Đề Xuất 12/2022 # Nốt Ruồi – Dưới Góc Nhìn Của Bác Sỹ Chuyên Khoa – Family Hospital / 2023 # Top 16 Like | Growcaohonthongminhhon.com

Đề Xuất 12/2022 # Nốt Ruồi – Dưới Góc Nhìn Của Bác Sỹ Chuyên Khoa – Family Hospital / 2023 # Top 16 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nốt Ruồi – Dưới Góc Nhìn Của Bác Sỹ Chuyên Khoa – Family Hospital / 2023 mới nhất trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tất cả mọi người đều có nốt ruồi trên cơ thể, đôi khi có đến 20-40 nốt hoặc thậm chí nhiều hơn. Có một thời gian, nốt ruồi trên khóe môi được xem như một nét duyên của các chị em. Tuy nhiên, không phải tất cả các nốt ruồi đều đẹp, thậm chí nhiều nốt ruồi được bác sĩ da liễu đánh giá là nguy hiểm và cần được điều trị.

Nốt ruồi là gì?

Nốt ruồi được hình thành từ phần dưới của lớp biểu bì do sự phân bố không đồng đều của các tế bào melanocytes, làm tăng sắc tố da. Thông thường, chúng là những chấm đen hoặc nâu, với hình tròn hoặc bầu dục (Đôi khi chúng cũng có những dạng bất thường), kích thước dao động từ vài mm đến vài cm

Đa phần các nốt ruồi an toàn và lành tính. Tuy nhiên, đôi khi, nốt ruồi là dấu hiệu tiềm ẩn của ung thư hắc tố bào.

Ung thư hắc tố bào chỉ chiếm 1% trong tất cả các trường hợp ung thư da ở Mỹ nhưng gây ra hầu hết các trường hợp tử vong do ung thư da.

(Nguồn: https://www.cancer.net/cancer-types/melanoma/statistics)

A: Asymmetry: Nốt ruồi không cân xứng

B: Border irregularity: Nốt ruồi có ranh giới khó xác định.

C: Color changes: Nốt ruồi có sự thay đổi màu sắc, màu sắc bất thường.

E: Evolving: Nốt ruồi tiến triển

Phương pháp điều trị Đa phần mọi người thường tìm đến các phương pháp điều trị xóa nốt ruồi vì lý do thẩm mỹ, phong thủy, hoặc những nốt ruồi gây trở lại cho sinh hoạt (ví dụ thường xuyên bị cọ sát bởi quần áo, lược, dao cạo râu, …). Trong nhiều trường hợp, các bác sĩ da liễu sẽ chỉ định điều trị nốt ruồi nếu đánh giá khả năng nốt ruồi sẽ phát triển theo chiều hướng ác tính.

Bác sĩ sẽ phẫu thuật cắt bỏ, sau đó, khâu thẩm mỹ.

2. Với các nốt ruồi nhỏ hơn:  

Bác sĩ da liễu có thể dùng sóng điện cao tần hay tia laser CO2 để đốt nốt ruồi, sau đó chấm thuốc sát khuẩn và chỉ định dùng kháng sinh chống bội nhiễm vi trùng. Tổn thương sẽ lành sau 7-10 ngày, để lại vết nhạt màu mất dần sau khoảng 2 tháng.

Ngoài ra, đối với các nốt ruồi phẳng so với mặt da, bác sĩ còn có thể dùng các loại laser màu như  Lazer Q_Swtched Nd – YAG để điều trị giảm bớt sắc tố. 

Bệnh Suy Giáp – Family Hospital / 2023

Ở các nước phát triển, nguyên nhân suy giáp chủ yếu do bệnh viêm tuyến giáp Hashimoto, điều trị quá liều phóng xạ iod hay sau mổ cắt tuyến giáp. Một số nguyên nhân khác, ngày càng nhiều, như dùng thuốc làm giảm chức năng tuyến giáp, đặc biệt là trong trường hợp dùng thuốc chống loạn nhịp tim như amiodarone.

Các nguyên nhân hiếm gặp hơn như tình trạng khiếm khuyết tổng hợp hormone tuyến giáp do di truyền, bao gồm khiếm khuyết sản xuất men peroxidase và thyroglobuline.

Các rối loạn phát triển tuyến giáp ở trẻ em bao gồm giảm sản hay thiểu sản tuyến giáp. Các rối loạn tại thần kinh trung ương do bệnh lý của tuyến yên hay vùng hạ đồi mà hậu quả là giảm TSH hay TRH. Đề kháng hormone tuyến giáp ở ngoại biên mà nguyên nhân có thể do giảm receptor cũng đã được mô tả.

1. Bướu giáp cộng đồng (endemic goiter)

Thiếu hụt iod có thể đưa đến một bệnh lý mà ta có thể phòng ngừa được đó là bướu giáp dịch tể, mà trong vài trường hợp có thể đưa đến chứng đần độn cộng đồng. Số lượng bệnh nhân có thể đến 1/3 dân số thế giới, đặc biệt là ở các nước kém phát triển.mà nguyên nhân là do thiếu hụt iod, và khoảng 12 triệu người bị tình trạng đần độn cộng đồng.

Các nước Châu Á như Ấn Độ, Indonesia, Trung Quốc là những vùng có số người bị nguy cơ thiếu hụt Iod cao nhất trên thế giới, ít hơn là các nước Châu Âu như Italy, Tây Ban Nha, Hungary, Ba Lan và Nam Tư…Trong các vùng thiếu hụt Iod nặng, triệu chứng lâm sàng của bướu giáp xuất hiện ở độ tuổi rất trẻ. Tần suất tăng đặc biệt cao ở độ tuổi mới lớn hay dậy thì. Tần suất giảm ở độ tuổi trưởng thành; đặc biệt cao ở nữ giới.

2. Hậu quả của chuyển hóa do thiếu hụt Iod

Thay đổi sinh lý mạn tính do tình trạng thiếu hụt iod ảnh huởng đến một số thay đổi rõ rệt về cơ thể học và chuyển hóa. Sự giảm hấp thu iod lâu ngày có thể dẫn đến giảm sản xuất T3 và T4. Hậu quả là làm tăng từ từ sự thanh thải Iod ở tuyến giáp và giảm tiết ở thận. Do sự giảm sản xuất T3 hay gặp hơn T4 nện làm tăng quá trình chuyển T4 thành T3 ở ngoại vi.

Do sự sản xuất T3 và thanh thải các hormone hoạt hóa chuyển hóa có hiệu lực, tình trạng suy giáp lâm sàng có thể tránh khỏi phần lớn các TH mà các xét nghiệm sinh hóa cho thấy giảm T4, tăng TSH và T3 gần ở mức bình thường. Trong các TH nặng, T3 và T4 có thể thấp, TSH cao. Trong tình huống này triệu chứng lâm sàng của suy giáp có thể xảy ra.

Cùng với sự thay đổi về sinh lý do thiếu hụt Iod, phì đại tuyến giáp cũng có thể xảy ra. Các nang giáp phì đại, khoảng trống giữa các nang giảm. Khi thiếu hụt Iod nặng hơn, các nang trở nên bất hoạt và bị tràn ngập bởi các chất keo. Một số vùng có hiện tượng tăng sinh hạt và phát triển thành các nhân, một số thành nhân nóng và tự hoạt động, những nang khác thì bất hoạt và trì trệ. Hoại tử, xơ hóa hay xuất huyết có thể xảy ra tạo ra các tổ chức xơ. Tất cả các rối loạn này thường có sự phì đại của tuyến giáp và thường là không đồng nhất.

3. Suy giáp sau xạ trị

Suy giáp lâm sàng có thể từ quá trình điều trị phóng xạ Iod 131. Phương pháp điều trị này ngày càng phổ biến cho những bệnh nhân cường giáp, trong đó có bệnh Graves. Khoảng 50-70% các TH nhận liều điều trị hơn 10mCi có thể có biểu hiện suy giáp. Đối với những bệnh nhân này, theo dõi chức năng tuyến giáp hằng năm là cần thiết.

Xạ trị ngoài trên những bệnh nhân Lymphôm trung thất hay ung thư đầu mặt cổ có thể gây ra suy giáp tiền lâm sàng. Điều đó rất quan trọng đối với những bệnh nhân đã được cắt tuyến giáp trước đó do bệnh lý tuyến giáp lành tính hay ác tính.

4. Suy giáp sau mổ

Phẫu thuật cắt tuyến giáp cho những bệnh nhân cường giáp hay bệnh Graves cũng là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy giáp. Cắt gần hết tuyến giáp hay trọn tuyến giáp có thể dẫn đến suy giáp sau mổ. Khả năng suy giáp vĩnh viễn xảy ra sau mổ phụ thuộc vào kỹ năng của phẫu thuật viên và khối lượng tuyến giáp bị cắt. Khả năng tổn thương thần kinh quặt ngược, hay suy tuyến phó giáp tăng dần với khối lượng tuyến giáp bị cắt. Các yếu tố khác tác động đến tình trạng suy giáp sau mổ bao gồm dùng thuốc kháng giáp, chế độ ăn kiêng iod và sự xâm nhập nang lympho (lymphocytic) ở mô giáp còn lại.

5. Suy giáp do thuốc

5.1. Cytokines

Tác động của các cytokines trên viêm tuyến giáp có thể là nguyên nhân sinh bệnh và làm nặng thêm quá trình bệnh lý. Tác động chính xác của các cytokines trên bệnh lý viêm giáp Hashimoto là không rõ. Chỉ biết rằng, dùng interferon-alfa hay interleukin-2 điều trị một số bệnh lý ác tính có thể gây suy giáp và có thể hồi phục khi ngưng thuốc.

Đây là điểm quan trọng cho các bệnh nhân viêm giáp Hashimoto và cần khai thác bệnh sử kỹ trên những bệnh nhân này.

5.2. Lithium

Điều trị một số rối loạn tâm thần đặc biệt là trầm cảm sợ hãi. Lithium có thể ức chế con đường tạo hormone phụ thuộc chu trình AMP. Suy giáp gặp nhiều trên những bệnh nhân Hashimoto dùng Lithium, mặc dù có thể gặp ở những bệnh nhân bình giáp.

5.3. Amiodarone

Điều trị hiệu quả trên những bệnh nhân rối loạn nhịp thất. Thuốc này chứa iod ở mức có thể làm nặng rối loạn chức năng tuyến giáp. Dùng thuốc kéo dài có thể gây viêm tuyến giáp và hậu quả là cường giáp và theo sau là tình trạng suy giáp thoáng qua. Tình trạng viêm giáp này thường kết hợp với tăng interleukine-6 huyết thanh, gợi ý quá trình đáp ứng viêm với cytokine. Rối loạn chức năng tuyến giáp nặng có thể xảy ra trên những bệnh nhân dùng amidarone đặc biệt là những bệnh nhân có tiên căn viêm giáp Hashimoto.

5.4. Thuốc kháng giáp

Các thuốc kháng giáp thông thường (carbimazole, methimazole, PTU) đều có thể gây suy giáp. Theo dõi cẩn thận những bệnh nhân dùng các loại này và biết được diễn tiến bệnh do chúng gây ra là bắt buộc khi theo dõi điều trị các bệnh nhân này.

5.5. Kháng hormone TG ở mô ngoại vi

Rối loạn có tính chất di truyền : kháng hormone TG ở mô ngoại vi có thể do bất thường receptor TG. Bất thuờng chức năng các receptor này có thể gây ra tình trạng suy giáp lâm sàng với tăng các hormone TG huyết thanh. Hai loại receptor là TR-α và TR-β được qui định trên 2 gen ở nhiễm sắc thể 17 và 3. Đột biến gen TR-β có vẻ như là nguyên nhân của hiện tượng này. TR-α có vẻ như không bị tác động bởi sự đột biến gen này.

6. Dấu hiệu lâm sàng và chẩn đoán suy giáp

Quá trình phát triển của thai và trẻ sơ sinh được bảo vệ khỏi tình trạng suy giáp nhờ sự thấm qua nhau thai của T4. Sau sinh, sự suy giảm chức năng TG nếu kéo dài có thể ảnh hưởng đến sự phát triển một cách rõ rệt và đôi khi không hồi phục : lớn chậm, chậm phát triển tâm thần, còi cọc.

Đây có thể được xem là hội chứng đần độn (cretinism). Trong thời kỳ cuối của tuổi vị thành niên, suy giáp có thể gây ra giảm khả năng trí tuệ nhưng không hẳn là chậm phát triển tâm thần. Các dấu hiệu thực thể như sa trực tràng, chướng bụng hay thoát vị rốn cũng có thể xảy ra. Trong độ tuổi thanh niên, đây là tình trạng suy giáp thanh niên.

Ở độ tuổi trưởng thành, suy giáp tự nhiên thường xảy ra ở phụ nữ (80%) và diễn tiến âm thầm kết hợp với suy giảm chậm và từ từ chức năng. Trong đa số các TH, diễn tiến này gây ra bởi viêm tuyến giáp dạng nang bạch huyết (lymphocystic). Triệu chứng kinh điển là mệt, đau đầu, tăng cân, da khô, lông tóc dòn, và vọp bẻ. Diễn tiến nặng của bệnh có thể biểu hiện bệnh lý tim mạch như cao huyết áp, tràn dịch màng ngoài tim, tràn dịch màng phổi. Chướng bụng và táo bón là triệu chứng nặng của suy giáp. Thiếu máu gặp khoảng 12% TH.

7. Chẩn đoán

Đối với những bn có triệu chứng mệt mỏi, táo bón hay những bất thường về tim mạch, định lượng các hormone TG là cần thiết. Giảm T3 và T4, tăng TSH và cholesterol là các XN kinh điển.

8. Điều trị

L-thyroxine an toàn và hiệu quả. Liều 100μg đường uống có tác dụng hiệu quả đối với các thay đổi rộng về trọng lượng cơ thể người lớn và chỉ số cơ thể (BMI). Bn suy giáp nặng cần theo dõi sát và bắt đầu tăng liều từ từ do sự nhạy cảm của hormone như là hậu quả của sự thiếu hụt lâu dài của các catecholamines trên cơ tim.

Bệnh Co Thắt Tâm Vị – Family Hospital / 2023

– Người bệnh thường có diễn biến từ từ, ít cấp tính với các biểu hiện cơ năng:

+ Đau ngực sau xương ức hoặc cảm giác đè ép ở ngực nhất là sau khi nuốt.

+ Nuốt khó, cảm giác ứ lại ở vùng ngực, người bệnh phải uống thêm nước khi ăn. Nuốt khó xuất hiện thất thường lúc có lúc không.

+ Cảm giác nghẹn, ợ, trào ngược thức ăn xuát hiện sau ăn, khiến bệnh nhân có cảm giác sợ ăn

– Khi khám thực thể: có thể gặp tình trạng gày, suy kiệt do ăn kém. Nếu đặt ống nghe ở múi ức có thể nghe thấy tiếng nuốt ừng ực khi uống nước do tâm vị bị co thắt, nước đi qua chỗ hẹp nên phát ra tiếng động

Một số các xét nghiệm giúp chẩn đoán bệnh co thắt tâm vị

– Chụp Xquang thực quản uống thuốc cản quang Baryte:

+ Lòng thực quản giãn rộng nhu động kém; thành thực quản vẫn nhẵn, phẳng

+ Phần thực quản – tâm vị thuôn nhỏ lại như đuôi củ cải (hình đầu bút chì) nhưng vẫn rõ nét, đều đặn.

– Nội soi thực quản dạ dày:

+ Thực quản giãn rộng, đọng thức ăn cũ, mới, nhiều nước

+ Niêm mạc thực quản thường xung huyết, trợt thậm trí loét

+ Nội soi giúp phát hiện nguyên nhân gây giãn thực quản như ung thư tâm vị, thoát vị hoành, khối u trung thất đè vào thực quản… để chẩn đoán phân biệt.

+ Cơ thắt thực quản dưới co thắt chặt, máy nội soi đi qua rất vướng, khó khăn

Một số phương pháp điều trị bệnh co thắt tâm vị     

Điều chỉnh chế độ ăn:

Cần duy trì chế độ ăn phù hợp như ăn thức ăn lỏng đủ calo, ăn nhiều lần trong ngày, ưỡn cổ ra phía sau khi nuốt, thở ra mạnh để thức ăn dễ đi xuống, uống nước ấm nóng…, hạn chế ăn nhiều vào tối trước đi ngủ, đề phòng trào ngược khi nằm ngủ.

Không uống rượu, không hút thuốc, hạn chế các loại thực phẩm có nhiều gia vị, hành tỏi, không nên uống nước lạnh, ….

Chế độ điều trị bằng dùng thuốc:

Thuốc an thần (seduxen…), thuốc giảm co thắt (Spasmaverin, Nospa…), thuốc giãn cơ thắt thực quản dưới (chẹn kênh canxi, isosorbit dinitrat…), truyền đạm, máu khi suy kiệt…

Tiêm độc tố Botulinum

Đây là loại độc tốc lấy từ vi khuẩn độc thịt trực tiếp vào cơ thắt thực quản dưới dưới nội soi, chất này thường được dùng trong thẩm mỹ, làm đẹp vì tác dụng căng da mặt. Bolulium có tác dụng làm giãn tạm thời cơ thắt thực quản dưới, hết nuốt nghẹn.

Các biện pháp tâm lý liệu pháp: thiền, Yoga, giải stress,…

Điều trị can thiệp bằng nội soi:

Nong lỗ tâm vị khi có hẹp bằng nóng hơi, hiện nay đây là phương pháp hay được áp dụng nhất trên thế giới. Người ta dùng 1 bóng hơi có đồng hồ đo áp lực, đưa vào lòng thực quản qua máy sội soi. Tiến hành bơm căng bóng hơi giúp làm giãn tối đa cơ thắt thực quản dưới, có thể xé rách cơ thắt gây mất tác dụng co thắt. Phương pháp nên được tiến hành một số lần để đạt hiệu quả tối đa.

Bằng nội soi có thể dùng dao cắt trong niêm mạc thực quản đoạn 1/3 dưới, tạo đường hầm rồi cắt đứt cơ thắt dưới thực quản, đây là phương pháp mới nhất hiện nay trên thế giới, đòi hỏi trình độ kỹ thuật của bác sĩ nội soi phải rất cao.

Điều trị bằng phẫu thuật ngoại khoa:

Phẫu thuật nội soi hoặc mổ mở ngực – bụng (phương pháp Heller), phương pháp này được áp dụng khi các biện pháp điều trị nội khoa và nội soi không đạt kết quả. Tuy nhiên cũng có một số biến chứng và phụ thuộc vào kinh nghiệm của bác sĩ phẫu thuật.

Phác Đồ Điều Trị Ung Thư Tuyến Giáp Chi Tiết Nhất Của Bác Sỹ Chuyên Khoa / 2023

1. Phác đồ điều trị ung thư tuyến giáp thể nhú 

Thể nhú là thể ung thư tuyến giáp phổ biến nhất, chiếm 70-80% tỉ lệ người mắc ung thư tuyến giáp. Ung thư tuyến giáp thể nhú phát triển tương đối chậm và ít di căn và thường chỉ di căn gần. 

1.1. Phương pháp điều trị thường áp dụng 

Phẫu thuật là phương pháp điều trị có xâm lấn thường được áp dụng để điều trị ung thư tuyến giáp ở thể nhú. Thông qua việc phẫu thuật, các khối u sẽ bị loại bỏ ra khỏi tuyến giáp, giúp người bệnh không còn bị các cơn đau hành hạ, đồng thời hạn chế được nhiều biến chứng nguy hiểm không mong muốn. 

Căn cứ vào tốc độ phát triển của khối u tuyến giáp mà các bác sĩ sẽ có phương án phẫu thuật phù hợp.

Với những khối u rất nhỏ, bệnh nhân không nhất thiết phải phẫu thuật ngay lập tức mà có thể được theo dõi, giám sát tình trạng bệnh bằng biện pháp siêu âm.

Với những khối u nhỏ không lan ra bên ngoài tuyến giáp có thể được chỉ định bằng cách cắt bỏ một một thùy và eo giáp trạng có chứa khối u. 

Với những khối u lớn không lan ra bên ngoài tuyến giáp sẽ được chỉ định phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tuyến giáp.

Một số trường hợp di căn hạch cổ, bệnh nhân sẽ được chỉ định phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tổ chức hạch bạch huyết quanh tuyến giáp.

Lưu ý: Các khối u tuyến giáp phải được lấy ra hoàn toàn trong lần phẫu thuật đầu tiên. Nếu có sai sót phải phẫu thuật lại, tỷ lệ biến chứng sẽ rất cao.

Phác đồ điều trị ung thư tuyến giáp bằng các tia phóng xạ gây ảnh hưởng trực tiếp đến các tế bào xung quanh nên cân nhắc trước khi điều trị.

1.2. Điều trị sau phẫu thuật

Sau phẫu thuật, bệnh nhân vẫn phải tiếp tục điều trị để loại bỏ các tế bào ung thư tuyến giáp còn sót lại một cách triệt để, ngăn không cho bệnh tái phát. Việc điều trị sau phẫu thuật cũng phụ thuộc vào từng giai đoạn của bệnh.

Điều trị ung thư tuyến giáp bằng iốt phóng xạ

Ung thư tuyến giáp thể nhú giai đoạn 1 và 2:

Mặc dù tỷ lệ chữa khỏi ung thư tuyến giáp ở thể nhú giai đoạn 1 và giai đoạn 2 bằng phẫu thuật là rất cao. Tuy nhiên, nếu các bác sĩ phát hiện ra dấu hiệu ung thư tuyến giáp quay trở lại thì việc điều trị bằng điều trị bằng i ốt phóng xạ (RAI) sẽ được đưa ra.

Ung thư tuyến giáp thể nhú giai đoạn 3 và 4: 

Ở giai đoạn 3 và 4 tế bào ung thư đã lan ra các hạch bạch huyết ở lân cận tuyến giáp hoặc các khu vực xa trong cơ thể. Việc phẫu thuật chỉ giúp loại bỏ được các khối u chính, không loại bỏ được hết các tế bào ung thư.

Chính vì vậy, sau phẫu thuật bệnh nhân sẽ được áp dụng liệu pháp RAI để loại tiêu diệt bất kỳ mô tuyến giáp và tế bào ung thư nào còn sót lại trong cơ thể. Các khu vực lan truyền xa không đáp ứng được RAI sẽ được điều trị thay thế bằng xạ trị chùm tia ngoài, điều trị trúng đích hoặc hóa trị liệu.

1.3. Thuốc uống hỗ trợ 

Những bệnh nhân đã phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp sẽ phải uống thuốc nội tiết tố tuyến giáp levothyroxine hàng ngày để bổ sung lượng hormone bị thiếu hụt do tuyến giáp tiết ra. Nếu người bệnh đang trong giai đoạn điều trị RAI, các bệnh nhân sẽ phải ngừng uống levothyroxine cho đến khi việc điều trị iốt phóng xạ kết thúc. 

1.4. Xử lý khi ung thư tái phát sau quá trình điều trị

Ung thư tuyến giáp ở thể nhú có thể tái phát sau quá trình điều trị. Do đó, bệnh nhân nên đi kiểm tra sức khỏe định kỳ với tần suất 3 tháng/lần để sớm phát hiện ra bệnh và có phương án khắc phục kịp thời. Thông thường sự tái phát của ung thư tuyến giáp ở thể nhú có thể tìm thấy thông qua các xét nghiệm máu, siêu âm, hoặc quét radioiodine.

Việc điều trị ung thư tuyến giáp ở thể nhú tái phát sẽ phụ thuộc chủ yếu vào nơi ung thư đang phát triển.

Ung thư quay trở lại ở cổ

Nếu khối u xuất hiện khi làm xét nghiệm sinh thiết và kích thước khối u nhỏ có thể cắt bỏ, phương pháp phẫu thuật sẽ được áp dụng.

Nếu khối u xuất hiện khi quét radioiodine chứng tỏ các tế bào đang sử dụng i ốt, phương pháp i ốt phóng xạ (RAI) sẽ được sử dụng một mình hoặc phẫu thuật.

Nếu ung thư không xuất hiện trên quét radioiodine nhưng lại được tìm thấy bằng các xét nghiệm hình ảnh khác như chụp cộng hưởng từ MRI hoặc PET thì có thể sử dụng bức xạ bên ngoài để điều trị.

Nếu ung thư lan rộng ra các cơ quan khác và các phương pháp điều trị như RAI, chiếu chùm tia xạ ngoài, không có hiệu quả như mong đợi thì các loại thuốc điều trị nhắm mục tiêu như sorafenib (Nexavar) và lenvatinib (Lenvima) sẽ được sử dụng thử.

Ung thư di căn xương

Liệu pháp bisphosphonate hoặc denosumab có thể được xem xét.

Ung thư tuyến giáp thể nang là thể ung thư tuyến giáp phổ biến thứ 2, chiếm khoảng 10-15% tổng số ca bệnh ung thư tuyến giáp. Ung thư tuyến giáp thể nang phát triển tương đối chậm nhưng so với ung thư tuyến giáp thể nhú, tốc độ phát triển của bệnh vẫn nhanh hơn và có xu hướng di căn xa hơn, có thể di căn vào xương. 

2.1. Phương pháp điều trị thường áp dụng 

Thông thường, khi không rõ khối u tuyến giáp có phải là ung thư nang hay không, các bác sĩ sẽ tiến hành sinh thiết FNA để chẩn đoán. Theo thống kê, chỉ có khoảng 2 trong số 10 khối u nang sẽ thực sự trở thành ung thư. Khi xác định được khối u nào đã trở thành ung thư, phẫu thuật cắt bỏ một nửa tuyến giáp có khối u (cắt thùy) hoặc cắt toàn bộ tuyến giáp sẽ được chỉ định. 

Phẫu thuật cắt thùy: thực hiện khi khối u nang nhỏ.

Phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp: thực hiện khi khối u có hiện tượng lan rộng hoặc bệnh nhân không muốn phẫu thuật nhiều lần sau đó. 

Phẫu thuật loại bỏ hạch bạch huyết xung quanh tuyến giáp: thực hiện khi ung thư đã lan ra các hạch bạch huyết lân cận.

2.2.

Phác đồ điều trị ung thư tuyến giáp

 sau phẫu thuật

Điều trị sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp ở thể nang có thể bao gồm các liệu pháp điều trị như: 

Điều trị bằng iốt phóng xạ (RAI):

Quét radioiodine sẽ được thực hiện sau khi phẫu thuật để tìm kiếm các khu vực có tế bào tuyến giáp vẫn sử dụng i ốt. Sau khi xác định được vị trí, để hạn chế tình trạng ung thư lây lan đến các hạch bạch huyết gần đó và các vị trí xa, liệu pháp điều trị bằng i ốt phóng xạ sẽ được chỉ định. 

Liệu pháp hormon:

Dùng thêm thuốc hormone tuyến giáp để bổ sung lượng hormon bị thiếu. 

Liệu pháp xạ trị chùm tia ngoài:

Đối với các tế bào ung thư không hấp thụ i ốt, liệu pháp xạ trị bằng chùm tia ngoài sẽ được áp dụng để tiêu diệt các khối u còn sót lại, đồng thời ngăn chặn chúng tái phát ở cổ. Liệu pháp này cũng áp dụng cho các trường hợp ung thư đã lan đến các khu vực xa như phổi hoặc gan.

Phác đồ điều trị ung thư tuyến giáp sử dụng các chùm tia năng lượng cao có thể làm ảnh hưởng cả đến các tế bào khỏe mạnh chung quanh nên cần đặc biệt chú ý.

Điều trị nhắm mục tiêu bằng sorafenib (Nexavar) hoặc lenvatinib (Lenvima):

Áp dụng khi liệu pháp RAI hoặc xạ trị bằng chùm tia ngoài không có hiệu quả.

Thử nghiệm lâm sàng:

Trong trường hợp tất cả các liệu pháp đều không mang lại hiệu quả như mong đợi, các bệnh nhân vẫn còn hy vọng điều trị khi tham gia vào một thử nghiệm lâm sàng các phương pháp điều trị hoặc hóa trị mới hơn.

2.3. Thuốc uống hỗ trợ 

Vì tuyến giáp bị cắt bỏ, nên sau khi phẫu thuật, bệnh nhân cần phải dùng đến liệu pháp hormon tuyến giáp để bổ sung cho lượng hormone thiếu hụt do tuyến giáp tiết ra.

Bệnh nhân sẽ phải sử dụng thuốc hormone tuyến giáp (levothyroxine) từ sau khi mổ đến hết đời. Liều thuốc hormone phụ thuộc vào giai đoạn bệnh.

Ngoài ra, bệnh nhân cũng phải sử dụng thêm thuốc ức chế kinase phân tử nhỏ (sorafenib, sunitinib hoặc pazopanib) để ức chế tế bào ung thư phát triển. 

Thuốc bổ sung hormone tuyến giáp

2.4. Xử lý khi ung thư tái phát sau quá trình điều trị 

Giống như ung thư tuyến giáp ở thể nhú, ung thư tuyến giáp ở thể nang cũng có thể tái phát lại và sự tái phát có thể được tìm thấy bằng các xét nghiệm máu, xét nghiệm hình ảnh hoặc quét radioiodine. Việc điều trị cũng phụ thuộc vào vị trí tái phát. 

Ung thư quay trở lại cổ 

Phẫu thuật: Thực hiện trong trường hợp khối u có thể cắt bỏ. 

Liệu pháp iốt phóng xạ: Thực hiện khi các tế bào tuyến giáp còn sót lại có phản ứng hấp thụ radioiodine. 

Bức xạ bên ngoài: Thực hiện khi các tế bào ung thư không xuất hiện trên quét radioiodine nhưng được tìm thấy bằng các xét nghiệm hình ảnh khác (như quét MRI hoặc PET).

Liệu pháp nhắm mục tiêu: thuốc sorafenib (Nexavar) và lenvatinib (Lenvima) sẽ được dùng thử khi ung thư đã lan đến một số nơi và RAI không hữu ích.

Hóa trị và tham gia vào một thử nghiệm lâm sàng: Tìm ra phương pháp điều trị mới hơn khi tất cả các phương pháp điều trị trên không cho hiệu quả.

Ung thư di căn xương

Đối với di căn xương, các lựa chọn ở trên và liệu pháp bisphosphonate hoặc denosumab có thể được xem xét.

3. Phác đồ điều trị ung thư tuyến giáp thể tủy

Ung thư giáp thể tủy là một trong những dạng tương đối hiếm, chỉ chiếm khoảng 5% tổng số ca ung thư tuyến giáp được ghi nhận. 

Tế bào ung thư tuyến giáp thường xuất hiện các hạch di căn ở loại ung thư này

3.1. Phương pháp điều trị thường áp dụng 

Với ung thư tuyến giáp ở thể tủy phẫu thuật cũng là phương pháp được sử dụng chủ yếu. Ngoài phẫu thuật, hóa trị và điều trị nội tiết cũng có thể được sử dụng.

Phẫu thuật: Áp dụng trong trường hợp ung thư thể tủy thường có di căn hạch ở giai đoạn sớm, nên tiến hành phẫu thuật cắt tuyến giáp toàn phần kèm theo vét hạch. và chi phí điều trị bệnh ung thư tuyến giáp sẽ giảm.

Hóa trị và điều trị nội tiết: Ít được áp dụng. 

Hầu hết các bác sĩ thường khuyên bệnh nhân được chẩn đoán mắc ung thư tuyến giáp thể tủy nên kiểm tra các khối u khác thường thấy ở bệnh nhân bị hội chứng MEN2, chẳng hạn như pheochromocytoma và khối u tuyến cận giáp. Việc kiểm tra này có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì với những bệnh nhân mắc pheochromocytoma, gây mê và phẫu thuật có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng của người bệnh. Do đó, nếu các bác sĩ phát hiện ra các khối u này, bệnh nhân sẽ được điều trị bằng thuốc trước để việc phẫu thuật diễn ra an toàn hơn.

3.2.

Phác đồ điều trị ung thư tuyến giáp sau phẫu thuật

Tùy thuộc vào giai đoạn tiến triển của bệnh mà các bác sĩ sẽ có phương pháp điều trị ung thư tuyến giáp sau phẫu thuật phù hợp.

Giai đoạn I và II

Ở giai đoạn này cắt toàn bộ tuyến giáp và tổ chức cắt bỏ toàn bộ các hạch bạch huyết lân cận là hai phương pháp điều trị chính. Liệu pháp hormone vẫn được áp dụng nhưng chỉ có ý nghĩa cung cấp đủ hormone còn thiếu, giúp cho bệnh nhân khỏe mạnh, không có nhiều công dụng trong việc làm giảm nguy cơ ung thư quay trở lại. Mặt khác, vì các tế bào ung thư tuyến giáp thể tủy không hấp thụ i ốt phóng xạ nên liệu pháp RAI không được sử dụng.

Phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp

Giai đoạn III và IV

Phẫu thuật: Được thực hiện giống như giai đoạn I và II.

Liệu pháp hormon: Được chỉ định ngay sau phẫu thuật để bổ sung lượng hormon tuyến giáp bị thiếu.

Liệu pháp xạ trị chùm tia bên ngoài: Được chỉ định khi khối u lan rộng và xâm lấn nhiều mô gần tuyến giáp. Liệu pháp này sẽ làm giảm nguy cơ tái phát ung thư ở cổ.

Thuốc nhắm mục tiêu: andetanib (Capreba), cabozantinib (Cometriq) được chỉ định khi bệnh nhân không thể áp dụng các liệu pháp điều trị trên.

Hóa trị và thử nghiệm lâm sàng: Áp dụng cho những bệnh nhân ung thư khó điều trị, hoặc cần phương pháp điều trị mới hơn. 

3.3. Thuốc uống hỗ trợ 

Các loại thuốc uống hỗ trợ điều trị bệnh bao gồm thuốc bổ sung hormone tuyến giáp, thuốc vandetanib, cabozantinib và thuốc ức chế kinase phân tử nhỏ (sorafenib hoặc sunitinib).

3.4. Xử lý khi ung thư tái phát sau quá trình điều trị 

Nếu ung thư tuyến giáp ở thể tủy tái phát ở cổ hoặc ở các nơi khác sau phẫu thuật. Các biện pháp điều trị bệnh sẽ bao gồm, phẫu thuật, xạ trị, trị liệu nhắm mục tiêu. Hóa trị và thử nghiệm lâm sàng cũng có thể là một lựa chọn. 

4. Phác đồ điều trị ung thư tuyến giáp thể không biệt hoá

Thể không biệt hóa là thể cực kỳ của ung thư tuyến giáp, phát triển nhanh và có tính xâm lấn mạnh, nên mục đích điều trị và phác đồ điều trị sẽ có sự khác biệt.

Tế bào ung thư di căn sang các bộ phận khác của cơ thể.

Mục đích điều trị

Hạn chế tốc độ lây lan của các tế bào ung thư, kéo dài sự sống cho người bệnh.

Phác đồ điều trị

Ở giai đoạn này, phẫu thuật và RAI thường không có nhiều ý nghĩa trong mặt điều trị. Bệnh chủ yếu được điều trị bằng hóa trị, xạ trị và dùng thuốc nhắm mục tiêu.

Trường hợp ung thư phát triển chèn ép ống khí quản, gây ra hiện tượng khó thở, bệnh nhân sẽ được phẫu thuật mở khí quản, giúp bệnh nhân dễ thở hơn.

Trường hợp ung thư đã lan rộng, bệnh nhân chỉ có thể được điều trị bằng hóa trị.

Trường hợp các tế bào ung thư có những thay đổi nhất định trong gen BRAF hoặc NTRK điều trị bằng thuốc nhắm mục tiêu dabrafenib (Tafinlar) và trametinib (Mekinist) hoặc larotrectinib (Vitrakvi) sẽ được chỉ định.

Các thử nghiệm lâm sàng và phương pháp điều trị mới cũng có thể là một lựa chọn để điều trị ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa.

Thông thường, ung thư tuyến giáp có thể được điều trị thành công nếu như phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Tùy thuộc vào tình trạng của bệnh và sức khỏe của bệnh nhân mà các bác sĩ sẽ có phác đồ điều trị ung thư tuyến giáp phù hợp. 

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nốt Ruồi – Dưới Góc Nhìn Của Bác Sỹ Chuyên Khoa – Family Hospital / 2023 trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!