Đề Xuất 1/2023 # Khoa Nghiên Cứu Và Ứng Dụng Tế Bào Gốc # Top 9 Like | Growcaohonthongminhhon.com

Đề Xuất 1/2023 # Khoa Nghiên Cứu Và Ứng Dụng Tế Bào Gốc # Top 9 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Khoa Nghiên Cứu Và Ứng Dụng Tế Bào Gốc mới nhất trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thông tin đầy đủ và chi tiết Khoa Nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc – Bệnh viện Da liễu Trung ương ở Hà Nội. chúng tôi cung cấp thông tin bao gồm địa chỉ Khoa Nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc – Bệnh viện Da liễu Trung ương sẽ giúp bạn trả lời câu hỏi Khoa Nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc – Bệnh viện Da liễu Trung ương ở đâu? Các thông tin khác như thời gian làm việc, số điện thoại liên hệ Khoa Nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc – Bệnh viện Da liễu Trung ương bảng giá dịch vụ, hình ảnh, hỏi đáp và review.

Giới thiệu

Khoa Nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc – Bệnh viện Da liễu Trung ương là cơ sở trực thuộc Bệnh viện Da liễu Trung ương ở Hà Nội. Khoa Nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc – Bệnh viện Da liễu Trung ương là một trong những địa chỉ uy tín cung cấp các dịch vụ Da liễu khu vực Hà Nội

Tên: Khoa Nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc – Bệnh viện Da liễu Trung ương

Trực thuộc: Bệnh viện Da liễu Trung ương

Chuyên khoa: Da liễu

Loại hình: Khoa/cơ sở thuộc Bệnh viện/Viện

Dịch vụ: Khám chữa bệnh theo quy định của Bộ Y Tế về Da liễu

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Bảo hiểm: BHXH, BHYT Theo quy định của Bộ Y Tế

Khoa Nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc – Bệnh viện Da liễu Trung ương ở đâu?

Khoa Nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc – Bệnh viện Da liễu Trung ương là cơ sở trực thuộc Bệnh viện Da liễu Trung ương ở Hà Nội

Địa chỉ: 15A Phương Mai, Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội

Số điện thoại Khoa Nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc – Bệnh viện Da liễu Trung ương?

Thông tin liên hệ Khoa Nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc – Bệnh viện Da liễu Trung ương

Hoặc liên hệ với Bệnh viện Da liễu Trung ương để biết thông tin chi tiết

Thời gian làm việc Khoa Nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc – Bệnh viện Da liễu Trung ương

Lịch làm việc: Thứ Hai – Chủ Nhật: 07h00 – 20h00

Lịch làm việc của Khoa Nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc – Bệnh viện Da liễu Trung ương có thể thay đổi. Liên hệ Khoa Nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc – Bệnh viện Da liễu Trung ương để cập nhật giờ làm việc Khoa Nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc – Bệnh viện Da liễu Trung ương chính xác nhất.

Khoa Nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc – Bệnh viện Da liễu Trung ương tuyển dụng

Liên hệ với Khoa Nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc – Bệnh viện Da liễu Trung ương. Hoặc đến trực tiếp Bệnh viện Da liễu Trung ương để biết thông tin Khoa Nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc – Bệnh viện Da liễu Trung ương tuyển dụng.

Trung Tâm Nghiên Cứu Và Ứng Dụng Thuốc Dân Tộc 145 Hoa Lan

“Dịch vụ của Thuốc dân tộc ở cơ sở 145 Hoa Lan nói riêng và Trung tâm Thuốc dân tộc nói chung luôn tập trung vào chất lượng và nhu cầu khám chữa bệnh của bệnh nhân”

Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Thuốc dân tộc 145 Hoa Lan đạt dấu mốc chặng đường 6 năm trong lĩnh vực khám chữa bệnh bằng Y học cổ truyền, chinh phục được hàng nghìn bệnh nhân khó tính mỗi năm. Đơn vị cũng đang được biết đến là có đóng góp lớn trong công cuộc bảo tồn, nghiên cứu và ứng dụng thành công nền YHCT Việt Nam.

Cẩm nang sức khỏe 365 đã nhận được vô số những phản hồi như vậy, nhưng liệu Trung tâm có phải là đơn vị đi đầu trong lĩnh vực khám chữa bệnh bằng YHCT hay không? Đó còn là “ẩn số” đối với chính bệnh nhân, độc giả và cả chúng tôi.

Để xác minh cũng như tìm được câu trả lời thỏa đáng thì ngoài việc tìm kiếm thêm các thông tin trên mạng thì chúng tôi muốn được lắng nghe những ý kiến chân thực nhất từ chuyên gia trong lĩnh vực này.

Thật may mắn, chúng tôi đã được Thầy thuốc Ưu tú, Dược sĩ chuyên khoa 2, Chuyên viên cao cấp Nguyễn Đức Đoàn (Chủ tịch Hội Nam y Việt Nam) bớt chút thời gian nhận lời mời phỏng vấn và phóng viên của chuyên đề đã ghi lại một số chia sẻ từ bác sĩ để quý đọc giả theo dõi.

“Thuốc dân tộc 145 Hoa Lan luôn giữ vững trọng trách bảo tồn, ứng dụng và nâng tầm tinh hoa YHCT của dân tộc”

Thực tế cho thấy rằng, bề dày 4000 năm của nền YHCT Việt Nam giống như báu vật quốc gia, là nguồn giá trị dồi dào mà chúng ta cần phải bảo tồn, phát triển và nhân rộng. 

Tuy nhiên sau khi trải qua nhiều thời đại lịch sử cùng với sự phát triển không ngừng của nền Y khoa hiện đại, thì những ghi chép trong sổ sách YHCT cổ đại sẽ không tránh được việc bị mất mát, thất lạc. 

Từ đó theo thời gian những bài thuốc quý cổ phương cũng bị thất truyền, không được bảo tồn và mất đi phần nào giá trị quan trọng trong kho tàng Y học cổ đại quý giá.

Thầy thuốc Nguyễn Đức Đoàn chia sẻ thêm:

“Sự thất lạc, mất mát các phương thuốc bí truyền là điều không thể tránh khỏi tuy nhiên Trung tâm Thuốc dân tộc đã luôn làm tốt vai trò bảo tồn, gìn giữ và vẫn không ngừng nỗ lực tìm kiếm, nâng tầm những bài thuốc quý của quốc gia. 

Đặc biệt là bài chữa của các dân tộc vùng núi, bởi họ có những công thức bí truyền từ nhiều vị thuốc độc đáo, tác dụng cực tốt và khả năng bị thất truyền là rất cao.

Vậy nên, đội ngũ y bác sĩ hàng đầu YHCT của Trung tâm thường xuyên tìm đến vùng đất hẻo lánh, nơi thâm sâu cùng cốc để tìm các bài chữa của nhiều dân tộc khác nhau, đó đều là tinh hoa YHCT. Từ đó họ sẽ nghiên cứu khoa học một cách bài bản để xác định được những dược lực và dược chất cần thiết có trong bài thuốc để từ đó đưa ra hàm lượng chính xác trong bài thuốc hơn. 

Có thể nói rằng, đằng sau những bài thuốc chữa bệnh được nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chữa khỏi bệnh thành công đều là thành quả từ sự nỗ lực, cố gắng không ngừng của đội ngũ bác sĩ cũng như Trung tâm Thuốc dân tộc 145 Hoa Lan. 

Trung tâm luôn đảm bảo rằng sẽ vẫn giữ vững sự nhiệt huyết, đam mê với nghề để tìm ra nhiều bài thuốc chữa hơn nữa và không ngừng phát triển dịch vụ khám chữa bệnh hoàn hảo hơn!”

Với sự uyên thâm độc đáo cùng với hệ thống Y học hoàn chỉnh bao gồm khám bệnh, điều trị và ngăn ngừa bệnh tật dựa trên nguyên lý điều trị bằng Đông y: Cân bằng, hòa hợp tuần hoàn giữa nội tiết, thần kinh, hô hấp, bài tiết và tiết niệu đã giúp bệnh nhân hạn chế được sự tái phát của bệnh ở mức thấp nhất.

Vậy nên Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Thuốc dân tộc 145 Hoa Lan đã – đang khẳng định vị thế của mình trong lĩnh vực YHCT ngày nay.

Tham khảo một số chuyên khoa cùng bài thuốc chữa điển hình của Trung tâm:

Bệnh lý nam khoa: Bài thuốc Mãnh lực Trường xuân.

Bệnh xương khớp: Bài thuốc thang Hoạt huyết Phục cốt hoàn.

Trị chứng khó ngủ, mất ngủ, rối loạn tiền đình: Bài thuốc Định tâm An thần thang.

Bệnh viêm da: Dùng Thanh bì Dưỡng can thang để chữa bệnh.

Bệnh mề đay, dị ứng: Bài thuốc Tiêu ban Giải độc thang.

Bệnh tiêu hóa: Bài thuốc Sơ can Bình vị tán (dạ dày), Tiêu thực Phục tràng hoàn (bệnh đại tràng); Thăng trĩ Dưỡng huyết thang (bệnh trĩ).

Bệnh phì đại tiền liệt tuyến: Bài thuốc Tiền liệt thần hiệu phương đặc trị hiệu quả, công thức dựa trên công thức bí truyền của người Tày

Bệnh viêm đường tiết niệu: Dùng Thông bế Lợi niệu hoàn để điều trị 

Bị viêm họng, viêm amidan: Dùng thuốc Ích phế Chỉ khái khang trị đặc hiệu

Bệnh gút (gout): Uống Thống phong Dưỡng cốt thang trị bệnh hiệu quả

Bệnh răng miệng dùng bài thuốc Nha chu tán

Bệnh gan: Bài thuốc Ích can Vũ gia thang…

“Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Thuốc dân tộc sẽ sớm hoàn thành mục tiêu tự chủ 80% nguồn dược liệu sạch”

Việt Nam vốn là một quốc gia sở hữu nguồn dược liệu đa dạng và dồi dào, nhưng thực tế người dân lại đang lãng quên điều đó và không tận dụng hết những gì thiên nhiên đã ban tặng.

Bởi theo số liệu thống kê Y tế thì nguồn dược liệu nước ta đang sử dụng đến 80% là nhập khẩu từ Trung Quốc và không rõ nguồn gốc, xuất xứ. Trong khi đó Tổ chức Hòa bình xanh toàn cầu đang đưa ra những cảnh báo về chất lượng của nguồn dược liệu đó, chúng nhiễm thuốc trừ sâu cao hơn nhiều lần so với mức cho phép.

Thầy thuốc Đức Đoàn cũng có chia sẻ thêm về vấn đề này:

“Đa phần nguồn dược liệu được nhập khẩu qua đường tiểu thương hoặc nhập lậu nên Bộ y tế và các cơ quan chức năng sẽ gặp khó khăn trong việc kiểm soát chất lượng nguồn dược liệu. 

Việc nuôi trồng, thu hoạch, tẩm sấy dược liệu để bào chế thành thuốc là cả một quy trình nghiêm ngặt. Vì chúng cần phải đảm bảo được hàm lượng dược tính và hoạt chất tốt nhất.

Vậy nên, những dược liệu được nhập khẩu từ Trung Quốc không rõ xuất xứ vừa không đảm bảo được dược tính cần thiết vừa có thể nhiễm vi khuẩn, nấm, virus… gây ra những hiểm họa khó lượng cho sức khỏe của người sử dụng.

Có lẽ vậy, nên ngay từ những ngày đầu thành lập Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Thuốc dân tộc đã rất chú trọng về chất lượng của nguồn dược liệu. Mỗi dược liệu được sử dụng trong bài thuốc chữa bệnh đều trải qua quy trình khắt khe theo tiêu chuẩn Bộ y tế đưa ra.

Ngoài ra, Trung tâm đã quy hoạch mở rộng quy mô vùng nuôi trồng dược liệu sạch và đạt chuẩn GACP – WHO tại một số tỉnh thành như: Hải Dương, Vĩnh Phúc, Sapa, Thái Bình, Bắc Kạn, Hòa Bình… Trong thời gian tới, Trung tâm có thể sẽ hoàn thành mục tiêu tự chủ 80% nguồn dược liệu.”

“Dịch vụ của Thuốc dân tộc ở cơ sở 145 Hoa Lan nói riêng và Trung tâm Thuốc dân tộc nói chung luôn tập trung vào chất lượng và nhu cầu khám chữa bệnh của bệnh nhân”

Chất lượng dịch vụ hoàn hảo là yếu tố tác động trực tiếp đến sự hài lòng của khách hàng và theo như Cẩm nang sức khỏe 365 tìm hiểu thì phương châm khám chữa bệnh của phòng khám Thuốc dân tộc 145 Hoa Lan là luôn coi bệnh nhân như người nhà, tiếp đón và phục vụ tận tình, chu đáo nhất.

Ông cha ta từ thời xa xưa vẫn có câu dặn dò Lương y như từ mẫu, với một nhà lương y việc cứu chữa người bệnh không đơn giản như việc phải làm, mà là việc nên làm và làm cho thật tốt. Có lẽ Trung tâm đã thực hiện được rất tốt lời dặn ấy.

Vậy Thầy thuốc Đức Đoàn nói gì về điều này:

“Đúng vậy, đó dường như là điều quá hiển nhiên với Trung tâm. Vì chỉ khi người bệnh đã thực sự tin tưởng thì họ mới tìm đến Thuốc dân tộc, nên chúng tôi không thể phủ nhận về chất lượng dịch vụ của phòng khám.

Ngoài ra, với mong muốn không chối từ bất cứ nhu cầu khám chữa bệnh nào từ bệnh nhân thì Trung tâm còn phát triển thêm dịch vụ khám bệnh trực tuyến. Đặc biệt hiệu quả cả với những bệnh nhân mắc bệnh ngoài da, chỉ cần chụp ảnh và gửi đến địa chỉ facebook, zalo, website Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Thuốc dân tộc sẽ được đội ngũ Y bác sĩ tư vấn và khám các bước đầu.

Về dạng thuốc, Trung tâm đã nghiên cứu và phát triển thành công nhiều loại hơn nhờ vào công nghệ hiện đại sản xuất và chiết tách nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng và hàm lượng dược tính của thuốc. Cùng với đó là dịch vụ sắc thuốc sẵn đóng túi và gửi về tận nhà cho bệnh nhân nếu yêu cầu. Như vậy, bệnh nhân sẽ dễ dàng và thuận tiện hơn trong việc dùng thuốc.”

Báo chí đưa tin về Trung tâm Thuốc dân tộc:

Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Thuốc dân tộc 145 hoa lan – Đơn vị đi đầu trong lĩnh vực YHCT

Sau những thông tin Cẩm nang sức khỏe 365 cung cấp và đôi lời chia sẻ từ thầy thuốc ưu tú Đức Đoan ở trên có lẽ bạn đọc cũng đã có được câu trả lời cho chính mình. Tuy nhiên, để bạn hiểu rõ hơn về Trung tâm thì chúng tôi chia sẻ thêm một số thông tin quan trọng sau.

Về đội ngũ Đông y sĩ tại Trung tâm:

Ngoài dược liệu sạch, chất lượng dịch vụ thì chất lượng đội ngũ bác sĩ cũng là một trong yếu tố quan trọng “bất thành văn” của bất cứ một phòng khám nào. Trong khi đó Trung tâm Thuốc dân tộc cơ sở 145 Hoa Lan đang là nơi hội tụ đội ngũ Y bác sĩ hàng đầu trong lĩnh vực khám chữa bệnh bằng YHCT. Có thể kể đến như:

Về cơ sở vật chất:

Trung tâm đầu tư trang thiết bị tiên tiến, hiện đại và khang trang đảm bảo chất lượng khám chữa bệnh hiệu quả và tốt nhất cho bệnh nhân.

Trung Tâm Thuốc Dân Tộc Tp Hồ Chí Minh – Hành Trình 6 Năm Chữa Bệnh Cứu Người

Về thời gian làm việc:

Buổi sáng: Từ 8h – 12h

Buổi chiều: Từ 13h30 – 17h30

Nếu bệnh nhân muốn khám chữa bệnh ngoài giờ thì có thể liên hệ trước để đặt lịch với bác sĩ.

Đặt lịch khám:

Do Trung tâm tiếp đón hàng trăm bệnh nhân mỗi ngày nên để chủ động hơn về thời gian thì bệnh nhân nên đặt lịch khám trước.

Liên hệ trực tiếp với Trung tâm để được đặt lịch khám nhanh nhất!

Quy trình thăm khám:

Bước 1: Đăng ký khám bệnh (đặt lịch trước hoặc thực hiện trực tiếp tại quầy lễ tân).

Bước 2: Bệnh nhân trao đổi thông tin về tình hình bệnh với bác sĩ. Sau đó bác sĩ sẽ bắt mạch và đưa ra kết luận cùng với tư vấn phác đồ điều trị phù hợp nhất cho bệnh nhân.

Bước 3: Bác sĩ thực hiện phương pháp trị liệu thủy châm, châm cứu, xoa bóp bấm huyệt… trực tiếp tại phòng khám (đối với bệnh nhân yêu cầu, đăng ký).

Bước 4: Bác sĩ kê đơn, bốc thuốc nếu bệnh nhân đồng ý áp dụng lộ trình điều trị theo tư vấn của bác sĩ.

Bước 5: Bác sĩ hẹn lịch tái khám để tiện thể theo dõi sức khỏe và tình hình hiệu quả của thuốc.

Chi phí:

Khám bắt mạch lần đầu: 200.000đ.

Tái khám: Miễn phí.

Ngoài ra, chi phí thuốc hay lộ trình điều trị của mỗi bệnh nhân đều khác nhau vì còn phụ thuộc vào từng thể bệnh, mức độ nặng nhẹ và khả năng hấp thu thuốc của từng bệnh nhân. Hãy đặt lịch khám gặp trực tiếp chuyên gia đầu ngành YHCT để được khám và tư vấn chi tiết hơn.

Nghiên Cứu Đột Biến Gen Egfr Trong Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ

Luận án tiến sĩ y học Nghiên cứu đột biến gen EGFR trong Ung thư phổi không tế bào nhỏ.Ung thư phổi (UTP) hiện nay đang là vấn đề đáng lo ngại trên toàn cầu với tỷ lệ UTP ngày càng tăng nhanh, tỷ lệ tử vong cao, độ tuổi mắc bệnh ngày càng giảm và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong những loại ung thư trên thế giới [52]. Theo báo cáo ung thư toàn cầu của Viện Nghiên Cứu Ung Thư Quốc Tế, cho biết năm 2012 trên thế giới UTP chiếm 1,8 triệu trường hợp (12,9%) với 1,59 triệu trường hợp tử vong (19,4%) [52], vượt lên ung thư gan đứng hàng thứ nhất. Điều đáng chú ý là ngày nay phần lớn các trường hợp UTP được phát hiện tại các nước đang phát triển, với sự gia tăng từ 31% trong tổng số UTP được chẩn đoán trên thế giới vào năm 1980 lên 55% vào thời gian gần đây [40]. Riêng tại khu vực Đông Nam Á, UTP chiếm hàng đầu của ung thư ở nam giới, với tỷ suất bệnh mới là 29,6/100.000 dân, xếp trên cả ung thư gan (21,4/100.000) và ung thư đại trực tràng (15,2/100.000). Ở khu vực này, UTP của nữ giới xếp hàng thứ tư (11,9/100.000 dân) sau ung thư vú, ung thư cổ tử cung và ung thư đại trực tràng. UTP có tiên lượng rất xấu, là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do ung thư ở cả hai giới ở Đông Nam Á (ở nam giới là 26,3/100.000 dân, ở nữ giới là 10,4/100.000) [40].

Tại Việt Nam, theo số liệu thống kê năm 2013 của bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh, hằng năm có khoảng 116.000 trường hợp mắc mới và hơn 80.000 trường hợp tử vong [4]. Khảo sát về xuất độ ung thư trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong 5 năm trở lại đây với 33.126 bệnh nhân ung thư, kết quả cho thấy trong 5 loại ung thư gặp nhiều nhất ở nữ, UTP đứng thứ tư, còn ở nam giới UTP đứng hàng thứ nhất. Qua khảo sát trên cũng cho thấy ở cả nam và nữ khi bước qua tuổi 40 thì nguy cơ mắc các bệnh ung thư cao hơn [4]. Hiện nay có nhiều loại phuơng pháp giúp xác định đột biến gen EGFR, phuơng pháp thuờng đuợc sử dụng nhiều nhất là kỹ thuật giải trình tự chuỗi DNA, các kỹ thuật khác nhu phân tích đa hình chuỗi đơn dựa trên PCR, phân tích sản phẩm PCR dựa trên tính nóng chảy, ARMS – PCR và đây là tiêu chuẩn vàng để xác định đột biến gen EGFR. Tuy nhiên muốn giải trình tự gen đòi hỏi phải có trang thiết bị hiện đại và kỹ thuật viên phải có trình độ cao. Với mong muốn tìm ra một phuơng pháp đơn giản, rẻ tiền, có thể áp dụng ở những nơi chua có kỹ thuật giải trình tự gen, chúng tôi tiến hành phuơng pháp xét nghiệm hóa mô miễn dịch (HMMD) sử dụng kháng thể đặc hiệu delE746 – A750 và L858R nhằm đánh giá biểu hiện của protein EGFR giúp cho việc phát hiện sớm đột biến EGFR nhằm giúp ích cho việc điều trị nhắm trúng đích trên UTP ở Việt nam. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài “ Khoảng hơn 80% trường hợp UTP là dạng ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN). Những khối u loại này còn được phân chia thành các loại mô bệnh học chính là carcinôm tuyến, carcinôm tế bào gai, carcinôm tế bào lớn và carcinôm gai – tuyến. Đa số UTP được phát hiện ở giai đoạn muộn, mặc dù có nhiều tiến bộ trong điều trị nhưng tỷ lệ sống còn 5 năm chỉ khoảng 10 – 15% [40]. Gần đây các nghiên cứu cho thấy rằng đột biến gen EGFR có thể dẫn đến tăng sinh bất thường và cũng như sự chuyển dạng tế bào, dẫn đến bệnh lý ác tính. Đột biến EGFR có tiên lượng xấu và khả năng đáp ứng tốt với thuốc nhắm trúng đích phân tử ức chế miền tyrosine kinase và đã được báo cáo đầu tiên năm 2004 trên những bệnh nhân có đáp ứng với genfitinib [69], [78]. Tuy vậy, đột biến gen EGFR rất đa dạng và tỷ lệ bệnh nhân có mang đột biến khác nhau giữa các chủng tộc. Tỷ lệ này xấp xỉ 3% ở người Mỹ, nhưng lên đến 32% ở người Nhật [78], 36,4% ở Hàn Quốc [18], 55% ở Đài Loan [49], 57,4% ở Thái Lan [106], đột biến cũng thường tìm thấy nhiều hơn trên bệnh nhân nữ so với bệnh nhân nam, trên bệnh nhân không có tiền căn hút thuốc lá so với người từng hút thuốc lá, đột biến hầu như chỉ gặp trên loại carcinôm tuyến, hiếm khi tìm thấy ở carcinôm gai – tuyến [70], [108]. Tỷ lệ đột biến tìm thấy trên người châu Á rất cao, phù hợp với quan sát trong những thử nghiệm lâm sàng trước đây, trong đó bệnh nhân châu Á có đáp ứng tốt hơn hẳn với thuốc điều trị đặc hiệu so với bệnh nhân Âu – Mỹ. Đột biến gen EGFR thường gặp nhất là đột biến mất đoạn xảy ra trên exon 19 chiếm khoảng 50% (thường xuyên nhất là mất đoạn E746_A750) và kế đến là đột biến điểm L858R tại exon 21 chiếm khoảng 35 – 45% (thay thế của leucine 858 bởi arginine). Các đột biến thêm đoạn trên exon 20 hay đột biến điểm trên exon 18 ít gặp hơn chiếm khoảng 5%, chính vì vậy việc xác định có hay không có đột biến gen EGFR rất quan trọng cho việc lựa chọn điều trị nhắm trúng đích cho bệnh nhân ung thu phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN).

1. Xác định tỷ lệ đột biến và các kiểu đột biến gen EGFR trong UTPKTBN bằng phuơng pháp giải trình tự gen.nghiên cứu đột biến gen EGFR trong Ung thư phổi không tế bào nhỏ” với các mục tiêu sau: 2. Xác định tỷ lệ biểu hiện protein EGFR delE746_A750 tại exon 19 và L858R tại exon 21 bằng phuơng pháp HMMD. 3. Đối chiếu kết quả kết quả nhuộm HMMD protein EGFR delE746_A750 và L858R với kết quả giải trình tự gen EGFR trong UTPKTBN.TÀI LIỆU THAM KHẢO nghiên cứu đột biến gen EGFR trong Ung thư phổi không tế bào nhỏ Tiếng Việt: 1. Tô Kiều Dung, Nguyễn Việt Cồ, Phùng Phuơng Anh (2000). “Phẫu thuật điều trị ung thu phế quản phổi tại Viện lao và bệnh phổi năm 1999”. Thông tin Y Dược, số chuyên đề ung thu 8/2000, tr. 137 – 141. 2. Nguyễn Minh Hà (2013) . Xác định đột biến gen EGFR và gen KRAS quyết định tính đáp ứng thuốc trong điều trị bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ. Luận án tiến sĩ. Đại học Y Hà Nội. 3. Trần Vân Khánh, Tạ Minh Hiếu, Trần Huy Thịnh và cộng sự (2011). “Đột biến gen EGFR, KRAS trong ung thu và liệu pháp điều trị đích”. Nghiên cứu Y học, tr. 138-148. 4. Lê Hoàng Minh, Phạm Xuân Dũng, Nguyễn Chấn Hùng (2014), “Năm ung thu hàng đầu của thành phố Hồ Chí Minh” Ung thư học Việt Nam, số 3 năm 2014, tr. 18 – 36. 5. Nguyễn Mạnh Quốc, Nguyễn Chấn Hùng và cs (1995). Ung thư phổi. Cẩm nang ung u học lâm sàng, tập 2, tr. 405 – 426. Bản dịch từ Manual of clinical Oncology, UICC 6th édition 1994. 6. Trần Minh Thông, Vuơng Gia Huy (2014) ” Đặc điểm đột biến gen EGFR của 34 bệnh nhân ung thu phổi không tế bào nhỏ tại bệnh viện Chợ Rẫy”. Y dược lâm sàng 108. Tập 9, tr. 106 – 111. 7. Nguyễn Sào Trung (2005). Bệnh học tạng và hệ thống. Nhà xuất bản Y học 1994, tr. 41 – 49. 8. Phạm Lê Anh Tuấn, Trần Vân Khánh, Tạ Minh Hiếu và cộng sự (2013). “Phát hiện đột biến gen EGFR bằng kỹ thuật giải trình tự gen và Scorpion ARMS”. Nghiên cứu Y học, 83(3), tr. 1-6 9. Bùi Chí Viết (2003), “Phẫu trị ung thư phổi nguyên phát không tế bào nhỏ”, Y học TP. Hồ Chí Minh, tập 7, phụ bản số 4, tr. 256 – 268. 10. Lê Văn Việt (2013). Khảo sát đột biến gen EGFR trong dịch màng phổi bằng kỹ thuật giải trình tự chuỗi DNA ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ”, Luận văn chuyên khoa cấp II. Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh. 11. Hoàng Anh Vũ, Cao Văn Động và cộng sự (2014). ” Đột biến gen EGFR và trên bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ”. Y Dược Học Lâm Sàng 108 -Tập 9, tr. 58-64. 12. Vũ Văn Vũ và cộng sự (2010), “Điều trị ung thư phổi giai đoạn tiến xa bằng Erlotinib. Những nhận định ban đầu nhân 10 trường hợp tại Bệnh viện Ung bướu TP.HCM”, Y học Tp. Hồ Chí Minh, 14(4), tr. 408 – 413.

MỤC LỤC nghiên cứu đột biến gen EGFR trong Ung thư phổi không tế bào nhỏ TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤCLỤC BẢNG ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ VIỆT – ANH i BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii DANH MỤC CÁC BẢNG v DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ vii DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vii DANH MỤC CÁC HÌNH viii ĐẶT VẤN ĐỀ 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4 1.1. Dịch tễ học 4 1.2. Cơ chế bệnh sinh phân tử của ung thư phổi không tế bào nhỏ 6 1.3. Đặc điểm lâm sàng 26 1.4. Xếp hạng lâm sàng theo tnm 26 1.5. Đặc điểm giải phẫu bệnh 28 1.6. Điều trị 37 1.7. Tiên lượng 40 1.8. Tình hình nghiên cứu đột biến gen EGFR và nhuộm HMMD sử dụng kháng thể đặc hiệu trong UTPKTBN tại Việt Nam 40 CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42 2.1. Đối tượng nghiên cứu 42 2.2. Phương pháp nghiên cứu 2.3. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 57 CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 58 3.1. Xác định tỷ lệ đột biến gen EGFR trong utpktbn bằng phương pháp giải trình tự gen 58 3.2. Xác định tỷ lệ biểu hiện protein EGFR DelE746_A750 và L858R bằng phương pháp HMMD 73 3.3. Đối chiếu kết quả nhuộm HMMD protein EGFR DelE746_A750 và L858R với kết quả giải trình tự gen EGFR 80 CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 85 4.1. Xác định tỷ lệ đột biến EGFR trong ung thư phổi không tế bào nhỏ 86 4.2. Biểu hiện của protein EGFR 103 4.3. Đối chiếu kết quả giữa đột biến gen EGFR với nhuộm HMMD sử dụng kháng thể đặc hiệu với đột biến E746_A750 và L858R 107 4.4. Hạn chế của đề tài 112 KẾT LUẬN 113 KIẾN NGHỊ 115 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ I TÀI LIỆU THAM KHẢO II PHỤ LỤC – DANH SÁCH BỆNH NHÂN A – PHIẾU THU THẬP SỐ LIỆU E

Ghép Tế Bào Gốc Tạo Máu

Ghép tế bào gốc tạo máu (HSC) là một kỹ thuật có những bước tiến nhanh cung cấp một phương pháp điều trị tiềm năng cho các ung thư máu (lơ xê mi, u lympho, đa u tủy xương) và các rối loạn huyết học khác (ví dụ, suy giảm miễn dịch tiên phát, thiếu máu giảm sinh, rối loạn sinh tủy). Ghép tế bào gốc tạo máu đôi khi cũng được áp dụng cho các khối u đặc (ví dụ, một số khối u tế bào mầm) đáp ứng với hóa trị liệu.

Ghép tế bào gốc tạo máu góp phần chữa bệnh bằng cách

Phục hồi tủy xương sau điều trị diệt tủy loại trừ ung thư

Thay thế tủy xương bất thường bằng tủy xương bình thường ở các rối loạn huyết học không ác tính

Ghép tế bào gốc tạo máu có thể là ghép tự thân hoặc ghép cùng loài. Tế bào gốc có thể được thu thập từ

Tủy xương

Máu ngoại vi

Máu dây rốn

Máu ngoại vi đã thay thế tủy xương như một nguồn cung cấp tế bào gốc, đặc biệt trong ghép tế bào gốc tự thân vì việc thu thập tế bào gốc dễ dàng hơn và bạch cầu trung tính, số lượng tiểu cầu hồi phục nhanh hơn. Ghép tế bào gốc tạo máu từ máu cuống rốn được giới hạn chủ yếu ở trẻ em vì có quá ít tế bào gốc trong máu cuống rốn cho một người lớn. Một nguồn tế bào gốc tiềm năng trong tương lai có thể là các tế bào gốc vạn năng (một số tế bào lấy từ người lớn và được lập trình lại để hoạt động như các tế bào gốc).

Không có chống chỉ định đối với ghép tế bào gốc tạo máu tự thân.

Ghép tế bào gốc tạo máu cùng loài bị hạn chế chủ yếu do thiếu người cho phù hợp. Người cho là anh chị em ruột trùng hoàn toàn HLA là lý tưởng, tiếp theo là người cho là anh chị em ruột có trùng HLA. Vì chỉ có một phần tư số bệnh nhân có người cho là anh chị em ruột nên người cho có cùng huyết thống không trùng hợp hoặc người cho không cùng huyết thống có trùng hợp (được xác định thông qua đăng ký quốc tế) thường được sử dụng. Tuy nhiên, tỉ lệ sống còn không bệnh của tạng ghép kéo dài có thể thấp hơn những tạng ghép được hiến từ người cho là anh chị em ruột có HLA giống nhau.

Kỹ thuật ghép tế bào gốc tạo máu từ máu cuống rốn vẫn đang được xây dựng, nhưng sự trùng hợp HLA có thể không quan trọng.

Thủ thuật

Cho thu thập tế bào gốc tủy xương, 700 đến 1500 mL (tối đa 15 mL / kg) tủy được hút ra từ mào chậu sau của người cho; sử dụng thuốc tê tại chỗ hoặc đường toàn thân.

Cho thu thập máu ngoại vi, người cho được điều trị với các yếu tố tăng trưởng tái tổ hợp (yếu tố kích thích dòng tế bào hạt hoặc yếu tố kích thích dòng tế bào hạt – đại thực bào) để kích thích tăng sinh và huy động các tế bào gốc; việc gạn tách tế bào gốc chuẩn được thực hiện 4 đến 6 ngày sau đó. Việc phân loại tế bào hoạt hóa huỳnh quang được sử dụng để xác định và tách các tế bào gốc khỏi các tế bào khác.

Các tế bào gốc sau đó được truyền từ 1 đến 2 giờ thông qua một catheter tĩnh mạch trung tâm đường kính rộng.

Chế độ điều hoà

Trước khi ghép tế bào gốc tạo máu cùng loài cho ung thư, người nhận đầu tiên được sử dụng thuốc điều hòa (ví dụ thuốc diệt tủy xương như cyclophosphamide 60 mg / kg truyền tĩnh mạch một lần / ngày trong 2 ngày kết hợp chiếu xạ toàn thân liều đầy đủ hoặc busulfan 1 mg / kg uống 4 lần/ ngày, kết hợp cyclophosphamide mà không kèm chiếu xạ toàn thân) để đạt được sự thuyên giảm bệnh và ức chế hệ miễn dịch giúp mô ghép có thể được chấp nhận.

Các phác đồ điều hòa tương tự được sử dụng trước khi ghép tế bào gốc tạo máu cùng loài, ngay cả khi ung thư không có chỉ định, để làm giảm tỷ lệ thải ghép và tái phát.

Các phác đồ điều trị như vậy không được sử dụng trước khi ghép tế bào gốc tạo máu tự thân cho ung thư, thay vào đó là các thuốc điều trị đặc hiệu với ung thư được sử dụng.

Các chế độ điều hòa không diệt tủy (chẳng hạn như cyclophosphamide, chiếu xạ tuyến ức, globulin kháng tế bào tuyến ức (ATG) và / hoặc cyclosporine) có thể làm giảm nguy cơ bệnh nặng và tử vong và có thể có ích cho các bệnh nhân cao tuổi, các bệnh nhân mắc các bệnh kèm theo và các bệnh nhân nhạy cảm với hiệu ứng mô ghép khối u (ví dụ, các bệnh nhân đa u tủy xương)

Sau ghép

Sau ghép, người nhận được sử dụng các yếu tố kích thích dòng để làm rút ngắn thời gian giảm bạch cầu sau ghép, thuốc kháng sinh dự phòng và sau ghép tế bào gốc tạo máu cùng loài HSC đồng hợp tử, cần 6 tháng sử dụng thuốc ức chế miễn dịch dự phòng (điển hình là methotrexate và cyclosporine) để ngăn các tế bào T của người cho khỏi phản ứng với các phân tử HLA người nhận (bệnh ghép chống chủ). Các kháng sinh phổ rộng thường không được dùng trừ khi có sốt.

Biến chứng

Các biến chứng của ghép tế bào gốc có thể xuất hiện sớm (<100 ngày sau ghép) hoặc sau muộn hơn. Sau ghép tế bào gốc tạo máu cùng loài, nguy cơ nhiễm trùng sẽ tăng lên.

Các biến chứng sớm

Các biến chứng sớm chủ yếu bao gồm:

Ghép thất bại

Thải ghép

Bệnh ghép chống chủ (GVHD)

Ghép thất bại và thải ghép ảnh hưởng đến < 5% số bệnh nhân và biểu hiện như giảm 3 dòng kéo dài hoặc giảm không hồi phục các tế bào máu. Điều trị bằng corticosteroid trong vài tuần.

Bệnh ghép chống chủ cấp xảy ra ở những người nhận ghép tế bào gốc tạo máu cùng loài (ở 40% người nhận mô ghép từ anh chị em ruột trùng hợp HLA và 80% những người nhận mô ghép từ người cho không cùng huyết thống). Bệnh gây sốt, nổi ban, viêm gan với tăng bilirubin máu, nôn, tiêu chảy, đau bụng (có thể tiến triển đến tắc ruột) và giảm cân.

Các yếu tố nguy cơ của bệnh ghép chống chủ cấp bao gồm

Không trùng HLA và không cùng giới tính

Người cho không cùng huyết thống

Người nhận hoặc người cho tuổi cao hoặc cả hai

Tiền mẫn cảm ở người cho

Dự phòng bệnh ghép chống chủ không đầy đủ

Chẩn đoán bệnh ghép chống chủ cấp dựa vào tiền sử, thăm khám lâm sàng, kết quả xét nghiệm chức năng gan. Điều trị bằng methylprednisolone 2 mg / kg truyền tĩnh mạch một lần / ngày, tăng lên 10 mg / kg nếu không đáp ứng trong vòng 5 ngày.

Các biến chứng muộn

Các biến chứng muộn chính bao gồm:

Bệnh ghép chống chủ mạn tính

Tái phát bệnh

Bệnh ghép chống chủ mạn tính có thể tự xảy ra, phát triển từ bệnh ghép chống chủ cấp hoặc xảy ra sau điều trị bệnh ghép chống chủ cấp. Thường xảy ra từ 4 đến 7 tháng sau ghép tế bào gốc tạo máu (khoảng từ 2 tháng đến 2 năm). Bệnh ghép chống chủ mạn tính xảy ra ở những người nhận ghếp tế bào gốc tạo máu cùng loài (khoảng 35 đến 50% người nhận mô ghép từ anh chị em ruột có trùng hợp HLA và 60 đến 70% người nhận mô ghép từ người cho không cùng huyết thống).

Bệnh ghép chống chủ mạn tính ảnh hưởng chủ yếu tới da (ví dụ, ban dạng liken, xơ cứng bì) và niêm mạc (ví dụ viêm khô kết giác mạc, viêm quanh răng, phản ứng dạng liken niệu sinh dục), nhưng nó cũng ảnh hưởng đến đường tiêu hóa và gan. Suy giảm miễn dịch là dấu hiệu chính; viêm tiểu phế quản tắc nghẽn tương tự như tình trạng sau ghép phổi có thể xuất hiện. Cuối cùng, bệnh ghép chống chủ gây tử vong ở 20 đến 40% số bệnh nhân mắc bệnh.

Điều trị có thể không cần thiết đối với bệnh ghép chống chủ chỉ ảnh hưởng đến da và niêm mạc; điều trị các trường hợp bệnh phức tạp hơn tương tự như điều trị bệnh ghép chống chủ cấp. Diệt tế bào T của các mô ghép được hiến cùng loài sử dụng các kháng thể đơn dòng hoặc gạn tách cơ học giúp làm giảm tỷ lệ và mức độ nặng của bệnh ghép chống chủ nhưng cũng làm giảm hiệu ứng mô ghép – khối u, hiệu ứng kích thích tăng sinh tế bào gốc và mô ghép đồng thời làm giảm tỷ lệ tái phát bệnh. Tỷ lệ tái phát với ghép tế bào gốc tạo máu tự thân là cao hơn do không có hiệu ứng mô ghép – khối u và vì các tế bào khối u trong tuần hoàn máu có thể được ghép. Gạn tách các tế bào khối u ngoài cơ thể trước ghép tự thân hiện đang còn nghiên cứu.

Ở những bệnh nhân không có bệnh ghép chống chủ mạn tính, tất cả các thuốc ức chế miễn dịch có thể được ngừng tại thời điểm 6 tháng sau ghép tế bào gốc tạo máu; do đó, các biến chứng muộn ở những bệnh nhân này hiếm xảy ra.

Tiên lượng

Tiên lượng sau ghép tế bào gốc tạo máu thay đổi dựa trên chỉ định và thủ thuật.

Nhìn chung, tái phát bệnh xảy ra ở

40 đến 75% người nhận ghép tế bào gốc tạo máu tự thân

10 đến 40% người nhận ghép tế bào gốc dị sinh

Tỷ lệ thành công (tủy xương không có ung thư) là

30 đến 40% đối với các bệnh nhân u lympho tái phát, nhạy cảm với hóa trị liệu

20 đến 50% đối với các bệnh nhân lơ xê mi cấp có đáp ứng

So với đơn hoá trị liệu, ghép tế bào gốc tạo máu giúp cải thiện sự sống còn của các bệnh nhân đa u tủy xương. Tỷ lệ thành công thấp đối với những bệnh nhân có bệnh tiến triển hoặc ung thư tạng đặc nhạy cảm (ví dụ, các khối u tế bào mầm). Tỉ lệ tái phát giảm ở những bệnh nhân mắc bệnh ghép chống chủ (GVHD), nhưng tỷ lệ tử vong chung tăng lên nếu bệnh ghép chống chủ trầm trọng.

Các biện pháp điều trị tích cực, điều trị dự phòng bệnh ghép chống chủ hiệu quả, biện pháp dựa trên cyclosporine và chăm sóc hỗ trợ cải tiến (ví dụ kháng sinh khi cần, dự phòng herpesvirus và cytomegalovirus) làm tăng tỷ lệ sống còn không bệnh kéo dài sau ghép tế bào gốc tạo máu.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Khoa Nghiên Cứu Và Ứng Dụng Tế Bào Gốc trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!