Đề Xuất 12/2022 # Giới Thiệu Điều Trị Bệnh Lý Da / 2023 # Top 19 Like | Growcaohonthongminhhon.com

Đề Xuất 12/2022 # Giới Thiệu Điều Trị Bệnh Lý Da / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Giới Thiệu Điều Trị Bệnh Lý Da / 2023 mới nhất trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Giới thiệu Điều trị bệnh lý Da – U máu

Thứ bảy – 22/06/2019 19:03

 

 

 

Trung tâm U máu được thành lập vào tháng 01/2011 trực thuộc Đại học Y Dược chúng tôi Vào tháng 01/2018, Trung tâm máu trực thuộc Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM.

I. Giới thiệu chung Trung tâm U máu được thành lập vào tháng 01/2011 trực thuộc Đại học Y Dược chúng tôi Vào tháng 01/2018, Trung tâm U máu trực thuộc Bệnh viện Đại học Y Dược chúng tôi – Cơ sở 3.

II. Chức năng – Nhiệm vụ Khám và điều trị các trường hợp u máu nhũ nhi, dị dạng tĩnh mạch, giãn mạch, sẹo, bớt rượu vang, bớt Ota, bớt bẩm sinh, bớt cafe sữa và các dạng bớt khác, đốm nâu, tàn nhang… Điều trị miễn phí cho trẻ em dưới 12 tuổi. Điều trị có thu phí đối với người lớn. Hội chẩn trực tuyến hàng tháng với các Bộ môn Da liễu thuộc Đại học Y Huế, Đại học Y Tây Nguyên, Bệnh viện Đại học Y Dược Cần Thơ, Bệnh viện Da liễu Đà Nẵng, Bệnh viện Da liễu Khánh Hoà và một số Trung tâm Y tế tỉnh thành trên cả nước. Tham gia giảng dạy cho các sinh viên nội trú Da liễu đến từ nhiều quốc gia trên thế giới.

III. Thế mạnh Với đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực điều trị các bệnh lý Da – U máu, thực hiện thao tác tốt, đảm bảo an toàn người bệnh.

IV Định hướng phát triển Tiếp tục đẩy mạnh chương trình khám và chữa bệnh miễn phí cho trẻ em, hợp tác quốc tế và nghiên cứu khoa học.

 

Giới Thiệu Viện Da Liễu Trung Ương / 2023

Từ khoa “Bệnh lý Nội thương – Da liễu” được hình thành vào tháng hai năm 1954 và Trường Đại học Y Dược trên núi rừng Việt Bắc, Giáo sư Đặng Vũ Hỷ cùng với anh chị em tiếp quản khu ngoài da liễu của Bệnh viện Bạch Mai tháng 10/1954.

A. Lịch sử hình thành

– Từ khoa “Bệnh lý Nội thương – Da liễu” được hình thành vào tháng hai năm 1954 và Trường Đại học Y Dược trên núi rừng Việt Bắc (Chiêm Hoá, Tuyên Quang), Giáo sư Đặng Vũ Hỷ cùng với 45 cán bộ – công nhân viên kháng chiến chống thực dân xâm lược Pháp về tiếp quản khu ngoài da của Bệnh viện Bạch Mai tháng 10/1954.

Lãnh đạo đơn vị ở thời kỳ đầu.

– Từ tháng 10 năm 1954 đến năm 1972: Giáo sư Ŀặng Vũ Hỷ – Chủ nhiệm Khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai kiêm chủ nhiệm Bộ môn Da liễu trường Đại học Y Hà Nội. Giáo sư Lê Kinh Duệ – Phó Chủ nhiệm Bộ môn.

– Từ 1964, Giáo sư Lê Tử Vân được cử làm Phó Chủ nhiệm Khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai.

– Từ năm 1972, sau khi Giáo sư Đặng Vũ Hỷ qua đời, cho tới năm 1981: Giáo sư Lê Kinh Duệ được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai kiêm Chủ nhiệm Bộ môn Da liễu trường Đại học Y Hà Nội. Giáo sư Lê Tử Vân giữ chức Phó Chủ nhiệm khoa, Phó Chủ nhiệm Bộ môn. Giáo sư Nguyễn Thị Ŀào – Làm Phó Chủ nhiệm Bộ môn.

– Ngày 28 tháng giêng năm 1982 Bộ Y tế ra Quyết định số 70/BYT-QĿ thành lập Viện Da liễu Việt Nam trực thuộc Bộ Y tế nằm trong Bệnh viện Bạch Mai do Giáo sư Lê Kinh Duệ làm Viện trưởng.

– Ngày 30/3/2006 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 486/QĐ-TTg về việc thành lập Viện Da liễu Quốc gia trực thuộc Bộ Y tế do Phó giáo sư, tiến sĩ Phạm Văn Hiển làm Viện Trưởng.

 

B. CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ:

 

1. Viện Da liễu Quốc gia là Viện chuyên khoa đầu ngành về Phong – Da liễu có chức năng

2. Viện Da liễu Quốc gia có các nhiệm vụ:

a) Nghiên cứu mô hình bệnh tật, các phương pháp chẩn đoán, điều trị, dự phòng và phục hồi chức năng các bệnh thuộc chuyên ngành bệnh Phong và Da liễu:

b) Đào tạo cán bộ

c) Công tác khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng

d) Chỉ đạo tuyến

e) Hợp tác quốc tế

 

C. LÃNH ĐẠO VIỆN HIỆN NAY:

 

– PGS. TS. Phạm Văn Hiển – Viện trưởng Viện Da liễu kiêm Chủ nhiệm Bộ môn Da liễu trường Đại học Y Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Da liễu Việt Nam.

– PGS. TS. Trần Hậu Khang – Phó Viện trưởng Viện Da liễu kiêm Phó Chủ nhiệm Bộ môn Da liễu trường Đại học Y Hà Nội.

– TS. Nguyễn Sỹ Hoá – Phó Viện trưởng Viện Da liễu.

 

D. HỆ THỐNG TỔ CHỨC

 

Hệ thống tổ chức của Viện Da liễu hiện nay gồm khối các khoa phòng chức năng, các khoa lâm sàng và các khoa cận lâm sàng

 

1. Các phòng chức năng

 

a. Phòng tổ chức hành chính

b. Phòng đào tạo và nghiên cứu khoa học

c. Phòng hợp tác quốc tế

d. Phòng chỉ đạo ngành

e. Phòng tài chính kế toán

f. Phòng kế hoạch tổng hợp – quản trị – vật tư và thiết bị y tế

g. Phòng y tế cơ quan

 

2. Các khoa lâm sàng

 

a. Khoa khám bệnh

b. Khoa điều trị bệnh phong và laser – phẫu thuật

i. Bệnh nhân phong nội trú

ii. Vật lý trị liệu, UVA – UVB

iii. Laser

iv. Phẫu thuật

v. Chăm sóc da thẩm mỹ

c. Khoa điều trị bệnh da phụ nữ và trẻ em

d. Khoa điều trị bệnh da nam giới

 

3. Các khoa cận lâm sàng

 

a. Khoa dược

b. Khoa xét nghiệm

i. Phòng vi sinh – nấm

ii. Phòng giải phẫu bệnh

iii. Phòng huyết thanh

iv. Phòng sinh hóa – huyết học

v. Phòng miễn dịch

Ngoài ra, Viện còn có:

– Đảng bộ

– Công đoàn

– Chi đoàn

– Bộ môn Da liễu trường Đại học Y Hà Nội

– Hội đồng thi đua khen thưởng

– Hội đồng bảo hộ lao động

– Hội động khoa học kỹ thuật

– Hội đồng lương

– Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học

 

4. Cán bộ

 

– Tổng số cán bộ Viện Da liễu gồm 160, trong đó có 15 cán bộ thuộc biên chế Bộ môn Da liễu Trường đại học Y Hà nội

– Phó giáo sư, tiến sĩ:  3

– Tiến sĩ:   6

– Thạc sĩ:   16

– Bác sĩ CK II:   6

– Bác sĩ CK I:   8

– Bác sĩ:    8

 

E. THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

 

Từ khi thành lập Khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai cho tới nay là Viện Da liễu Quốc gia, Viện đã thực hiện và chỉ đạo được một số công việc nổi bật sau:

 

1. Xây dựng màng lưới chuyên khoa:

 

Cho tới nay 100% các tỉnh/thành (64/64) trong cả nước đều đã có cơ sở chuyên khoa Da liễu. Tuỳ theo điều kiện cụ thể về tổ chức biên chế cán bộ, theo địa dư và theo phương pháp quản lý của từng địa phương mà các cơ sở Da liễu ở từng địa phương mang những tên gọi khác nhau (Bệnh viện Da liễu; Bệnh viện Phong và Da liễu;  Trung tâm Da liễu; Trạm Da liễu; tổ Da liễu nằm trong Trung tâm phòng chống bệnh xã hội, Trung tâm Y tế dự phòng, Trạm Da liễu), nhưng chức năng, nhiệm vụ công tác và mục tiêu hoạt động chuyên khoa đều thống nhất.

 

2. Đào tạo và nghiên cứu khoa học:

 

25 năm qua Viện đã đào tạo được nhiều đối tượng đại học, sau đại học, cụ thể :

– Bác sĩ chuyên khoa   :  418

– Bác sĩ chuyên khoa I : 207

– Bác sĩ chuyên khoa II:  28

– Bác sĩ nội trú:                13

– Thạc sĩ:                         22

– Nghiên cứu sinh:           17

– Sinh viên luân khoa của trường Y: Trung bình mỗi năm khoảng 200 đến 400

– Đào tạo chuyên khoa cho các đơn vị bạn như trường đại học y tế cộng cộng, đại học răng hàm mặt…

– Mở hàng trăm lớp đào tạo lại, nâng cao trình độ tại các tỉnh, thành về bệnh Phong, bệnh da và bệnh LTQĐTD.

– Tham gia giảng dạy cho các sinh viên nước ngoài đến học tập, nghiên cứu.

– Nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu các đề tài về phòng chống các bệnh da liễu, bệnh phong, bệnh LTQĐTD và phục vụ cho công tác đào tạo, xây dựng màng lưới chuyên khoa, công tác nghiên cứu khoa học được ngành Da liễu khởi xướng ngay từ khi Giáo sư Đặng Vũ Hỷ về tiếp quản khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai và cho tới nay vẫn tiếp tục, ngày càng phát triển.

– Tổng số hơn 1.300 công trình nghiên cứu và báo cáo khoa học, nổi bật gồm:

• Phong:                          312

• LTQĐTD:                     165

• Các bệnh da phổ biến:    290

 

3. Hợp tác quốc tế:

 

Từ những năm đầu tiên, khi mới về tiếp quản khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai,  Khoa đã nhận được sự giúp đỡ và hợp tác nghiên cứu khoa học của các nước xã hội chủ nghĩa :

– Năm 1957-1958 : Đoàn chuyên gia Liên Xô (cũ) sang giúp ta phát hiện các bệnh hoa liễu ở Tây Bắc, Phát Diệm Ninh Bình và một vài thành phố và thị xã trên miền Bắc. Ŀồng thời chi viện cho chúng ta nhiều thuốc men và hoá chất phục vụ công tác này.

– Từ năm 1959-1962 :

+ Bác sĩ Vulcan, chuyên gia Rumani sang hợp tác cùng Khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai khám phát hiện và điều trị bệnh phong taị huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá, huyện Vĩnh Tương tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Các chuyên gia : Kudela (Tiệp Khắc), Stoyanov Nitov (Bungari), Giáo sư Volgan Hofs (Cộng hoà Dân chủ Ŀức) sang hợp tác nghiên cứu khoa học và giúp chúng ta chống các bệnh Da liễu.

– Sau này, khi đất nước còn bị cấm vận, từ những năm 1977-1978, ngành Da liễu đã tạo được những mối quan hệ quốc tế ngày càng phát triển với nhiều tổ chức phi chính phủ (NGO) ở các nước như : Hà Lan, Nhật Bản, Bỉ, Anh, ĐĿức, Pháp, ý, Thuỵ Sĩ…, Tổ chức Y tế Thế giới (WHOs)… Mỗi tổ chức giúp chúng ta một vùng, gồm từ 1-2 ; 4-5 ; rồi 10 đến 12 tỉnh/thành phố, với đề án hợp tác, viện trợ thuốc men, phương tiện giao thông (ô tô, xe máy, xe đạp…), tài liệu sách vở, kinh phí đào tạo cán bộ, giáo dục y tế, phục hồi chức năng, dạy nghề… và gửi cán bộ đi học tập, tham gia, dự hội nghị quốc tế và khu vực, góp phần nâng cao trình độ và uy tín của Ngành Da liễu, Viện Da liễu trên trường quốc tế.

– Từ 1992 đến nay: 100% các tỉnh, thành có dự án hợp tác về công tác phòng chống Phong với các tổ chức quốc tế như: WHO, các Hội chống Phong các nước Bỉ, Hà Lan, Anh, Pháp, Nhật, Nauy… Hàng năm, có hàng chục đoàn khách quốc tế và chuyên gia vào làm việc với Viện Da liễu.  Viện đã hoàn thành kịp thời thủ tục phê duyệt dự án, chuyển kinh phí cho địa phương hoạt động và quyết toán với phía bạn, duy trì được các nguồn viện trợ hàng năm của các tổ chức gồm nhiều tỷ đồng. Nhiều đề án đặc biệt đã được thực hiện như với WHO là đề án Giám sát sau loại trừ bệnh Phong, tổ chức các lớp may, sửa chữa xe máy, học lái xe, nghề mộc… cho bệnh nhân phong và con em của họ.

 

4. Thành tựu bước đầu trong công cuộc chống bệnh phong :

 

– Từ chỗ những năm trước đây ta chỉ có điều kiện điều trị bệnh phong bằng DDS đơn thuần (đơn hoá trị liệu). Từ sau ngày thống nhất đất nước, Ngành Da liễu nắm bắt được kịp thời những thông tin mới trên Thế giới về kỹ thuật, chẩn đoán, phân loại và điều trị bệnh phong từ năm 1983 đến nay. Ngành Da liễu đã chuyển sang dùng hoá trị liệu phối hợp (đa hoá trị liệu), giúp hiệu quả trị bệnh tăng nhanh gấp bội,  nhanh chóng cắt được nguồn lây, hạn chế tàn tật trên bệnh nhân phong và đề phòng vi khuẩn phong kháng thuốc. Tỷ lệ bệnh nhân bị tái phát rất thấp. Chỉ mới tính đến năm 1994, sau 10 năm thực hiện Đa hoá trị liệu (ĐHTL-MDT), tổng số bệnh nhân đã hoàn thành đa hoá trị liệu và đã được khỏi bệnh là 80.000 người / trên cả nước.

– Trong công trình nghiên cứu dài hạn nhằm rút ngắn thời gian chữa khỏi bệnh phong hơn nữa bằng Ofloxacin của Tổ chức Y tế Thế giới, Việt Nam đã được chọn là một trong 7 Trung tâm lớn của toàn thế giới tham gia đề tài này.

– Năm 1994, Thủ đô Hà Nội đã được chọn để đăng cai việc tổ chức một Hội  nghị Quốc tế quan trọng bàn về việc khống chế và tiến tới thanh toán bệnh phong trên toàn cầu. Đã có hơn 150 đại biểu, các nhà khoa học về bệnh phong, 47 Bộ trưởng Bộ Y tế các nước sang Việt Nam cùng tham gia. Hội nghị đã ra được bản “Tuyên ngôn Hà Nội” khuyến cáo mọi quốc gia phấn đấu sớm loại trừ bệnh phong ra khỏii Y tế cộng đồng, đạt được như lời kêu gọi của Đại hội Y tế Thế giới tổ chức tại Genève năm 1991 là Hãy loại trừ bệnh phong ra khỏi nền y tế cộng đồng trên toàn thế giới vào năm 2000.

– Từ năm 1995 : Chương trình phòng chống bệnh phong của Ngành Da liễu đã được Nhà nước nâng lên thành chương trình quốc gia.

– Từ năm 1995-2006 :

+ Thực hiện chương trình y tế quốc gia về phòng chống bệnh Phong. Đã thực hiện thành công “Loại trừ bệnh Phong theo tiêu chuẩn WHO” vào năm 2000.

+ Tính đến hết năm 2006, có 37 tỉnh, thành trong cả nước đạt được loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chuẩn của Việt Nam do Bộ Y tế ban hành năm 2002. (Tiêu chuẩn này cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới).

– Hàng năm giám sát hoạt động chống Phong của các tỉnh  trong toàn quốc.

– Chỉ đạo và thực hiện chương trình phòng chống tàn tật cho bệnh nhân Phong.

– Thực hiện dự án hợp tác giữa phòng Chỉ đạo ngành với các Hội chống Phong Hà Lan (NLR), Bỉ, Đức.

– Mở nhiều lớp tập huấn về chăm sóc bàn tay, bàn chân mất cảm giác, phòng tránh thương tích ở mắt bệnh nhân Phong cho cán bộ chuyên môn của các khu điều trị Phong và cán bộ làm công tác chống Phong.

– Tập huấn nâng cao kiến thức về bệnh Phong cho cán bộ chuyên khoa tuyến huyện tại các tỉnh trong cả nước.

– Tập huấn cho cán bộ chống phong tuyến tỉnh về chiến lược lồng ghép trong hoạt động chống phong giai đoạn mới.

– Xây dựng các tài liệu và biểu mẫu theo dõi tàn tật cho bệnh nhân Phong, mẫu Báo cáo tình hình hoạt động da liễu hàng năm, bệnh án bệnh nhân Phong, sửa mẫu M2, M3 cho phù hợp với tình hình thực tế.

– Hoàn thiện văn bản dưới luật hướng dẫn tổ chức công nhận loại trừ bệnh Phong theo 4 tiêu chuẩn của Việt Nam.

– Phân phối thuốc chống Phong, thuốc bôi ngoài da phục vụ công tác khám phát hiện bệnh Phong  cho các tỉnh/thành trong cả nước.

– Giáo dục y tế toàn dân và tập huấn cho cán bộ y tế những kiến thức cơ bản về bệnh Phong ở những xã trọng điểm (xã có nhiều bệnh nhân Phong mới).

– Hàng năm tổ chức giao ban 4 phòng Chỉ đạo ngành: Viện Da liễu Quốc gia, Bệnh viện Da liễu Tp Hồ Chí Minh, Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hoà; Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quỳnh Lập.

– Phân vùng dịch tễ bệnh Phong.

 

5. Hoạt động phòng chống bệnh LTQĐTD:

 

– Là tiểu ban Da liễu thuộc Cục phòng chống HIV/AIDS Bộ Y tế, Viện đã xây dựng Chương trình hành động phòng, chống các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục đến năm 2010 trong khuôn khổ chương trình Y tế quốc gia phòng chống HIV/AIDS.

– Hàng năm tập huấn cho các giảng viên tuyến tỉnh về quản lí, giám sát và điều trị các nhiễm khuẩn LTQĐTD. Giám sát thương qui các bệnh LTQĐTD tại các tỉnh theo qui định của Bộ Y tế.

– Hoàn thành bộ tài liệu giảng dạy chuẩn quốc gia về quản lý bệnh LTQĐTD, các nhiễm khuẩn đường sinh sản cho chương trình chăm sóc sức khoẻ đường sinh sản của Bộ Y tế để thực hiện đào tạo trong hệ sản phụ khoa ở tuyến quận, huyện và xã, phường.

– Tham gia biên soạn tài liệu về chuẩn quốc gia điều trị nhiễm trùng cơ hội trong HIV/AIDS.

– Xây dựng quyển Atlas bệnh lây truyền qua đường tình dục

 

6. Công tác xuất bản và tuyên truyền, giáo dục y tế chuyên ngành:

 

– Cuốn Nội san Da liễu được ra đời sớm nhất từ tháng 10/1950 và liên tục cho tới nay, cùng với cuốn Thông tin Da liễu được Tổng hội Y học Việt Nam xuất bản đều đặn trong mấy thập kỷ qua, đã góp phần không nhỏ vào công tác “đào tạo liên tục” trong đông đảo cán bộ chuyên khoa Da liễu.

– Những sách chuyên đề về phổ biến khoa học đã được xuất bản với số bản tương đối nhiều như: “Một số kiến thức hiện đại về bệnh phong”, “Bệnh phong đầu phải nan y (Diễn Ca)”; “Tìm hiểu về bệnh Giang mai”, “Atlas bệnh lây truyền qua đường tình dục”, “Da tóc thường mắc những bệnh gì ?”; “Những bệnh nấm da thường gặp”, “Bệnh vảy nến”, “Những bệnh da có mủ”, “Bệnh da nghề nghiệp”, “Phục hồi chức năng trong bệnh phong” v.v… Mỗi đầu sách đã được Nhà xuất bản Y học in với chỉ số hàng ngàn cuốn và bán rộng rãi trong dân. Hàng chục bộ phim được ra đời kể cả phim truyện và phim đèn chiếu với những nội dung thiết thực nhằm giáo dục y tế về bệnh phong và hoa liễu cho nhân dân: (Ví dụ một vài tên phim có nhan đề: “Đâu phải nan y”; “Vẫn có ngày mai”, “Nga Sơn Thanh Hoá bệnh phong”, “Bản tình ca” nói về bệnh phong. Còn bộ phim “Trót dại” thì nói về bệnh hoa liễu, với hàng trăm bản đã được phát ra kèm theo hàng chục máy chiếu phim lưu động trên những địa bàn xa xôi hẻo lánh.

 

7. Thành tích nổi bật :

 

– Năm 1983 : Viện Da liễu đã được Nhà nước ta tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.

– Năm 1983 : Bộ môn Da liễu đã được Bộ Y tế tặng bằng khen về thành tích giảng dạy giỏi

– Năm 1983 : Giáo sư Lê Kinh Duệ được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.

– Năm 1995: Giáo sư Lê Kinh Duệ được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì.

– Năm 1994: Giáo sư Lê Kinh Duệ được Hội chống phong những nước nói tiếng Pháp (Francophonie) bầu làm Phó Chủ tịch của Hội.

– Năm 1995: Giáo sư Lê Kinh Duệ đã vinh dự được tặng giải thưởng lớn mang tên Sasakawa của WHO.

– Năm 1996: Cố Giáo sư Ŀặng Vũ Hỷ được Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh.

– Năm 2001: Viện Da liễu được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng hai.

– Năm 2002: Bộ môn Da liễu đã được tăng thưởng Huân chương lao động hạng Ba

– Năm 2003: Cố Giáo sư Viện trưởng Lê Kinh Duệ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhì.

– Năm 2003: PGS. TS. Phạm Văn Hiển được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng III.

 

 

 

Theo dalieu.vn

 

 

GIỚI THIỆU VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNGkham chua, benh vien

A. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH

– Từ khoa “Bệnh lý Nội thương – Da liễu” được hình thành vào tháng hai năm 1954 và Trường Đại học Y Dược trên núi rừng Việt Bắc (Chiêm Hoá, Tuyên Quang), Giáo sư Đặng Vũ Hỷ cùng với 45 cán bộ – công nhân viên kháng chiến chống thực dân xâm lược Pháp về tiếp quản khu ngoài da của Bệnh viện Bạch Mai tháng 10/1954.

Lãnh đạo đơn vị ở thời kỳ đầu.

– Từ tháng 10 năm 1954 đến năm 1972: Giáo sư Ŀặng Vũ Hỷ – Chủ nhiệm Khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai kiêm chủ nhiệm Bộ môn Da liễu trường Đại học Y Hà Nội. Giáo sư Lê Kinh Duệ – Phó Chủ nhiệm Bộ môn.

– Từ 1964, Giáo sư Lê Tử Vân được cử làm Phó Chủ nhiệm Khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai.

– Từ năm 1972, sau khi Giáo sư Đặng Vũ Hỷ qua đời, cho tới năm 1981: Giáo sư Lê Kinh Duệ được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai kiêm Chủ nhiệm Bộ môn Da liễu trường Đại học Y Hà Nội. Giáo sư Lê Tử Vân giữ chức Phó Chủ nhiệm khoa, Phó Chủ nhiệm Bộ môn. Giáo sư Nguyễn Thị Ŀào – Làm Phó Chủ nhiệm Bộ môn.

– Ngày 28 tháng giêng năm 1982 Bộ Y tế ra Quyết định số 70/BYT-QĿ thành lập Viện Da liễu Việt Nam trực thuộc Bộ Y tế nằm trong Bệnh viện Bạch Mai do Giáo sư Lê Kinh Duệ làm Viện trưởng.

– Ngày 30/3/2006 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 486/QĐ-TTg về việc thành lập Viện Da liễu Quốc gia trực thuộc Bộ Y tế do Phó giáo sư, tiến sĩ Phạm Văn Hiển làm Viện Trưởng.

B. CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ:

1. Viện Da liễu Quốc gia là Viện chuyên khoa đầu ngành về Phong – Da liễu có chức năng

2. Viện Da liễu Quốc gia có các nhiệm vụ:

a) Nghiên cứu mô hình bệnh tật, các phương pháp chẩn đoán, điều trị, dự phòng và phục hồi chức năng các bệnh thuộc chuyên ngành bệnh Phong và Da liễu:

b) Đào tạo cán bộ

c) Công tác khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng

d) Chỉ đạo tuyến

e) Hợp tác quốc tế

C. LÃNH ĐẠO VIỆN HIỆN NAY:

– PGS. TS. Phạm Văn Hiển – Viện trưởng Viện Da liễu kiêm Chủ nhiệm Bộ môn Da liễu trường Đại học Y Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Da liễu Việt Nam.

– PGS. TS. Trần Hậu Khang – Phó Viện trưởng Viện Da liễu kiêm Phó Chủ nhiệm Bộ môn Da liễu trường Đại học Y Hà Nội.

– TS. Nguyễn Sỹ Hoá – Phó Viện trưởng Viện Da liễu.

D. HỆ THỐNG TỔ CHỨC

Hệ thống tổ chức của Viện Da liễu hiện nay gồm khối các khoa phòng chức năng, các khoa lâm sàng và các khoa cận lâm sàng

1. Các phòng chức năng

a. Phòng tổ chức hành chính

b. Phòng đào tạo và nghiên cứu khoa học

c. Phòng hợp tác quốc tế

d. Phòng chỉ đạo ngành

e. Phòng tài chính kế toán

f. Phòng kế hoạch tổng hợp – quản trị – vật tư và thiết bị y tế

g. Phòng y tế cơ quan

2. Các khoa lâm sàng

a. Khoa khám bệnh

b. Khoa điều trị bệnh phong và laser – phẫu thuật

i. Bệnh nhân phong nội trú

ii. Vật lý trị liệu, UVA – UVB

iii. Laser

iv. Phẫu thuật

v. Chăm sóc da thẩm mỹ

c. Khoa điều trị bệnh da phụ nữ và trẻ em

d. Khoa điều trị bệnh da nam giới

3. Các khoa cận lâm sàng

a. Khoa dược

b. Khoa xét nghiệm

i. Phòng vi sinh – nấm

ii. Phòng giải phẫu bệnh

iii. Phòng huyết thanh

iv. Phòng sinh hóa – huyết học

v. Phòng miễn dịch

Ngoài ra, Viện còn có:

– Đảng bộ

– Công đoàn

– Chi đoàn

– Bộ môn Da liễu trường Đại học Y Hà Nội

– Hội đồng thi đua khen thưởng

– Hội đồng bảo hộ lao động

– Hội động khoa học kỹ thuật

– Hội đồng lương

– Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học

4. Cán bộ

– Tổng số cán bộ Viện Da liễu gồm 160, trong đó có 15 cán bộ thuộc biên chế Bộ môn Da liễu Trường đại học Y Hà nội

– Phó giáo sư, tiến sĩ:  3

– Tiến sĩ:   6

– Thạc sĩ:   16

– Bác sĩ CK II:   6

– Bác sĩ CK I:   8

– Bác sĩ:    8

E. THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Từ khi thành lập Khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai cho tới nay là Viện Da liễu Quốc gia, Viện đã thực hiện và chỉ đạo được một số công việc nổi bật sau:

1. Xây dựng màng lưới chuyên khoa:

Cho tới nay 100% các tỉnh/thành (64/64) trong cả nước đều đã có cơ sở chuyên khoa Da liễu. Tuỳ theo điều kiện cụ thể về tổ chức biên chế cán bộ, theo địa dư và theo phương pháp quản lý của từng địa phương mà các cơ sở Da liễu ở từng địa phương mang những tên gọi khác nhau (Bệnh viện Da liễu; Bệnh viện Phong và Da liễu;  Trung tâm Da liễu; Trạm Da liễu; tổ Da liễu nằm trong Trung tâm phòng chống bệnh xã hội, Trung tâm Y tế dự phòng, Trạm Da liễu), nhưng chức năng, nhiệm vụ công tác và mục tiêu hoạt động chuyên khoa đều thống nhất.

2. Đào tạo và nghiên cứu khoa học:

25 năm qua Viện đã đào tạo được nhiều đối tượng đại học, sau đại học, cụ thể :

– Bác sĩ chuyên khoa   :  418

– Bác sĩ chuyên khoa I : 207

– Bác sĩ chuyên khoa II:  28

– Bác sĩ nội trú:                13

– Thạc sĩ:                         22

– Nghiên cứu sinh:           17

– Sinh viên luân khoa của trường Y: Trung bình mỗi năm khoảng 200 đến 400

– Đào tạo chuyên khoa cho các đơn vị bạn như trường đại học y tế cộng cộng, đại học răng hàm mặt…

– Mở hàng trăm lớp đào tạo lại, nâng cao trình độ tại các tỉnh, thành về bệnh Phong, bệnh da và bệnh LTQĐTD.

– Tham gia giảng dạy cho các sinh viên nước ngoài đến học tập, nghiên cứu.

– Nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu các đề tài về phòng chống các bệnh da liễu, bệnh phong, bệnh LTQĐTD và phục vụ cho công tác đào tạo, xây dựng màng lưới chuyên khoa, công tác nghiên cứu khoa học được ngành Da liễu khởi xướng ngay từ khi Giáo sư Đặng Vũ Hỷ về tiếp quản khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai và cho tới nay vẫn tiếp tục, ngày càng phát triển.

– Tổng số hơn 1.300 công trình nghiên cứu và báo cáo khoa học, nổi bật gồm:

• Phong:                          312

• LTQĐTD:                     165

• Các bệnh da phổ biến:    290

3. Hợp tác quốc tế:

Từ những năm đầu tiên, khi mới về tiếp quản khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai,  Khoa đã nhận được sự giúp đỡ và hợp tác nghiên cứu khoa học của các nước xã hội chủ nghĩa :

– Năm 1957-1958 : Đoàn chuyên gia Liên Xô (cũ) sang giúp ta phát hiện các bệnh hoa liễu ở Tây Bắc, Phát Diệm Ninh Bình và một vài thành phố và thị xã trên miền Bắc. Ŀồng thời chi viện cho chúng ta nhiều thuốc men và hoá chất phục vụ công tác này.

– Từ năm 1959-1962 :

+ Bác sĩ Vulcan, chuyên gia Rumani sang hợp tác cùng Khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai khám phát hiện và điều trị bệnh phong taị huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá, huyện Vĩnh Tương tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Các chuyên gia : Kudela (Tiệp Khắc), Stoyanov Nitov (Bungari), Giáo sư Volgan Hofs (Cộng hoà Dân chủ Ŀức) sang hợp tác nghiên cứu khoa học và giúp chúng ta chống các bệnh Da liễu.

– Sau này, khi đất nước còn bị cấm vận, từ những năm 1977-1978, ngành Da liễu đã tạo được những mối quan hệ quốc tế ngày càng phát triển với nhiều tổ chức phi chính phủ (NGO) ở các nước như : Hà Lan, Nhật Bản, Bỉ, Anh, ĐĿức, Pháp, ý, Thuỵ Sĩ…, Tổ chức Y tế Thế giới (WHOs)… Mỗi tổ chức giúp chúng ta một vùng, gồm từ 1-2 ; 4-5 ; rồi 10 đến 12 tỉnh/thành phố, với đề án hợp tác, viện trợ thuốc men, phương tiện giao thông (ô tô, xe máy, xe đạp…), tài liệu sách vở, kinh phí đào tạo cán bộ, giáo dục y tế, phục hồi chức năng, dạy nghề… và gửi cán bộ đi học tập, tham gia, dự hội nghị quốc tế và khu vực, góp phần nâng cao trình độ và uy tín của Ngành Da liễu, Viện Da liễu trên trường quốc tế.

– Từ 1992 đến nay: 100% các tỉnh, thành có dự án hợp tác về công tác phòng chống Phong với các tổ chức quốc tế như: WHO, các Hội chống Phong các nước Bỉ, Hà Lan, Anh, Pháp, Nhật, Nauy… Hàng năm, có hàng chục đoàn khách quốc tế và chuyên gia vào làm việc với Viện Da liễu.  Viện đã hoàn thành kịp thời thủ tục phê duyệt dự án, chuyển kinh phí cho địa phương hoạt động và quyết toán với phía bạn, duy trì được các nguồn viện trợ hàng năm của các tổ chức gồm nhiều tỷ đồng. Nhiều đề án đặc biệt đã được thực hiện như với WHO là đề án Giám sát sau loại trừ bệnh Phong, tổ chức các lớp may, sửa chữa xe máy, học lái xe, nghề mộc… cho bệnh nhân phong và con em của họ.

4. Thành tựu bước đầu trong công cuộc chống bệnh phong :

– Từ chỗ những năm trước đây ta chỉ có điều kiện điều trị bệnh phong bằng DDS đơn thuần (đơn hoá trị liệu). Từ sau ngày thống nhất đất nước, Ngành Da liễu nắm bắt được kịp thời những thông tin mới trên Thế giới về kỹ thuật, chẩn đoán, phân loại và điều trị bệnh phong từ năm 1983 đến nay. Ngành Da liễu đã chuyển sang dùng hoá trị liệu phối hợp (đa hoá trị liệu), giúp hiệu quả trị bệnh tăng nhanh gấp bội,  nhanh chóng cắt được nguồn lây, hạn chế tàn tật trên bệnh nhân phong và đề phòng vi khuẩn phong kháng thuốc. Tỷ lệ bệnh nhân bị tái phát rất thấp. Chỉ mới tính đến năm 1994, sau 10 năm thực hiện Đa hoá trị liệu (ĐHTL-MDT), tổng số bệnh nhân đã hoàn thành đa hoá trị liệu và đã được khỏi bệnh là 80.000 người / trên cả nước.

– Trong công trình nghiên cứu dài hạn nhằm rút ngắn thời gian chữa khỏi bệnh phong hơn nữa bằng Ofloxacin của Tổ chức Y tế Thế giới, Việt Nam đã được chọn là một trong 7 Trung tâm lớn của toàn thế giới tham gia đề tài này.

– Năm 1994, Thủ đô Hà Nội đã được chọn để đăng cai việc tổ chức một Hội  nghị Quốc tế quan trọng bàn về việc khống chế và tiến tới thanh toán bệnh phong trên toàn cầu. Đã có hơn 150 đại biểu, các nhà khoa học về bệnh phong, 47 Bộ trưởng Bộ Y tế các nước sang Việt Nam cùng tham gia. Hội nghị đã ra được bản “Tuyên ngôn Hà Nội” khuyến cáo mọi quốc gia phấn đấu sớm loại trừ bệnh phong ra khỏii Y tế cộng đồng, đạt được như lời kêu gọi của Đại hội Y tế Thế giới tổ chức tại Genève năm 1991 là Hãy loại trừ bệnh phong ra khỏi nền y tế cộng đồng trên toàn thế giới vào năm 2000.

– Từ năm 1995 : Chương trình phòng chống bệnh phong của Ngành Da liễu đã được Nhà nước nâng lên thành chương trình quốc gia.

– Từ năm 1995-2006 :

+ Thực hiện chương trình y tế quốc gia về phòng chống bệnh Phong. Đã thực hiện thành công “Loại trừ bệnh Phong theo tiêu chuẩn WHO” vào năm 2000.

+ Tính đến hết năm 2006, có 37 tỉnh, thành trong cả nước đạt được loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chuẩn của Việt Nam do Bộ Y tế ban hành năm 2002. (Tiêu chuẩn này cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới).

– Hàng năm giám sát hoạt động chống Phong của các tỉnh  trong toàn quốc.

– Chỉ đạo và thực hiện chương trình phòng chống tàn tật cho bệnh nhân Phong.

– Thực hiện dự án hợp tác giữa phòng Chỉ đạo ngành với các Hội chống Phong Hà Lan (NLR), Bỉ, Đức.

– Mở nhiều lớp tập huấn về chăm sóc bàn tay, bàn chân mất cảm giác, phòng tránh thương tích ở mắt bệnh nhân Phong cho cán bộ chuyên môn của các khu điều trị Phong và cán bộ làm công tác chống Phong.

– Tập huấn nâng cao kiến thức về bệnh Phong cho cán bộ chuyên khoa tuyến huyện tại các tỉnh trong cả nước.

– Tập huấn cho cán bộ chống phong tuyến tỉnh về chiến lược lồng ghép trong hoạt động chống phong giai đoạn mới.

– Xây dựng các tài liệu và biểu mẫu theo dõi tàn tật cho bệnh nhân Phong, mẫu Báo cáo tình hình hoạt động da liễu hàng năm, bệnh án bệnh nhân Phong, sửa mẫu M2, M3 cho phù hợp với tình hình thực tế.

– Hoàn thiện văn bản dưới luật hướng dẫn tổ chức công nhận loại trừ bệnh Phong theo 4 tiêu chuẩn của Việt Nam.

– Phân phối thuốc chống Phong, thuốc bôi ngoài da phục vụ công tác khám phát hiện bệnh Phong  cho các tỉnh/thành trong cả nước.

– Giáo dục y tế toàn dân và tập huấn cho cán bộ y tế những kiến thức cơ bản về bệnh Phong ở những xã trọng điểm (xã có nhiều bệnh nhân Phong mới).

– Hàng năm tổ chức giao ban 4 phòng Chỉ đạo ngành: Viện Da liễu Quốc gia, Bệnh viện Da liễu Tp Hồ Chí Minh, Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hoà; Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quỳnh Lập.

– Phân vùng dịch tễ bệnh Phong.

5. Hoạt động phòng chống bệnh LTQĐTD:

– Là tiểu ban Da liễu thuộc Cục phòng chống HIV/AIDS Bộ Y tế, Viện đã xây dựng Chương trình hành động phòng, chống các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục đến năm 2010 trong khuôn khổ chương trình Y tế quốc gia phòng chống HIV/AIDS.

– Hàng năm tập huấn cho các giảng viên tuyến tỉnh về quản lí, giám sát và điều trị các nhiễm khuẩn LTQĐTD. Giám sát thương qui các bệnh LTQĐTD tại các tỉnh theo qui định của Bộ Y tế.

– Hoàn thành bộ tài liệu giảng dạy chuẩn quốc gia về quản lý bệnh LTQĐTD, các nhiễm khuẩn đường sinh sản cho chương trình chăm sóc sức khoẻ đường sinh sản của Bộ Y tế để thực hiện đào tạo trong hệ sản phụ khoa ở tuyến quận, huyện và xã, phường.

– Tham gia biên soạn tài liệu về chuẩn quốc gia điều trị nhiễm trùng cơ hội trong HIV/AIDS.

– Xây dựng quyển Atlas bệnh lây truyền qua đường tình dục

6. Công tác xuất bản và tuyên truyền, giáo dục y tế chuyên ngành:

– Cuốn Nội san Da liễu được ra đời sớm nhất từ tháng 10/1950 và liên tục cho tới nay, cùng với cuốn Thông tin Da liễu được Tổng hội Y học Việt Nam xuất bản đều đặn trong mấy thập kỷ qua, đã góp phần không nhỏ vào công tác “đào tạo liên tục” trong đông đảo cán bộ chuyên khoa Da liễu.

– Những sách chuyên đề về phổ biến khoa học đã được xuất bản với số bản tương đối nhiều như: “Một số kiến thức hiện đại về bệnh phong”, “Bệnh phong đầu phải nan y (Diễn Ca)”; “Tìm hiểu về bệnh Giang mai”, “Atlas bệnh lây truyền qua đường tình dục”, “Da tóc thường mắc những bệnh gì ?”; “Những bệnh nấm da thường gặp”, “Bệnh vảy nến”, “Những bệnh da có mủ”, “Bệnh da nghề nghiệp”, “Phục hồi chức năng trong bệnh phong” v.v… Mỗi đầu sách đã được Nhà xuất bản Y học in với chỉ số hàng ngàn cuốn và bán rộng rãi trong dân. Hàng chục bộ phim được ra đời kể cả phim truyện và phim đèn chiếu với những nội dung thiết thực nhằm giáo dục y tế về bệnh phong và hoa liễu cho nhân dân: (Ví dụ một vài tên phim có nhan đề: “Đâu phải nan y”; “Vẫn có ngày mai”, “Nga Sơn Thanh Hoá bệnh phong”, “Bản tình ca” nói về bệnh phong. Còn bộ phim “Trót dại” thì nói về bệnh hoa liễu, với hàng trăm bản đã được phát ra kèm theo hàng chục máy chiếu phim lưu động trên những địa bàn xa xôi hẻo lánh.

7. Thành tích nổi bật :

– Năm 1983 : Viện Da liễu đã được Nhà nước ta tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.

– Năm 1983 : Bộ môn Da liễu đã được Bộ Y tế tặng bằng khen về thành tích giảng dạy giỏi

– Năm 1983 : Giáo sư Lê Kinh Duệ được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.

– Năm 1995: Giáo sư Lê Kinh Duệ được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì.

– Năm 1994: Giáo sư Lê Kinh Duệ được Hội chống phong những nước nói tiếng Pháp (Francophonie) bầu làm Phó Chủ tịch của Hội.

– Năm 1995: Giáo sư Lê Kinh Duệ đã vinh dự được tặng giải thưởng lớn mang tên Sasakawa của WHO.

– Năm 1996: Cố Giáo sư Ŀặng Vũ Hỷ được Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh.

– Năm 2001: Viện Da liễu được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng hai.

– Năm 2002: Bộ môn Da liễu đã được tăng thưởng Huân chương lao động hạng Ba

– Năm 2003: Cố Giáo sư Viện trưởng Lê Kinh Duệ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhì.

– Năm 2003: PGS. TS. Phạm Văn Hiển được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng III.

 

Theo dalieu.vn

 

 

Giới thiệu bộ môn Da liễu – Đại học Y Hà Nội

Giới thiệu bộ môn Da liễu – Đại học Y Hà Nội

– Bộ môn Da liễu là một đơn vị của Trường Đại học Y Hà Nội. Bộ môn đã có sự gắn bó mật thiết với Bệnh viện Da liễu Trung ương qua các thời kỳ. Nhiều cán bộ của Bộ môn đã và đang đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo Viện, lãnh đạo các Khoa phòng. Ngược lại, các cán bộ của Bệnh viện Da liễu Trung ương cũng phối hợp với Bộ môn tham gia công tác đào tạo đại học và sau đại học. Mô hình hoạt động của Bộ môn Da liễu được trường Đại học Y Hà Nội đánh giá là một trong các mô hình kết hợp Viện – Trường mẫu mực.

1. Hoàn cảnh ra đời Bộ môn:

Năm 1935, Trường Đại Học Y Khoa Đông Dương đã thành lập Bộ Môn Da Liễu. BS. Grennilrboley được cử làm Chủ nhiệm bộ môn. Các Phó chủ nhiệm Bộ môn qua các thời kỳ bao gồm:

– 1936: BS. Nguyễn Hữu Phiến.

– 1938-1940: BS. Nguyễn Văn Chính (chuyên về lâm sàng) và BS. Huỳnh Kham (chuyên về xét nghiệm).

– 1941-1945: BS. Ngô Như Hòa

Sau ngày giải Phóng Thủ đô (10/10/1954). GS. Đặng Vũ Hỷ cùng một số cán bộ được phân công tiếp quản Khoa Da Liễu nằm trong BV Bạch Mai và trở thành vị Chủ nhiệm khoa đầu tiên của Khoa Da Liễu, kiêm Chủ nhiệm Bộ môn Da Liễu của Trường Đại Học Y Dược, Hà Nội.

Năm 1955, BS. Lê Kinh Duệ chuyển từ Quân y sang Bộ Môn. Năm 1959, 1960, 1961 Bộ Môn lần lượt được nhận thêm BS. Nguyễn Thị Đào, BS. Lê Tử Vân, BS. Nguyễn Văn Điền. Từ một Bộ môn chỉ có vài cán bộ, với công sức của các vị chủ nhiệm, các cán bộ trong Bộ môn kế tiếp nhau làm việc không mệt mỏi, Bộ Môn Da liễu đã dần dần trưởng thành lớn mạnh cả về số lượng, chất lượng chuyên môn, chính trị.

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng uỷ, ban giám hiệu trường ĐHYHN, Bộ Môn Da Liễu ngày nay đã đảm nhận các chương trình đào tạo Đại học, Sau đại học và các đối tượng khác để cùng Bệnh viện Da liễu Trung ương, ngành Da liễu tạo dựng nên hệ thống mạng lưới chuyên khoa Da Liễu từ trung ương đến cơ sở, từ thành thị đến nông thôn trên toàn quốc góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của toàn ngành.

2. Chức năng nhiệm vụ:

Bộ Môn Da liễu được giao thực hiện các nhiệm vụ chính trị sau:

* Đào tạo cán bộ.

* Nghiên cứu khoa học.

* Điều trị bệnh nhân.

* Biên soạn và xuất bản tài liệu giảng dạy, nghiên cứu.

* Công tác ngành.

* Công tác khác.

alt

Buổi giao ban hàng tuần của Bộ môn

3. Lãnh đạo Bộ môn:

Các chủ nhiệm Bộ môn

– Từ 1945 – 1972: GS. Đặng Vũ Hỷ.

– Từ 1973 – 1997: GS. Lê Kinh Duệ.

– Từ 1998 – 2008: chúng tôi Phạm Văn Hiển

– Từ 2009 – nay  : chúng tôi Trần Hậu Khang

Ban chủ nhiệm Bộ môn hiện nay

PGS. TS Trần Hậu Khang: Chủ Nhiệm Bộ môn kiêm Giám đốc Bệnh viện Da liễu Trung ương

PGS.TS. Trần Lan Anh : Phó Chủ Nhiệm Bộ môn kiêm Trưởng Phòng Đào Tạo – NCKH Bệnh viện Da liễu Trung ương

Giới Thiệu Về Lý Lịch Khoa Học Của Bs Hoàng Hiệp / 2023

Từ Bàn Làm Việc Của Bác Sỹ Hoàng Hiệp

Các Bạn thân mến,

– Bệnh Tim Mạch, cụ thể là bệnh Xơ Vữa Động Mạch Vành – hay gọi tắt là Bệnh Động Mạch Vành – ngày càng phổ biến và gây hãi cho con người. Hàng năm ở Việt Nam có hơn 200.000 người chết vì bệnh mạch vành, chiếm 1/4 tổng số các nguyên nhân tử vong khác, cao hơn tổng số tử vong do ung thư, lao, sốt rét và HIV cộng lại. (theo thống kê của Hội Tim Mạch Học Việt Nam năm 2013).

– Các Yếu Tố Nguy Cơ của bệnh động mạch vành bao gồm các bệnh do lối sống như Tiểu Đường, Tăng Huyết Áp, Mỡ Máu Cao và Hút Thuốc Lá.

– Bệnh Tiểu Đường hiện nay được WHO cảnh báo như là một đại dịch trên toàn cầu và trong đó có cả Việt Nam. Tỉ lệ người mắc bệnh Tiểu Đường tại Việt Nam hiện nay là 8%. Với dân số là 92 triệu người thì số lượng người Việt Nam đang bị mắc chứng Tiểu Đường ước tính là: 7,36 triệu người! Một con số đáng sợ.

– Số lượng bệnh nhân tiểu đường ở trên thế giới là gần 381 triệu người (IDF 2013). Số lượng bệnh nhân tiểu đường ở Ấn Độ là gần 65 triệu người (IDF 2013). Thế giới phải chi trả 500 tỉ USD mỗi năm do việc chữa trị bệnh tiểu đường. Ấn Độ phải chi trả 25 tỉ USD mỗi năm cho việc chữa trị bệnh tiểu đường. Việt Nam chi trả hàng năm cho bệnh tiểu đường ước tính là 2 tỉ USD!

– Điều đáng buồn cho THỰC TRẠNG hiện nay là người bệnh Tiểu Đường, Tăng Huyết Áp, Mỡ Máu Cao, Bệnh Động MẠch Vành đang phải dùng thuốc mỗi ngày và họ được GIÁO DỤC để TIN rằng bệnh của họ là bệnh mãn tính và phải uống thuốc suốt đời, không có sự chữa khỏi, chữa lành 100% cho căn bệnh của họ. Điều này không những tổn hại đến sức khỏe người bệnh mà còn tổn hại đến kinh tế gia đình, ngân sách nhà nước chi phí cho thuốc men và dịch vụ y tế kèm theo của công nghệ chữa các bệnh mãn tính này hiện nay.

– Hãy nhìn lại thật kỹ xem ngành công nghiệp Y Khoa và Thuốc Tây giúp gì được cho bạn khi bạn được chẩn đoán là mắc các bệnh mãn tính kể trên? Có thật sự theo thuốc tây bạn có được chữa khỏi hay ngược lại?

– Điều may mắn mà tôi muốn chia sẻ với các bạn là một TIN VUI. Đó Là các bệnh do lối sống kể trên như Tiểu Đường, Mỡ Máu, Tăng Huyết Áp, Bệnh động mạch vành mãn tính hoàn toàn có thể hồi phục mà không cần dùnh đến thuốc tây !

– Bí mật được bật mí rất đơn giản nhưng rất sâu sắc. Thủ phạm chính là ở nguồn thức ăn bạn đưa vào cơ thể hàng ngày. Chính nguồn thức ăn không phù hợp với cơ thể con người lâu dần sẽ dẫn đến những rối loạn chuyển hóa của cơ thể ( ý nói các chuyển hóa Đường, Đạm, Béo, Muối Khoáng,…), từ đó dẫn đến bệnh Tiểu Đường, Tăng Huyết Áp, Mỡ Máu Cao, Bệnh Xơ Vữa Động Mạch,…. Và Vị Thần Cứu Tinh của con người cũng chính là nguồn thức ăn PHÙ HỢP với cơ thể con người sẽ giúp cơ thể khôi phục lại TRẠNG THÁI CÂN BẰNG vốn có ban đầu, và từ đó sẽ Đẩy Lùi, Đảo Ngược và Chữa Khỏi các bệnh mãn tính.

– Bản thân tôi khi biết đến Phương Pháp này có cảm xúc như BỪNG TỈNH và HẠNH PHÚC. Tôi biết mình và người Việt Nam sẽ được cứu sống khỏi các bệnh mãn tính.

-Trong 5 năm qua tôi đã áp dụng phương pháp điều trị dùng chế độ ăn, cho hàng ngàn người bệnh Tiểu Đường giúp họ trở lại với cuộc sống khỏe mạnh bình thường. Hàng trăm người bệnh Tăng Huyết Áp, Mỡ Máu Cao hồi phục cơ thể, hàng trăm người bệnh động mạch vành hồi phục dần mà không cần mổ bắc cầu hay đặt stent, giúp họ khôi phục sức khỏe từng có trước đây và có cuộc sống lành mạnh, hạnh phúc.

– Tôi có một ƯỚC MƠ rằng Việt Nam là một quốc gia MẠNH KHỎE và GIÀU CÓ. Người Việt Nam có Sức Khỏe tuyệt vời và không khải dùng đến thuốc tây.

Tôi chọn SỨ MỆNH của mình là giúp cho hàng triệu người Việt Nam đang bị bệnh Tiểu Đường, Mỡ Máu Cao, Tăng Huyết Áp, Bệnh Động Mạch Vành,… được chữa lành tự nhiên

– Các bạn chỉ cần Hiểu Biết Đúng về cơ thể và sức khỏe của mình.

BSHoangHiep.com / chúng tôi

Bổ Nhiệm

Tháng 1-2015

PHÓ TRƯỞNG KHOA PHẪU THUẬT TIM – LNMM BVND 115

Làm việc

Từ tháng 1-2007 đến tháng 6-2017

Bác sỹ phẫu thuật, Khoa Phẫu Thuật Tim, BVND 115

Từ tháng 6-2013 đến nay

Thành lập Phòng Khám Bệnh Ngòai Giờ, chuyên khoa Tim Mạch, Phẫu Thuật Tim.

Từ tháng 6-2016 đến nay

Mở PHÒNG KHÁM CHÂN NHƯ – Chuyên Khoa Tim Mạch

Chuyên chữa trị bệnh động mạch vành, đái tháo đường giúp người bệnh hồi phục cơ thể

Chữa Lành Tự Nhiên bằng chế độ ăn

BsHoangHiep.com; chúng tôi chúng tôi

Cố vấn chuyên môn cho Học Viện Bách Niên Trường Thọ, Việt Nam.

2. Kết Quả Điều trị Phẫu Thuật bệnh van tim tại BVND 115, Chuyên Đề Tim Mạch Học Thành Phố Hồ Chí Minh, tháng 12, 2011.

3. Ca lâm sàng hiếm gặp : Kẹt Guidewire trong động mạch vành trong khi can thiệp động mạch vành, Phẫu Thuật cấp cứu lấy guidewire + bắc cầu động mạch vành thành công. Chuyên Đề Tim MẠch Học Thành Phố Hồ Chí Minh, tháng 08, 2011

4. Ca lâm sàng : Thủng thành tự do thất trái sau nhồi máu cơ tim cấp, Phẫu thuật vá lỗ thủng thành công. Chuyên Đề Tim Mạch Học Thành Phố Hồ Chí Minh, tháng 06, 2011

5. Kết Quả Điều trị Phẫu thuật Bắc cầu Động Mạch Vành tại BVND 115. Chuyên Đề Tim Mạch Học Thành Phố Hồ Chí Minh, tháng 02, 2013

6. Ca lâm sàng hiếm gặp : U nhầy trong thất trái. Chuyên Đề Tim Mạch Học Thành Phố Hồ Chí Minh, tháng 10, 2013

7. Điều trị Phẫu Thuật sửa chữa hoàn toàn Tứ chứng Fallot tại BVND 115. Chuyên Đề Tim MẠch Học Thành Phố Hồ Chí Minh, tháng 12, 2013

8. Kết quả ban đầu phẫu thuật điều trị Viêm Nội Tâm Mạc Nhiễm Trùng tại Khoa PTT, BVND115. Tập san Khoa Học Kỹ Thuật BVND 115-2015

Chiến sỹ thi đua thành phố Hồ chí Minh 2012

Chiến sỹ thi đua thành phố Hồ chí Minh 2012

BẰNG KHEN

HUY HIỆU TP HCM

CHỨNG CHỈ CHUYÊN GIA TƯ VẤN TIỂU ĐƯỜNG

CHỨNG CHỈ NHÀ ĐÀO TẠO VỀ SỨC KHỎE VÀ TRÍ NHỚ

Hội Kỷ Lục Gia Việt Nam-Ấn Độ

CÁC SÁCH ĐÃ VIẾT (EBOOKS)

NĂM

40 NGÀY SỐNG VỚI LUẬT HẤP DẪN

2016

10 LỜI KHUYÊN CHO NGƯỜI BỆNH TIM MẠCH

2016

10 LỜI KHUYÊN CHO NGƯỜI BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

2016

50 BÍ MẬT CỦA GIÀU CÓ VÀ HẠNH PHÚC

2016

Cách Điều Trị Bệnh Yếu Sinh Lý Ở Nam Giới / 2023

Bệnh yếu sinh lý nam gây ra nhiều nguy hại nghiêm trọng, thậm chí có thể dẫn tới vô sinh nếu không có biện pháp can thiệp sớm. Do đó, người bệnh cần biết: Nguyên nhân và cách khắc phục bệnh yếu sinh lý ở nam giới, để phòng chống căn bệnh hiệu quả.

Theo các bác sĩ tại Phòng khám đa khoa Thiện Hòa, có rất nhiều nguyên nhân gây yếu sinh lý ở nam. Cụ thể là:

– Yếu sinh lý do nội tiết tố, chủ yếu là do tuổi tác: Tuổi càng cao đồng nghĩa với khả năng yếu sinh lý nam cũng tăng theo. Khi nam giới bước vào tuổi trung niên, việc sản xuất hooc môn sinh dục testosterone cũng sẽ giảm sút, gây giảm hưng phấn và ham muốn tình dục, dẫn đến tình trạng yếu sinh lý.

Bệnh yếu sinh lý ở nam giới nếu không điều trị sớm sẽ dẫn tới nhiều nguy hại khôn lường như: Nguy cơ vô sinh cao, khiến người bệnh thiếu tự tin khi “lâm trận” và khi nhắc đến vấn đề tình dục;

Ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình… Do đó, khi nghi ngờ bản thân mắc bệnh, bạn nên tới ngay các cơ sở y tế hoặc phòng khám đa khoa uy tín để các bác sỹ thăm khám và điều trị bệnh kịp thời, tránh những biến chứng đáng tiếc có thể xảy ra.

Cách khắc phục bệnh yếu sinh lý nam giới

Tăng cường dinh dưỡng, bổ sung nhiều vitamin E và hoa quả, giá đỗ, hành hoa, tôm … Đây là những thực phẩm rất tốt cho dương vật

Bên cạnh đó, bạn nên luyện tập thể dục thể thao đều đặn, nghỉ ngơi đúng giờ giấc, những người có công việc cần phải ngồi lâu nên đứng dậy đi lại để máu được lưu thông.

Tránh dùng các chất kích thích như: Rượu, bia, thuốc lá…

Thư giãn đầu óc, giảm stress, tránh các áp lực quá mức trong công việc và học tập.

Với căn bệnh khó nói trên, Phòng Khám hiện đã và đang áp dụng có hiệu quả “Hệ thống phục hồi chức năng sinh lý HOS” điều trị khỏi cho hàng ngàn người bệnh. Khắc phục những nhược điểm của phương pháp truyền thống, hệ thống phục hồi chức năng sinh lý HOS có nhiều ưu điểm nổi bật như:

– Trước khi điều trị, bác sỹ sẽ tiến hành kiểm tra, đánh giá chính xác mức độ liệt dương và xuất tinh sớm.

– Sử dụng các phương pháp trị liệu tổng hợp giúp tăng tuần hoàn máu, đồng thời có tác dụng kích thích phản hồi yên vỏ não, gia tăng sản xuất các androgen, kích thích hoạt động của thần kinh trung ương, cải thiện vi tuần hoàn.

– Trong quá trình điều trị, còn sử dụng các hình ảnh quan hệ với độ phân giải cao và các ngôn ngữ trong quan hệ tình dục, tạo ra ảo giác cho bệnh nhân, loại bỏ những phiền nhiễu từ bên ngoài, kích thích nghe nhìn bằng những hình ảnh quan hệ tình dục mạnh mẽ, đưa bệnh nhân vào trạng thái liên tưởng tốt nhất đến quan hệ tình dục, khiến dương vật nhanh chóng trở lên cương cứng, đạt được mục đích điều trị hiệu quả.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Giới Thiệu Điều Trị Bệnh Lý Da / 2023 trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!