Đề Xuất 12/2022 # Giải Đáp 12 Câu Hỏi Thường Gặp Về Ung Thư Cổ Tử Cung / 2023 # Top 16 Like | Growcaohonthongminhhon.com

Đề Xuất 12/2022 # Giải Đáp 12 Câu Hỏi Thường Gặp Về Ung Thư Cổ Tử Cung / 2023 # Top 16 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Giải Đáp 12 Câu Hỏi Thường Gặp Về Ung Thư Cổ Tử Cung / 2023 mới nhất trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cảnh báo, tỷ lệ mắc ung thư cổ tử cung ở các nước đang phát triển ngày càng cao và trẻ hóa, trong đó có Việt Nam. 80% phụ nữ có nguy cơ nhiễm HPV ít nhất một lần trong đời. Tuy nhiên, ít ai biết rằng bệnh có thể được chữa khỏi hoàn toàn nếu được phòng ngừa và phát hiện sớm.

Ung thư cổ tử cung đã và đang trở thành mối quan tâm “nóng” của chị em phụ nữ. Mặc dù vậy, không phải ai cũng hiểu rõ về căn bệnh đáng báo động này. Trang bị ngay những kiến thức cần thiết về ung thư cổ tử cung có thể giúp bạn nói “không” với căn bệnh nguy hiểm này.

Ung thư cổ tử cung (UTCTC) là một trong 10 loại ung thư có số ca mắc mới và tử vong hàng đầu tại Việt Nam. Bệnh lây truyền qua đường tình dục, do các tế bào niêm mạc ở cổ tử cung phát triển bất thường và hình thành các khối u, chúng nhân lên ngoài tầm kiểm soát và xâm lấn khu vực xung quanh, thậm chí di căn đến các bộ phận khác trong cơ thể.

Theo các chuyên gia, gần 99% bệnh nhân ung thư cổ tử cung bị nhiễm virus Human Papillomavirus (HPV). Trong đó virus HPV type 16 và 18 chiếm đến 70% nguyên nhân gây bệnh. Nếu không được phát hiện kịp thời, bệnh ra nhiều nhiều biến chứng đáng sợ như:phải phẫu thuật cắt bỏ một phần hay toàn bộ tử cung, tước đi quyền làm mẹ của người phụ nữ, suy thận, ung thư di căn đến phổi, gan,… thậm chí gây tử vong ở giai đoạn cuối.

Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm trên thế giới có trên 500.000 ca mắc mới và khoảng 250.000 ca tử vong do ung thư cổ tử cung. Riêng tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, cứ mỗi 2 phút lại có một phụ nữ qua đời vì căn bệnh này. Riêng tại Việt Nam, mỗi năm có đến 5000 ca mắc mới ung thư cổ tử cung, trong đó có khoảng một nửa số ca gây tử vong. Trung bình mỗi ngày, có 7 phụ nữ tử vong và 14 ca mắc mới vì căn bệnh này.

2. Thời gian ủ bệnh của ung thư cổ tử cung?

Ung thư cổ tử cung là “sát thủ thầm lặng” gây tử vong thứ 2 ở phụ nữ chỉ sau ung thư vú, 90% phụ nữ nhiễm HPV và các tổn thương tiền ung thư sẽ tự khỏi bệnh trong vòng 2 năm mà không cần bất cứ phương pháp điều trị nào. Chỉ một số ít người có chủng HPV gây ung thư phát triển thành bệnh ác tính. Song nếu tiền ung thư tiến thành UTCTC và di căn đến các bộ phận khác ở giai đoạn muộn thì rất khó chữa.

Đáng lo nhất, UTCTC thường phát triển âm ỉ trong một thời gian dài và hầu như không có triệu chứng trong giai đoạn đầu, nên phần lớn chị em thường chủ quan trong việc nhận biết bệnh. Ở phụ nữ có hệ miễn dịch bình thường thì mất khoảng 15-20 năm để ung thư cổ tử cung phát triển. Nhưng ở những phụ nữ có hệ miễn dịch kém (chẳng hạn như những người nhiễm HIV) thì có nhiều khả năng nhiễm HPV dai dẳng và tiến triển nhanh thành ung thư, chỉ mất 5-10 năm. Đồng thời các trường hợp này cũng dễ nhiễm các tác nhân lây truyền qua đường tình dục khác như virus gây mụn rộp, chlamydia và bệnh lậu…

Các chuyên gia y tế khuyến cáo, với sự phát triển của y học hiện đại, phụ nữ trong độ tuổi 21 – 65 nên đi khám tầm soát UTCTC ít nhất 3 năm/lần. Các chuyên gia ung thư từ Viện nghiên cứu City of Hope (California, Mỹ) cho biết, tỷ lệ tử vong do ung thư cổ tử cung trong 4 thập kỷ qua đã giảm 50% nhờ tầm soát sớm. Phát hiện sớm UTCTC sẽ giúp tiết kiệm chi phí, giảm thời gian điều trị, giảm thiểu rủi ro và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Chi phí cho mỗi lần đi khám sàng lọc ung thư sớm là rất nhỏ so với số tiền người bệnh phải bỏ ra để điều trị lâu dài khi phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn.

3. Ung thư cổ tử cung có lây không?

Ung thư cổ tử cung không phải là bệnh truyền nhiễm, vì vậy phụ nữ mắc bệnh không cần phải lo lắng về việc lây lan bệnh. Tuy nhiên, HPV – “thủ phạm” gây ra khoảng 99% tất cả các trường hợp ung thư cổ tử cung – là virus truyền nhiễm. Tức là, ung thư cổ tử cung không lây truyền khi đã mắc bệnh, nhưng HPV có thể lây lan sang người khác ngay cả khi người bệnh không hề có dấu hiệu hay triệu chứng gì. HPV chủ yếu lây truyền qua đường tình dục do da tiếp xúc trực tiếp với da, niêm mạc miệng, hầu họng hoặc tiếp xúc với dương vật, tử cung, âm đạo, hậu môn của người bị nhiễm bệnh.

Quan hệ tình dục không phải là con đường lây lan duy nhất của virus HPV. HPV còn có thể lây nhiễm qua tiếp xúc gián tiếp chẳng hạn như: tiếp xúc với quần áo cắt móng tay, kim bấm sinh thiết, đồ lót… của người bị nhiễm bệnh. HPV không lây nhiễm qua các con đường như: từ bồn cầu, ôm hay nắm tay, ăn chung hoặc dùng chung bát đũa, bơi chung hồ bơi hay bồn tắm với người mắc bệnh.

Tùy theo từng type virus HPV mà người nhiễm bệnh có nguy cơ phát triển thành ung thư cổ tử cung hay không. Đồng thời, khả năng hình thành ung thư lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, quan trọng nhất là hệ miễn dịch của cơ thể.

Ngoài ra, ung thư cổ tử cung không phải là bệnh di truyền, đến nay vẫn các nghiên cứu chưa xác định được yếu tố di truyền trong bệnh. Nếu trong gia đình có người thân từng mắc bệnh này, thì nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung của những người còn lại sẽ cao hơn người bình thường.

4. Ung thư cổ tử cung thường gặp ở độ tuổi nào?

Ung thư cổ tử cung không chừa một ai. Theo thống kê, ung thư cổ tử cung thường xảy ra với phụ nữ trong độ tuổi 30 – 65, bệnh ít phổ biến hơn ở độ tuổi 20 – 30, trong đó phụ nữ ở độ tuổi 35 – 55 có nguy cơ mắc bệnh cao nhất với 60%, tiếp đó 20% ở độ tuổi 55 – 65 và khoảng 8% xuất hiện ở độ tuổi 65 – 75.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, độ tuổi mắc ung thư cổ tử cung đang có xu hướng trẻ hóa, thông tin bé gái 14 tuổi mới có kinh nguyệt, chưa từng quan hệ tình dục mắc ung thư cổ tử cung ở giai đoạn cuối đã khiến nhiều người bàng hoàng, lo lắng. Khi nhập viện, khối bướu lớn trong cổ tử cung của bệnh nhi đã ăn lên thân tử cung, xâm lấn lan ra ngoài những cơ quan vùng chậu, xâm lấn trực tràng, hậu môn, niệu quản, thận ứ nước, nhiều khối hạch dọc theo diễn tiến đường đi của ung thư cổ tử cung nên không thể phẫu thuật được. Điều này cho thấy bệnh có thể gặp ở bất kỳ độ tuổi nào, bất kể việc đã kết hôn hoặc có quan hệ tình dục hay chưa.

Thực tế cho thấy, mầm mống gây bệnh là virus HPV có thể đã âm thầm tồn tại trong cơ thể người bệnh từ lâu. Nhưng chính tâm lý chủ quan cho rằng căn bệnh này sẽ không xảy đến với mình là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến việc phát hiện và chữa trị bệnh muộn. Bệnh có thể xuất hiện ở bất cứ ai, vì 99% nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung là do lây nhiễm các type HPV nguy cơ cao dai dẳng kéo dài. Trong khi đó, cứ 10 phụ nữ thì có đến 8 người nhiễm virus HPV ít nhất 1 lần trong đời.

Mặc dù, ở nước ta vẫn chưa có nghiên cứu đầy đủ nào để tìm ra nguyên nhân của tình trạng trẻ hóa căn bệnh ung thư, nhưng các nhà khoa học trong nước đã chỉ ra một số yếu tố như: Thói quen quan hệ tình dục sớm, quan hệ tình dục với nhiều người, có hệ miễn dịch yếu, hút thuốc lá, ít vận động, vệ sinh cá nhân kém, sử dụng thuốc tránh thai thường xuyên,… Về lâu dài những yếu tố này có thể gây các bệnh mạn tính, đột biến gen, phát sinh tế bào ung thư.

Tiền ung thư cổ tử cung hay còn gọi là giai đoạn ung thư biểu mô tại chỗ. Ở giai đoạn này, các tế bào biểu mô bất thường mới bắt đầu xuất hiện trong lớp lót cổ tử cung mà chưa xâm lấn sâu xuống mô chính, chưa lan sang các bộ phận khác.

Tân sản nội biểu mô cổ tử cung hay nghịch sản cổ tử cung là một trong những bất thường tế bào biểu mô thường gặp của niêm mạc của cổ tử cung, có nguy cơ ác tính nhưng chưa có sự xâm nhập các tầng mô đệm của tử cung. Tình trạng này thường xuất hiện ở vùng chuyển tiếp giữa biểu mô lát tầng với biểu mô tuyến hay còn gọi là biểu mô trụ của cổ tử cung.

Tân sản nội biểu mô cổ tử cung thường gặp ở phụ nữ độ tuổi từ 30 – 50, là một trong những tổn thương tiền ung thư cổ tử cung do có thể tiến triển thành ung thư tại chỗ dẫn tới xâm lấn cổ tử cung. Tổn thương này được hình thành ở biểu mô lát tầng cổ tử cung do sự xâm nhiễm của ít nhất 1 type HPV nguy cơ cao. Đó là tiền đề của ung thư xâm lấn cổ tử cung. Do đó, việc phát hiện sớm các tổn thương này có ý nghĩa quan trọng trong việc chẩn đoán sớm bệnh.

Ngày nay, để tiện hơn cho việc chẩn đoán và điều trị bệnh, người ta phân tổn thương tiền ung thư cổ tử cung thành 2 loại là tổn thương biểu mô lát độ thấp (LSIL) và tổn thương trong biểu mô lát độ cao (HSIL) để tương đồng với kết quả xét nghiệm tế bào học.

6. Ung thư cổ tử cung có chữa được không?

Hiện nay, với nền y khoa ngày càng hiện đại và tiến bộ, ung thư cổ tử cung có thể chữa khỏi lên đến 90% nếu được phát hiện sớm. Càng được phát hiện sớm thì tỷ lệ chữa khỏi (bệnh nhân sống khỏe mạnh trên 5 năm) và khả năng bảo vệ quyền làm mẹ càng cao. Còn nếu bệnh được phát hiện ở giai đoạn muộn thì việc chữa trị sẽ trở nên khó khăn hơn.

Tùy theo từng giai đoạn của bệnh mà khả năng điều trị thành công sẽ thay đổi, cụ thể như sau:

Giai đoạn tiền ung thư (giai đoạn 0): lúc này, các khối u vẫn còn rất nhỏ và chưa lan sang các mô lân cận. Giai đoạn này thường có khả năng chữa khỏi cao, bằng cách loại bỏ toàn bộ khối u bằng phẫu thuật về phụ khoa và ung bướu điều trị tích cực, lúc này cơ hội sống trên 5 năm có thể lên đến 96%.

Giai đoạn I: Tỷ lệ sống sau 5 năm giảm còn 80-90%.

Giai đoạn II: Khả năng sống sót giảm còn 50-60%.

Giai đoạn III: Chỉ còn 25-35% cơ hội để người bệnh sống sau 5 năm.

Giai đoạn IV: Tỷ lệ này chỉ còn dưới 15%.

Đáng lo nhất, trên 90% bệnh khi tái phát di căn xa sẽ tử vong trong vòng 5 năm.

Ung thư cổ tử cung đã và đang tạo ra các gánh nặng bệnh tật lớn cho người bệnh, gia đình, hệ thống y tế và toàn xã hội. Năm 2012, tổng gánh nặng trực tiếp của UTCTC khoảng 1.755 tỷ đồng, xếp thứ 4 và chiếm khoảng 0,015% tổng GDP; gánh nặng gián tiếp khoảng 418 tỷ đồng, xếp thứ 5 trong số 6 loại bệnh ung thư thường gặp nhất.

Như vậy, ung thư cổ tử cung có thể chữa khỏi được nếu phát hiện kịp thời. Chính vì vậy, chị em phụ nữ cần chủ động tiêm vắc xin phòng HPV (dự phòng cấp 1) và thực hiện các xét nghiệm tầm soát ung thư cổ tử cung (dự phòng cấp 2) để phát hiện và chữa trị ung thư cổ tử cung kịp thời với các phác đồ điều trị phù hợp với tình trạng bệnh.

Rụng tóc là một tác dụng phụ thường thấy của hóa trị liệu ung thư nói chung và ung thư cổ tử cung cũng không ngoại lệ. Đây là một mối lo ngại thực sự đối với nhiều bệnh nhân ung thư. Nhìn chung các loại thuốc hóa trị không thể nhận biết đâu là tế bào lành, đâu là tế bào ung thư nên thuốc tiêu diệt hiệu quả tất cả các tế bào đang phân chia nhanh chóng, do đó tóc cũng bị rụng cùng với việc các tế bào ung thư bị tiêu diệt. Ngoài tế bào tóc, các tế bào da, niêm mạc cũng bị ảnh hưởng tương tự.

Theo BS.Trần Vương Thảo Nghi, khoa Ung bướu, Bệnh viện Đa Khoa Tâm Anh cho biết, hóa trị là cách dùng thuốc đặc trị cho từng loại ung thư – phương pháp quan trọng trong điều trị bệnh. Theo dòng máu, thuốc có thể tới mọi cơ quan trong cơ thể có tế bào ung thư ẩn nấp. Hóa trị có nhiều tác dụng khiến bệnh nhân lo lắng, đặc biệt là rụng tóc.

Theo bác sĩ Nghi, mức độ rụng tóc thay đổi tùy theo loại thuốc và cơ thể của mỗi người. Có bệnh nhân sẽ ít rụng tóc hơn người khác. Rụng tóc thường xảy ra từ từ, có thể rụng toàn bộ hoặc từng mảng. Ngoài ra, thuốc còn gây tình trạng tóc bị mỏng hoặc dễ gãy hơn. Sau 3 tháng, việc rụng tóc sẽ kết thúc. Tóc mọc lại trong vòng 1 đến 3 tháng sau khi trị liệu kết thúc.

8. Quan hệ tình dục an toàn sẽ không mắc ung thư cổ tử cung?

Nhiều người cho rằng nếu quan hệ tình dục có sử dụng bao cao su đồng nghĩa không có khả năng mắc ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên, bao cao su chỉ che được một phần bộ phận sinh dục của nam giới. Do đó, virus HPV có thể lây truyền từ nam sang nữ ở những tổ chức không được bao cao su che phủ. Ngoài ra, virus HPV vẫn có thể lây nhiễm trong quá trình một số cặp đôi quan hệ bằng miệng hay hậu môn.

9. Ung thư cổ tử cung có phòng ngừa bằng vắc xin được không?

Không phải ai nhiễm HPV cũng sẽ bị ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên, ai mắc ung thư cổ tử cung chắc chắn bị nhiễm HPV. Hiện bệnh chưa có thuốc đặc trị, nhưng điều đáng mừng là: ung thư cổ tử cung có thể chủ động ngăn ngừa đơn giản và hiệu quả bằng vắc xin. Các chuyên gia khuyến cáo, các chị em nên đi tiêm vắc xin phòng HPV càng sớm càng tốt. Vắc xin có hiệu quả kéo dài lên đến 30 năm.

Tại Việt Nam vắc xin ngừa virus HPV đã được Bộ Y tế cấp phép sử dụng vào năm 2008. Đến nay đã có hơn một triệu liều vắc xin được sử dụng trong 10 năm qua. Thống kê của WHO, 270 triệu liều vắc xin ngừa virus HPV đã được sử dụng trên 120 nước.

Vắc xin ngừa virus HPV được khuyến cáo tiêm cho phụ nữ độ tuổi 9-26, tốt nhất là 11 đến 12 tuổi, bất kể đã có quan hệ tình dục hay chưa. Vắc xin đạt hiệu quả cao nhất khi tiêm ngừa trước lần quan hệ tình dục đầu tiên. Liều tiêm được chỉ định ba liều, hiệu quả gần 100% trong phòng ngừa các tổn thương tiền ung thư và ung thư cổ tử cung gây ra bởi hai chủng HPV 16, 18 cũng như các mụn cóc sinh dục, ung thư âm hộ, âm đạo, dương vật,…

Đồng thời, Trung tâm phòng chống và kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) khuyến cáo, cần xem xét mở rộng chương trình tiêm phòng HPV cho các bé trai, sau khi một nghiên cứu cho thấy số nam giới mắc bệnh ung thư do nhiễm virus HPV sẽ vượt xa nữ giới, và nhiễm HPV có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư vòm họng, ung thư miệng, lưỡi ở nam giới cũng như ung thư đường sinh dục nam giới (hậu môn, dương vật…).

Theo thống kê của tạp chí y học Lancet Oncology, nếu không được sàng lọc và tiêm phòng vắc xin HPV, trên 44 triệu phụ nữ có nguy cơ sẽ mắc căn bệnh này trong 50 năm tới. Trong đó, ước tính có khoảng 70% số trường hợp mắc ung thư cổ tử cung với 15 triệu ca tử vong xảy ra tại các nước có thu nhập ở mức trung bình và thấp.

Nhưng nghiên cứu cũng chỉ ra việc triển khai nhanh chóng dự án sàng lọc và tiêm phòng vaccine HPV từ năm 2020 có thể giúp ngăn chặn trên 13 triệu ca ung thư cổ tử cung tính đến giữa thế kỷ này, qua đó giúp giảm tỉ lệ mắc bệnh xuống còn 1/25.000 phụ nữ.

Vắc xin phòng ngừa HPV có hiệu quả cao, được ghi nhận an toàn bởi các cơ quan uy tín của Mỹ như Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật (CDC) và Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA). Tiêm vắc xin HPV càng sớm vì sẽ giúp tăng khả năng đáp ứng miễn dịch, phụ nữ đã quan hệ tình dục, từng nhiễm virus HPV vẫn có thể tiêm phòng.

Phản ứng sau tiêm chủng là một hiện tượng đáp ứng miễn dịch rất bình thường. Nhiều người có thể tiêm ngừa HPV mà không gặp bất kỳ phản ứng phụ nghiêm trọng nào. Tuy nhiên, bạn có thể gặp phản ứng phụ nhẹ đến trung bình sau khi chủng ngừa như:

Phản ứng tại chỗ tiêm, quầng đỏ, đau hoặc sưng;

Sốt nhẹ;

Nổi mề đay;

Đau đầu;

Mệt mỏi;

Đau cơ;

Đau khớp;

Buồn nôn và nôn;

Rối loạn dạ dày ruột: đau bụng, tiêu chảy;

Do đó, sau khi tiêm, người được tiêm nên ở lại nơi trung tâm tiêm chủng ít nhất 30 phút để được theo dõi kịp thời các phản ứng các phản ứng. Trước khi ra về, nhân viên y tế sẽ hướng dẫn cách theo dõi sát sao các phản ứng tại nhà. Nếu bạn đang gặp bất kỳ triệu chứng bất thường hoặc nếu triệu chứng vẫn còn, bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ.

Bạn không nên tiêm vắc xin phòng HPV nếu:

Bạn nhạy cảm với men hoặc bất cứ thành phần nào của vắc xin.

Bạn đang bị nhiễm trùng cấp mức độ vừa hoặc nặng, hãy chờ cho đến khi cơ thể phục hồi khỏe mạnh mới tiêm phòng HPV.

Bị giảm tiểu cầu, rối loạn đông máu hoặc đang dùng thuốc làm loãng máu.

Đang có thai hoặc đang cho con bú.

Ung thư cổ tử cung không chừa bất kỳ người phụ nữ nào và ở bất kỳ độ tuổi nào. Vì vậy, mọi người cần có một lối sống lành mạnh, cân bằng để giảm bớt nguy cơ bị ung thư. Bên cạnh đó, các chị em phụ nữ cũng cần trang bị kiến thức cho mình về việc phòng ngừa, chẩn đoán và phát hiện sớm căn bệnh ung thư phụ khoa; cần chích ngừa HPV. Khám tầm soát định kỳ và đi khám ngay khi có các triệu chứng báo động… để tự bảo vệ mình khỏi căn bệnh quái ác này.

12. Nên tiêm vắc xin phòng ngừa ung thư cổ tử cung (HPV) uy tín ở đâu?

Với 40 trung tâm trên toàn quốc, được đầu tư cơ sở vật chất hiện đại, khang trang và dịch vụ tiêm chủng an toàn, cao cấp với giá thành bình ổn, hợp lý, Hệ thống Trung tâm tiêm chủng VNVC đã đáp ứng tốt nhu cầu tiêm vắc xin phòng bệnh, nâng cao sức khỏe, tiết kiệm chi phí, thời gian và được tận hưởng dịch vụ tiêm chủng cao cấp, trở thành địa chỉ tin cậy cho hàng triệu gia đình Việt.

VNVC có đầy đủ các loại vắc xin dành cho trẻ em và người lớn. Các loại vắc xin có nguồn gốc rõ ràng, được nhập khẩu chính hãng từ các nhà sản xuất uy tín trong và ngoài nước, vắc xin được bảo quản trong hệ thống kho lạnh GSP theo đúng tiêu chuẩn quốc tế, giúp đảm bảo lưu giữ vắc xin trong nhiệt độ tiêu chuẩn từ 2-8 độ C.

Hiện nay, VNVC đang có vắc xin Gardasil (Mỹ) phòng ngừa ung thư cổ tử cung, ung thư âm đạo, mụn cóc sinh dục và ung thư hậu môn do 4 chủng HPV 16,18,6,11. Phác đồ tiêm chủng dành cho nữ giới từ 9 – 26 tuổi gồm 3 mũi như sau:

Mũi 1: Lần đầu tiên tiêm.

Mũi 2: 2 tháng sau mũi 1.

Mũi 3: 6 tháng sau mũi 1.

Tiêm vắc xin phòng ung thư cổ tử cung (HPV) tại VNVC, khách hàng sẽ không phải lo lắng việc vắc xin sẽ bị giảm tác dụng do quy trình tiêm chủng không an toàn, vắc xin không đạt chất lượng hay quên lịch tiêm.

Nhằm cung cấp những thông tin và giải đáp chi tiết các thắc mắc, băn khoăn của chị em phụ nữ xoay quanh bệnh lý ung thư cổ tử cung, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh phối hợp cùng Trung tâm Tiêm chủng cho Trẻ em và Người lớn VNVC tổ chức chương trình giao lưu trực tuyến “UNG THƯ CỔ TỬ CUNG: DẤU HIỆU NHẬN BIẾT, PHƯƠNG PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ”.

Chương trình được phát trực tiếp vào lúc 20h ngày 19/11/2020 trên Báo Điện tử https://vtv.vn/, https://thanhnien.vn/, website chúng tôi website chúng tôi và livestream trên các fanpage: Trung tâm Tin tức VTV24, VTV8 – Tin nóng miền Trung, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Trung tâm tiêm chủng cho Trẻ em và Người lớn VNVC, tiếp sóng trên fanpage Báo Thanh Niên và fanpage chúng tôi của Báo Điện tử VnExpress với sự tham gia của các chuyên gia đầu ngành:

– chúng tôi Đinh Thị Hiền Lê – Bác sĩ cao cấp, khoa Phụ sản BVĐK Tâm Anh.

– Bác sĩ Bạch Thị Chính – Giám đốc Y khoa Hệ thống Trung tâm Tiêm chủng cho Trẻ em và Người lớn VNVC.

– Bác sĩ Trần Vương Thảo Nghi – Trưởng khoa Ung bướu, BVĐK Tâm Anh.

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Giải Đáp 19 Câu Hỏi Thường Gặp Về Ung Thư Phổi / 2023

Ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong hành đầu trên thế giới và ngày này, căn bệnh đang có xu hướng gia tăng rất nhanh.

Ở Việt Nam, hầu hết những người mắc bệnh được chẩn đoán khi bệnh đã tiến triển đến giai đoạn muộn vì thế gây khó khăn cho việc điều trị, dãn đến tỷ lệ sống xuống thấp.

1. Ung thư phổi là gì?

Ung thư phổi là căn bệnh trong đó xuất hiện một khối u ác tính và không thể kiểm soát trong các mô phổi. Nếu người bệnh không được điều trị, sự tăng trưởng tế bào có thể lan ra ngoài phổi đến các mô hoặc các bộ phận khác của cơ thể, quá trình này gọi là di căn.

Hầu hết ung thư phổi khởi nguồn ngay từ bên trong phổi.

Ung thư phổi.

Thứ được cho là nguyên nhân chính của ung thư phổi là thuốc lá. Khoảng 90% trường hợp ung thư phổi là nguời nghiện thuốc lá. Các con số thống kê cũng cho thấy hút thuốc lá chủ động làm tăng nguy cơ bị ung thư phổi lên 13 lần, thậm chí những người không hút mà chịu ảnh hưởng bởi khói thuốc cũng nằm trong nhóm những người dễ bị ung thư phổi.

Một số tác nhân khác như ô nhiễm không khí, ô nhiễm môi trường, gen di truyền bẩm sinh, độ tuổi..

Nhận biết được nguyên nhân gây bệnh là một trong những phương pháp phòng ngừa bệnh. Đa phần người bệnh mắc bệnh ung thư phổi là không thể chữa khỏi. Các phương pháp điều trị phổ biến như là phẫu thuật, hóa trị, xạ trị.

2. Ung thư phổi có những loại nào?

Có hai loại chính của ung thư phổi là:

Ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC)

Ung thư phổi tế bào nhỏ (SCLC)

Ung thư phổi không tế bào nhỏ chiếm đa số, chiếm 80% các trường hợp bệnh ung thư phổi. Trong số đó có những loại khối u:

Ung thư tuyến

Ung thư biểu mô tế bào vảy (ung thư biểu bì) hình thành ở niêm mạc ống phế quả.

Ung thư biểu mô tế bào lớn

Ung thư phổi tế bào nhỏ chiếm ít hơn và cũng nguy hiểm hơn vì nó phát triển rất nhanh chóng, hay tái phát và có xu hướng kháng thể trong những đợt điều trị. Ung thư phổi tế bào nhò phổ biến ở nam giới, thường bắt đầu trong đường hô hấp lớn (phế quản) phổi, nhưng lây lan sớm, lan đến não. Ung thư phổi tế bào nhỏ thường chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn hạn chế và mở rộng. Tại thời điểm chẩn đoán, 60 đến 70% số người mắc bệnh ở giai đoạn mở rộng.

3. Ung thư phổi có nguy hiểm không?

Ung thư phổi là căn bệnh gây tử vong hàng đầu, là lưỡi liềm sắc bén phục vụ tử thần trong xã hội hiện đại. Chỉ tính trên phạm vi thế giới trng năm 2012, số ca mắc bệnh ung thư phổi là 1.8 triệu, trong đó có đến 1.6 triệu người tử vong.

Ở Mỹ, chỉ có 17.4% bệnh nhân sống sót sau năm năm kể từ thời điểm xác định mắc bệnh, còn đối với những nước kém phát triển hơn, con số lại càng thấp hơn nữa.

Ung thư phổi là tác nhân gây tử vong hàng đầu.

Vì thế, mỗi người cần phải tự bảo vệ bản thân, tránh xa những yếu tố tác nhân làm nên nguyên nhân gây bệnh. Chăm chỉ luyện tập thể dục thể thao, ăn uống điều độ, hợp lý…

4. Ung thư phổi có chữa khỏi không?

Ung thư phổi là căn bệnh cần phòng tránh triệt để bởi khi đã mắc bệnh thì rất khó có thể chữa khỏi.

Những bệnh nhân được xác định bị ung thư phổi hầu hết đều được chẩn đoán vào giai đoạn muộn, khiến cho quá trình điều tị tiếp tục gặp nhiều khó khăn hơn nữa.

Ung thư phổi cũng như các khối u rắn khác như ung thư vú và ung thư đại trực tràng, khả năng kiểm soát bệnh dài hạn là có thể, nhưng các bác sĩ do dự khi sử dụng từ “chữa khỏi”.

Những người bị ung thư tuyến phổi có khả năng tái phát cao hơn ung thư tế bào vảy. Ngoài ra, những trường hợp ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết cũng có nhiều khả năng tái phát nếu không phẫu thuật loại bỏ.

Ung thư phổi rất khó để chữa khỏi.

Tuy nhiên, nếu những người được chẩn đoán ung thư phổi giai đoạn 1A, các mạch máu chưa bị xâm lấn bởi ung thư, khối u rất nhỏ; sau 5 năm bệnh không tái phát, thì có thể gọi là “chữa khỏi bệnh’.

5. Khám và chữa bệnh ung thư phổi ở đâu tốt nhất?

Cơ sở y tế ngày càng được đầu tư và phát triển giúp gia tăng cơ hội sống sót cho bệnh nhân mắc bệnh ung thư tăng lên đáng kể. Vì thế, ở cả ba miền đều có những bệnh viện có đội ngũ y tế giỏi, tận tình cũng những trang thiết bị hiện đại để phục vụ và điều trị bệnh.

Ở miền bắc, có các bệnh viện ung bướu hàng đầu như bệnh viện K, 108, bệnh viện Bạch Mai hay các bệnh viện tư nhân như bệnh viện Thu Cúc, Hưng Việt..

Ở miền Trung, người bệnh có thể đến Trung tâm ung bướu – bệnh viện trung ương Huế và bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng, nơi mới được đầu tư trang thiết bị y tế cùng đội ngũ bác sỹ chuyên gia hàng đầu.

Một góc bệnh viện ung bướu Đà Nẵng.

Ở miền Nam, bệnh nhân ung thư phổi có thể đến bệnh viện Ung bướu thành phố Hồ Chí Minh, hoặc nếu có điều kiện hơn thì thăm khám ở bệnh viện đa khoa quốc tế Central Park, nơi được áp dụng kĩ thuật xạ trị chuẩn quốc tế.

6. Ung thư phổi sống được bao lâu?

Thời gian và tỷ lệ sống của ung thư phổi chia ra theo từng giai đoạn bệnh. Giai đoạn sớm sẽ có tiên lượng sống tốt hơn so với những giai đoạn sau.

Giai đoạn 1: Kích thước khối u nhỏ, chưa di căn hạch mà chỉ mới xuất hiện và phát triển ở một số vị trí của phổi chứ chưa xâm lấn. Sau khi chẩn đoán và tích cực điều trị, tỷ lệ là 52% bệnh nhân sống trên năm năm, và có rất nhiều trường hợp bệnh nhân không còn tái phát bệnh.

Giai đoạn 2, 3, khi mà khối u đã xâm lấn đến các mô xung quanh, kích thước khối u to thì tỷ lệ sống sau 5 năm giảm sút, chỉ còn 25%.

Giai đoạn 4 ung thư đã di căn đến các cơ quan khác như gan, xương, não.. thì chỉ có khoảng 4% bệnh nhân sống được trên 5 năm. Và hầu hết bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn 4 chỉ sống được từ 4-12 tháng.

7. Ung thư phổi di căn đi đâu?

Ung thư phổi có thể lây lan đến bất kỳ khu vực nào cơ thể ở các giai đoạn cuối, nhưng các khu vực phổ biến nhất là các hạt bạch huyết, gan, xương, não và tuyến thượng thận.

Ung thư phổi di căn xương

Khoảng 30 -40% số người bị ung thư phổi di căn đến xương, các xương dễ bị ảnh hưởng nhất là xương cột sống, xương chậu, xương trên của cánh tay gây nên các cơn đau, thậm chí là giải phóng canxi vào máu gây ra các triệu chứng như nhầm lẫn, yếu cơ..

Ung thư phổi di căn não

Có ít nhất 40% người mắc bệnh ung thư phổi di căn lên não. Ung thư phổi tế bào nhỏ có thể di căn lên ung thư não nhanh chóng, gây ra những chứng bệnh về thần kinh. Ung thư phổi di căn não chỉ được phát hiện khi chụp các loại cắt lớp.

8. Ung thư phổi di căn sống được bao lâu?

Khi ung thư phổi đã di căn và lan ra các bộ phận khác của cơ thể, thời gian sống của người bệnh còn lại rất ít. Người bệnh chỉ có 1% sống 5 năm, phần còn lại có thời gian sống tối từ 2-8 tháng.

Người bệnh di căn có thời gian sống còn lại khá ít.

Khi di căn, cơ thể ngoài phải chịu đựng khối u nguyên phát còn gánh thêm cả trách nhiệm điều tiết các khối u di căn khác khiến cơ thể “quá tải”, suy yếu nhanh chóng.

Nếu là ung thư phổi tế bào nhỏ, bệnh có thể duy trì được 6-15 tuần, còn ung thư phổi không tế bào nhỏ thì khó lường và nguy hiểm hơn, không kéo dài được lâu.

Tuy vậy nếu có tinh thần lạc quan cùng thái độ điều tị tích cực, cơ hội sống trên 5 năm vẫn hoàn toàn có.

9. Hóa trị ung thư phổi sống được bao lâu? Hết bao nhiêu tiền, tác dụng phụ thế nào?

Hóa trị là phương pháp sử dụng các loại hóa chất gây độc cho tế bào ung thư, từ đó tiêu diệt và đào thải nó ra ngoài cơ thể.

Hóa trị ung thư phổi thường được sử dụng cho những bệnh nhân được chẩn đoán bệnh ở giai đoạn sớm, khi khối u mới hình thành và chưa phát triển mạnh.

Đồng thời, hóa trị cũng có thể làm teo nhỏ các khối u, để làm cho việc phẫu thuật trở nên dễ dàng hơn.

Hóa trị ung thư phổi.

Hóa trị luôn đi theo quá trình, thế nên chi phí cho phương pháp này cũng là vấn đề mà nhiều người quan tâm. Đối với ung thư phổi, dựa trên giai đoạn và mức độ nặng, nhẹ sau chẩn đoán mà các bác sỹ đề ra phác đồ trị liệu đi kèm hóa trị. Mỗi đợt điều trị thường khoảng 10-15 lần hóa trị, và giá tiền dao động từ 5-7 triệu/ 1 lần hóa trị.

Tuy vậy, hóa trị cũng có những mặt hạn chế nhất định khi có những tác dụng phụ như đau đầu, mệt mỏi, nôn mửa không kiểm soát. Một số bệnh nhân còn mắc chứng rụng tóc do ảnh hưởng bởi các thành phần trong những loại thuốc. Ngoài ra bệnh nhân còn có thể bị rối loạn hô hấp, táo bón, ảnh hưởng tư duy và trí nhớ..

10. Xạ trị ung thư phổi sống được bao lâu? Bao nhiêu tiền, tác dụng phụ thế nào, có đau không?

Xạ trị là phương pháp đưa các tia năng lượng cao vào cơ thể nhằm tiêu diệt hoặc thu nhỏ các tế bào ung thư. Lượng phóng xạ thông qua các tia năng lượng này khá cao nên nhờ đó mới có thể tác động đến các tế bào ung thư, làm cho phương pháp này là “cứu cánh”, hy vọng cho các bệnh nhân mắc phải căn bệnh hiểm nghèo này.

Tùy thuộc vào tình trạng bệnh, xạ trị có thể được dùng với nhiều mục đích khác nhau

Sau khi phẫu thuật: Xạ trị giúp tiêu diệt tế bào ung thư còn sót sau phẫu thuật.

Trước khi phẫu thuật: Xạ trị giúp làm giảm kích thước của khối u và giúp cho quá trình phẫu thuật hiệu quả hơn.

Chữa bệnh ung thư: Với khối u nhỏ, và những bệnh nhân không có khả năng phẫu thuật do tuổi tác, vị trí của một khối u hoặc điều kiện y tế khác, xạ trị đôi khi có thể mang lại cơ hội cho việc chữa trị.

Điều trị ung thư phổi: Điều trị các khối u tại chỗ, như các hạch bạch huyết ở gần và các bộ phận khác của cơ thể, như não bộ.

Giảm nhẹ triệu chứng: Khi một khối u gây ra các triệu chứng như khó thở và đau đớn, xạ trị được sử dụng để làm giảm kích thước khối u, từ đó giảm triệu chứng.

Phòng bệnh tái phát: Đối với ung thư phổi tế bào nhỏ, xạ trị đến não đôi khi được dùng để tiêu diệt các tế bào đã di căn tới não nhưng không được phát hiện bởi máy quét.

Chi phí điều trị ung thư phổi bằng xạ trị cũng là vấn đề mà nhiều người quan tâm. Một đợt xạ trị kéo dài khoảng 6 tuần, và mỗi tuần xạ trị 5 lần/tuần. Một lần xạ trị có giá tiền dao động từ 5-7 triệu/lần.

Xạ trị là một trong những phương pháp điều trị ung thư phổi.

Xạ trị là phương pháp hiện đại, có hiệu quả nhưng ẩn trong số đó là một số tác dụng phụ mà bệnh nhân cần biết đến:

Phản ứng của da: da bị bạc màu giống như bị cháy nắng nhẹ.

Buồn nôn, nôn và chán ăn: sẽ hết sau khi điều trị.

Tiêu chảy nếu như xạ trị ở phần bụng. Tránh ăn rau xanh, trái cây, thức uống có cồn và uống nhiều nước.

Đau cổ, khô miệng hay thay đổi vị giác nếu xạ trị ở phần cổ và họng.

Mệt mỏi sau 2, 3 tuần xạ trị. Chỉ cần nghỉ ngơi thêm vài giờ mỗi ngày.

Một số đợt xạ trị có thể lưu lại hàm lượng phóng xạ trên cơ thể, dẫn đến việc bị ngộ độc phóng xạ, là nguyên nhân dẫn đến nhiều bệnh ung thư khác.

11. Có nên phẫu thuật ung thư phổi không?

Phẫu thuật là phương pháp có thể tiệm cận việc giải quyết triệt để căn nguyên của các bệnh ung thư phổi, và ung thư phổi là một trong số đó. Trong hầu hết ca bệnh, nếu bệnh có thể phẫu thuật được các bác sỹ đều khuyên bệnh nhân nên phẫu thuật, vì đây là cách duy nhất giúp cho bệnh nhân trong giai đoạn về sau.

Phẫu thuật ung thư phổi.

Phẫu thuật là phương pháp phổ biến trong điều trị ung thư phổi (đặc biệt là ung thư phổi không tế bào nhỏ), thường được áp dụng cho những giai đoạn sớm, khi ung thư chưa lan ra ngoài phổi. Các phương pháp phẫu thuật ung thư phổi bao gồm:

12. Ung thư phổi nên ăn gì, kiêng gì?

Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình điều trị bệnh ung thư, quản lý tốt có thể giúp người bệnh bổ sung các chất dinh dưỡng cần thiết để giúp cơ thể chống chọi lại với các tế bào ung thư ác tính.

Một số lưu ý chung:

Hạn chế ăn đồ dầu, mỡ, đông lạnh

Hạn chế ăn các đồ ăn nhanh, đồ chiên đi chiên lại nhiều lần

Tránh xa khói thuốc

Bổ sung rau xanh, chất xơ hàng ngày

Dựa theo những triệu chứng đi kèm mà người bệnh cần phân loại, bổ sung và kiêng kỵ các loại thực phẩm khác nhau.

Dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình điều trị.

Đờm trắng ở trạng thái bọt, dễ nhổ ra, kèm theo rêu lưỡi trắng và nhầy, hoặc sợ lạnh: Kiêng ăn các thứ dầu mỡ ngậy béo, quá bổ dưỡng như thịt mỡ, gà béo, vịt béo, tôm, cua, cá hồi, các hải sản tanh. Không uống các thứ lạnh, kiêng lạc, khoai lang vì chúng gây đờm, làm bệnh nặng thêm.

Nếu đờm vàng, tương đối đặc, khó khạc nhổ, kèm theo rêu lưỡi vàng và nhầy, nên chọn các thức ăn vừa hóa được đờm lại vừa có tác dụng thanh nhiệt như quả lê, đường phèn hầm củ cải, quả hồng… Kiêng ăn các thức ngậy béo, cay (hạt tiêu, bột hạt cải, bột cari, ớt, rượu), đồ hun nướng. Kiêng hồ đào, lạc.

Nếu trong đờm có lẫn máu hoặc khạc ra máu thì ngoài việc kiêng kỵ nghiêm ngặt các thức trên, bệnh nhân còn phải kiêng các thức thô ráp và cấm dùng đồ rán, nướng, quay, hun…

13. Ung thư phổi có di truyền không?

Ung thư phổi không phải là căn bệnh di truyền nên vì thế, nó không lây lan từ người này sang người khác.

Trên thực tế, những người trong gia đình có người thân đã từng mắc bệnh ung thư phổi thì nguy cơ cũng cao hơn so với người bình thường. Nguyên do một phần do lối sống của người thân hay sử dụng và tiếp xúc trong môi trường thuốc lá, ô nhiễm..

Do đó, việc thiết yếu nhất đối với những người có tiền sử gia đình mắc ung thư phổi là cần có chế độ sinh hoạt khoa học, tránh xa thuốc lá và các chất độc hại gây bệnh, đồng thời, có một lịch khám tầm soát định kỳ hàng năm để sàng lọc ung thư.

14. Chữa ung thư phổi bằng đông y thế nào?

Các phương pháp phẫu thuật, xạ trị hay hóa trị có ưu điểm là tiêu diệt được tế bào ung thư, nhưng lại gây hảo mòn chính khí, gây ra những tác dụng phụ nghiêm trọng. Vì thế, với nhiều người, Đông Y vẫn là một trong những phương pháp hay, triệt để, và trở thành món bảo bối thứ tư để điều trị ung thư.

Đông Y kết hợp với Tây Y có thể hỗ trợ, bổ sung cho nhau, có thể nâng cao hiệu quả điều trị, kéo dài tuổi cho bệnh nhân và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Đông y được áp dụng trong điều trị ung thư phổi.

Một số bài thuốc Đông Y chữa ung thư phổi:

Đối pháp lập phương: Sinh hoàng kỳ, tiết lệ, Đương quy, hải tảo, Bì thiềm tô, can khương, Xà lục cốc, bạch thược, chế nam tinh, hạ khô thảo, cam thảo, qua lâu nhân.

Khung long thang hoạt huyết hóa đờm: Xuyên khung, ngưu tất, khương tinh thảo, Bán chi liên, diên hồ, địa long, mã ma thảo, bạch hoa xà.

Dưỡng âm bổ khí: Sinh địa, Thiên môn, Đảng sâm, mạch môn, hoàng tinh, ngư tinh thảo, sinh hoàng kỳ, xuyên bối.

15. Chữa ung thư bằng thuốc nam thế nào?

Xen kẽ với thuốc Đông Y, thuốc Nam cũng được người dân truyền tay nhau và dùng xen kẽ với các liệu pháp, phác đồ điều trị Tây Y từ các cơ sở y tế.

Một số loại cây thuốc nam nổi tiếng như cây xạ đen, dừa cạn, mật ong với gừng.. kết hợp với chế độ dinh dưỡng và luyện tập hợp lý đã giúp nhiều người chiến thắng được bệnh ung thư, song song với việc điều trị tích cực.

16. Ung thư phổi có lây không?

Ung thư phổi không phải là bệnh lây nhiễm nhưng có xu hướng di truyền. Điều đó đồng nghĩa với việc những người có người thân trong gia đình mắc bệnh ung thư phổi thì cũng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn so với những người khác.

Bệnh ung thư phổi hoàn toàn không lây nhiễm trong môi trường không khí, ăn uống, không lây truyền từ người sang người.

17. Ung thư phổi có sinh con được không?

Sau quá trình điều trị tích cực, người bệnh có thể cắt bỏ được các khối u và tế bào ung thư ở bên trong phổi. Nhưng không vì thế mà chủ quan, mất kiểm soát và theo lại những thói quen không tốt vì bệnh ung thư có thể tái phát từ 1-5 năm sau.

Ung thư phổi vẫn có thể sinh con.

Dù vậy, người sau quá trình điều trị ung thư phổi vẫn có thể mang thai và sinh con, nhưng kế hoạch gia đình nên bắt đầu từ năm thứ 3 sau ung thư, tránh sớm quá ung thư sẽ quay trở lại, ảnh hưởng đến thai nhi.

18. Phòng tái phát ung thư phổi thế nào hiệu quả?

Tuyệt đối tránh xa thuốc lá Phòng ngừa ung thư phổi tái phát.

Thuốc lá là yếu tố tác nhân hàng đầu gây nên bệnh ung thư. Vì thế, hãy tránh xa những nơi có mùi thuốc, đề nghị những người nói chuyện trực tiếp hay làm việc với bản thân không hút thuốc lá.

Ngừa cảm lạnh, nhiễm trùng

Chú ý thời tiết, nhất là vào mùa đông khiến phổi dễ bị tổn thương. Vào mùa lạnh, nên mặc và giữ ấm cơ thể, tránh gây tác động xấu đến cơ thể.

Chế độ dinh dưỡng hợp lý

Dinh dưỡng cần phong phú và đa dạng, ăn nhiều các loại cháo, ăn nhiều trái cây và rau xanh. Những thực phẩm rất tốt như nấm mèo, cà rốt, rau diếp, dưa chuột, các loại thịt trắng.

Chế độ ăn uống hợp lý và lành mạnh là con đường chính ngăn ngừa ung thư phổi tái phát.

19. Nên sử dụng thực phẩm chức năng, thảo dược gì trước, trong và sau hóa, xạ trị, phẫu thuật ở bệnh viện?

Quá trình điều trị gồm phẫu thuật, hóa trị và xạ trị thường mang đến những tổn thương, những tác dụng phụ cho cơ thể. Vì thế trong thời gian này, bệnh nhân cần sử dụng những thực phẩm, thứ nhất là để bồi bổ, thứ hai để tăng cường sức đề kháng cho cơ thể, như thế mới có thể theo kịp phác đồ điều trị đến từ các bệnh viện, cơ sở y tế.

Các bác sỹ ở bệnh viện chuyên khoa ung bướu hàng đầu như bệnh viện K, 108 hay Bạch Mai thường hay khuyên bệnh nhân trước, trong và sau quá trình điều trị tích cực bệnh sử dụng sản phẩm King Fucoidan & Agaricus chứa hoạt chất Fucoidan hỗ trợ điều trị bệnh ung thư.

Hoạt chất Fucoidan được chiết xuất từ nấm Mozuku tại Nhật Bản, kết hợp cùng bột nghiền từ nấm Agaricus có tác dụng tăng cường sức đề kháng, bồi bổ cơ thể, giúp tiêu diệt các tế bào ung thư ngay từ trong trứng nước.

Bạn có thể mua sản phẩm chính hãng trực tiếp qua website http://kingfucoidan.vn/ bằng cách gọi đến số tổng đài miễn cước trong giờ hành chính 18000069 hoặc số ngoài giờ hành chính 0439963691.

Giải Đáp 5 Câu Hỏi Thường Gặp Về Chuyện Ăn Uống Của Bệnh Nhân Ung Thư / 2023

Không những phải trải qua hàng loạt những khó khăn trong việc điều trị mà người bệnh ung thư cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn trong chuyện ăn uống mà ít ai thấu hiểu được. Lúc này, họ rất cần có những lời giải đáp khoa học, chính xác về những thắc mắc mà họ đang gặp phải.

Vậy hãy để Kiến thức ung thư tiếp thêm sức mạnh và gỡ rối cho bạn những câu hỏi thường gặp: Ung thư có được ăn đường phèn không? Có được ăn trứng vịt lộn, tổ yến, uống sữa, uống mật không?

1. Ung thư có ăn được đường phèn không?

Có lẽ bạn đã từng nghe nói rằng đường phèn hay các loại đường khác là một trong những nguyên nhân gây ung thư hoặc làm cho tế bào ung thư phát triển nhanh hơn. Chính từ những lời đồn đoán này làm bạn cảm thấy e dè, lo lắng mỗi khi ăn những loại thực phẩm có chứa đường.

Trên thực tế, mỗi tế bào trong cơ thể bạn sử dụng lượng đường trong máu (glucose) để có thể ra tạo năng lượng, phát triển và duy trì hoạt động, trong đó có cả tế bào ung thư.

Không chỉ riêng là đường phèn mà cơ thể của chúng ta được cung cấp đường từ những nguồn thực phẩm có chứa carbohydrate và protein khác như: rau, trái cây, ngũ cốc, sữa, thịt, cá…

Khi tiêu thụ những món ăn có chứa nhiều đường thì cơ thể sẽ tạo ra nhiều năng lượng hơn đồng nghĩa với bạn đang phải đối diện với nguy cơ thừa cân, béo phì. Chính tình trạng béo phì này làm tăng nguy cơ tế bào ung thư phát triển mạnh mẽ hơn.

Bên cạnh đó, thừa cân hoặc béo phì cũng khiến nhiều người khác có nguy cơ mắc ít nhất 13 loại ung thư, bao gồm ung thư vú, gan và ung thư đại trực tràng.

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là bạn tuyệt đối không được ăn đường. Nếu kiêng khem quá mức việc sử dụng đường cũng như các thực phẩm chứa đường và protein khác có thể làm cho sức khỏe của bạn ngày một suy kiệt hơn, dẫn tới không còn đủ sức khỏe.

Hạn chế đồ uống có đường như: nước ngọt đóng chai, đồ uống có ga…

Đọc nhãn thông tin dinh dưỡng của các loại sản phẩm (bánh ngọt, bánh sô cô la, các loại ngũ cốc, mì đóng gói…) trước khi sử dụng là cách giúp bạn kiểm soát được lượng đường hấp thu vào trong cơ thể.

Nên sử dụng những loại quả mọng nước như: cam quýt vào chế độ dinh dưỡng hàng ngày của bạn.

2. Ung thư có ăn được trứng vịt lộn không?

Lo sợ không dám ăn trứng vịt lộn là một trong những tâm lý chung của nhiều người bệnh ung thư. Một số người bệnh đã từng tâm sự với chúng tôi rằng từ ngày họ bị ung thư, họ không dám động vào bất kỳ quả trứng vịt lộn nào vì sợ ăn vào làm bệnh nặng thêm. Vậy trứng vịt lộn có phải là thực phẩm đáng sợ như vậy đối với người bệnh ung thư không?

Protein.

Lipid.

Canxi.

Phot pho.

Cholesterol.

Các vitamin và khoáng chất: vitamin nhóm A, B, sắt…

Theo các nhà nghiên cứu về dinh dưỡng thì trứng vịt lộn là món ăn rất bổ dưỡng do chứa rất nhiều chất dinh dưỡng quan trọng như:

Người bệnh ung thư vẫn có thể được ăn trứng vịt lộn

Vì vậy, người bệnh không cần kiêng ăn trứng vịt lộn, chỉ cần sử dụng chúng một cách hợp lý (khoảng 1 – 2 quả/tuần) thì sẽ rất có lợi cho cơ thể.

3. Ung thư có nên uống mật ong không?

Về vấn đề, người bệnh ung thư có nên uống mật ong hay không thì hiện nay có rất nhiều ý kiến trái chiều về vấn đề này.

Một số loại mật ong trong rừng đã được chứng minh là có tính cảm ứng hóa học đối với bạch cầu trung tính, phản ứng lại với các tác nhân oxygen (ROS) và có khả năng chống ung thư.

Kích thích giải phóng TNF-alpha (yếu tố hoại tử khối u).

Ưc chế sự tăng sinh của tế bào ung thư.

Gây ra chu trình chết rụng tự nhiên của tế bào ung thư (apoptosis).

Ức chế quá trình oxy hóa lipoprotein.

Các nghiên cứu gần đây được thực hiện trên các bệnh nhân ung thư vú, cổ tử cung và tế bào ung thư xương cho thấy rằng việc sử dụng mật ong rừng có tác dụng chống ung thư đáng kể, làm kìm hãm sự phát triển của tế bào ung thư.

Điều này được giải thích là do mật ong rất giàu các hợp chất flavonoid. Khả năng hỗ trợ điều trị ung thư của mật ong là do các cơ chế như:

Bên cạnh đó, một số hợp chất polyphenol có trong mật ong, cụ thể là axit caffeic (CA), axit phenyl este (CAPE), chrysin (CR), galangin (GA), quercetin (QU), kaempferol (KP), acacetin (AC), pinacemin (PC), pinobanksin (PB) và apigenin (AP) cũng đang được nghiên cứu, phát triển thành những yếu tố đầy hứa hẹn trong phòng ngừa và điều trị ung thư.

Cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng (protein, lipid, glucose…) cần thiết giúp bệnh nhân chống lại tình trạng suy nhược cơ thể trong quá trình điều trị ung thư, ngăn chặn khả năng người bệnh ung thư bị sụt cân quá mức.

Tăng cường hệ miễn dịch cho người bệnh, giúp họ phòng ngừa một số nhiễm trùng có thể mắc phải.

Giúp họ cảm thấy ăn ngon miệng hơn, giảm các tác dụng phụ của hóa trị và xạ trị lên cơ thể.

4. Ung thư có uống sữa được không?

Bạn hoàn toàn có thể uống sữa khi đang bị bệnh ung thư. Sữa là một trong những loại đồ uống cực tốt cho người bệnh ung thư vì các lý do như sau:

Vì vậy, nếu có một hôm nào đó mà bạn cảm thấy rất mệt mỏi và không thể ăn được bất kỳ món ăn nào thì sữa có thể là sựa lựa chọn thay thế phù hợp dành cho bạn đấy.

Liều lượng sữa khuyến cáo dành cho bệnh nhân ung thư đó là 70 – 100 ml mỗi ngày.

5. Ung thư có uống được sâm không?

Làm tăng sức sống ở những bệnh nhân ung thư bị suy nhược cơ thể.

Có thể dùng để hỗ trợ điều trị bệnh nhân ung thư đang trong quá trình điều trị ung thư như: phẫu thuật, xạ trị, hóa trị.

Ức chế sự phát triển của các khối u, hạn chế sự di căn ung thư.

Tăng số lượng hồng cầu của bệnh nhân ung thư, nhờ đó tăng cường miễn dịch ở những bệnh nhân này

Đã từ lâu, nhân sâm là một trong tứ đại thuốc quý “sâm, nhung, quế, phụ”của y học cổ truyền. Nhưng với một loại thuốc bổ với nhiều thành phần dinh dưỡng như vậy liệu có làm trầm trọng hơn bệnh ung thư không là mối quan tâm lớn đối với hầu hết người bệnh.

Theo các chuyên gia nghiên cứu nước ngoài, bệnh nhân ung thư có thể sử dụng được nhân sâm, việc sử dụng nhân sâm đối với các bệnh nhân ung thư mang lại nhiều lợi ích như:

Hỏi Đáp Về Ung Thư Cổ Tử Cung / 2023

UTCTC có nguyên nhân chính là do nhiễm vi rút HPV, 99,7% UTCTC có sự hiện diện của HPV týp sinh ung thư. Tuy nhiên căn bệnh hiểm nghèo này có thể phòng ngừa được. Và đặc biệt là hiện nay, với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học, đã có vắc xin phòng ngừa những týp HPV sinh ung thư phổ biến nhất là HPV 16 và 18.

1. Ung thư cổ tử cung là gì?

Ung thư cổ tử cung là tổn thương ác tính phát triển tại cổ tử cung dưới nhiều dạng: chồi, sùi, loét, polyp, hoặc thâm nhiễm, dễ chảy máu.

Ung thư xuất hiện khi các tế bào cổ tử cung biến đổi và phát triển bất thường một cách không kiểm soát. UTCTC có thể là ung thư xâm lấn tại chỗ hoặc lan rộng đến các cơ quan khác của cơ thể và gây tử vong.

2. Nguyên nhân của ung thư cổ tử cung?

Theo các nghiên cứu, 99.7 % các trường hợp ung thư cổ tử cung có sự hiện diện của vi rút gọi là Human Pappiloma Virus thuộc týp nguy cơ cao.

Human Papilloma Virus (còn gọi là vi rút HPV) là loại vi rút với hơn 100 týp, trong đó có khoảng 15 týp có khả năng gây ung thư gọi là týp “nguy cơ cao” và phổ biến nhất là các týp HPV 16 và 18 gây ra hơn 70% trường hợp ung thư cổ tử cung trên toàn cầu, kế đến là týp 31 và 45.

3. Cách lây truyền HPV?

HPV là loại vi-rút lây truyền qua quan hệ tình dục và ngay cả khi chỉ tiếp xúc ngoài da cũng đã có thể lây nhiễm. Vì vậy, hầu như bất cứ phụ nữ nào có sinh hoạt tình dục đều có thể nhiễm HPV. Nguy cơ lây nhiễm HPV bắt đầu từ lần quan hệ tình dục đầu tiên và kéo dài suốt cuộc đời. Người ta ước tính rằng có đến 80% phụ nữ có hoạt động tình dục, không kể tuổi tác, sẽ có 1 đợt nhiễm HPV trong đời. Nói cách khác, trong suốt cuộc đời mình, mọi phụ nữ có sinh hoạt tình dục đều có nguy cơ mắc phải loại vi rút HPV gây ung thư cổ tử cung.

4. Triệu chứng nhiễm HPV?

Hầu hết các trường hợp nhiễm HPV không gây triệu chứng gì và có thể tự khỏi sau đó vài tháng mà không cần điều trị. Tuy nhiên, trong trường hợp nhiễm HPV týp nguy cơ cao có thể tồn tại lâu dài, làm biến đổi tế bào cổ tử cung một cách bất thường, không kiểm soát, gây ra các tổn thương từ mức độ thấp và cao rồi tiến triển dần thành ung thư. Tiến trình này có thể mất hơn 10 năm.

5. Phòng ngừa như thế nào?

Có hai biện pháp dự phòng: dự phòng cấp 1 và dự phòng cấp 2. Dự phòng cấp 1 là tiêm ngừa bằng vắc-xin ngăn chặn sự lây nhiễm virút HPV nguy cơ cao. Dự phòng cấp 2 là tầm soát định kỳ bằng phết tế bào CTC (còn gọi là tế bào CTC – âm đạo) và xét nghiệm HPV nhằm phát hiện sớm nhiễm HPV nguy cơ cao và các tổn thương bất thường để có biện pháp điều trị kịp thời. Nếu phát hiện sớm có thể điều trị khỏi hoàn toàn, tuy nhiên nếu để bệnh tiến triển ở những giai đoạn muộn thì khả năng tử vong cao.

Phòng ngừa ung thư cổ tử cung cấp 1: là ngăn chặn nhiễm HPV nguy cơ cao gây ung thư cổ tử cung và giáo dục sức khỏe, ngăn ngừa lây nhiễm HPV nguy cơ cao.

6. Hiện nay có vaccine nào ngừa ung thư cổ tử cung?

Chính xác là hiện nay có vaccine ngừa nhiễm HPV nguy cơ cao gây ung thư cổ tử cung. – Cervarix: vaccine nhị giá ngừa nhiễm HPV type 16 và 18 (chiếm 70% UTCTC) – Gardasil: vaccine tứ giá ngừa nhiễm HPV type 16, 18 và HPV type 6, 11 (gây bệnh mào gà).

7. Đối tượng nào có thể tiêm vaccine HPV?

– Cervarix: nữ từ 10 đến 25 tuổi – Gardasil: nữ từ 9 đến 26 tuổi

8. Nếu đã có quan hệ tình dục có tiêm vaccine HPV được không?

– Phụ nữ từ 9, 10 đến 25, 26 tuổi cho dù có quan hệ tình dục, đã có con hoặc đã từng nhiễm HPV vẫn có thể tiêm ngừa vaccine HPV

9. Lịch tiêm vaccine như thế nào?

Tiêm vaccine HPV 3 mũi đủ bảo vệ và lịch tiêm sẽ là: – Cervarix: 0, 1, 6 tháng – Gardasil: 0, 2, 6 tháng

10. Nếu không tiêm đúng lịch có ảnh hưởng gì không?

11. Khi mang thai có tiêm vaccine HPV được không?

Không tiêm vaccine HPV khi mang thai, nếu đang tiêm vaccine HPV mà có thai thì nên ngưng lại và chờ sau sinh sẽ tiêm những mũi kế tiếp.

Nếu lỡ tiêm vaccine HPV và phát hiện mang thai thì cũng không có khuyến cáo phải bỏ thai.

12. Có cần làm xét nghiệm Pap smear và HPV trước khi tiêm vaccine HPV?

Không cần làm xét nghiệm HPV và pap smear trước khi quyết định tiêm vaccine HPV.

13. Tiêm vaccine HPV có tác dụng phụ gì?

Vaccine HPV khá an toàn, đã được nghiên cứu và vẫn đang tiếp tục theo dõi. Tác dụng phụ có thể có:

– Sưng nóng, đỏ đau nơi tiêm

– Sốt nhẹ

Những tác dụng phụ này thường nhẹ và thoáng qua. Những tác dụng phụ hiếm gặp khác như nhức đầu, ngất xỉu, viêm tủy cắt ngang (rất hiếm).

14. Sau tiêm vaccine có cần làm xét nghiệm tế bào CTC (Pap smear) và HPV tầm soát ung thư cổ tử cung? Tiêm vaccine HPV không thay thế được việc tầm soát UT CTC bằng HPV và Pap smear. Để bảo vệ toàn diện ung thư cổ tử cung cần kết hợp tiêm vaccine HPV và tầm soát định kỳ bằng HPV test và xét nghiệm tế bào CTC (Pap smear). Ngoài ra việc khám phụ khoa định kỳ còn có thể phát hiện các bệnh lý phụ khoa khác (u xơ tử cung, u buồng trứng, viêm nhiễm đường sinh dục)…

15. Sau tiêm 3 mũi vaccine HPV có cần tiêm nhắc không? Hiệu quả bảo vệ của vaccine HPV kéo dài sau khi hoàn tất 3 mũi tiêm. Không có khuyến cáo cần thiết phải tiêm nhắc lại sau 3 mũi tiêm này.

Tổng hợp và trình bày: chúng tôi Đặng Công Thuận

Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế

Bạn đang đọc nội dung bài viết Giải Đáp 12 Câu Hỏi Thường Gặp Về Ung Thư Cổ Tử Cung / 2023 trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!