Đề Xuất 2/2023 # Đặc Điểm Hình Thái Học Hạch Di Căn Trong Ung Thư Biểu Mô Đại Trực Tràng # Top 5 Like | Growcaohonthongminhhon.com

Đề Xuất 2/2023 # Đặc Điểm Hình Thái Học Hạch Di Căn Trong Ung Thư Biểu Mô Đại Trực Tràng # Top 5 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đặc Điểm Hình Thái Học Hạch Di Căn Trong Ung Thư Biểu Mô Đại Trực Tràng mới nhất trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ung thư đại trực tràng (UTĐTT) là một trong những bệnh ung thư phổ biến nhất ở nhiều nước trên thế giới và hiện vẫn là nguyên nhân gây tử vong cao hàng thứ 2 trong các tử vong do ung thư nói chung. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), năm 1996 có hơn 875.000 người bị UTĐTT, chiếm khoảng 8,5% tổng số các trường hợp ung thư mới được phát hiện trong năm [56]. Theo Hiệp hội phòng chống ung thư quốc tế (UICC), hàng năm trên thế giới có khoảng một triệu bệnh nhân (BN) UTĐTT mới được chẩn đoán và khoảng 500.000 người chết vì bệnh này. Tuy nhiên, tỷ lệ mắc bệnh cũng như tử vong không giống nhau giữa các khu vực và quốc gia trên thế giới, và ngay trong một nước, tỷ lệ mắc bệnh ở các vùng miền cũng có thể khác nhau: tỷ lệ này thường cao ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, trung bình ở khu vực Đông và Nam Âu, thấp nhất là ở Châu Phi, một số vùng của Châu Mỹ La Tinh và Châu Á… Tuy nhiên, hiện nay ở các nước này bệnh lại đang có xu hướng gia tăng.

Ở Việt Nam, đây cũng là một trong những bệnh hay gặp, đứng hàng thứ 5 sau ung thư phế quản, dạ dày, gan, vú (ở phụ nữ) và hiện đang có xu hướng tăng lên. Theo số liệu ghi nhận ung thư tại Hà Nội, tỷ lệ mắc UTĐTT chuẩn theo tuổi / 100.000 dân vào năm 1991 là 4,3 chung cho cả 2 giới; tỷ lệ này vào những năm 1995 – 1996 là 8,9 đối với nam và 6,0 đối với nữ, và đến năm 1999 đã tăng lên 13,3 [1], [2].

Mặc dù có khá nhiều phương pháp thăm khám và chẩn đoán UTĐTT đã và đang được áp dụng như: chụp X-quang khung đại tràng (ĐT), chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ, nội soi ĐTT ống mềm, nội soi nhuộm màu, siêu âm nội soi… Tuy nhiên, do triệu chứng lâm sàng của UTĐTT thường nghèo nàn và thầm lặng nên việc chẩn đoán bệnh sớm vẫn rất khó khăn, đến khi các triệu chứng lâm sàng tương đối rõ thì bệnh thường đã ở vào giai đoạn muộn, khối u đã khá lớn, xâm lấn sâu và thường đã có di căn, vì thế, việc điều trị khó khăn và tiên lượng xấu.

Về điều trị UTĐTT, tốt nhất vẫn là phẫu thuật triệt căn và khi đã có di căn thì ngoài việc cắt bỏ khối u còn phải vét hạch rộng rãi, nếu có thể thì lấy bỏ cả khối di căn. Sau phẫu thuật, có thể phối hợp với xạ trị, hóa chất và các thuốc tăng cường miễn dịch….

Để có thể đánh giá một cách chính xác và đầy đủ về khối u như: hình thái đại thể, týp mô bệnh học (MBH), độ mô học, độ ác tính, mức độ xâm lấn, tình trạng di căn hạch cũng như di căn xa và giai đoạn bệnh…, qua đó giúp lựa chọn biện pháp điều trị hỗ trợ phù hợp và tiên lượng bệnh tốt hơn, cần phải xét nghiệm

MBH cẩn thận, kết hợp các kỹ thuật nhuộm thường quy với hóa mô miễn dịch (HMMD). Nhờ có HMMD, người ta đã phát hiện thêm được một số trường hợp có di căn kín đáo (vi di căn) mà trên các tiêu bản nhuộm thường quy không phát hiện được [62]. Điều này góp phần giải thích tại sao có nhiều trường hợp mặc dù trước đó “không thấy di căn” nhưng vẫn “tái phát” và thời gian sống thêm không như dự kiến.

1. Xác định tỷ lệ và một số đặc điểm hình thái học hạch di căn trong ung thư biểu mô đại trực tràng.

Hình Ảnh Học Trong Ung Thư Đại Tràng Dạng Biểu Mô Tuyến

TỔNG QUAN:

Ung thư biểu mô của manh tràng. Khối to ở manh tràng dạng polyp dính ở van hồi manh tràng, gây tắc ruột.

Ung thư đại tràng là ung thư phổ biến nhất của đường tiêu hóa (GI) và có tiên lượng tốt nhất. Tỉ lệ sống sót sau 5 năm khoảng 50%, có thể cải thiện bằng cách sàng lọc và loại bỏ các polyp dạng tuyến.

Khám lâm sàng:

Bắt đầu đánh giá bằng việc hỏi bệnh sử, khám thực thể, gồm cả thăm khám hậu môn – trực tràng. Quan sát phân, làm xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân.

Xét nghiệm máu gồm công thức máu, chức năng gan, nồng độ CEA

Nội soi đại tràng xích ma (ống soi cứng hoặc mềm), chụp X-quang đại tràng có bơm thuốc cản quang, nội soi đại tràng đều nên thực hiện. Chụp CT đại tràng hoặc CT nội soi đại tràng (còn gọi là nội soi đại tràng ảo) nên thực hiện để đánh giá toàn bộ đại tràng.

Nội soi đại tràng sigma bằng ống soi mềm 60cm có phạm vi quan sát lớn hơn soi với ống soi cứng – tốt nhất chỉ soi tới đoạn xa đại tràng sigma (20cm). Chụp x-quang đại tràng cản quang phát hiện được hầu hết các khối u đại tràng (80 – 95%), tuy nhiên nên nội soi đại tràng sigma bằng ống soi mềm trước, vì nội soi có thể phát hiện được các tổn thương nhỏ. Chụp x-quang đại tràng cản quang có tỉ lệ thủng ruột thấp (1/25000)

Nội soi đại tràng phát hiện được nhiều polyp dạng tuyến hơn so với chụp x-quang đại tràng cản quang, và polyp có thể được cắt bỏ trong khi thực hiện thủ thuật. Nội soi đại tràng đắt hơn gấp 3 lần, và có tỉ lệ thủng cao hơn (1/1700) chụp x-quang đại tràng cản quang, và không thể soi được tới manh tràng trong 5-30% bệnh nhân.

X-QUANG:

X-quang bụng thẳng hữu ích đối với BN có tắc ruột già, hoặc thủng ruột. Hơi tự do dưới hoành được phát hiện tốt nhất bằng X-quang bụng đứng thẳng. Hiếm khi, K đại tràng sinh chất mucin cho thấy hình ảnh vôi hóa ở u nguyên phát, ở gan và lắng đọng thứ phát trong phúc mạc.

Chụp đại tràng đối quang kép phát hiện được khoảng 90% các khối u đại tràng

50% khối u bị bỏ qua trên phim x-quang có cản quang được cho là do lỗi người đọc; nhờ một người khác đọc lại phim lần thứ hai có thể giảm các lỗi như vậy. Khi có viêm túi thừa đại tràng sigma trầm trọng, tỉ lệ bỏ lỡ các sang thương ung thư tăng lên. Những sang thương nhỏ có thể không thấy được trong môi trường dầy đặc chất baryt.

Phân còn sót lại có thể che khuất một ung thư biểu mô (carcinoma), trường hợp này cần kiểm tra lại hoặc cho nội soi đại tràng. Phân còn sót có thể dính vào thành ruột và cho hình ảnh giả giống khối u.

Van hồi manh tràng có thể cho ảnh giả giống khối u manh tràng Một khối dưới niêm mạc như: u mỡ, u tuyến niêm mạc lành tính, hoặc polyp tăng sản có thể không phân biệt được với ung thư dạng polyp.

Bệnh viêm ruột, viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ, viêm đại tràng do tia xạ và do lao đều có thể cho hình ảnh giả giống một chỗ hẹp ác tính. Đè ép từ bên ngoài đại tràng do khối u gần kề có thể giả như u nguyên phát tại đại tràng. Carcinoma buồng trứng hoặc lạc nội mạc tử cung tiến triển có thể giả như khối u đại tràng nguyên phát. Sang thương thứ hai có nhiều khả năng bị bỏ qua (do hài lòng vì đã phát hiện được khối u, không tìm tiếp nữa)

Khoảng 5% bệnh nhân K đại tràng có nhiều hơn 1 khối u tại thời điểm chẩn đoán(hình dưới)

Carcinoma hình vòng đồng dạng ở đại tràng lên và đại tràng góc lách

Khoảng 35% BN K đại tràng có 1 polyp dạng tuyến (hình dưới)

Carcinoma dạng vòng ở đại tràng ngang kết hợp với polyp 2cm ở đại tràng sigma

Ba dạng hình thái học:

Hầu hết K đại tràng đều tiến triển, đường kính đo được khoảng 3-4 cm ở thời điểm chẩn đoán. Hình dạng đại thể của khối u trên phim x-quang đại tràng cản quang gồm: dạng polyp, dạng vòng và dạng phẳng.

Carcinoma dạng polyp. 1 khối to, nhiều thùy bất thường hiện diện ở chỗ giao nhau của đại tràng sigma và trực tràng.

Các sang thương dạng vòng là do khối gây chít hẹp lòng đại tràng. Sự không đều của niêm mạc và một lòng ống bất thường với phần vai nhô ra (sang thương hình lõi táo). Những nếp gấp niêm mạc trong phần hẹp bị phá hủy, loét hiện diện (hình dưới)

Carcinoma dạng vòng của đại tràng sigma. Lòng đại tràng bị hẹp nghiêm trọng bởi khối có lớp niêm mạc bị phá hủy, bờ nhô ra.

Sang thương dạng phẳng, hiếm gặp, được thấy như một tổn thương ở một bên, diện rộng. Loét có thể hiện diện (hình dưới). Sang thương loét có thể thâm nhiễm thành ruột, nếu lan rộng, sẽ gây ra một vùng không căng phồng được.

Carcinoma dạng phẳng ở đại tràng ngang. Tổn thương có diện rộng với loét ở trung tâm.

Các ung thư biểu mô nhỏ thường là một khối có dạng polyp với bề mặt mịn; thường không thể phân biệt với một polyp lành tính. Hiếm khi chúng hiện diện như một sang thương phẳng nhỏ.

Hình ảnh trên X-Quang:

Một polyp không cuống có thể có bóng hình bán nguyệt (hoặc vòng nhẫn) trên thành ruột (hình dưới)

Chụp đối quang kép: polyp không cuống 18mm ở đại tràng sigma cho dấu hiệu hình bán nguyệt

Sang thương dạng polyp đường kính lớn hơn 2cm thường phân thùy.

Chụp đối quang kép: polyp có cuống dài 15mm ở đại tràng sigma

Nguy cơ ác tính:

Nguy cơ ác tính của polyp tăng theo kích thước của nó. Nguy cơ dưới 1% ở polyp đường kính dưới 1cm. Nguy cơ lên đến 5% ở các ung thư tế bào tuyến có đường kính 1 – 2 cm. Bệnh nhân có polyp lớn hơn 2cm có nguy cơ ác tính 11 – 50%. Do đó, tất cả sang thương dạng polyp từ 0.5 – 3 cm đều cần nội soi cắt đi và làm giải phẫu bệnh lý.

Biến chứng tại chỗ:

Các khối u nguyên phát có thể gây ra các biến chứng sau:

–          Tắc ruột già thường do carcinoma dạng vòng ở đại tràng sigma hoặc đại tràng xuống. Ung thư biểu mô tuyến của đại tràng là nguyên nhân gây ra 75% trường hợp tắc ruột già ở người lớn. Tắc ruột non có thể do các sang thương vùng manh tràng bao gồm cả van hồi manh tràng (hình dưới)

Carcinoma manh tràng. Khối to dạng polyp ở manh tràng, dính vào van hồi manh tràng và gây tắc ruột non

–          Viêm đại tràng là biến chứng hiếm gặp, xảy ra ở chỗ gần với khối u gây tắc nghẽn. Phù nề niêm mạc đại tràng do tăng áp lực trong lòng ruột, gần chỗ bị tắc (hình dưới)

Phù nề niêm mạc đại tràng lên gần chỗ khối u gây tắc ở đại tràng góc gan.

–          Lồng ruột hiếm xảy ra ở người lớn, thường xảy ra ở các khối u manh tràng dạng polyp.

–          Thủng ruột khu trú do hoại tử khối u có thể dẫn đến khối áp xe cạnh đại tràng, có thể lầm với một quá trình viêm nhiễm (hình dưới). Thủng có thể xảy ra gần khối u gây tắc, thường ở manh tràng

Thủng khu trú và tụ dịch cạnh đại tràng trong carcinoma dạng vòng của đại tràng xuống

–          Khối u có thể xâm lấn qua thành ruột, ăn lan vào các cơ quan kế cận, hình thành lỗ dò.

CT SCAN:

CT scan dùng để phân giai đoạn khối u trước phẫu thuật, để đánh giá khả năng tái phát, phát hiện các di căn xa. K đại tràng được chẩn đoán trên CT đôi khi chỉ là phát hiện ngẫu nhiên. CT scan trước phẫu thuật được chỉ định nếu trên lâm sàng nghi ngờ có di căn xa hoặc có u xâm lấn các cơ quan lân cận, thành ruột.

Bệnh nhân lớn tuổi không thể nội soi hoặc chụp xquang đại tràng cản quang được thì có thể dùng CT để phát hiện u đại trực tràng.

Phân giai đoạn K đại tràng dựa trên CT:

Giai đoạn

Mô tả

T1

Khối dạng polyp trong lòng ruột, không dày thành ruột

T2

T3a

Dày thành đại tràng kèm xâm lấn cơ và các cơ quan lân cận

T3b

Dày thành đại tràng kèm xâm lấn thành bên chậu hoặc thành bụng

T4

Di căn xa: gan, phổi, tuyến thượng thận

* Hiệu chỉnh bởi Thoeni

Các phát hiện:

Một khối u khu trú trên CT là một khối có mật độ của mô mềm, trong lòng ruột hoặc trong thành ruột tiếp giáp với lòng ruột chứa đầy hơi hoặc chất cản quang; đó là hình ảnh của khối u giai đoạn A. Không có dày thành ruột hoặc xâm nhiễm mỡ quanh đại tràng.

CT trước mổ. Dày thành manh tràng và thâm nhiễm mỡ xung quanh.

Carcinoma dạng vòng được phát hiện bởi dày thành đại tràng và hẹp lòng ruột. Sự dày này đồng tâm nếu mặt phẳng quét vuông góc với trục dài của ruột (hình dưới).

CT trước mổ. Carcinoma manh tràng ăn lan vào thành manh tràng.

Xâm lấn của khối u ra bên ngoài đại tràng là hình ảnh mất mô mỡ giữa đại tràng và cấu trúc xung quanh (hình bên dưới). Cơ bị xâm lấn có thể to ra (hình thứ 2 bên dưới). So sánh với hình chụp x-quang đại tràng cản quang (hình thứ 3 bên dưới). Khối u đại tràng có thể xâm lấn vô thành bụng trước, gan, tụy, lách và dạ dày.

CT trước mổ. Khối mô mềm bất thường dính ở đại tràng sigma. Kết hợp với bệnh lý túi thừa

Khối 6x4cm do carcinoma tái phát. Chú ý cơ chậu bên trái to ra hơn, do xâm lấn ác tính.

X-quang đại tràng cản quang. Carcinoma dạng vòng điển hình ở gần đại tràng sigma với bệnh lý túi thừa kế bên.

Biến chứng của khối u nguyên phát:

Tắc ruột, thủng, tạo lỗ dò có thể thấy trên CT scan. Một khối u đại tràng gây lồng ruột có thể có hình bia điển hình với các vòng luân phiên mô mềm và mô mỡ trên CT, nếu mỡ mạc treo ở giữa các phần ruột bao bên ngoài và phần ruột bị lồng vào trong.

Thủng khu trú của carcinoma có thể kết hợp tụ dịch bên ngoài ruột.

Giai đoạn N:

Hạch to ra có thể thấy ở mạc treo ruột và sau phúc mạc (hình dưới). Thỉnh thoảng, hạch to ra ở quanh tĩnh mạch cửa của gan (hình thứ 2 bên dưới)

Hạch to ra ở sau phúc mạc, từ carcinoma manh tràng.

Hạch phì đại quanh tĩnh mạch cửa (quan sát chỗ giữa tĩnh mạch chủ dưới và tĩnh mạch cửa); di căn gan

K đại tràng sigma – trực tràng có thể di căn đến nhóm hạch chậu ngoài.

Giai đoạn M:

Di căn gan là vị trí khối u lan ra xa thường gặp nhất. Sau khi tiêm cản quang (hình dưới), CT phát hiện gan bị di căn là những vùng giảm đậm độ (so với nhu mô gan binh thường) ở thì tĩnh mạch. Ở đầu thì động mạch, di căn gan có thể cho hình vành nổi bật, hoặc là những vùng tăng đậm độ hoặc cùng đậm độ với mô gan xung quanh

CT cản quang cho hình ảnh di căn gan. Nhiều vùng giảm đậm độ di căn từ khối u nguyên phát ở đại tràng tới cả 2 thùy gan.

Khối di căn gan có thể phẫu thuật cắt bỏ nếu kích thước dưới 3cm, số lượng ít hơn 3 và ở vị trí phù hợp (hình dưới), những trường hợp khác hóa trị hoặc xạ trị sẽ thích hợp hơn.

CT scan sau khi đã cắt bỏ một phần gan do di căn vào thùy gan phải.

Vị trí di căn khác thường gặp là phổi, tuyến thượng thận, phúc mạc và mạc nối.

Dù di căn phổi có thể được phát hiện bởi x-quang ngực thẳng (hình dưới), CT vẫn có độ nhạy cao hơn đối với các di căn nhỏ (<10mm).

X-quang ngực. Di căn phổi từ K đại tràng.

Di căn xương và não không thường gặp (hình dưới)

Di căn não từ K đại tràng trên CT. Vị trí di căn này hiếm gặp.

CT scan trong K đại tràng tái phát:

CT scan được thực hiện lại 3 tháng sau khi phẫu thuật cắt bỏ khối u. Ung thư tái phát được phân loại giống như ung thư nguyên phát đã nói ở trên. Tỉ lệ tái phát khu trú khoảng 20 – 40%, tỉ lệ di căn xa khoảng 35% sau phẫu thuật. Hầu hết các di căn xa xảy ra trong vòng 2 năm sau khi phẫu thuật.

Mặc dù nội soi đại tràng và chụp x-quang đại tràng cản quang phát hiện thay đổi ở niêm mạc chỗ tái phát u tốt hơn, CT vẫn có thể phát hiện sự tái phát thông qua hình ảnh thông nối mạch máu cũng như phát hiện hạch to và di căn xa. Khối u tái phát thường to điển hình, thường nằm ngoài thành ruột (hình dưới). Tiêu chuẩn khối u tái phát trên CT gồm: u xâm lấn vào các cơ quan lân cận, to ra kèm theo phì đại các hạch bạch huyết.

Khối kích thước 6x4cm do carcinoma tái phát. Chú ý sự phì đại cơ chậu bên trái.

Khối ở bao cơ thẳng bụng do di căn từ K đại tràng.

Một khối viêm sau phẫu thuật hoặc xạ trị có thể giả giống khối u tái phát, cần phải sinh thiết để phân biệt. Khối mô mềm sau phẫu thuật thường do mô hạt phát triển, nhưng cũng có thể do máu tụ hoặc ap-xe. Những trường hợp này, 60% sẽ thuyên giảm, 40% khối vẫn không thay đổi sau 2 năm. Cả khối u tái phát lẫn khối viêm đều có thể gây thận ứ nước do làm tắc nghẽn niệu quản (hình dưới)

Khối viêm sau khi xạ trị ở hố chậu trái. Chú ý phần mỡ quanh đại tràng se sợi và mô mềm trước xương cùng phù nề.

Niệu quản trái dãn do khối viêm

Độ tin cậy:

Sang thương đại tràng < 2cm thường không được phát hiện. Độ chính xác và chất lượng của CT có thể được tăng lên bằng cách sử dụng hơi cản quang (hơi bơm trực tràng), thuốc giãn cơ trơn và thuốc nhuận tràng. CT scan đánh giá chính xác hơn đối với ung thư giai đoạn T4. Độ phân giải của CT quá thấp để phân biệt tổn thương từ T2 đến T3.

K đại tràng có thể không phân biệt được với khối u lành tính kích thước lớn cũng như ung thư di căn từ nơi khác đến đại tràng (thường là K buồng trứng nguyên phát)

Dấu hiệu K đại tràng trên CT không đặc hiệu, có thể do bất kỳ bệnh lý nào gây dày thành đại tràng khu trú: viêm túi thừa, bệnh Crohn, viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ và viêm đại tràng do lao.

Tụ dịch quanh đại tràng có thể do viêm túi thừa, cũng như thủng ruột khu trú do carcinoma.

Khối u ở đại tràng ngang và đại tràng góc gan, góc lách có thể không thấy rõ hoàn toàn. Carcinoma dạ dày nguyên phát xâm lấn đại tràng có thể không phân biệt được với K đại tràng lan ra dạ dày.

Sang thương giảm đậm độ của gan có thể gây ra bởi các nang gan đơn giản hơn là do di căn ung thư. Các bướu máu cũng có thể gây nhầm lẫn.

SIÊU ÂM:

Vai trò chính của siêu âm ở các bệnh nhân K đại tràng là phát hiện di căn gan. Tỉ lệ phát hiện di căn gan của siêu âm khoảng 70 – 90%, tùy thuộc vào người vận hành, kích thước khối di căn.

Siêu âm thường không thể phát hiện khối u đại tràng nhỏ hơn 2cm, và khó phát hiện sang thương ở đại tràng sigma – trực tràng. Nó có tỉ lệ âm tính giả cao để phát hiện các khối u đại tràng, với độ nhạy là 31 – 80%, phụ thuộc vào kích thước khối u, và không thể sử dụng như một phương tiện sàng lọc. Ngược lại, tỉ lệ dương tính giả thấp, với độ đặc hiệu trên 90%.

Siêu âm giúp giảm việc thực hiện các thủ thuật xâm lấn không cần thiết đối với bệnh nhân lớn tuổi, bệnh tiến triển nặng.

Di căn gan từ khối u đại tràng nguyên phát thường tăng âm hơn so với mô gan bình thường, nhưng đôi khi cũng có giảm âm.

Siêu âm quét qua thùy phải của gan cho thấy hình ảnh khối tăng âm do di căn từ K đại tràng

Trên siêu âm, khối u đại tràng điển hình có echo kém với phần trung tâm tăng âm, tức dấu hiệu hình bia (hình dưới). Các phát hiện khác bao gồm dày thành đại tràng bất thường khu trú, đường viền không đều, thiếu nhu động ruột bình thường.

Siêu âm carcinoma manh tràng cho thấy dầy đồng tâm của thành đại tràng giảm âm bởi khối u

Khối u đại tràng lồng ruột có hình bia điển hình gồm những vòng đồng tâm của mô mềm và mỡ mạc treo (hình dưới)

Carcinoma manh tràng gây lồng ruột trên siêu âm

Nguồn: http://emedicine.medscape.com/article/367061-overview#showall

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Cea: Dấu Ấn Các Ung Thư Biểu Mô, Đặc Biệt Là Ung Thư Đại Trực Tràng

CEA là tên viết tắt của kháng nguyên ung thư phôi (carcinoembryonic antigen), một glycoprotein có thành phần carbohydrate chiếm khoảng 50% [8]. Khối lượng phân tử tương đối của CEA nguồn gốc từ ung thư biểu mô đại trực tràng là 180 kDa.

1. Sinh học của CEA

CEA là một glycoprotein có ở màng bào tương của các tế bào màng nhày (mucosal cells) bình thường nhưng số lượng có thể tăng lên trong các ung thư thể tuyến (adenocarcinoma), đặc biệt là ung thư đại trực tràng [6]. Nồng độ trong mô cao nhất của CEA được thấy ở ung thư biểu mô đại trực tràng nguyên phát (primary colorectal carcinomas) và di căn gan của ung thư này, với nồng độ CEA trong màng nhày đại tràng có thể cao gấp 500 lần giá trị bình thường. CEA cũng thể hiện quá mức trong các ung thư biểu mô khác như ung thư dạ dày, vú, phổi, … Từ các tế bào ung thư biểu mô, CEA được bài tiết vào máu tuần hoàn và có thể được xác định bằng phương pháp định lượng miễn dịch (immunoassay).

Gen mã hóa cho CEA là một thành viên của gia đình gen gồm ít nhất 17 gen có cấu trúc tương tự nhau. Do sự giống nhau về cấu trúc của các protein kháng nguyên của các gen này, các kháng thể có thể phản ứng chéo với các thành viên khác của gia đình CEA. Các bạch cầu hạt, các đại thực bào và tế bào lát đường mật cũng chứa các kháng nguyên có khả năng kháng chéo này nên có thể gây (+) tính giả. Vì vậy, các kháng thể đơn dòng được sử dụng để định lượng đặc hiệu CEA không được phản ứng chéo với các kháng nguyên khác của các tế bào hoặc mô này.

CEA có thời gian bán hủy (half-life) là khoảng 2 – 8 ngày [8].

2. Sử dụng của CEA

Xét nghiệm CEA có thể được sử dụng để:

– Theo dõi hiệu quả điều trị, xác định giai đoạn, tiên lượng và đánh giá tái phát ung thư đại trực tràng ở bệnh nhân ung thư đại tràng đã được chẩn đoán. Một xét nghiệm CEA ban đầu thường được thực hiện trước khi điều trị như một giá trị “nền”. Nếu mức độ CEA tăng thì có thể được sử dụng để theo dõi đáp ứng đối với điều trị và để xác định xem ung thư tiến triển hoặc tái phát.

– CEA cũng có thể được sử dụng như một dấu ấn của các ung thư tuyến giáp thể tuỷ, phổi, vú, gan, tuyến tụy, dạ dày và buồng trứng.

– CEA trong một mẫu chất dịch cơ thể có thể giúp xác định xem ung thư đã xâm lấn lan rộng đến một khoang cơ thể (ví dụ, dịch phúc mạc, dịch màng phổi hoặc dịch não tủy) [1, 7, 4].

Không phải tất cả các loại ung thư đều sản xuất CEA và một thử nghiệm CEA (+) tính không phải lúc nào cũng do ung thư. Vì vậy, CEA không được khuyến cáo để sàng lọc trong cộng đồng dân cư không triệu chứng.

3. Chỉ định

– Xét nghiệm CEA có thể được chỉ định khi một người đã được chẩn đoán là bị ung thư đại tràng. CEA sẽ được định lượng trước khi bắt đầu điều trị và sau đó được xét nghiệm theo thời gian để đánh giá hiệu quả điều trị, tiên lượng và phát hiện tái phát.

– Đôi khi xét nghiệm CEA có thể được thực hiện khi nghi ngờ ung thư nhưng chưa được chẩn đoán. Đây không phải là một xét nghiệm sử dụng chung cho các ung thư vì CEA có thể tăng trong nhiều bệnh lý khác nhau, tuy nhiên nó vẫn có thể được chỉ định để có thể cung cấp thêm thông tin cho chẩn đoán tùy bệnh cảnh cụ thể của lâm sàng.

– Xét nghiệm CEA dịch cơ thể có thể được chỉ định để phát hiện khối u đã xâm lấn hoặc di căn đến các khong cơ thể (ví dụ, di căn lan rộng đến khoang phúc mạc, màng phổi hoặc não) .

4. Giá trị bình thường

4.1. Mức độ CEA huyết tương

Mức độ CEA huyết tương ở người bình thường không hút thuốc lá là <2,5 ng/mL [3]. Mức độ CEA ở người hút thuốc lá cao hơn một chút, là <5 ng/mL. Mức độ CEA huyết tương ở người bị bệnh lành tính rất hiếm khi vượt quá 10 ng/mL [6].

4.2. Mức độ CEA trong dịch cơ thể

Nói chung, mức độ CEA trong các dịch chọc dò ở người không ung thư có giá trị gần như mức độ CEA trong huyết tương người bình thường, cụ thể là:

– Mức độ CEA dịch màng bụng (peritoneal fluid) ở người không ung thư là < 4,6 ng/mL, giá trị cắt là < 5,0 ng/mL [1].

– Mức độ CEA dịch màng phổi (pleural fluid) ở người không ung thư có giá trị cắt là 2,4 ng/mL [7].

– Mức độ CEA dịch não tủy (cerebrospinal fluid) ở người không ung thư là 1,53±0,38 ng/mL [4].

5. Ý nghĩa lâm sàng 5.1. Đối với ung thư đại trực tràng

5.1.1. Sàng lọc và chẩn đoán sớm Độ nhạy lâm sàng của CEA để chẩn đoán ung thư đại trực tràng là 50%, độ đặc hiệu là 90%, vả lại, tần suất ung thư đại trực trang chỉ là 50/ 100.000 dân/ năm. Điều này có nghĩa là chỉ có 1/ 400 xét nghiệm CEA (+) tính là (+) tính thật; vì vậy, giá trị chẩn đoán (+) tính chỉ là 0,65%. Như vậy, CEA không phù hợp để sàng lọc và chẩn đoán sớm ung thư đại trực tràng trong cộng đồng dân cư không triệu chứng [8].

5.1.2. Tiên lượng Mức độ CEA có khuynh hướng tăng cao hơn khi bệnh tiến triển. Sử dụng điểm cắt 5 ng/mL, tỷ lệ bệnh nhân có các giá trị CEA tăng tương ứng với các giai đoạn ung thư đại tràng giai đoạn Dukes A, B, C và D là 3-20%, 25-60%, 45-80% và 65-85% [3, 5, 8].

5.1.3. Đánh giá giai đoạn ung thư Sự kết hợp của CEA với một số dấu ấn ung thư khác (như CA 19-9, …) có thể được sử dụng để đánh giá gia đoạn ung thư trước phẫu thuật và để lựa chọn phương pháp phẫu thuật và cách quản lý bệnh nhân sau phẫu thuật [5].

5.1.4. Theo dõi đáp ứng điều trị và phát hiện tái phát Sau phẫu thuật ung thư đại trực tràng thành công, mức độ CEA huyết tương sẽ giảm xuống dần và trở về mức bình thường trong 4 đến 6 tuần lễ. Trong ung thư đại trực tràng, việc xét nghiệm hàng loạt CEA huyết tương là một phương pháp không xâm lấn nhạy nhất để chẩn đoán tái phát của khối u sau phẫu thuật cắt bỏ khối u nguyên phát. Đối với mỗi bệnh nhân, một mức độ CEA huyết tương ban đầu được xác định làm nền cho sự theo dõi sự diễn biến của bệnh. Khi mức độ CEA tăng dai dẳng ít nhất trên 2 tháng, có khả năng ung thư bị tái phát. Dựa vào mức độ tăng của CEA, giá trị chẩn đoán (+) tính tái phát sau mổ là 65-84%, giá trị chẩn đoán (-) tính là 85-95% [8].

5.1.5. Phát hiện di căn: Nếu CEA tăng lên trong một dịch cơ thể thì rất có thể khối ung thư đã xâm lấn sang các vùng lân cận hoặc di căn đến các vùng tương ứng của cơ thể. Ví dụ, nếu CEA được phát hiện tăng trong dịch chọc dò màng phổi thì có thể ung thư đã di căn lên phổi [7]; nếu CEA được phát hiện tăng trong dịch màng bụng thì có thể ung thư đã di căn vào phúc mạc [1, 2]; nếu CEA được phát hiện tăng trong dịch não tủy thì có thể ung thư đã di căn vào tủy sống hoặc não [4].

5.2. CEA trong các ung thư khác Trong ung thư vú chưa di căn, mức độ CEA chỉ tăng ở 10% các trường hợp và nói chung không vượt quá 5 lần giới hạn trên của giá trị bình thường. Khi kết hợp với CA 15-3, CEA có giá trị trong giám sát ung thư vú, trong phát hiện di căn xương và trong đáp ứng đối với hóa trị liệu. Mức độ CEA cũng có giá trị trong đánh giá tiên lượng ung thư vú [9].

Trong các ung thư khác như ung thư biểu mô dạ dày, thực quản, tụy, phổi, buồng trứng, tuyến giáp thể tủy, cổ tử cung, các di căn xương, …[8], mức độ CEA chỉ tăng khi ung thư tiến triển, tỷ lệ tăng là khoảng 50-70% số các trường hợp .

5.3. CEA trong các bệnh lành tính Mức độ CEA cũng có thể tăng ở một số bệnh lành tính, gây nên hiện tượng (+) tính giả, chẳng hạn như khi viêm phổi, viêm gan, xơ gan, viêm loét dạ dày tá tràng, viêm loét đại tràng, polyp trực tràng, khí phế thũng, bệnh vú lành tính, … [8].

Kết luận

1. CEA là một dấu ấn ung thư glycoprotein, được sản xuất từ các tế bào màng nhày của nhiều mô khác nhau, có thể tăng trong các ung thư thể tuyến, đặc biệt là ung thư đại trực tràng.

2. Xét nghiệm CEA huyết tương được sử dụng để dõi hiệu quả điều trị và sự tái phát ung thư đại trực tràng. Xét nghiệm CEA dịch cơ thể được sử dụng để đánh giá sự xâm lấn và di căn của ung thư.

3. CEA được chỉ định chủ yếu để theo dõi hiệu quả điều trị, đánh giá giai đoạn, tiên lượng và tái phát của ung thư đại trực tràng.

4. CEA huyết tương thường tăng trong ung thư đại trực tràng tiến triển, giảm về mức bình thường sau phẫu thuật, tăng trở lại nếu tái phát hoặc di căn. CEA dịch cơ thể có thể tăng khi khối u xâm lấn hoặc di căn đến các khoang cơ thể tương ứng.

PGS TS Nguyễn Nghiêm Luật

Ung Thư Đại Trực Tràng Có Thể Di Căn Sang Gan?

Ung thư đại trực tràng di căn sang gan là giai đoạn cuối của bệnh ung thư đại trực tràng di căn. Khi đó, việc điều trị dứt điểm khối u trong gan là điều vô cùng khó khăn.

Ung thư đại trực tràng là loại ung thư ác tính, nó xảy ra ở trực tràng và tràng kết. Nguyên nhân gây bệnh hiện nay vẫn chưa được xác định rõ ràng, tuy nhiên, các chuyên gia đưa ra một số nguyên nhân có ảnh hưởng đến nguy cơ mắc bệnh như: tuổi tác, chế độ ăn uống, yếu tố gia đình, hoặc tiểu sử bệnh viêm ruột kết.

Ban đầu bệnh hầu như không có triệu chứng lâm sàng, chỉ đến khi bệnh vào giai đoạn muộn người bệnh mới phát hiện ra bệnh, điều này ảnh hưởng rất nhiều đến việc điều trị bệnh, đặc biệt là khi bệnh đã di căn.

Gan là vị trí dễ bị ung thư đại trực tràng di căn nhất, theo thống kê, có khoảng 10- 20% trường hợp được xác định có các tế bào ung thư sang gan kể từ khi được xác định bệnh. Nếu không có biện pháp điều trị thích hợp thì khả năng sống thêm của người bệnh khoảng 8 tháng, hầu như không có trường hợp nào sống được 5 năm.

Các loại ung thư khác cũng có thể di căn sang gan những không giống như ung thư đại trực tràng, thông thường ung thư khác đến giai đoạn cuối mới di căn sang gan và hầu như không còn khả năng chữa trị. Nhưng ung thư đại trực tràng di căn sang gan nếu được phát hiện và điều trị sớm thì đa số bệnh nhân có thể chữa khỏi bệnh.

Để chẩn đoán bệnh, người ta có thể kết hợp nội soi và xét nghiệm mô bướu. Ngoài ra, soi siêu âm B ở gan cũng rất cần thiết cho việc chẩn đoán ung thư đại tràng, là phương pháp tốt nhất cho việc chẩn toán ung thư đại tràng di căn sang gan. Sau khi phẫu thuật, người bệnh cần được thăm khám định kỳ cũng như làm các xét nghiệm và siêu âm gan.

Sau khi được chẩn đoán bệnh, bệnh nhân cần được tiến hành phẫu thuật để điều trị tận gốc căn bệnh này. Phẫu thuật cũng là phương pháp hữu hiệu nhất trong việc loại bỏ hoàn toàn khối u ra khỏi cơ thể. Người bệnh sau khi được phẫu thuật thường có thể sống được 3 năm, tỷ lệ sống trong 5 năm khoảng 30- 50%. Nhưng những trường hợp sau khi được chẩn đoán còn khả năng cắt bỏ gan chỉ khoảng 10 20%, phần lớn không thể cắt bỏ toàn bộ do ổ bệnh di chuyển ra bên ngoài gan hoặc dính vào nhiều mạch máu lớn. Những trường hợp này khả năng điều trị không được khả quan lắm, thời gian sống không dài.

Ung thư đại trực tràng di căn sang gan khi còn khả năng chữa khỏi thì phải điều trị cắt bỏ bằng phẫu thuật, tuy nhiên cần nhiều phương pháp như hóa liệu, điều trị bằng cách đưa thuốc vào ổ bệnh, điều trị can thiệp. Người bệnh có thể phẫu thuật cắt bỏ khối u di chuyển và khối u nguyên phát cùng lúc nếu tình trạng sức khỏe cho phép cũng như là đủ lượng gan dự trữ.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đặc Điểm Hình Thái Học Hạch Di Căn Trong Ung Thư Biểu Mô Đại Trực Tràng trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!