Đề Xuất 12/2022 # Cách Chữa Bệnh Trầm Cảm Tại Nhà / 2023 # Top 19 Like | Growcaohonthongminhhon.com

Đề Xuất 12/2022 # Cách Chữa Bệnh Trầm Cảm Tại Nhà / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Cách Chữa Bệnh Trầm Cảm Tại Nhà / 2023 mới nhất trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trầm cảm là một vấn đề khác hơn rất nhiều so với buồn chán hay mệt mỏi đơn thuần. Rất nhiều người nghĩ rằng trầm cảm không phải là một tình trạng sức khỏe thực sự. Họ sai. Trầm cảm thực sự là một căn bệnh với những triệu chứng, nó không phải là dấu hiệu của một sự yếu đuối hay một cái gì đó có thể thoát khỏi bằng cách “xích lại gần nhau hơn”. Tin tốt là trầm cảm có thể được điều trị.

NỘI DUNG CHÍNH TRONG BÀI VIẾT

Bệnh trầm cảm được chia ra làm 3 giai đoạn: Trầm cảm nhẹ, trầm cảm vừa (trầm cảm trung bình), trầm cảm nặng.

Điều trị trầm cảm nhẹ có thể chưa cần dùng đến thuốc, bệnh nhân có thể khắc phục bằng thay đổi lối sống. Tuy nhiên nếu bạn bị trầm cảm nhẹ trong một vài tháng mà không thuyên giảm triệu chứng, hãy tìm kiếm sự giúp đỡ từ bác sĩ, đi khám.

Điều trị trầm cảm từ trung bình đến nặng cần có sự thăm khám của bác sĩ. Điều trị phải kiên trì, tuân thủ đúng phác đồ do thời gian điều trị kéo dài, cần kết hợp rất nhiều phương pháp khác nhau (sử dụng thuốc, trị liệu tâm lý, thay đổi lối sống, chế độ ăn uống) và bệnh nhân có thể sẽ phải nhập viện.

Chữa bệnh trầm cảm nhẹ tại nhà

Những người mắc trầm cảm thường có xu hướng ít vận động, thiếu giao lưu, khiến tình trạng trầm cảm càng trở nên trầm trọng hơn. Tuy nhiên, thể dục thể thao lại là một phương pháp được cho là hiệu quả hơn cả việc dùng thuốc, bởi thông qua thể dục thể thao có thể khiến tâm trí được thả lỏng, khiến tế bào được “thức tỉnh” và xoa dịu được cảm giác tiêu cực

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng những bài tập thể dục có hiệu quả trong việc nâng cao tâm trạng và giảm các triệu chứng trầm cảm. Đối với lo lắng, nhiều nghiên cứu cũng đã tìm thấy một sự cải thiện trong các triệu chứng lo âu khi hoạt động thể chất tăng lên. Bởi việc tập thể dục giúp tăng cường sản xuất serotonin và endorphins – là những chất dẫn truyền thần kinh trong não đóng một vai trò trong nguyên nhân gây trầm cảm.

Buổi sáng bạn nên dậy sớm để hít thở bầu không khí trong lành, sau đó tập một bài thể dục hoặc vận động theo cách mà bạn cảm thấy thoải mái nhất.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tham gia vào một câu lạc bộ thể dục thể thao hay đến phòng tập, điều này mang lại rất nhiều lợi ích ngoài việc nâng cao sức khỏe:

Tăng lòng tự trọng

Tăng sự tự tin

Tăng cường các mối quan hệ xã hội

Nếu không có thời gian, bạn chỉ cần đi bộ 30 phút mỗi ngày cũng có thể giúp làm giảm đáng kể nguy cơ mắc các bệnh mãn tính như lo âu, trầm cảm.

Hãy nhớ rằng, phải mất khoảng sáu tháng để “khóa” một hành vi mới (tức là để tạo nên một thói quen mới chúng ta thường mất khoảng 6 tháng). Hãy biến việc thể dục thể thao của bạn như một sự thay đổi vĩnh viễn trong hành vi của bạn. Hãy cố gắng vượt qua sự lười biếng, chán nản của bản thân duy trì thói quen này lâu dài vì những lợi ích mà nó mang lại.

Não là một trong những cơ quan có hoạt động trao đổi chất nhiều nhất cơ thể và nó cần một dòng chất dinh dưỡng ổn định để hoạt động. Một chế độ dinh dưỡng nghèo nàn có thể sẽ không cung cấp đủ dưỡng chất cần thiết để sản xuất các chất dẫn truyền thần kinh hay làm cho sự phát triển và kết nối của tế bào thần kinh bị chậm.

Vì thế, hãy chú ý tới chế độ ăn uống của mình:

Xây dựng một chế độ ăn uống lành mạnh. Hãy ăn những thực phẩm tươi sống, đặc biệt ăn nhiều rau xanh, trái cây; uống đủ nước. Chú ý bổ sung đủ canxi; ăn lượng trans fat (chất béo chuyển hóa) trong giới hạn cho phép (WHO, NAS và AHA đều thống nhất lượng trans fat ăn vào hằng ngày phải dưới 1% tổng lượng calo mà cơ thể cần trong ngày), không nên loại bỏ chất béo ra khỏi bữa ăn vì có thể làm mất cân bằng dinh dưỡng tự nhiên; hạn chế muối.

Tăng cường hệ miễn dịch. 80% hệ miễn dịch của cơ thể nằm trong đường tiêu hóa, vì thế hãy chú ý tới việc chăm sóc sức khỏe của hệ này. Bạn có thể sử dụng những thực phẩm có bổ sung probiotic như sữa chua hay sữa chua uống.

Sử dụng rượu có chừng mực. Những người bị trầm cảm nên ngừng uống rượu, nếu không thể hãy sử dụng có chừng mực. Các cá nhân bị trầm cảm thường sử dụng rượu như là một cách để tự chữa trị, cố gắng làm “tê liệt” nỗi đau bệnh tật của họ. Nhưng điều này chỉ tồi tệ hơn mà thôi. Nhiều nghiên cứu kết luận rằng lạm dụng rượu sẽ làm trầm cảm nặng thêm.

Chất lượng giấc ngủ thấp ảnh hưởng lớn đến tâm trạng. Ngủ đủ giấc với giấc ngủ chất lượng giúp não bộ nghỉ ngơi và phục hồi cân bằng, từ đó giúp giảm bớt trầm cảm và lo âu.

Có thể cải thiện giấc ngủ bằng cách chú ý hơn đến môi trường trong phòng ngủ (nhiệt độ, ánh sáng, đồ đạc trong phòng, âm thanh, không khí lưu thông trong phòng), thiết lập được đồng hồ sinh học hoạt động đúng (đi ngủ và thức dậy đúng giờ). Nếu bị mất ngủ, hãy tham khảo một số phương pháp cải thiện tự nhiên, không nên lạm dụng thuốc ngủ.

Điều trị trầm cảm nặng cần kết hợp rất nhiều phương pháp khác nhau (như dùng thuốc, trị liệu tâm lý, thay đổi phong cách sống) và bệnh nhân có thể phải nhập viện. Điều trị trầm cảm nặng có thể chia ra làm 3 giai đoạn gồm:

Giai đoạn tấn công. Kéo dài 4-8 tuần, và cũng là giai đoạn khó khăn nhất. Bởi bệnh nhân thường bỏ thuốc do cảm thấy bệnh không tiến triển. Nếu là người mắc, bạn hãy cố gắng kiên trì để vượt qua thời gian này. Nếu là người nhà, bạn hãy nhắc nhở và giúp đỡ người thân của mình uống thuốc đúng giờ và đủ liều.

Giai đoạn có tác dụng. Qua giai đoạn tấn công các triệu chứng bệnh sẽ thuyên giảm dần và ổn định sau khoảng 16-20 tuần điều trị thuốc cùng các liệu pháp kết hợp khác. Giai đoạn này dù thấy bệnh cải thiện tốt nhưng không có nghĩa là bệnh đã khỏi hẳn, bệnh nhân vẫn cần tuân thủ đúng phác đồ của bác sĩ chỉ định và tránh các tác nhân khiến bệnh nặng thêm (bằng cách thực hiện các thay đổi lối sống như phần trên).

Giai đoạn duy trì. Đây là giai đoạn cực kì quan trọng trong chữa bệnh trầm cảm tại nhà, thế nhưng bệnh nhân lại thường bỏ thuốc do cảm thấy mình đã trở lại bình thường. Chính điều này khiến tỉ lệ tái phát trầm cảm khá cao. Giai đoạn duy trì thường kéo dài 6 tháng hoặc vài năm, có những bệnh nhân phải kéo dài cả đời để tránh tái phát.

Dấu hiệu tái phát trầm cảm

Những dấu hiệu của sự tái phát trầm cảm cũng giống như các triệu chứng khởi phát trầm cảm ban đầu, với: nỗi buồn, sự khó chịu, tức giận, cảm giác tội lỗi, thiếu năng lượng, cảm giác tuyệt vọng, vv.

Ngăn ngừa tái phát trầm cảm

Để ngăn ngừa trầm cảm tái phát, bệnh nhân cần tiếp tục làm theo những lời khuyên của bác sĩ. Hãy đến các buổi trị liệu, nói chuyện với các thành viên trong gia đình, uống thuốc theo toa, thay đổi lối sống. Điều quan trọng nhất trong công tác phòng chống tái phát trầm cảm là người bệnh phải nhận thức được vấn đề này. Nếu cảm thấy triệu chứng trầm cảm trở lại, hãy đi khám ngay lập tức.

Bệnh Trầm Cảm Là Gì? Dấu Hiệu Và Cách Chữa Bệnh Trầm Cảm / 2023

Bệnh trầm cảm là gì? Dấu hiệu và cách chữa bệnh trầm cảm

Trầm cảm là bệnh gì?

Bệnh trầm cảm là một hội chứng gây rối loạn tâm trạng, chúng gây ra một cảm giác rất buồn và mất đi hứng thú kéo dài dai. Chứng bệnh trầm cảm sẽ gây ảnh hưởng đến cách mà bạn cảm nhận, suy nghĩ và hành xử hoặc có thể dẫn tới những vấn đề đa dạng về cả tinh thần lẫn thể chất. Nếu như nỗi buồn kéo dài nhiều ngày hoặc là nhiều tuần, nó cũng có thể khiến cho bạn khó làm việc hoặc là vui vẻ với gia đình và bạn bè, thậm chí là trong nhiều trường hợp nghiêm trọng, chứng bệnh trầm cảm có thể dẫn người ta đến ý định tự tử. Trong nhiều dạng trầm cảm, thì trầm cảm sau sinh là một tình trạng rất phổ biến.

Dấu hiệu và các triệu chứng của bệnh trầm cảm

Dấu hiệu và các triệu chứng của bệnh trầm cảm rất đa dạng, ví dụ như là khi bị trầm cảm, sẽ có người ngủ nhiều hơn, có người thì lại rất khó ngủ hoặc là có người thì ăn nhiều hơn, trong khi nhiều người lại mất đi cảm giác ngon miệng khi ăn. Thế nhưng, vẫn có các dấu hiệu trầm cảm dạng nhẹ thường xuất hiện như:

Khó hoặc không thể tập trung

Cảm thấy luôn vô cùng mệt mỏi

Cảm thấy buồn hoặc là trống rỗng

Cảm thấy tuyệt vọng, dễ kích động, lo lắng và cảm thấy có lỗi

Mất đi hứng thú với quan hệ tình dục

Nhức đầu, đau bụng hoặc là gặp các vấn đề về tiêu hóa

Có ý định tự tử.

Nguyên nhân của bệnh trầm cảm là gì

Nguyên nhân của bệnh trầm cảm là gì cũng rất khác nhau hoặc là do sự kết hợp của nhiều nguyên nhân. Những nguyên nhân chính dẫn đến trầm cảm phổ biến nhất gồm:

Gen: nếu như bạn có người thân ở trong gia đình từng bị trầm cảm thì các bạn có thể sẽ có nhiều khả năng mắc chứng bệnh trầm cảm hơn người bình thường

Các chất hóa học có trong não: theo như nhiều nghiên cứu, các thành phần của chất hóa học có trong não người mắc bệnh trầm cảm sẽ khác với người bình thường

Stress: có người thân yêu đã qua đời, những việc khó khăn trong mối quan hệ tình cảm hay là bất cứ tình huống nào gây stress cũng có thể gây ra chứng bệnh trầm cảm.

Khắc phục và điều trị bệnh trầm cảm

Khắc phục và điều trị bệnh trầm cảm có thể bao gồm thuốc, nói chuyện với các chuyên viên trị liệu hoặc là bác sĩ tâm lý và dùng phương pháp sốc điện.

Những phương pháp về tâm lý trị liệu là phổ biến và sẽ dạy cho các bạn những cách suy nghĩ và cư xử mới, giúp thay đổi về thói quen từng góp phần khiến cho bạn bị trầm cảm. Phương pháp này còn có thể giúp bạn thấu hiểu và vượt qua được những khó khăn trong các mối quan hệ hoặc là những tình huống khiến các bạn bị trầm cảm hay là làm cho bệnh bớt trầm trọng hơn.

Hi vọng qua bài viết này, các bạn đã nắm được những thông tin về bệnh trầm cảm qua đó sẽ phát hiện cũng như là điều trị bệnh sớm nhất có thể, tránh để cho bệnh tình ảnh hưởng tới cuộc sống. Xin cám ơn.

10 Cách Chữa Bệnh Trầm Cảm Tại Nhà Mà Không Cần Dùng Đến Thuốc / 2023

Dấu hiệu bệnh trầm cảm

Trước khi tìm hiểu cách chữa bệnh trầm cảm tại nhà thì chúng ta cần nắm được các dấu hiệu của bệnh trước, các dấu hiệu phổ biến như sau:

Khó tập trung, suy giảm trí nhớ

Khó ăn, mất ngủ

Thích ở một mình, không thích tiếp xúc với cuộc sống bên ngoài

Cảm giác tội lỗi, vô dụng

Luôn muốn cào, cấu, hành hạ thể xác, tự tử

Hay đau đầu, rối loạn tiêu hóa,..

Căng thẳng, stress, buồn chán

10 cách chữa bệnh trầm cảm tại nhà

Khi có các dấu hiệu kể trên, thì bạn phải nhanh chóng áp dụng các phương pháp chữa trầm cảm sau để khắc phục ngay:

Ăn uống lành mạnh

Vấn đề ăn uống là hết sức quan trọng của người bệnh trầm cảm. Trầm cảm thường dẫn đến ăn uống lung tung, lúc muốn ăn lúc không, nên kiểm soát số lượng, tự nấu ăn và chủng loại thực phẩm nạp vào cơ thể sẽ giúp các bệnh nhân cảm thấy khá hơn.

Tiếp nhận ánh nắng mặt trời

Tiếp xúc với ánh nắng mặt trời là cách cực kỳ đơn giản giúp hỗ trợ cơ thể vượt qua trầm cảm tốt hơn. Khi làn da tiếp xúc với ánh nắng mặt trời thì cơ thể sẽ tạo ra hormone giúp giảm căng thẳng và tạo cảm giác hạnh phúc. Nó còn giúp bạn vào giấc ngủ dễ dàng hơn.

Tập thể dục

Hoạt động thể chất thúc đẩy cơ thể sản xuất endorphin, chất dẫn truyền thần kinh có tác dụng cải thiện tâm trạng và giảm đau, từ đó giúp bộ não tự điều chỉnh theo hướng tích cực hơn. Bạn nên ra công viên tập bởi ở đó có nhiều người, bạn có thể khám phá bên ngoài nhiều hơn, vui vẻ hơn. Không cần phải tập luyện quá nặng mà chỉ cần vài lần mỗi tuần là đủ.

Ngủ đủ giấc

Giấc ngủ nó như liều thuốc an thần cho bạn. Khi bạn ngủ được khi đó tinh thần của bạn cũng sẽ được thoải mái, không bị căng thẳng hay stress nữa. Bạn hãy đi ngủ và thức dậy thật đúng giờ, cố gắng loại bỏ các thiết bị di động khỏi mình và những phiền nhiễu ra khỏi phòng ngủ của bạn. Chỉ cần thực hiện biện pháp này, bạn sẽ thấy hiệu quả rõ rệt cho mình.

Tham gia các hoạt động vui chơi giải trí

Nếu bạn cảm thấy chán nản thì hãy tìm cho mình ngay một chỗ vui chơi để khuây khỏa đầu óc. Còn khi ấm ức chuyện gì đó thì tìm một người mà thấu hiểu mình để tâm sự và chia sẻ hết nỗi lòng.

Hãy thực hiện những điều bạn thích ngay cả khi lúc đó chưa cảm thấy thích thú. Khi bạn thực hiện như vậy, chỉ sau một thời gian bạn sẽ trở lại cảm giác thích các sở thích như hồi xưa.

Giảm căng thẳng trong công việc

Nếu như những công việc ở nhà hay ở cơ quan đang quá tải với bạn, đừng ngần ngại yêu cầu sự chia sẻ, trợ giúp từ người thân, đồng nghiệp. Đừng để áp lực công việc lại biến nguy cơ trầm cảm của bạn trở lên trầm trọng thêm.

Bạn hãy bớt chút thời gian trong công việc lại để làm những điều mình thích.

Làm một điều gì đó thú vị

Khi bạn đang chán nản mà không tìm thấy lối thoát, hãy đặt bản thân làm một điều gì đó thú vị như: Tham gia một lớp học tâm lí, đi đến bảo tàng,…

Bạn hãy thử bởi nó sẽ làm cho người bệnh được thư giãn, tịnh tâm.

Trải nghiệm mới

Chăm chỉ nói chuyện với mọi người

Hầu hết những người có dấu hiệu trầm cảm thường không thích chia sẻ vấn đề của mình với bất kỳ ai. Thế nhưng, nếu không chia sẻ được những khó khăn thì chỉ cần bạn chăm chỉ giao tiếp với mọi người về những việc nhỏ nhặt như tin tức, phim ảnh, vui chơi… sẽ giúp cơ thể linh hoạt, năng động hơn nên cũng hạn chế trầm cảm hiệu quả.

Trong cuộc chiến chống bệnh trầm cảm của bạn thì tinh thần của bạn ảnh hưởng rất nhiều. Vì vậy để chiến thắng được căn bệnh thì bạn cần suy nghĩ những điều tích cực, bạn hãy đánh tan những điều tiêu cực ra khỏi đầu óc của mình. Điều này sẽ giúp bạn giảm được triệu chứng của bệnh.

Bệnh Trầm Cảm Là Gì? Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Cách Chữa Bệnh Trầm Cảm / 2023

Cảm xúc là dấu hiệu của một cuộc sống. Một con người bình thường vẫn hay được miêu tả với các cảm xúc hỉ nộ ái ố khác nhau. Đối diện với một sự việc, một hoàn cảnh, mỗi người sẽ có những cảm xúc khác nhau, những suy nghĩ khác nhau từ đó đưa ra những hành động khác nhau. Trước một sự việc đáng tiếc, có người buồn một ngày, có người buồn 1 tháng, nhưng cũng có người phải mất đến hàng năm hoặc đôi khi là cả đời ám ảnh. Đó là những cảm xúc thông thường của con người, tuy nhiên, Trầm cảm không phải một dạng cảm xúc. Trầm cảm là một căn bệnh.

Một trong những bi kịch của thời hiện đại là sự gia tăng không ngừng của các rối loạn trầm cảm. Trầm cảm – một căn bệnh không quá mới, cũng không quá cũ. Căn bệnh không phân biệt tuổi tác, giới tính, chủng tộc, hay tình trạng kinh tế xã hội. Tất cả mọi người đều có thể bị trầm cảm. Trầm cảm là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến nhất, chiếm 6% dân số. Trầm cảm có thể gặp ở bất kì lứa tuổi và nhóm nghề nghiệp nào, tuy nhiên bệnh hay gặp ở lứa tuổi 40 – 50. Trầm cảm là nguyên nhân hàng đầu gây ra tự sát (75% các trường hợp tự sát là do trầm cảm), hay xảy ra nhất ở trầm cảm mức độ nặng, có hoang tưởng (cho rằng mình có nhiều tội lỗi, không đáng sống

Bệnh trầm cảm là gì?

Trầm cảm (Depression) là một rối loạn khí sắc, được định nghĩa như tâm trạng buồn và đau khổ kèm theo sự suy giảm hoạt động tâm trí và vận động. Không nên nhầm lẫn trầm cảm với nỗi buồn thoáng qua trong ngôn ngữ thông thường, một trạng thái mà mọi người trong chúng ta đều trải qua trong cuộc sống. Đó là nỗi buồn thoáng qua trong vài giờ, thậm chí vài ngày, nhưng rồi sẽ trôi qua và hầu như không kéo theo sự thay đổi hành vi đáng kể nào. Còn trầm cảm là trạng thái tuyệt vọng trầm trọng lâu dài.

Theo từ điển Tâm lí học của Hiệp hội Tâm lí học Hoa Kì, trầm cảm là trạng thái cảm xúc tiêu cực, từ bất hạnh, bất mãn đến cảm nhận buồn bã tột độ, bi quan, và tuyệt vọng, những điều này gây cản trở đến cuộc sống hằng ngày. Những thay đổi về thể chất, tâm lí, xã hội khác nhau cũng đồng thời xuất hiện, bao gồm thay đổi thói quen ăn hoặc ngủ, thiếu năng lượng hoặc động lực, khó để tập trung hoặc đưa ra quyết định và rút lui khỏi các hoạt động xã hội. Đó là triệu chứng của một số rối loạn sức khỏe tâm thần.

Còn theo tác giả David Cohen (2009), trầm cảm là một rối loạn tâm thần mà người bệnh trải qua một nỗi buồn khôn xiết và không thể nào thuyên giảm được, đồng thời cảm thấy không còn hứng thú đối với hầu hết các hoạt động trong cuộc sống.

Định nghĩa trầm cảm theo Saisan và Smith (2009) là một chứng bệnh tâm lí nhấn chìm cuộc sống hằng ngày của người bệnh, ảnh hưởng đến khả năng làm việc, học tập, đến việc ăn uống, ngủ nghỉ và vui chơi giải trí của người bệnh.

PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hằng có viết trong cuốn Phật giáo và Sức khỏe tâm lí (2019) rằng: “Trầm cảm là một rối loạn tâm thần thuộc nhóm rối loạn khí sắc, đặc trưng bởi cảm xúc âm tính, trầm buồn, buồn rầu, chán nản và mệt mỏi, thu mình, cảm giác cô đơn, mặc cảm tội lỗi, giảm/mất hứng thú và có thể có ý nghĩ và hành vi tự gây hại”.

Tựu trung lại, trầm cảm là một rối loạn tinh thần phổ biến đặc trưng bởi cảm giác buồn bã, tuyệt vọng, ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống hàng ngày (khả năng làm việc, học tập) của người gặp trầm cảm. Bất kì lứa tuổi nào, giới tính nào, tầng lớp xã hội nào đều có thể gặp trầm cảm.

Một số yếu tố dẫn đến trầm cảm

Theo mô hình tâm sinh xã hội (psychobiological), các quá trình dẫn đến trầm cảm xảy ra do tác động của cả các yếu tố tâm lí – xã hội lẫn yếu tố sinh học, di truyền. Do vậy, việc chú trọng cho từng yếu tố trước khi một giai đoạn trầm cảm diễn ra là cần thiết.

Yếu tố di truyền

Yếu tố di truyền: Gen di truyền đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của bệnh trầm cảm, nhưng vai trò di truyền của gen tuân theo một cơ chế rất phức tạp. McGuffin và cs. (1996) đã tìm ra rằng tỉ lệ cùng mắc trầm cảm ở các cặp sinh đôi cùng trứng là khá cao (46%), trong khi đó, với các cặp sinh đôi khác trứng, tỉ lệ này là khoảng 20%. Tương tự, Wender và cs. (1986) đã tiến hành một nghiên cứu trên hai nhóm khách thể: Một nhóm là họ hàng của những người con nuôi đã trưởng thành và từng bị trầm cảm, thứ hai là nhóm con nuôi. So sánh tỉ lệ trầm cảm giữa hai nhóm cho thấy nhóm khách thể thứ nhất tỉ lệ bị trầm cảm nhiều gấp 8 lần và đã từng có ý định tự sát nhiều gấp 15 lần so với họ hàng ruột của chính những người con nuôi này. Tuy nhiên, gen di truyền không phải là yếu tố tiên quyết gây ra bệnh trầm cảm.

Bất cứ một phân đoạn nào của quá trình dẫn truyền thần kinh qua synap bị ảnh hướng cũng có thể dẫn đến tình tràng trầm cảm.

Phong cách và lối sống cạnh tranh hiện nay gây ra tình trạng căng thẳng mạn tính kéo dài ngày này qua ngày khác. Nghiên cứu của Jenkins và các cộng sự năm 1998 đã chỉ ra những người dân nghèo, hoàn cảnh kinh tế khó khăn có tỷ lệ trầm cảm khá cao. Nghiên cứu của Brown và Harris (1978) trên những người phụ nữ thuộc tầng lớp lao động cho thấy những người phụ nữ có con, thiếu bạn thân, không có nghề nghiệp và mồ côi cha từ nhỏ có khả năng bị trầm cảm cao hơn nhóm người phụ nữ có hoàn cảnh ngược lại. Tỉ lệ phụ nữ mắc bệnh trầm cảm cao hơn so với nam giới có thể được giải thích do: Phụ nữ hiện nay thường phải gánh một lượng công việc nhiều hơn như công việc xã hội, gia đình, không có thời gian chia sẻ, cũng như thời gian chăm sóc bản thân do đó nguy cơ mắc bệnh trầm cảm cũng cao hơn (Bird và Rieker, 1999). Ngoài ra, do hướng suy nghĩ của phụ nữ quan tâm đến hậu quả và nhìn nhận vấn đề một các quá chi tiết khiến họ càng dễ có các cảm xúc tiêu cực hơn.

Phân loại bệnh trầm cảm

Ngoài ra, DSM – 5 còn bổ sung dạng trầm cảm điều chỉnh theo cảm xúc áp dụng cho trẻ em dưới 12 tuổi. Các triệu chứng kéo dài ít nhất 12 tháng trở lên: Nổi nóng, dễ kích động, tăng động giảm tĩnh kém tập trung và một số triệu chứng khác của bệnh trầm cảm. Thể bệnh này mạn tính và phát triển nếu không điều trị tích cực.

Rối loạn trầm cảm không điển hình

Đầu tiên là rối loạn trầm cảm không điển hình bao gồm các dạng:

Rối loạn trầm cảm mất cảm giác tâm thần: Nhân cách và tri giác bất thường, khác xa với thực tại. dạng này thường chỉ có giải thể nhân cách đơn đọc, không kết hợp với các triệu chứng khác.

Rối loạn trầm cảm nghi bệnh: Dạng này rất dễ nhầm lẫn với các bệnh khác. Bệnh nhân thường xuyên cảm thấy mệt mỏi nặng nề vì luôn nghĩ mình đang có bệnh khác.

Rối loạn trầm cảm ám ảnh: Bệnh nhân luôn có các nỗi sợ ám ảnh, các ám ảnh có thể thuyên giảm khi bệnh nhân rơi vào tình trạng trầm cảm nặng hoặc tăng lên. Khi các rối loạn trầm cảm hết, các nỗi ám ảnh có thể mất đi.

Rối loạn trầm cảm điển hình

Thứ hai là rối loạn trầm cảm điển hình hay còn gọi là trầm cảm chủ yếu. Theo ICD – 10F (1992), 2 tuần là thời gian tối thiểu các triệu chứng diễn ra, trong đó người bệnh có khí sắc giảm hoặc / và mất hứng thú với hầu hết các hoạt động. Ở trẻ em và trẻ vị thành niên thường xảy ra triệu chứng kích thích thay vì trầm uất. Điều kiện đủ để chẩn đoán bệnh là có ít nhất 4 trong dãy triệu chứng sau:

Muốn chẩn đoán chính xác giai đoạn của bệnh, cần theo dõi đầy đủ biểu hiện triệu chứng trong tất cả các hoạt động thường ngày, trong công việc và các mối quan hệ xã hội. Việc so sánh với giai đoạn trước của người bệnh cũng là điều cần thiết để đưa ra chẩn đoán chính xác hơn. Ở các bệnh nhân đang ở giai đoạn nhẹ, việc chẩn đoán là rất khó khăn do người bệnh hầu như không có bất cứ bất thường đáng chú ý nào. Cụ thể các triệu chứng được diễn ra như sau:

Thay đổi cảm giác ngon miệng hoặc cân nặng thay đổi thất thường.

Rối loạn giấc ngủ (mất ngủ hoặc ngủ li bì)

Thay đổi hoạt động tâm thần vận động

Giảm sút năng lượng, uể oải, mệt mỏi

Cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi, khó suy nghĩ, tập trung hoặc khó đưa ra quyết định

Thường xuyên hoặc hay suy nghĩ lặp lại về cái chết. Thậm chí suy nghĩ về kế hoạch tự sát.

Khí sắc trầm buồn: Triệu chứng được miêu tả như một khuôn mặt vô cảm, không biểu hiện, mặt u uất, các nếp nhăn giảm hoặc không có nếp nhăn. Do bệnh nhân mất hy vọng, mất động lực và lý do để cố gắng, tình trạng này trở nên khá bền vững. Trạng thái kích thích và thất thường thường xuất hiện ở trẻ em nhiều hơn.

Mất hứng thú hoặc sự yêu thích cho hầu hết các hoạt động: Đây là một trong 2 biểu hiện đặc hiệu nhất của bệnh. Triệu chứng này được miêu tả ở bệnh nhân rằng “Tôi không còn sở thích nào cả”. Người bệnh trở nên thờ ơ với tất cả các hoạt động hay các thú vui trước đây, có thể mất luôn cả ham muốn tình dực. Tuy nhiên, triệu chứng cũng được cho là xảy ra trên những người chỉ có 1 hoặc 2 sở thích và mọi hoạt động đều xoay quanh sở thích đó. Ví dụ điển hình nhất của trường hợp này là tình trạng nghiện game, bệnh nhân chỉ tập trung vào việc chơi game và không quan tâm tới bất kì hoạt động nào khác.

Rối loạn giấc ngủ: Đây không phải là triệu chứng đặc hiệu của trầm cảm nhưng nó xuất hiện trong hầu hết các bệnh nhân trầm cảm. 95% trong số đó mất ngủ (ngủ dưới 2 tiếng mỗi ngày), một số thậm chí mất ngủ toàn bộ – tức là bệnh nhân không hề ngủ. 5% còn lại gặp hiện tượng tăng ngủ (ngủ trên 10 tiếng mỗi ngày), ngủ li bì, luôn trong trạng thái buồn ngủ.

Mất cảm giác ngon miệng, rối loạn cân nặng: Cũng giống như rối loạn trong giấc ngủ, rối loạn trong vấn đề ăn uống gặp ở gần như toàn bộ các bệnh nhân trầm cảm. Đa số bị mất cảm giác ngon miệng, không tìm được hứng thú với việc ăn uống, luôn cảm thấy như mình bị ép ăn. Do vậy họ thường ăn rất ít, thậm chí có trường hợp không ăn gì. Cân nặng vì thế mà cũng giảm sút. Một phần nhỏ cảm thấy ngon miệng và ăn tăng (khoảng 5%). Những trường hợp này khá nhanh chóng trở thành béo phì.

Rối loạn hoạt động tâm thần vận động: Triệu chứng này thường hay xuất hiện ở những bệnh nhân trầm cảm cao tuổi. Họ có thể ở trạng thái kích động, đi lại không ngừng, không thể ngồi yên, hoạt động không có mục đích, đôi khi khó khăn trong việc thực hiện một số động tác nhỏ phức tạp. Bệnh nhân cũng có thể ở trạng thái “dừng”: Ngồi yên cả ngày, nói ít, câu từ nghèo nàn, không nói, thậm chí câm, cử chỉ chậm chạp.

Giảm sút năng lượng: Trong giai đoạn đầu, bệnh nhân thường có biểu hiện mệt mỏi vào buổi sáng và đỡ dần về chiều. Triệu chứng này gặp ở rất nhiều bệnh khác và kể cả trong sinh lý thông thường. Do vậy, triệu chứng này thường được bỏ qua. Nếu bệnh tiến triển nặng hơn, sự giảm sút năng lượng sẽ ngày càng nặng nề hơn. Đến khi bệnh nặng, bệnh nhân thậm chí không có năng lượng để làm những sinh hoạt thông thường. Đi vệ sinh đôi khi cũng có thể làm hao tốn phần lớn sức lực của họ.

Cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi: Đây là cảm xúc rất hay gặp ở bệnh nhân trầm cảm giai đoạn chủ yếu. Bệnh nhân có suy nghĩ vô cùng bi quan và tự ti về bản thân. Họ dễ dàng dằn vặt bởi một lỗi nhỏ, luôn cho mình vô dụng không làm được điều gì, là gánh nặng của những người xung quanh. Những suy nghĩ này có thể tồn tại và ám ảnh bệnh nhân một thời gian khá dài.

Giảm khả năng suy nghĩ, khó tập trung hoặc khó đưa ra quyết định: Đây là những hiện tượng có thể khá phổ biến trong đời thường, tuy nhiên với những bệnh nhân trầm cảm, những triệu chứng này được khuếch đại lên và được biểu hiện ở mức độ cao hơn. Ví dụ như khả năng tập trung của bệnh nhân trở nên rất kém: Họ không thể đọc hết một mẩu tin ngắn hoặc không thể xem hết một chương trình mà trước đây có thể là mỗi quan tâm của họ. Với những quyết định đời thường như sáng nay ăn mì hay cơm, mua rau hay mua thịt cũng trở thành những trở ngại với những bệnh nhân trầm cảm.

Ý nghĩ muốn chết hoặc có hành vi tự sát: Đây là một chuỗi phản ánh các giai đoạn trong suy nghĩ của người trầm cảm. Ban đầu, khi họ có những thay đổi về sinh lý như chán ăn mất ngủ, sức khỏe giảm sút, bệnh nhân sẽ có suy nghĩ “Cứ như thế này thì chết mất!”. Bệnh nhân cố gắng để thoát khỏi tình trạng này nhưng không thành công, cùng với những bi quan tiêu cực trong suy nghĩ sẽ khiến họ trở nên ngày càng mệt mỏi hơn. Dần dần, họ nghĩ rằng “Cái chết có thể giúp ta thoát khỏi sự đau khổ này”. Nếu tiếp tục tiến triển bệnh, những suy nghĩ này có thể dẫn đến hành vi tự sát.

Việc so sánh với những biểu hiện của người bệnh trong thời gian trước đây là rất quan trọng để tránh chẩn đoán nhầm. Ví dụ như, trước đây, bệnh nhân ngủ khoảng 8 tiếng 1 ngày, nhưng 2 tuần liên tiếp gần đây, bệnh nhân rất khó ngủ và ngủ được rất ít (dưới 2 tiếng), khi ngủ hay khi tỉnh dậy đều thấy rất mệt mỏi. Như vậy sẽ được ghi nhận là rối loạn giấc ngủ.

Nếu bệnh nhân có các triệu chứng hỗn hợp của các giai đoạn, việc chẩn đoán để chỉ ra giai đoạn chủ yếu là không cần thiết. Bệnh nhân có cả hưng cảm và trầm cảm trong cùng một thời gian, xuất hiện liên tiếp trong nhiều ngày (kéo dài hơn 1 tuần). Người bệnh có thể hưng phấn trong làm việc vận động, đứng ngồi không yên, cảm xúc dễ bị kích thích nhưng lại cảm thấy chán ăn, mệt mỏi. Hoặc hay gặp hơn là trường hợp các giai đoạn trạng thái luân phiên. Điển hình là buổi sáng bệnh nhân trong trạng thái hưng phấn nhưng về chiều chuyển sang trạng thái trầm cảm, đôi khi sự thay đổi là nhanh và đột ngột hơn.

Giai đoạn trầm cảm ảnh hưởng rõ ràng đến các hoạt động trong xã hội, nghề nghiệp hoặc trong các lĩnh vực quan trọng khác. Một số bệnh nhân bị trầm cảm nhẹ, chức năng còn tương đối bình thường, nhưng cần một sự cố gắng đáng kể (họ vẫn đi học và đi làm, nhưng phải cố gắng rất nhiều và kết quả công việc cũng không được như trước kia). Tuy nhiên, ở những bệnh nhân nặng, họ có thể cảm thấy rất nặng nề, không thể thực hiện những hành động sinh lý thông thường tối thiểu (như mặc quần áo, ăn uống, thậm chí là đi vệ sinh). Các hoạt động trí óc như tập trung, suy nghĩ cũng có thể bị ảnh hưởng. Đôi khi, những triệu chứng này cũng là nguyên nhân gây nặng thêm tình trạng của bệnh.

Khi thăm khám, bác sĩ nên lưu ý đến những tiền sử bệnh và tiền sử thăm khám khác của bệnh nhân. Do ban đầu, phần lớn bệnh nhân sẽ thăm khám ở các chuyên khoa khác để điều trị các triệu chứng ban đầu như mệt mỏi, chán ăn, mất ngủ. Chỉ khi triệu chứng trầm cảm rầm rộ, bệnh nhân mới nghĩ đến khám ở chuyên khoa tâm thần.

Nhìn chung, đánh giá thể bệnh trầm cảm giai đoạn chủ yếu là rất khó, đặc biệt trên bệnh nhân có các thể bệnh mắc kèm vì hầu hết các triệu chứng đều không phải triệu chứng đặc hiệu. Ví dụ như, bệnh nhân trầm cảm có đái tháo đường sẽ có triệu chứng như gầy, mệt

Trầm cảm vị thành niên

Trước đây người ta cho rằng hiếm gặp trầm cảm ở người vị thành niên. Tuy nhiên, những năm gần đây, tỉ lệ trầm cảm ở nhóm người này tăng lên nhanh chóng. Một số tác giả đưa ra con số 6 -8%. Ngoài những triệu chứng chung thường gặp ở người trưởng thành, trầm cảm ở vị thành niên có những đặc điểm riêng:

Khí sắc thường là kích thích (chứ không phải là trầm cảm).

Mất cảm giác ngon miệng và sút cân hay gặp hơn.

Mất ngủ thường xuyên hơn.

Dễ bị kích thích.

Mệt mỏi thường xuyên.

Khó tập trung chú ý.

Trí nhớ kém.

Kết quả học tập giảm sút.

Hay có ý định và hành vi tự sát.

Trầm cảm sau sinh

Cần phân biệt trầm cảm sau sinh (Postnatal/postpartum depression) khác với buồn sau sinh (baby blues) mặc dù hai khái niệm có nhiều triệu chứng khá giống nhau. Buồn sau sinh không phải là bệnh, đây là một trạng thái biến đổi cảm xúc (được coi là nhẹ), thường xuất hiện và kéo dài trong vòng vài ngày đầu sau sinh. Trạng thái này chỉ kéo dài khoảng 5 – 10 ngày rồi tự mất đi hoàn toàn. Thời gian kéo dài triệu chứng là điểm phân biệt lớn nhất, còn về các triệu chứng điển hình rất giống với trầm cảm như: Buồn bã, ủ rũ, chán ăn, mất ngủ. Các khảo sát và các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, có đến 80% phụ nữ sinh con lần đầu gặp phải tình trạng baby blues.

Trầm cảm tuổi già

Ở lứa tuổi trên 65, các rối loạn về thần kinh trung ương thường xảy ra do nhiều vấn đề bệnh lý khác nhau. Sự suy giảm về tư duy, mất tập trung và khả năng ghi nhớ trong trầm cảm được gọi là hội chứng mất trí nhớ giả do trầm cảm. Các thông tin dữ liệu về hành vi và trạng thái trong cuộc sống thường ngày có thể giúp chẩn đoán trầm cảm tuổi già chính xác hơn: Bệnh nhân chán nản, buồn bực, hay cáu gắt tự ái, có rối loạn giấc ngủ và ăn uống kém hẳn so với trước đây. Chẩn đoán bằng việc thử đáp ứng với thuốc chống trầm cảm là một biện pháp đáng chú ý. Nếu bệnh nhân đáp ứng tốt, mất các triệu chứng của rối loạn tâm thần sau khi sử dụng thuốc chống trầm cảm, cần xác định giai đoạn trầm cảm và chỉ ra hướng điều trị cho bệnh nhân. một số nguyên nhân là :

Tâm thần: mất ngủ, lú lẫn, ảo giác, run cơ, co giật, hạ huyết áp thế đứng

Viêm gan, tổn thương tế bào gan (do thuốc chuyển hóa ở gan tạo thành chất còn hoạt tính)

Có thể là sự phát triển tiếp tục rối loạn cảm xúc.

Có thể là rối loạn cảm xúc khởi phát.

Có thể do một bệnh cơ thể như: bệnh mạch má u não, tổn thương thần kinh, bệnh tim, gan, tiết niệu…

Có thể do thuốc hoặc do hoá chất như: thuốc chữa huyết áp cao, thuốc nhóm corticoid: Hydrocortison, Prednison, Betamethason, Dexamethason, Prednisolon …

Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh trầm cảm

Tiêu chuẩn chẩn đoán cho trầm cảm điển hình theo ICD – 10F (1992)

Bệnh nhân có ít nhất 2 trong 3 triệu chứng chủ yếu sau:

Giảm khí sắc

Mất mọi mối quan tâm, thích thú

Giảm năng lượng, mệt mỏi, giảm khả năng thực hiện hoạt động

Có ít nhất 3 triệu chứng phổ biến sau:

Giảm khả năng tập trung và chú ý

Giảm tự trọng và lòng tự tin, cảm thấy tự ti và có lỗi

Luôn suy nghĩ mình có tội lỗi và không xứng đáng

Suy nghĩ bi quan

Có ý tưởng và hành vi tự sát

Rối loạn giấc ngủ

Mất cảm giác ăn ngon.

Thuốc chống trầm cảm

Thuốc chống trầm cảm được phân loại thành các nhóm theo tác dụng dược lý. Trong đó nổi bật và hay được sử dụng nhất là 3 nhóm: Nhóm ức chế enzyme MAO, Nhóm chống trầm cảm 3 vòng, Nhóm ức chế thu hồi Serotonin. Các nhóm thuốc này đều nhằm mục tiêu chính là tăng monoamine ở thần kinh trung ương.

Nhóm ức chế enzyme MAO (IMAOs)

Cơ chế: Ức chế MAO làm tăng Nor – Epinephrine, Serotonin và các amin khác. Có 2 loại MAO:

+ MAO A: Có nhiều ở ty thể não

+ MAO B: Có nhiều ở các mô như gan, ruột, phổi, mạch máu…

Các IMAO có tác dụng không chọn lọc MAO A nên gây tăng amin ở cả trung ương và ngoài vi. Do đó, nhóm thuốc này có khá nhiều tác dụng không mong muốn:

Tâm thần: mất ngủ, lú lẫn, ảo giác, run cơ, co giật, hạ huyết áp thế đứngViêm gan, tổn thương tế bào gan (do thuốc chuyển hóa ở gan tạo thành chất còn hoạt tính

Thuốc chống trầm cảm 3 vòng

Cơ chế:

Ức chế thu hồi NE và serotonin gây tăng nồng độ các chất này tại khe synap

Kháng thụ thể Muscarinic

Kháng thụ thể H1: Tạo tác dụng an thần

Tác dụng không mong muốn:

Trên tâm thần: Mất ngủ, lú lẫn, ảo giác, run cơ, co giật, hạ huyết áp thế đứng

Kháng M: Gây khô miệng, táo bón, tăng nhãn áp…

Kháng H: Rối loạn nội tiết, rối loạn chuyển hóa.

Thuốc được coi là lựa chọn thứ 2 sau khi thuốc ức chế thu hồi Serotonin chọn lọc chống chỉ

Liệu pháp điều trị bệnh trầm cảm

Chứng trầm cảm là một bệnh có thể điều trị bình phục nếu như được chữa trị kịp thời và tích cực. Với sự phát triển của y học hiện nay, có rất nhiều các liệu pháp điều trị trầm cảm được sử dụng như: Dùng các thuốc chống trầm cảm, Sốc điện, Can thiệp tâm lý. Thông thường, phác đồ điều trị sẽ là sự kết hợp của các phương pháp trên.

Sốc điện (ECT)

Đây là một liệu pháp được sử dụng phổ biến trước đây dựa trên giải thuyết về rối loạn điện sinh lý. Liệu pháp này được miêu tả như là làm một điều trị sử dụng dòng điện có điện thế xác định gửi vào trong não, gây sự đột biến tạm thời trong điện não của bạn. Cơ chế tác động chính xác của liệu pháp này mới được mở rộng thông qua nghiên cứu của Johns Hopkins. Những công bố này mở ra những cách tối ưu hóa liệu pháp để đưa ra hiệu quả tác dụng cao hơn và gây ít tác dụng phụ hơn.

Với những phát triển và sự hiệu quả của các thuốc uống, ECT trở thành liệu pháp thứ 2 chỉ được sử dụng trong các trường hợp kháng trị với thuốc hoặc trường hợp cấp cứu, cần tác dụng nhanh. Tuy nhiên liệu pháp này chỉ có tác dụng tạm thời. Hơn nữa Theo ECving , Irving Michael Reti – giám đốc Chương trình Kích thích Não, phó giáo sư tâm thần học , liệu pháp sốc điện là phương pháp điều trị hiệu quả nhất dành cho trầm cảm nặng và kháng trị, những phương pháp này cần gây mê toàn thân và có thể gây ra các tác dụng phụ như mất trí nhớ.

Liệu pháp can thiệp tâm lý

Có nhiều liệu pháp tâm lí khác nhau, nhưng với rối loạn trầm cảm thì các nhà trị liệu thường sử dụng liệu pháp chính là liệu pháp nhận thức hành vi (Cognitive-Behavioral Therapy – CBT)

Liệu pháp hành vi nhận thức (CBT) đề cập đến một nhóm các can thiệp nằm trong số các phương pháp điều trị hỗ trợ theo kinh nghiệm. CBT dựa trên nhận định của Beck (1977) rằng niềm tin không chính xác và xử lý thông tin không chính xác là nguyên nhân hình thành cơ sở cho những suy nghĩ tiêu cực lặp đi lặp lại. Chính việc này nắm vai trò chủ chốt trong nguyên nhân gây ra và duy trì trầm cảm. Mô hình nhận thức này đặt ra khi suy nghĩ không đúng đắn được khắc phục, cả sự đau khổ cấp tính và nguy cơ tái trầm cảm giảm đi.

Những loại thực phẩm đẩy lùi trầm cảm

Trầm cảm là một căn bệnh không ai muốn mắc phải và cũng khá rắc rối trong chữa trị.Vậy câu hỏi đặt ra là, có cách nào để dự phòng và đẩy lùi căn bệnh này không? Liệu trầm cảm có thể điều trị dự phòng bằng thuốc như một số căn bệnh khác hay không? Câu trả lời chính là: Lối sống tốt chính là cách tốt nhất để bảo vệ bạn và người thân của bạn khỏi căn bệnh này.

Những khảo sát nghiên cứu đều chỉ ra rằng, tỷ lệ phụ nữ gặp rắc rối với căn bệnh trầm cảm nhiều gấp 2 lần đàn ông. Lý do chính xác vẫn chưa được đưa ra tuy nhiên, phần lớn các chuyên gia đều đồng ý với giả thuyết sự thay đổi nội tiết tố và sự giảm biểu hiện của polyphenol (một trong những nhóm chất chống oxy hóa tự nhiên). Từ giả thuyết này, người ta đã làm rất nhiều các cuộc nghiên cứu để đưa ra các thực phẩm giúp giảm nguy cơ bị trầm cảm.

Như vậy có thể thấy rằng, một lối sống lành mạnh với việc bổ sung các vitamin thiết yếu và các chất chống oxy hóa đem lại những tác dụng có lợi với việc ngăn ngừa căn bệnh trầm cảm này và còn có tác dụng trong việc đẩy lùi hững căn bệnh khác.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Cách Chữa Bệnh Trầm Cảm Tại Nhà / 2023 trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!