Đề Xuất 12/2022 # Kết Quả Sau 10 Năm Điều Trị U Màng Não Thất Bằng Dao Gamma Quay Tại Trung Tâm Y Học Hạt Nhân Và Ung Bướu, Bệnh Viện Bạch Mai / 2023 # Top 16 Like | Growcaohonthongminhhon.com

Đề Xuất 12/2022 # Kết Quả Sau 10 Năm Điều Trị U Màng Não Thất Bằng Dao Gamma Quay Tại Trung Tâm Y Học Hạt Nhân Và Ung Bướu, Bệnh Viện Bạch Mai / 2023 # Top 16 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Kết Quả Sau 10 Năm Điều Trị U Màng Não Thất Bằng Dao Gamma Quay Tại Trung Tâm Y Học Hạt Nhân Và Ung Bướu, Bệnh Viện Bạch Mai / 2023 mới nhất trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Kết quả sau 10 năm điều trị u màng não thất bằng dao gamma quay tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai

Hình 1. Hình ảnh kế hoạch xạ phẫu u màng não thất III  lần 1 (năm 2007)

Sau 2 tháng điều trị, bệnh nhân giảm hẳn các triệu chứng: đỡ chóng mặt, không nôn, không buồn nôn, đau đầu ít. 05 tháng sau điều trị, bệnh nhân đã có thể sinh hoạt bình thường, không còn triệu chứng cơ năng. 

Tháng 3/2018, sau hơn 10 năm điều trị, bệnh nhân lại xuất hiện đau đầu nhiều, đau liên tục, nôn, buồn nôn, nhìn mờ, đi lại mất thăng bằng. Bệnh nhân đi khám tại Bệnh viện Bạch Mai, chụp cộng hưởng từ sọ não cho thấy hình ảnh u não thất III tái phát. Bệnh nhân được đề nghị nhập viện, vào Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai xét điều trị.Khám lúc vào viện: Bệnh nhân tỉnh, thể trạng trung bình.Có hội chứng tăng áp lực nội sọ: đau đầu, buồn nôn, nhìn mờ.Không yếu liệt vận động.Nhịp tim đều, T¬1¬T2 rõ.Phổi: rì rào phế nang rõ, không có rales.Huyết áp: 130/60 mmHg,  Mạch: 83 lần/phút.Cận lâm sàng:Công thức máu: Hồng cầu: 4.56 T/L;       Huyết sắc tố: 136g/L;               Bạch cầu: 6.3G/L;  Tiểu cầu: 237G/LĐông máu: bình thường.Sinh hóa máu: bình thường.Ure: 6.9 mmol/L; Glucose: 3.9 mmol/L; Creatinin: 72 mmol/L; GOT: 13 U/L; GPT: 16 U/LVi sinh:  HCV Ab: âm tính  ;   HBsAg: âm tính  ;   HIV: âm tínhX – Quang tim phổi thẳng: bình thường.Siêu âm ổ bụng: không thấy bất thường.Điện tâm đồ: nhịp xoang đều, 82 lần/phútChụp cộng hưởng từ sọ não ngày 23/03/2018 (trước dẫn lưu não thất): Tổn thương ngoài trục lan theo lỗ bên não thất III – mặt sau cuống đại não – thân não, kích thước 15×27 mm, tăng tín hiệu trên T2W, FLAIR, ngấm thuốc mạnh sau tiêm. Khối chèn ép gây giãn toàn bộ não thất phía trên.

Hình 3. Hình ảnh chụp cộng hưởng từ: khối u gây giãn não thất trước điều trị xạ phẫu lần 2 (vòng tròn đỏ: hình ảnh u theo 3 mặt phẳng của não)

Chẩn đoán: Giãn não thất / U màng não thất III đã xạ phẫu tái phát.Điều trị: bệnh nhân được hội chẩn hội đồng giáo sư, chỉ định phẫu thuật dẫn lưu não thất ổ bụng sau đó sẽ tiếp tục được điều trị bằng dao Gamma quay.

Ngày 30/3/2018, tiến hành dẫn lưu não thất – ổ bụng tại khoa Ngoại. Sau phẫu thuật bệnh nhân ổn định, đỡ đau đầu, giảm nôn, nhìn rõ hơn.

Hình 4. Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính sọ não sau phẫu thuật dẫn lưu não thất – ổ bụng.

Sau 1,5 tháng điều trị: Bệnh nhân tỉnh, thỉnh thoảng có cơn đau đầu nhẹ, không mất thăng bằng, không buồn nôn, không nhìn mờ.Hình ảnh chụp cộng hưởng từ sọ não: Nhu mô não không thấy khối ngấm thuốc bất thường, hình ảnh đường dẫn lưu não thất cũ vùng thái dương phải. Đường giữa cân đối. Hệ thống não thất cân đối, không giãn, dịch não tủy trong và đồng nhất, không thấy khối choán chỗ.

Hình 5: Hình ảnh cộng hưởng từ sọ não sau điều trị xạ phẫu dao Gamma quay 1,5 tháng

Như vậy, so với trước xạ phẫu, bệnh nhân đã cải thiện rất nhiều về triệu chứng cơ năng và hình ảnh.

Điều Trị Bệnh Nhân Ung Thư Bóng Vater Tại Trung Tâm Y Học Hạt Nhân Và Ung Bướu, Bệnh Viện Bạch Mai / 2023

Case lâm sàng

Bệnh nhân Trần Đình L. Nam, 56 tuổi.

Nghề nghiệp: Hưu trí.

Địa chỉ: TP Thái Nguyên, Thái Nguyên.

Lí do vào viện: Sau mổ cắt khối tá tụy do Ung thư bóng Vater ngày thứ 20.

: Bệnh diễn biến 2 tháng trước vào viện. Bệnh nhân xuất hiện vàng da, vàng mắt tăng dần, kèm theo mệt mỏi, gầy sút 4 kg/1 tháng. Bệnh nhân đã đi khám và được chẩn đoán Ung thư bóng Vater tại bệnh viện Bạch Mai. Sau đó bệnh nhân được phẫu thuật cắt khối tá tụy tại Bệnh viện Việt Đức. Hiện tại, sau mổ ngày thứ 20 bệnh nhân ổn định được chuyển điều trị tại Trung tâm Y học hạt nhân và ung bướu Bệnh viện Bạch Mai.

Triệu chứng cơ năng: Bệnh nhân không đau bụng, không sốt, không nôn, mệt mỏi, ăn kém.

Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt.

Chiều cao 177cm, nặng 65kg, Diện tích da 1,81m 2

Mạch: 76 lần /phút, HA: 120/70mmHg

Không vàng da, không vàng mắt.

Vết mổ đường trắng giữa trên rốn liền sẹo tốt.

Các cơ quan bộ phận khác không có gì đặc biệt.

Bệnh nhân được chẩn đoán : Ung thư bóng Vater đã phẫu thuật cắt khối tá tụy, T2N1M0 giai đoạn III. Giải phẫu bệnh: Ung thư biểu mô tuyến di căn 1/3 hạch nhóm 15

Sau khi được chẩn đoán xác định và đánh giá giai đoạn bệnh, chúng tôi quyết định điều trị sử dụng phác đồ Gemox điều tị bổ trợ 6 chu kỳ cho bệnh nhân, với chu kỳ 14 ngày.

Cụ thể: Gemcitabine 1000mg/m 2 pha truyền tĩnh mạch ngày 1

Oxaliplatin 100mg/m 2 pha truyền tĩnh mạch ngày 2.

Kết quả điều trị sau 6 chu kỳ hóa chất:

: Bệnh nhân ăn uống tốt, tăng 10kg, làm việc và sinh hoạt bình thường, không còn dấu hiệu tắc mật (không vàng da vàng mắt), không đau bụng.

Trong quá trình truyền hóa chất bệnh nhân có đôi lúc mệt, buồn nôn, ăn kém. Các tác dụng phụ này thoảng qua, thường kéo dài 2 ngày sau truyền hóa chất và ở mức độ bệnh nhân chấp nhận được.

Cận lâm sàng:

Xét nghiệm huyết học, trong quá trình điều trị, bệnh nhân không bị các tác dụng phụ của hóa chất như hạ bạch cầu, thiếu máu…

Xét nghiệm sinh hóa máu trong quá trình điều trị: Không có dấu hiệu tắc mật, các chât chỉ điểm u trong giới hạn bình thường. Bệnh nhân có men gan tăng nhẹ (GOT: 39U/L, GPT: 53U/L) trong quá trình truyền hóa chất, tuy nhiên không ảnh hưởng đến chu kỳ hóa trị.

Bệnh nhân được chỉ định chụp PET/CT đánh giá sau điều trị: Kết quả không thấy hình ảnh tăng hấp thu và chuyển hóa F-18FDG bất thường trong cơ thể.

Hình 1: Hình ảnh chụp PET/CT toàn thân: Không thấy hình ảnh tăng hấp thu hay chuyển hóa bất thường F-18FDG trong cơ thể Hình 2: Khối tá tụy đã cắt, hiện tại không thấy tổn thương tái phát, di căn.

Sau 6 chu kỳ hóa chất bổ trợ, chúng tôi đánh giá bệnh nhân đáp ứng tốt với điều trị.

Hiện tại: Bệnh nhân không đau bụng, không sốt, không vàng da, ăn ngủ tốt, không tê chân tay.

Xét nghiệm huyết học: Hồng cầu: 4,59T/l, Hgb: 140g/l, Bạch cầu: 4,6G/l, bạch cầu trung tính: 1,4 g/l. Tiểu cầu: 330G/l (trong giới hạn bình thường).

Xét nghiệm sinh hóa máu: chức năng gan thận trong giới hạn bình thường (Ure: 3,2mmol/l, Creatinine: 105umol/l; Glucose: 4,8mmol/l; GOT: 28U/l, GPT: 30U/l).

Tiếp theo bệnh nhân được dự kiến điều trị duy trì bằng Capecitabine thêm 6 tháng sau đó nếu bệnh ổn định bệnh nhân sẽ được chỉ định theo dõi định kỳ mỗi 6 tháng.

Hiện tại, sau 3 năm bệnh nhân được tái khám định kỳ, tình trạng bệnh ổn định, chưa phát hiện tái phát.

Như vậy, vai trò của việc kết hợp giữa các phương pháp phẫu thuật, hóa trị bổ trợ và theo dõi sau điều trị là rất quan trọng trong điều trị ung thư nói chung và ung thư bong vater nói riêng.

Ca Lâm Sàng: Điều Trị Bệnh Nhân Ung Thư Phổi Di Căn Gan, Não Tại Trung Tâm Y Học Hạt Nhân Và Ung Bướu Bệnh Viện Bạch Mai / 2023

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu Bệnh viện Bạch Mai

Theo Globocan năm 2018, ung thư phổi là loại ung thư phổ biến nhất (11,6%) và có tỷ lệ tử vong cao nhất (18,4%) trong các loại ung thư. Tại Việt Nam, ung thư phổi đứng thứ 2 sau ung thư gan cả về tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong. (Với tỷ lệ mắc 14,4% và tỷ lệ tử vong là 18% năm 2018). Phần lớn các bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi đã ở giai đoạn tiến triển và di căn tại thời điểm chẩn đoán.

Điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ phụ thuộc vào giai đoạn lúc chẩn đoán. Phẫu thuật triệt căn đối với giai đoạn sớm, hóa trị bổ trợ sau phẫu thuật đối với nhóm nguy cơ cao, hóa xạ trị đồng thời đối với giai đoạn tiến triển tại chỗ, điều trị hóa chất, điều trị đích, điều trị miễn dịch đối với giai đoạn giai đoạn di căn, tái phát

Phương pháp điều trị đích gồm: thuốc ức chế enzyme tyrosin kinanse (TKIs) thế hệ 1: Gefitinib, Erlotinib và thế hệ 2: Afatinib. Nhóm thuốc TKIs là lựa chọn bước 1 với bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến có đột biến EGFR, đặc biệt là đột biến tại các exon 19 và 21 sẽ làm tăng sự nhạy cảm của thuốc.

Bệnh diễn biến trước vào viện 1 tuần, bệnh nhân xuất hiện đau âm ỉ hạ sườn phải, tăng lên khi hít sâu, không ho, không sốt, gầy sút 3kg/ tháng. Đi khám tại bệnh viện Bạch Mai siêu âm ổ bụng phát hiện u gan trái à nhập viện Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu- Bệnh viện Bạch Mai

– Chụp cắt lớp vi tính ổ bụng: Hình ảnh khối u gan hạ phân thùy II, có ngấm thuốc sau tiêm dạng viền, kích thước 24mm (vòng tròn đỏ).

Kt 11x12mm, ngấm thuốc dạng viền (mũi tên đỏ)

Bệnh nhân được tiến hành sinh thiết khối u gan hạ phân thùy II. Kết quả giải phẫu bệnh : Ung thư biểu mô tuyến nguồn gốc từ phổi. Nhuộm hóa mô miễn dịch với PD-L1: Dương tính 10%. Xét nghiệm đột biến gen EGFR mẫu mô: Phát hiện đột biến gen trên exon 19, không phát hiện đột biến T790M trên exon 20.

Ung thư phổi trái di căn gan, não, giai đoạn T4N3M1b

Giải phẫu bệnh: Ung thư biểu mô tuyến, EGFR dương tính, PD-L1 dương tính 10%, ALK âm tính

– Thuốc TKI: Afatinib (Giotrif) 40mg/ ngày. Uống hàng ngày.

– Xạ phẫu Gamma liều 16Gy vào tổn thương di căn não

– Thuốc kháng virus : tenofovir 300mg/ngày

-Sau 3 tháng bệnh nhân đỡ đau bụng, ăn uống ngon miệng,

– Sau 6 tháng bệnh nhân ổn định,tăng 3kg, có tác dụng phụ chín mé các đầu ngón tay

– Xét nghiệm chất chỉ điểm u:

Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực sau điều trị: Hình ảnh dải xơ phổi thùy trên phổi trái (mũi tên đỏ), một số hạch trung thất

Qua ca lâm sàng trên chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:

Lựa chọn điều trị bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa phụ thuộc vào: loại mô bệnh học, đột biến EGFR, thể trạng và kinh tế gia đình bệnh nhân…

Điều Trị Bệnh Nhân Ung Thư Phổi Di Căn Hạch, Phổi, Xương Tại Trung Tâm Y Học Hạt Nhân Và Ung Bướu, Bệnh Viện Bạch Mai / 2023

Theo thống kê của Globocan 2018, bệnh ung thư phổi đứng thứ 2 về tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong trong tổng các bệnh ung thư tại Việt Nam. Phần lớn các bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi đã ở giai đoạn tiến triển và di căn tại thời điểm chẩn đoán.

Hiện nay, điều trị ung thư phổi cần phải phối hợp nhiều phương pháp khác nhau (phẫu thuật, xạ trị hóa trị, điều trị đích, điều trị miễn dịch…). Có nhiều yếu tố để đưa ra phác đồ thích hợp cho mỗi bệnh nhân. Tuy nhiên hóa trị vẫn có một vai trò quan trọng trong phác đồ điều trị bệnh.

Bệnh nhân: Lê Quang B. Nam Sinh năm: 1951

Địa chỉ: Thụy Phương – Bắc Từ Liêm – Hà Nội

Lý do vào viện: ho ra máu

Bệnh sử: Bệnh diễn biến 1 tháng trước vào viện, bệnh nhân xuất hiện ho ra máu đỏ tươi, kèm theo đau tức ngực, không sốt, không gầy sút cân. Bệnh nhân đi khám tại khoa khám bệnh Bệnh viện Bạch Mai, được chụp cắt lớp vi tính lồng ngực thấy: hình ảnh u phổi trái. Bệnh nhân được chỉ định nhập viện, vào Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu để đánh giá, chẩn đoán xác định và điều trị.

Tiền sử:

– Bản thân: Tăng huyết áp nhiều năm đã điều trị Amlordipin ngày 1 viên.

Khám lúc vào viện:

– Bệnh nhân tỉnh, toàn trạng tốt

– Thể trạng trung bình: cao 163cm, nặng 60 kg

– Da niêm mạc hồng, không phù.

– Phổi: rì rào phế nang rõ, có ít rale rít phổi trái

– Tim: nhịp đều, T1-T2 rõ, không có tiếng thổi bệnh lý

– Mạch 85 lần/phút, Huyết áp: 130/65mmHg.

– Hạch ngoại vi không sờ thấy.

– Bụng mềm, gan lách không to.

Cận lâm sàng trước điều trị:

– Công thức máu: bình thường

– Sinh hóa máu: chỉ số chỉ điểm ung thư phổi bình thường

CEA: 2,6ng/ml (bình thường: < 4,3 ng/mL)

Cyfra 21-1: 13,36ng/ml (bình thường: < 3,3ng/mL)

– Bệnh nhân được nội soi phế quản và sinh thiết u, kết quả mô bệnh học: Ung thư biểu mô tuyến.

– Kết quả xét nghiệm đột biến gen EGFR: không có đột biến gen EGFR.

– Siêu âm tim: bình thường

– Bệnh nhân được chụp PET/CT, kết quả cho thấy:

Hình ảnh u phổi trái kích thước 39 x 30 x 40mm, tăng hấp thu FDG với max SUV=11,7. Hạch cạnh khí quản trái kích thước 2,5×2,0cm, tăng hấp thu FDG, max SUV = 9,2. Hạch dưới quai động mạch chủ kích thước 1,7×1,5cm tăng hấp thu FDG max SUV = 7,8. Hạch rốn phổi phải kích thước 0,8 cm, tăng hấp thu FDG, max SUV = 3,5.

Tổn thương gai sau đốt sống C2 tăng hấp thu FDG, max SUV = 5,4

– Cộng hưởng từ sọ não: không thấy tổn thương thứ phát tại não

Chẩn đoán: Ung thư phổi trái di căn phổi phải, hạch trung thất, xương T2N3M1c giai đoạn IV/Tăng huyết áp

Mô bệnh học: Ung thư biểu mô tuyến, EGFR (-).

Sau khi giải thích tình trạng bệnh và hướng điều trị bệnh cho gia đình, bệnh nhân được hóa trị phác đồ 2 thuốc: Pemetrexed + Carboplatin, chu kì 21 ngày, kèm theo nâng cao thể trạng và tiếp tục điều trị thuốc hạ huyết áp

ĐÁNH GIÁ ĐÁP ỨNG ĐIỀU TRỊ: Sau 3 chu kì hóa chất:

– Lâm sàng: bệnh nhân không còn ho, không đau tức ngực, không khó thở

– Xét nghiệm máu: các chỉ số sinh hóa và huyết học trong giới hạn bình thường

Chất chỉ điểm u: CEA: 2,25 ng/mL, Cyfra 21-1: 3,1 ng/mL

– Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực: u phổi đã tan biến, hạch trung thất thu nhỏ kích thước, còn một vài hạch trung thất nhỏ kích thước dưới 9mm.

Bệnh nhân tiếp tục điều trị hóa chất đủ 6 chu kì Pemetrexed + Carboplatin, và đánh giá lại sau điều trị.

– Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực: không thấy hình ảnh u phổi, không thấy hạch trung thất

– Chụp cộng hưởng từ sọ não: không thấy tổn thương thứ phát tại não

– Xét nghiệm các chất chỉ điểm khối u: CEA: 2,1 ng/mL, Cyfra 21-1: 2,7 ng/mL

Như vậy sau 6 chu kì điều trị hóa chất, bệnh đáp ứng hoàn toàn. Tuy nhiên thời điểm chẩn đoán, bệnh nhân đã có di

căn phổi và xương nên bệnh nhân đã được điều trị hóa chất duy trì Pemetrexed đơn chất.

Hiện tại, sau hơn 1 năm điều trị, bệnh nhân có thể sinh hoạt và lao động bình thường, không ho, không đau tức ngực, không khó thở.

Bệnh nhân được chụp PET/CT cho thấy: không còn tổn thương ở phổi và hạch trung thất, không còn tổn thương di căn tại thân đốt sống cổ C2.

Chụp cộng hưởng từ sọ não: không có tổn thương thứ phát tại não

Xét nghiệm: sinh hóa máu, công thức máu bình thường

Xét nghiệm chất chỉ điểm khối u trong máu: CEA: 2,1 mg/mL, Cyfra 21-1: 2,3 ng/mL

Hình 6: Hình ảnh PET/CT trước và sau điều trị: Các tổn thương ác tính (vòng đỏ) trước điều trị đã không còn sau 1 năm điều trị hóa chất.

Như vậy, bệnh nhân đã đáp ứng hoàn toàn với điều trị, không còn triệu chứng lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh không thấy tổn thương. Tuy nhiên, bệnh nhân vẫn tiếp tục được điều trị hóa chất duy trì và theo dõi, đánh giá định kì nhằm đạt được hiệu quả điều trị tối ưu nhất và ổn định bệnh lâu dài.

Theo GS. Mai Trọng Khoa, PGS. Phạm Cẩm Phương, ThS. Trần Văn Oai Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Kết Quả Sau 10 Năm Điều Trị U Màng Não Thất Bằng Dao Gamma Quay Tại Trung Tâm Y Học Hạt Nhân Và Ung Bướu, Bệnh Viện Bạch Mai / 2023 trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!