phổi dạng trung tâm tiểu thùy. Ở đây ranh giới các hình tăng sáng không rõ, ở một số chỗ có hình ảnh động mạch trung tâm tiểu thùy (mũi tên). Tổn thương dạng này điển hình thường tập trung ở phần trên phổi. 23. Hình ảnh nốt (Nodular pattern) Hình ảnh nốt dùng để chỉ những hình mờ dạng tròn, đa dạng, thông thường kích thước 1mm-1cm. Trên X-quang ngực thường quy thường khó phân tách các nốt riêng rẽ do hình ảnh của chúng chồng lên nhau nhưng trên CT ngực chúng ta có thể thấy rõ các nốt riêng rẽ. Tùy theo kích thước, hình ảnh mờ dạng nốt có thể được mô tả như là các hạt kê (1-2mm), các nốt nhỏ, các nốt trung bình hoặc các nốt lớn. Các nốt có thể có thêm các đặc tính khác về ranh giới của chúng (đều hay không đều), có hay không hang, có dạng kính mờ hay không, có vôi hóa không, phân bố ở trung tâm hay ngoại vi… Hình 2.23. Hình ảnh nốt và dầy thành. (A) CT cho thấy hình ảnh nốt và dầy thành (mũi tên). Các nốt rải rác và các vùng mờ dạng kính mờ ở phổi phải. Dạng tổn

15. THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC: Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực 41 thương như vậy gợi ý nhiều tới ung thư phế quản nguyên phát lan theo đường bạch mạch một bên phổi. Nếu ung thư nguyên phát ngoài phổi lan theo đường bạch mạch thì tổn thương thường cả hai bên. (B) Hình ảnh nốt quanh mạch bạch huyết: CT một bệnh nhân trẻ bị sarcoidosis. Các nốt nhỏ đa dạng phân bố dọc theo phân chia mạch máu và phế quản (mũi tên liền nét). Đây là dạng phân bố quanh mạch bạch huyết điển hình của sarcoidosis. (C) Hình ảnh nốt trung tâm tiểu thùy phổi: Hình ảnh CT trên một thanh niên bị viêm phổi quá mẫn (còn gọi là bệnh viêm phế nang dị ứng) cho thấy có nhiều nốt mờ kiểu kính mờ ở trung tâm tiểu thùy phổi. (D) Hình ảnh nốt lao kê: Hình ảnh kê trên bệnh nhân bị lao lan tràn đường máu. Hình ảnh này cũng có thể gặp trong nấm phổi hoặc di căn ung thư. Hình ảnh nốt không đồng đều phân bố quanh mạch bạch huyết là đặc trưng của sarcoidosis. Trong bệnh này các nốt tụ lại mà trên vi thể tạo thành các u hạt không bã đậu hóa, phân bố dọc theo bó phế quản- mạch máu, vách liên tiểu thùy phổi, khu vực dưới màng phổi. Cũng có thể thấy hình ảnh này trong bệnh silicosis hoặc bụi phổi, tuy nhiên hiếm thấy ở giai đoạn muộn. Khi bệnh silicosis hoặc bụi phổi tiến triển, các nốt silic có thể tập trung lại và tạo thành xơ hóa mảng. Nhiều nốt nhỏ mờ kiểu kính mờ ở trung tâm tiêu thùy phổi là hình ảnh đặc trưng của viêm phế nang dị ứng cấp hoặc bán cấp. Những hình ảnh nốt nhỏ dạng kê có đường kính từ 1-3mm, ranh giới thường không đều thường là hình ảnh lao lan tràn theo đường máu, nấm phổi, ung thư di căn (thường là ung thư tế bào gai), u hạt Wegener, bệnh thấp phổi. Hình ảnh nốt phổi không đều phân bố dạng phế quản mạch máu là đặc trưng của lymphoma, leukemia, Kaposi sarcoma (hình 2. 23). 24. Hình ảnh mờ kiểu kính mờ (Ground-glass pattern) Hình ảnh kính mờ được định nghĩa như là hình ảnh mờ rất nhạt như mù sương làm giảm sáng hình ảnh phổi bình thường nhưng vẫn còn giữ ranh giới phế quản-mạch máu. Nguyên nhân là do khoảng khí ngoại vi bị lấp đầy một phần, mô kẽ bị dầy lên và xẹp phế nang. Hình ảnh này không nên nhầm với hình ảnh kết đặc phổi (consolidation). Trong trường hợp kết đặc phổi thì ranh giới phế quản-mạch máu bị mờ đi. Hình ảnh kính mờ có thể kết hợp với hình phế quản hơi. Hình ảnh kính mờ thông thường là không đặc hiệu. Trong một nghiên cứu bệnh nhân bị thâm nhiễm mạn tính được thực hiện sinh thiết khu vực có hình ảnh kính mờ cho thấy bệnh lý mô kẽ ưu thế chiếm 54%, tổn thương như nhau ở mô kẽ và phế nang chiếm 32% và tổn thương phế nang chiếm ưu thế là 14% (Leung AN và cs. Radiology 1993). Trong bệnh cảnh phổi cấp tính thì hình ảnh kính mờ là hình ảnh đặc trưng viêm phổi, xuất huyết phổi, phù phổi. Với bệnh nhân có suy giảm miễn dịch mắc phải thì hình ảnh

16. Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực: THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC 42 kính mờ khu trú hay tản mạn gợi ý nhiều viêm phổi do P.carinii. Ở những bệnh nhân ghép (ghép phổi, ghép tủy) thì hình ảnh này có thể là nhiễm khuẩn hoặc xuất huyết phế nang. Hình ảnh kính mờ tản mạn hay dạng đốm có thể thấy trong viêm phế nang dị ứng, viêm phổi kẽ, báo hiệu hiện tượng xâm nhập vào phế nang, mô kẽ dịch viêm, tế bào viêm. Hình ảnh kính mờ đơn độc ở một khu vực nhỏ có thể thấy trong ung thư phế quản-phế nang giai đoạn sớm, dị sản biểu mô tuyến không điển hình. Hình 2.24. Hình ảnh kính mờ: CT trên một bệnh nhân viêm phổi lan tỏa cho thấy hình ảnh kính mờ hai bên. Hình ảnh phế quản và mạch máu còn nhìn thấy rõ. 25.Hìnhảnhphổimờdạngkhảm(Mosaicpatternoflungattenuation) Bình thường phổi mờ đi trong thì thở ra. Khi có hiện tượng tắc nghẽn và khí cạm, phổi còn sáng ở thì thở ra và cho thấy hình ảnh những mảng mờ không theo nguyên tắc giải phẫu trên mặt cắt ngang khác so với hình phổi bình thường. Trên CT ở khu vực khí cạm, phổi có vẻ sáng hơn ở thì thở ra. Bệnh lý tạo ra khí cạm ở thùy phổi hay phổi là ở các phế quản lớn trong khi khí cạm ở tầm phân thùy hay dưới phân thùy là ở các phế quản nhỏ. Bệnh lý giãn các tiểu phế quản thường thấy kết hợp với hiện tượng tạo hình ảnh dạng khảm này. Hình ảnh dạng khảm cũng còn được thấy trong các bệnh lý mạch máu như trong bệnh huyết khối-thuyên tắc (thromboembolic) mạn tính, co mạch phản xạ, gây ra hiện tượng giảm tưới máu từng khu vực phổi. Hình 2.25. Hình ảnh mờ dạng khảm: Hình mờ dạng khảm thì thở ra trên bệnh

18. Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực: THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC 44 Hình 2.26. Hình ảnh cành cây mọc chồi: (A) Hình cành cây mọc chồi trên CT ngực bệnh nhân viêm tiểu phế quản nhiễm khuẩn: các nốt nhỏ xen kẽ các vệt mờ dạng cành cây, có nhiều ở vùng ngoại vi (mũi tên). (B) Hình cành cây mọc chồi trên CT ngực bệnh nhân xơ hóa nang cho thấy giãn phế quản, tiểu phế quản hai bên với hình mờ dạng cành cây mọc chồi ở ngoại vi phổi phải (mũi tên). Các hình mờ tạo nên từ sự ứ tích dịch tiết ở các tiểu phế quản. (C) Hình cành cây mọc chồi cả hai bên trên CT ngực bệnh nhân phổi hít (mũi tên). (D) Hình cành cây mọc chồi trên CT ngực bệnh nhân viêm tiểu phế quản toàn bộ tiểu thùy (mũi tên liền nét) và hình ảnh giãn phế quản (mũi tên không liền nét).

Chụp X Quang Tuyến Vú

Chụp X quang tuyến vú (còn gọi là chụp nhũ ảnh) là một phương pháp chụp hình ảnh chuyên biệt sử dụng một hệ thống x quang chuyên dụng cho việc kiểm tra ngực . Chụp x quang tuyến vú,được sử dụng như một phương pháp tầm soát để phát hiện ung thư vú giai đoạn sớm ở những phụ nữ không có triệu chứng và để phát hiện, chẩn đoán bệnh lý vú ở phụ nữ có các triệu chứng như u , đau hoặc tiết dịch ở đầu núm vú

Tại sao chụp X quang tuyến vú lại quan trọng?

Chụp X quang tuyến vú có vai trò chính trong việc phát hiện sớm ung thư vú vì phương pháp này có thể cho thấy những thay đổi ở vú trong vòng hai năm trước khi người bệnh hoặc bác sĩ có thể nhận thấy những thay đổi này. Ung thư vú là loại ung thư phổ biến thứ hai trên thế giới, và cho đến nay là loại ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ. Hiệp Hội Ung Thư Hoa Kỳ khuyến cáo phụ nữ từ 40 tuổi trở lên nên chụp X quang tuyến vú để tầm soát ung thư vú. Nghiên cứu cho thấy chụp X quang tuyến vú hàng năm giúp phát hiện sớm ung thư vú, là giai đoạn hầu như có thể chữa khỏi và có những phương pháp điều trị để bảo tồn vú.

Dù chụp X quang tuyến vú là phương pháp tầm soát ung thư vú tốt nhất hiện nay, nhưng phương pháp này không giúp phát hiện tất cả các trường hợp ung thư vú.

Thực hiện tầm soát X quang tuyến vú thường xuyên như thế nào?

Hiệp Hội Ung Thư Hoa Kỳ (ACS) và Cục Phòng Bệnh Hoa Kỳ (USPSTF) khuyến cáo phụ nữ từ 40-49 tuổi nên chụp X quang tuyến vú thường xuyên hàng năm và phụ nữ trên 50 tuổi nên chụp X quang tuyến vú hai năm một lần.

Những phụ nữ có nguy cơ bị ung thư vú cao nên gặp bác sĩ để được tư vấn. Có thể bạn cần phải thực hiện tầm soát sớm hơn và thường xuyên hơn.

Hình ảnh kỹ thuật số thu được nhờ sử dụng hệ thống vi tính chụp X quang tuyến vú. Hệ thống này có phơi nhiễm bức xạ thấp. Một kỹ thuật viên hình ảnh thông thạo tay nghề sẽ đặt và ép vú giữa hai bản ép. Sau đó, thiết bị X quang chuyên dụng sẽ chụp hai ảnh của mỗi vú từ hai hướng. Hầu hết bệnh nhân nữ chụp X quang tuyến vú đều cảm thấy hơi khó chịu và một số người có thể cảm thấy đau. Nhưng kỹ thuật ép vú là cần thiết để làm dẹp và giảm được độ dày của vú. Càng ít lớp mô nằm chồng lên nhau, chùm tia X càng cho ra hình ảnh rõ.

Hình ảnh chụp X quang tuyến vú được đưa vào máy vi tính, sau đó sẽ được phóng to hoặc làm cho nổi bật . Nếu có một khu vực nghi ngờ, bác sĩ sẽ sử dụng máy vi tính để quan sát hình ảnh gần hơn.

Trước khi chụp x quang tuyến vú bệnh nhân nên chuẩn bị như thế nào?

Không hẹn chụp x quang tuyến vú vào tuần lễ trước khi bạn có kinh, vú của bạn thường trở nên căng hơn trong thời gian này. Thời gian tốt nhất để chụp nhũ ảnh là ngày cuối cùng của kỳ kinh cho đến hai tuần sau kể từ ngày đầu tiên của kỳ kinh vừa rồi của bạn.

Phải luôn nhớ thông báo cho bác sĩ hoặc kỹ thuật viên hình ảnh nếu có bất kỳ khả năng có thai nào.

Vào ngày khám, mặc đồ rộng rãi thoải mái có áo và quần không dính liền nhau, không sử dụng chất khử mùi, nước hoa, không thoa xức phấn hoặc dầu ở nách hoặc vú.

Vui lòng đem theo tất cả những phim chụp nhũ ảnh trước đây để bác sĩ có thể so sánh với phim hiện tại.

Bạn sẽ được yêu cầu trả lời một bảng câu hỏi trước khi chụp nhũ ảnh. Nếu bạn không biết rõ phải trả lời ra sao cho bất cứ câu hỏi nào, xin vui lòng hỏi kỹ thuật viên hình ảnh.

Chụp x quang tuyến vú được thực hiện như thế nào?

Chụp x quang tuyến vú được thực hiện bởi một kỹ thuật viên hình ảnh được đào tạo chuyên sâu, thường là một nữ kỹ thuật viên hình ảnh.

Trong phòng chụp, bệnh nhân sẽ được yêu cầu thay áo choàng và đứng tại máy chụp X quang.

Kỹ thuật viên hình ảnh sẽ đặt vú của bạn vào máy chụp x quang. Vú của bạn sẽ được đặt vào một mặt phẳng đặc biệt và được ép bằng một tấm ép (thường làm bằng nhựa Plexiglas trong suốt hoặc loại nhựa khác). Bạn sẽ cảm thấy tức ở vú khi vú bị siết bởi máy ép. Một số người có vú nhạy cảm có thể cảm thấy khó chịu. Trong trường hợp này, bạn nên lên lịch chụp nhũ ảnh khi vú của bạn ít căng nhất.

Việc ép vú là cần thiết vì:

Ép dẹp bề dày của vú để có thể nhìn thấy được tất cả các mô.

Dàn trải mô vú ra để cho những bất thường nhỏ không bị che khuất bởi vùng mô vú phủ bên ngoài,

Chỉ cần sử dụng một liều tia X thấp vì phần mô vú được chụp bị ép mỏng hơn,

Giữ vú cố định nhằm tránh bị nhòe hình do cử động gây ra,

Giảm sự khuếch tán cuả tia X để hình ảnh được rõ nét hơn.

Kỹ thuật viên hình ảnh sẽ đứng sau một tấm chắn bằng kính trong khi phát tia X. Bệnh nhân sẽ được yêu cầu thay đổi tư thế chút ít giữa các lần chụp ảnh. Thường chụp từ trên xuống dưới và chụp xéo. Qui trình này được lặp lại để chụp vú bên kia.

Chụp X quang tuyến vú kéo dài trong bao lâu?

Mỗi lần chụp cần khoảng ba mươi phút. Khi chụp X quang tuyến vú thực hiện xong, bạn sẽ được yêu cầu chờ cho đến khi kỹ thuật viên hình ảnh kiểm tra các hình ảnh để xác định xem có cần phải chụp bổ sung thêm hình ảnh hay không.

Bệnh nhân có đặt túi ngực cũng thực hiện theo các hướng dẫn tương tự để kiểm tra vú như những trường hợp không đặt túi ngực..

Sự khác biệt khi chụp x quang tuyến vú có và không có đặt túi ngực như sau:

Đặt túi ngực (vú có túi tạo hình) có thể mất nhiều thời gian hơn vì cần phải chụp theo nhiều hướng hơn.

Đặt túi ngực cũng có thể làm cho việc đọc nhũ ảnh trở nên khó khăn hơn vì cáccấy ghép bằng silicon hoặc bằng dung dịch nước muối đều không cho tia X đi qua và có thể cản trở không nhìn thấy rõ những mô bên dưới túi ngực, nhất là khi cấy ghép được đặt ở phía trước thay vì ở phía dưới các cơ ngực. Ước tính có khoảng 25% mô vú sẽ không nhìn thấy được trên hình chụp nhũ ảnh do phần cấy ghép che lấp. Kỹ thuật viên hình ảnh sẽ sử dụng kỹ thuật đặc biệt để chụp X quang rõ hơn hai vú của bệnh nhân . Khi thực hiện kỹ thuật này, bệnh nhân có thể cảm thấy khó chịu.

Đối với chụp x quang tuyến vú, kỹ thuật ép vú là việc quan trọng. Kỹ thuật viên hình ảnh sẽ rất cẩn thận và chỉ đè ép tối thiểu trên vú cấy ghép trong suốt quá trình chụp X quang vú. Kỹ thuật đè ép vú có thể gây ra tình trạng rỉ silicon hoặc làm nặng thêm hoặc làm thay đổi hình dạng hoặc kết cấu của vú, trường hợp này rất hiếm nhưng vẫn có thể xảy ra.

Khi nào thì bệnh nhân nhận được kết quả?

Bác sĩ chẩn đoán hình ảnh sẽ kiểm tra kết quả chụp x quang tuyến vú của bệnh nhân và sẽ thông báo ngay cho bác sĩ chỉ định khi có bất kỳ nghi ngờ nào . Bệnh nhân sẽ nhận được kết quả trong ngày hoặc trong vòng hai (2) ngày tùy theo các yêu cầu lâm sàng và chẩn đoán.

Để biết thêm thông tin và đặt hẹn, xin vui lòng liên hệ Khoa Chẩn Đoán Hình Ảnh của Bệnh Viện FV: (08) 54 11 34 00

Chụp X Quang Đại Tràng Dùng Thuốc Cản Quang

Chụp X quang đại tràng dùng thuốc cản quang là kỹ thuật làm cản quang khung đại tràng bằng dịch treo Baryt. Để thực hiện phương pháp này, bệnh nhân phải đảm bảo thụt tháo ruột sạch hoàn toàn trước khi cho thuốc đối quang vào. Đây là một trong những phương pháp giúp phát hiện những bất thường ở đại tràng, trong đó có ung thư.

Chụp X quang đại tràng dùng thuốc cản quang thực hiện như thế nào?

Chụp X quang đại tràng dùng thuốc cản quang là phương pháp thường được bác sĩ xem xét trong chẩn đoán nhiều bệnh lý đại tràng, trong đó có ung thư đại tràng. Trước khi chụp đại tràng cản quang, đại tràng cần được làm rỗng để đảm bảo hình ảnh phim chụp không bị mờ và không có sự nhầm lần giữa các tổn thương ở đại tràng. Ngoài ra, để kết quả chụp chính xác nhất, người khám cũng nên áp dụng chế độ ăn đặc biệt đó là chế độ ăn không gây tồn đọng trước 2 ngày, đồ ăn không nhiều xơ, lên men. Bệnh nhân cũng sẽ được dùng thuốc nhuận tràng và thụt tháo kĩ 2 lần trước khi làm thủ tục chụp vài giờ.

Người khám được chụp với nhiều tư thế khác nhau, hình ảnh của các đoạn đại tràng như sigma, trực tràng, góc lách trái, góc gan, manh tràng, đại tràng lên… được ghi lại để bác sĩ đánh giá tình trạng tổn thương của mỗi người.

THAM KHẢO: Nội soi đại tràng giá bao nhiêu

Kết quả có thể thấy qua chụp X quang đại tràng dùng thuốc cản quang

Kết quả chụp X quang đại tràng dùng thuốc cản quang có thể không phát hiện bất thường gì và bác sĩ sẽ khuyên nên chụp lại sau thời gian nhất định, tùy từng trường hợp cụ thể.

Ngoài quan sát được những tổn thương thực thể như những bất thường về kích thước (đại tràng dài, ngắn bẩm sinh), những bất thường bề mặt… chụp X quang đại tràng có thuốc cản quang có thể phát hiện các bệnh lý như:

Phình đại tràng

Phình đại tràng bẩm sinh (Hirschsprung) là bệnh lý gây táo bón mạn tính ở trẻ em do vô hạch đại tràng. Hình ảnh qua chụp X quang đại tràng dùng thuốc cản quang bằng baryt cho hình ảnh đại tràng sigma giãn to, trực tràng teo nhỏ, đại tràng dài ra, thuốc ngấm không đều ở đoạn vô hạch.

Tổn thương polyp

Các polyp giống như mụn thịt nhỏ, phát triển từ lớp niêm mạc của ruột và nhô ra vào trong lòng ruột hay đôi khi mọc trên cuống. Một số khối polyp có thể phẳng, một số người có vài polyp nằm rải rác ở các phần khác nhau của đại tràng… Các polyp ở đại tràng có thể là polyp tăng sản, polyp u tuyến hay polyp mô thừa. Trong đó polyp u tuyến được cho là tiền thân của ung thư đại trực tràng.

Tăng sản lympho

Cho hình ảnh các nốt đường kính nhỏ, cỡ chỉ 1 – 3mm của các nang lympho đặc trưng bằng các khuyết sáng hay thấy ở đoạn cuối hồi tràng và manh tràng.

Viêm đại tràng

Viêm đại tràng là một trong những bệnh lý đường tiêu hóa ngày càng phổ biến. Hình ảnh chụp X quang đại tràng dùng thuốc cản quang có thể thất đại tràng hình ống, ổ loét, giả polyp…

Ung thư đại trực tràng

Là bệnh ung thư đường tiêu hóa phổ biến hàng đầu ở nữ giới và thứ ba ở nam giới. X quang đại tràng thường được xem xét khi nội soi đại trực tràng thất bại. Với phương pháp chụp đối quang kép có thể phát hiện những tổn thương nhỏ. Hình ảnh phim chụp có thể qua sát thể sùi vào lòng (hình khuyết bờ không đều), thể thâm nhiễm hay thể loét… Để đánh giá chính xác tình trạng bệnh, các bác sĩ thường phải kết hợp với nhiều phương pháp chẩn đoán chuyên sâu khác.

Các phương pháp chẩn đoán khác của ung thư đại trực tràng

Nội soi đại trực tràng: là một trong những phương pháp tiêu chuẩn, có độ chính xác được đánh giá cao hơn chụp khung đại tràng, nhất là khi kết hợp với sinh thiết giải phẫu mô bệnh học.

Siêu âm bụng: phát hiện u địa tràng di căn qua, hạch ổ bụng. Siêu âm qua nội soi, siêu âm qua trực tràng với đầu dò có dải tần cao cho phép đánh giá mức xâm lấn ung thư, tình trạng hạch tiểu khung

CT/MRI: phân tích đầy đủ tình trạng bệnh

Xét nghiệm máu dấu ấn ung thư cũng có gái trị nhất định trong phát hiện, theo dõi hiệu quả điều trị ung thư sau này…

Hiện nay, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Thu Cúc đã trang bị đầy đủ trang thiết bị y tế hiện đại bậc nhất, bao gồm các máy X quang, nội soi, CT… tiên tiến nhất để chẩn đoán chính xác các bệnh lý đại tràng.

Chẩn Đoán X Quang Dạ Dày

Chẩn đoán x quang dạ dày- tá tràng

ĐẠI CƯƠNG

Dạ dày, tá tràng cũng như toàn bộ đường ống tiêu hoá không cản quang với tia X, nên khi xét nghiệm X-quang dạ dày, tá tràng bệnh nhân phải uống thuốc cản quang Barium Sulfat (BaSO 4) hay còn gọi là chất Baryt.

Giá trị của chẩn đoán X-quang dạ dày, tá tràng ngoài xác định các tổn thương thực thể như loét, ung thư… còn cho biết những rối loạn về cơ năng, co bóp, lưu thông của dạ dày, tá tràng và những dấu hiệu chèn ép từ bên ngoài của các tạng lân cận vào dạ dày.

PHƯƠNG PHÁP X-QUANG DẠ DÀY-TÁ TRÀNG

Chuẩn bị bệnh nhân:

Bệnh nhân phải nhịn ăn trước 4-6 giờ.

Không uống các loại thuốc có tính chất cản quang trước khi đến chiếu, chụp X-quang ít nhất 3 ngày.

Nếu có hẹp môn vị phải rửa dạ dày trước khi chiếu, chụp X-quang.

Nhất thiết phải được thăm khám lâm sàng trước khi có chỉ định chiếu, chụp X-quang để loại trừ hai trường hợp có thủng tạng rỗng hoặc tắc ruột.

Kỹ thuật X-quang

Xét nghiệm X-quang dạ dày phải kết hợp cả chiếu và chụp.

Chiếu dạ dày

Được thực hiện trong buồng tối hoặc chiếu bằng máy X-quang tăng sáng truyền hình.

Chiếu X-quang dạ dày- tá tràng nhằm các mục đích sau:

Chiếu kiểm tra ổ bụng trước khi cho bệnh nhân uống thuốc cản quang để loại trừ dấu hiệu thủng tạng rỗng hoặc tắc ruột.

Xem co bóp và lưu thông của dạ dày.

Nén dạ dày để bộc lộ những tổn thương nghi do loét hoặc ung thư …bị che lấp khi dạ dày đầy thuốc.

Chụp dạ dày

Tiến hành theo quy trình sau:

Chụp một phim chuẩn dạ dày tư thế đứng (tư thế Standard).

Thực chất là lấy được toàn bộ dạ dày từ phình vị đến hết khung tá tràng vào thời điểm sau khi uống đầy thuốc cản quang và thuốc cản quang đã lưu thông xuống tá tràng (thông thường sau khi uống thuốc cản quang khoảng 5 phút).

Tiếp theo chụp một loạt 4 phim dạ dày tư thế nằm sấp kiểu Gutmann, mỗi phim cách nhau khoảng 2 đến 3 phút.

Trên loạt phim chụp nằm sấp, ngoài việc đánh giá những thay đổi về hình thể của dạ dày, còn cho biết lưu thông dạ dày, khả năng co bóp của hai bờ cong.

Nếu nghi ngờ bệnh lý ở tâm – phình vị nhất thiết phải chụp phim dạ dày tư thế bệnh nhân nằm ngửa đầu dốc (tư thế Trendelenburg).

Chụp dạ dày cản quang kép (Double contrast):

Là phương pháp chụp sử dụng hai loại cản quang:

Uống Baryt một ngụm nhỏ sau đó cho uống hợp chất sinh hơi vào dạ dày (gồm acide tatric và Natri bicarbonate để tạo khí CO 2 trong lòng dạ dày). Phương pháp này sẽ làm dạ dày căng hơi và giúp ta thấy rõ hai bờ cong cũng như niêm mạc của dạ dày. Nó được chỉ định trong những trường hợp có nghi ngờ trên phim chụp dạ dày thông thường.

Chụp khung tá tràng:

Thực chất là phim chụp tư thế bệnh nhân đứng, lấy toàn bộ dạ dày và tá tràng sau khi thuốc đã lưu thông xuống tá tràng.

Phương pháp này được chỉ định khi có nghi ngờ có khối u ở đầu tụy.

HÌNH ẢNH X-QUANG DẠ DÀY-TÁ TRÀNG BÌNH THƯỜNG

Dạ dày

Dạ dày nằm ngay dưới bờ cơ hoành bên trái, gồm hai phần:

Phần đứng chạy gần song song bên trái cột sống.

Phần ngang vắt qua cột sống và chếch sang phải.

Túi hơi dạ dày nằm sát bờ dưới cơ hoành trái, trên phim chụp dạ dày đứng cho thấy hình mức khí, mức dịch.

Một số trường hợp dạ dày có dạng hình thác (Cascade stomach): Trên phim chụp dạ dày đứng sẽ cho thấy hình ảnh hai mức khí, dịch ở túi hơi dạ dày. Nguyên nhân của dạ dày hình thác có thể là bẩm sinh, đôi khi là do ổ loét ở tâm vị tạo nên.

Ở người béo dạ dày thường nằm ở cao và chạy ngang trên rốn, lưu thông nhanh co bóp hai bờ cong tăng (hypertony).

Ở người gầy và phụ nữ dạ dày thường sa thấp dưới mào chậu, lưu thông chậm và nhu động co bóp giảm (hypotony).

Bờ cong lớn là bờ trái của dạ dày, chạy từ phình vị đến ống môn vị. Niêm mạc ở đây thường rất thô, dễ nhầm với các tổn thương bệnh lý.

Bờ cong bé là bờ bên phải của dạ dày, chạy từ tâm vị đến ống môn vị.

Ống môn vị điều chỉnh thuốc cản quang từ vùng môn vị sang hành tá tràng, nó tạo nên một dải mờ rộng 6-7mm, dài 10mm nối dạ dày với hành tá tràng, có lúc không thấy được trên phim nếu chụp vào thời điểm ống môn vị đóng.

Bình thường hai bờ cong co bóp mềm mại và thay đổi đường cong trên các phim chụp.

Niêm mạc dạ dày:

Nếu uống ít thuốc cản quang, ta có thể thấy được các nếp niêm mạc dạ dày. Đó là những dải sáng to bằng chiếc đũa chạy ngoằn ngoèo dọc theo phần đứng và phần ngang của dạ dày.

Ở vùng hang vị đôi khi có những nếp niêm mạc chạy ngang, làm gián đoạn một vài chỗ của hai bờ cong, hoặc tạo nên những chỗ nhô thuốc cản quang, dễ nhầm với ổ nhô thuốc do loét ở bờ cong.

Hành tá tràng

Có hình như củ hành hoặc hình tam giác, đỉnh nối với tá tràng đoạn 1, đáy có ống môn vị đổ vào. Trong trường hợp túi mật to có thể gây đè ép gây khuyết thuốc cạnh ngoài của hành tá tràng.

Tá tràng

Hình chữ U có 4 đoạn:

Đoạn 1: Tiếp nối với hành tá tràng.

Đoạn 2: Chạy dọc theo bờ bên phải cột sống, có chiều cao bằng chiều cao của hai thân đốt sống. Bờ trong của tá tràng cách bờ cong lớn của dạ dày một khoảng bằng chiều rộng của một thân đốt sống.

Đoạn 3: Chạy chếch sang trái.

Đoạn 4: Chạy chếch lên trên, và sang trái đến góc TREITZ để nối với hỗng tràng.

Niêm mạc của tá tràng trên phim chụp X-quang nhìn tương tự như hình “lông chim” hoặc “lá cây dương sỉ”.

HÌNH ẢNH DẠ DÀY-TÁ TRÀNG BỆNH LÝ

Hình ảnh viêm niêm mạc dạ dày.

Hình ảnh X-quang tùy thuộc vào bệnh nguyên và mức độ thương tổn sẽ có các dấu hiệu như:

Có mức dịch vị ở vùng túi hơi dạ dày. Trên phim chụp dạ dày tư thế đứng ở vùng túi hơi dạ dày xuất hiện 3 mức: mức khí, mức dịch vị, mức baryt. Nếu quá trình viêm xảy ra ở hành tá tràng thì hành tá tràng cũng có 3 mức khí – dịch như trên.

Loét dạ dày

Có hai loại ổ loét ở dạ dày: Loét ở bờ cong dạ dày và loét ở mặt dạ dày.

Loét ở bờ cong dạ dày: Thường gặp là loét ở bờ cong bé, loét ở bờ cong lớn ít gặp.

Loét ở mặt dạ dày: Có thể loét ở mặt trước hoặc ở mặt sau dạ dày (không phân biệt được trên phim chụp đầy thuốc).

Hình ảnh trực tiếp của ổ loét ở bờ cong bé dạ dày:

Là hình ảnh nhô thuốc ở bờ cong bé, được tạo nên do thuốc cản quang Baryt lọt vào trong ổ loét của thành dạ dày.

Ổ nhô thuốc thường có hình gai hoa hồng, hình cựa gà hoặc hình tròn như núm nắp ấm, thấy được liên tục trên tất cả các phim chụp, không thay đổi về vị trí, hình thể và kích thước.

Đáy ổ loét có khi nhẵn hoặc nham nhở.

Chân ổ loét, chỗ sát với bờ cong có thể có hình sáng do viêm phù nề hoặc nếu là ổ loét ác tính, đoạn bờ cong hai bên ổ loét có thể bị cứng, hoặc thâm nhiễm hình “thấu kính” hoặc hình “chân rễ”.

Ổ loét HAUDEK là ổ loét thủng bịt, thấy rõ trên phim chụp dạ dày tư thế đứng. Một ổ nhô thuốc cản quang ở bờ cong và có hai mức nước ngang: một mức của thuốc cản quang Baryt nằm ở dưới đáy và một mức của dịch vị nhẹ hơn nằm trên và trên cùng là khoảng sáng của hơi.

Hình ảnh gián tiếp của ổ loét ở bờ cong bé:

Bờ cong lớn đối diện với ổ loét có thể có hình co lõm (hình dấu ấn ngón tay), làm cho dạ dày có hình dạng như “đồng hồ cát”, hoặc hình “chữ B” mà không thấy hình ảnh trực tiếp của ổ loét ở bờ cong bé.

Có thể thấy hình ảnh những nếp niêm mạc quy tụ về phía chân của ổ loét, hoặc bờ cong bé bị co rút, do sẹo ổ loét cũ xơ chai co kéo, làm cho dạ dày có dạng “dạ dày hình con ốc sên”.

Hình ảnh nhô thuốc ở bờ cong do ổ loét tạo nên cần được phân biệt với:

Hình nhô thuốc của bờ cong do sóng nhu động của dạ dày. Hình nhô thuốc này sẽ thay đổi trên các phim chụp.

Hình cản quang ở góc bờ cong bé do góc TREITZ tạo nên: hình cản quang có dạng hình “lông chim” hoặc “lá cây dương sỉ” và có sự thay đổi khi chiếu nén.

Hình ảnh X-quang của ổ loét ở mặt dạ dày:

Đó là một hình đọng thuốc ở mặt dạ dày.

Ổ loét thường được thấy rõ hơn trên phim chụp nếu cho uống ít thuốc baryt hoặc trong trường hợp ổ loét có quầng phù nề lớn ở xung quanh.

Nếu uống đầy thuốc, ổ loét ở mặt dạ dày thường bị che lấp.

Để thấy rõ ổ loét ở mặt dạ dày, trong trường hợp này người ta phải sử dụng kỹ thuật chiếu nén hoặc kỹ thuật chụp dạ dày cản quang kép.

Ổ đọng thuốc do loét ở mặt dạ dày thường kèm theo quầng sáng xung quanh do phù nề, hoặc hình ảnh các nếp niêm mạc quy tụ vào ổ loét.

Bờ cong lớn đối diện với ổ loét có thể có hình co lõm, làm cho dạ dày có dạng “đồng hồ cát”.

Đáy ổ loét có khi nhẵn hoặc nham nhở.

Chân ổ loét, chỗ sát với bờ cong có thể có hình sáng do viêm phù nề hoặc nếu là ổ loét ác tính, đoạn bờ cong hai bên ổ loét có thể bị cứng, hoặc thâm nhiễm hình “thấu kính” hoặc hình “chân rễ”.

Cần phân biệt ổ đọng thuốc do loét mặt dạ dày với hình ảnh các nốt đọng thuốc của cục baryt chưa tan.

Hình ảnh của những ổ loét dạ dày ở những vị trí ít gặp:

Loét bờ cong bé vùng tâm vị

Loét bờ cong lớn

Đó là những loại ổ loét ít gặp nhưng dễ bị ung thư hoá. Ổ loét thường có kích thước lớn nên đôi khi dễ nhầm với ổ nhô thuốc do sóng nhu động của bờ cong lớn tạo nên.

Loét ống môn vị: biểu hiện bằng hình ảnh một ổ đọng thuốc ở ống môn vị, hoặc ống môn vị bị gập góc trông có dạng chữ “L”.

Loét hành tá tràng

Đặc điểm của ổ loét ở hành tá tràng thường là ổ loét mặt, ổ loét bờ thường ít gặp hơn.

Có hai loại ổ loét ở hành tá tràng: ổ loét mới (loét non) và ổ loét cũ (loét xơ chai, biến dạng hành tá tràng).

Hình ảnh X-quang ổ loét non hành tá tràng:

Đó là hình ổ đọng thuốc, thường nằm ở chính giữa hành tá tràng, có quầng sáng do phù nề hoặc quy tụ niêm mạc xung quanh ổ loét. Hành tá tràng vẫn giữ nguyên hình thể, chưa bị biến dạng. Trường hợp ổ loét non nằm ở bờ của hành tá tràng sẽ cho thấy hình ảnh khuyết một cạnh của hành tá tràng, đôi khi có thể thấy một ổ đọng thuốc nằm ngay vùng khuyết thuốc.

Những ổ loét mới ở hành tá tràng dễ bị che lấp nếu hành tá tràng ngấm đầy thuốc baryt, chỉ thấy được ổ loét này khi chiếu nén.

Hình ảnh X-quang ổ loét xơ chai hành tá tràng:

Khi hành tá tràng bị xơ chai hoàn toàn sẽ gây tắc hẹp lưu thông xuống ruột gây hẹp môn vị.

Hình ảnh gián tiếp của loét hành tá tràng:

Đôi khi ổ loét ở hành tá tràng không cho thấy trên phim chụp bằng hình ảnh ổ đọng thuốc mà chỉ biểu hiện qua những dấu hiệu gián tiếp như:

Hành tá tràng không ngấm thuốc.

Khuyết một cạnh của hành tá tràng.

Hành tá tràng gục về phía sau.

Hình ảnh hẹp môn vị.

Loét tá tràng

Loét tá tràng còn gọi là loét hậu hành. Ổ loét thường xảy ra ở đoạn tá tràng D2. Hình ảnh X-quang biểu hiện bằng một ổ đọng thuốc nằm trên một đoạn của tá tràng bị hẹp hoặc ngấm thuốc kém. Hình ảnh này được hình tượng như “hạt ngọc xâu qua sợi chỉ”.

Ung thư dạ dày

Hình ảnh X-quang dạ dày cũng được phân ra 3 thể giống như hình đại thể của giải phẫu bệnh lý: đó là thể u cục (còn gọi là thể sùi), thể nhiễm cứng và thể loét.

Ung thư dạ dày thể u cục:

Là thể ung thư thường gặp ở dạ dày.

Hình ảnh X-quang dễ nhận biết trên phim chụp bởi một vùng khuyết thuốc cản quang có giới hạn nham nhở. Hình khuyết thuốc không có sự thay đổi trên tất cả các phim chụp.

Thể ung thư này thường xảy ra ở vùng hang vị dạ dày. Nếu khối u choán toàn bộ vùng hang vị sẽ tạo nên hình ảnh dạ dày bị cắt cụt.

Lâm sàng khi khám thực thể có thể sờ thấy khối u ở vùng thượng vị và kèm theo dấu hiệu cơ năng của hẹp môn vị.

Cần phân biệt hình khuyết thuốc cản quang do ung thư dạ dày thể u cục gây nên với:

Hình khuyết thuốc vùng thân vị dạ dày do cột sống đè lên khi bệnh nhân chụp dạ dày nằm sấp (thường gặp ở phụ nữ).

Do thức ăn trong dạ dày chưa tiêu hết.

Hình khuyết thuốc cản quang vùng hang vị do u đầu tụy chèn:

U đầu tụy thường gây khuyết thuốc phần bờ cong lớn của hang vị, giới hạn vùng khuyết thuốc thường nhẵn.

Kèm theo là dấu hiệu khung tá tràng giãn rộng.

Dấu hiệu lâm sàng thường có vàng da tắc mật.

Ung thư dạ dày thể nhiễm cứng

Nhiễm cứng do ung thư dạ dày có thể xảy ra ở một vùng của bờ cong hoặc toàn bộ dạ dày.

Nhiễm cứng xảy ra ở một đoạn của bờ cong sẽ cho thấy đoạn bờ cong đó không có sóng nhu động, tồn tại trên tất cả các phim chụp.

Nhiễm cứng xảy ra ở một vùng của dạ dày, sẽ gây hẹp lòng dạ dày ở vùng đó, thể ung thư này được gọi là ung thư thể nhẫn.

Nhiễm cứng ở vùng thân vị sẽ tạo cho dạ dày có hình ảnh dạ dày hai túi. Do hẹp cân đối ở giữa nên dạ dày có dạng chữ “X” (Khác với dạ dày hình chữ “B” trong loét bờ cong bé).

Nếu ung thư nhiễm cứng thể nhẫn xảy ra ở vùng hang vị sẽ tạo cho hang vị có hình “cổ ngỗng”.

Cần lưu ý phân biệt ung thư nhiễm cứng thể nhẫn vùng hang vị với hẹp hang vị do viêm xơ hang vị.

Trong viêm xơ hoá hang vị ta còn thấy sóng nhu động của hai bờ cong dạ dày và các nếp niêm mạc ở đây vẫn còn.

Trong ung thư thể nhiễm cứng hang vị, hai bờ cong vùng nhiễm cứng không còn thấy sóng nhu động, các nếp niêm mạc đã bị mất.

Nếu nhiễm cứng xảy ra trên toàn bộ hai bờ cong dạ dày, sẽ cho ta hình ảnh dạ dày có dạng hình “túi da” (leathe botle), hoặc dạ dày bé (linite plastic).

Hai bờ cong không còn sóng nhu động, dạ dày tiêu thuốc nhanh, hành tá tràng giãn to.

Ung thư dạ dày thể loét và loét ung thư hoá:

Người ta chỉ xác định được hình ảnh X-quang của ung thư dạ dày thể loét và loét ung thư hoá dựa trên quá trình tiến triển của bệnh.

Ung thư dạ dày thể loét cho thấy ổ loét xuất hiện đồng thời trên nền tổ chức ung thư.

Loét ung thư hoá là tổn thương ung thư xuất hiện trên cơ sở một ổ loét lành tính có từ trước.

Hình ảnh X-quang ung thư dạ dày thể loét và loét K hoá là những ổ loét có các dấu hiệu như sau:

Chân ổ loét ở bờ cong bé có hình quầng sáng, kiểu hình “thấu kính” hoặc hình “chân rễ”.

Các nếp niêm mạc quanh một ổ loét ở mặt của dạ dày hoặc ở dưới chân một ổ loét của bờ cong bé không còn thấy rõ hoặc thay đổi hướng đi (dấu hiệu VESPIGNANI).

Ổ loét có đáy nham nhở hoặc phẳng (ổ loét hình bình nguyên).

Trên thực tế các thể ung thư dạ dày nói trên có thể phối hợp với nhau trên cùng một bệnh nhân.

Ung thư ở phần cao của dạ dày:

Đây là loại ung thư ít gặp.

Tổn thương ung thư nằm ở vùng tâm phình vị dạ dày. Triệu chứng lâm sàng thường nổi bật là nuốt khó và sặc khi ăn uống, cơ thể suy sụp.

Khám X-quang có thể kết hợp chiếu và chụp sẽ thấy các dấu hiệu như:

Khuyết nham nhở vùng phình vị, thấy rõ được trên phim chụp tư thế bệnh nhân nằm ngửa đầu dốc (Trendelenburg).

Thay đổi góc His (góc tạo nên bởi thực quản đổ vào tâm vị).

Khi ung thư tâm vị gây xâm nhập thực quản đoạn tâm vị, sẽ gây hẹp lòng thực quản tâm vị, bờ thực quản nham nhở.

Có dấu hiệu Hammer (khi chiếu thực quản dạ dày sẽ cho thấy thuốc cản quang lưu thông qua tâm vị giống như nước trườn qua khe đá).

Hẹp môn vị dạ dày

Hẹp môn vị dạ dày có thể do các nguyên nhân thường gặp sau đây:

Loét xơ chai hành tá tràng.

Ung thư dạ dày.

Phì đại cơ thắt môn vị.

Thông thường hẹp môn vị do loét xơ chai hành tá tràng, dạ dày thường giãn rất to, nằm thấp xuống dưới mào chậu, co bóp của hai bờ cong yếu (Hypotony) hoặc không còn. Lưu thông của thuốc cản quang xuống tiểu tràng rất chậm (có thể sau vài giờ). Lòng dạ dày chứa nhiều thức ăn và dịch vị, vì thế khi uống thuốc cản quang vào dạ dày, ta sẽ thấy thuốc cản quang bị phân tán trong lòng dạ dày (dấu hiệu tuyết rơi).

Trong trường hợp hẹp môn vị do ung thư dạ dày, ta có thể thấy dạ dày ít khi bị giãn to, thuốc cản quang vẫn có thể lưu thông được xuống tá tràng, tuy có hơi chậm.

Nếu hẹp môn vị do tắc lưu thông dạ dày bởi một ung thư dạ dày thể nhẫn ở vùng hang vị thì lòng dạ dày ở đây sẽ bị hẹp và đờ cứng. Nếu hẹp môn vị do ung thư dạ dày thể u cục vùng hang vị, thường tạo nên hình ảnh dạ dày bị cắt cụt.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Cac Dau Hieu Va Hinh Anh X Quang Nguc trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!