Đề Xuất 2/2023 # Phương Pháp Điều Trị Ung Thư Gan Thành Công Bằng Hạt Vi Cầu Phóng Xạ # Top 2 Like | Growcaohonthongminhhon.com

Đề Xuất 2/2023 # Phương Pháp Điều Trị Ung Thư Gan Thành Công Bằng Hạt Vi Cầu Phóng Xạ # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phương Pháp Điều Trị Ung Thư Gan Thành Công Bằng Hạt Vi Cầu Phóng Xạ mới nhất trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

GS.TS Mai Trọng Khoa, Phó Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu cho biết, hiện nay số lượng người mắc bệnh ung thư gan ở Việt Nam đang có xu hướng tăng cao. Vì vậy, nhu cầu điều trị ung thư gan rất lớn và là thách thức lớn của ngành y tế.

Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã áp dụng thành công phương pháp mới điều trị ung thư gan bằng hạt vi cầu phóng xạ. Đây là kỹ thuật an toàn, hiệu quả điều trị cao. Đã có 3 người bệnh được điều trị bằng kỹ thuật mới đạt kết quả khả quan và ra viện trong tình trạng sức khỏe tốt, không có các tai biến, biến chứng trong và sau quá trình tiến hành kỹ thuật.

“Điều trị ung thư gan bằng hạt vi cầu phóng xạ có kích thước nhỏ, những hạt này sẽ được đưa vào động mạch gan đến đúng vị trí nuôi khối u. Những hạt này phát ra tia bức xạ beta với tên gọi là hạt vi cầu phóng xạ Y-90. Khi hạt vi cầu đến khối u sẽ phát tia phóng xạ và tiêu diệt tế bào ung thư. Tia bức xạ từ hạt vi cầu cũng đồng thời sẽ khiến việc lưu thông dẫn máu vào bị cản trở, nghẽn tắc làm cho khối u bị tiêu diệt. Đây là phương pháp điều trị vi cầu phóng xạ chọn lọc, các tế bào ung thư gan được tiêu diệt chọn lọc nhất, còn các tế bào lành xung quanh được bảo vệ an toàn nhất”, chúng tôi Mai Trọng Khoa cho hay.

GS. TS Mai Trọng Khoa cũng khẳng định, đây là kỹ thuật khó, trên thế giới chỉ có một số nước có thể làm được. Ở Việt Nam, hiện có 2 bệnh viện thực hiện thành công là Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (Bệnh viện Bạch Mai) và Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Tuy nhiên, để thực hiện phương pháp này cần có sự phối hợp nhiều chuyên ngành về ung thư, y học hạt nhân, điện quang can thiệp… và hệ thống máy móc thiết bị hiện đại. Hiện nay chi phí điều trị bằng phương pháp này khá cao trong khi bảo hiểm y tế vẫn chưa thanh toán.

Theo VOV

Ðiều Trị Ung Thư Gan Bằng Hạt Vi Cầu Phóng Xạ

Các bác sĩ Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu và Khoa chẩn đoán hình ảnh (Bệnh viện Bạch Mai) bơm hạt vi cầu phóng xạ Y-90 để điều trị bệnh ung thư gan.

Theo GS, TS Mai Trọng Khoa, Phó Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (Bệnh viện Bạch Mai), hiện nay có nhiều phương pháp điều trị ung thư gan. Tùy theo từng giai đoạn, tình trạng của người bệnh ung thư gan nguyên phát hay thứ phát… mà chúng ta có thể lựa chọn từng phương pháp điều trị hoặc phối hợp chúng với nhau. Thông thường, 90% lượng máu nuôi các khối ung thư gan là được cấp từ động mạch gan. Trong khi tổ chức gan lành chỉ có 10% từ động mạch gan.

Với kỹ thuật mới, bác sĩ đặt một Catheter qua động mạch đùi vào động mạch gan, chọn nhánh động mạch nuôi khối u gan. Sau đó bơm hạt vi cầu phóng xạ Y-90 trong dung dịch Natriclorua 0,9% vào động mạch nuôi u gan theo liều lượng đã tính. Các hạt vi cầu phóng xạ Y-90 đó phát tia be-ta với quãng chạy trong tổ chức khối u rất ngắn để diệt tế bào ung thư. Như vậy nhờ các vi cầu phóng xạ được đưa trực tiếp và chọn lọc vào trong lòng khối ung thư gan, cho nên chúng bị nhận liều bức xạ cao nhất nhưng lại giảm ở mức thấp nhất tại các cơ quan lân cận chung quanh khối u. Vì vậy hiệu quả tiêu diệt khối u cao, chọn lọc và các tế bào lành chung quanh được bảo vệ. Ðây là phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả, tăng thời gian sống thêm, tăng chất lượng cuộc sống cho người bệnh ung thư gan. Kỹ thuật mới này được chỉ định điều trị cả ung thư gan nguyên phát, thứ phát, hoặc không còn chỉ định phẫu thuật.

GS, TS Mai Trọng Khoa đánh giá, đây là kỹ thuật khó, hiện chỉ có một số nước tiến hành được do phải phối hợp nhiều chuyên khoa khác nhau. Ðòi hỏi các bác sĩ chuyên ngành ung bướu, y học hạt nhân, chấn đoán hình ảnh, gây mê hồi sức… cần có sự phối hợp chặt chẽ để giúp cho quá trình chẩn đoán và nhất là quá trình điều trị đạt hiệu quả cao. Ðồng thời cần có nhiều thiết bị hiện đại như máy SPECT, PET/CT, máy chụp mạch…

Theo nhandan Theo GS, TS Mai Trọng Khoa, Phó Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (Bệnh viện Bạch Mai), hiện nay có nhiều phương pháp điều trị ung thư gan. Tùy theo từng giai đoạn, tình trạng của người bệnh ung thư gan nguyên phát hay thứ phát… mà chúng ta có thể lựa chọn từng phương pháp điều trị hoặc phối hợp chúng với nhau. Thông thường, 90% lượng máu nuôi các khối ung thư gan là được cấp từ động mạch gan. Trong khi tổ chức gan lành chỉ có 10% từ động mạch gan. Với kỹ thuật mới, bác sĩ đặt một Catheter qua động mạch đùi vào động mạch gan, chọn nhánh động mạch nuôi khối u gan. Sau đó bơm hạt vi cầu phóng xạ Y-90 trong dung dịch Natriclorua 0,9% vào động mạch nuôi u gan theo liều lượng đã tính. Các hạt vi cầu phóng xạ Y-90 đó phát tia be-ta với quãng chạy trong tổ chức khối u rất ngắn để diệt tế bào ung thư. Như vậy nhờ các vi cầu phóng xạ được đưa trực tiếp và chọn lọc vào trong lòng khối ung thư gan, cho nên chúng bị nhận liều bức xạ cao nhất nhưng lại giảm ở mức thấp nhất tại các cơ quan lân cận chung quanh khối u. Vì vậy hiệu quả tiêu diệt khối u cao, chọn lọc và các tế bào lành chung quanh được bảo vệ. Ðây là phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả, tăng thời gian sống thêm, tăng chất lượng cuộc sống cho người bệnh ung thư gan. Kỹ thuật mới này được chỉ định điều trị cả ung thư gan nguyên phát, thứ phát, hoặc không còn chỉ định phẫu thuật. GS, TS Mai Trọng Khoa đánh giá, đây là kỹ thuật khó, hiện chỉ có một số nước tiến hành được do phải phối hợp nhiều chuyên khoa khác nhau. Ðòi hỏi các bác sĩ chuyên ngành ung bướu, y học hạt nhân, chẩn đoán hình ảnh , gây mê hồi sức… cần có sự phối hợp chặt chẽ để giúp cho quá trình chẩn đoán và nhất là quá trình điều trị đạt hiệu quả cao. Ðồng thời cần có nhiều thiết bị hiện đại như máy SPECT, PET/CT, máy chụp mạch…

Điều Trị Ung Thư Gan Bằng Hạt Vi Cầu Phóng Xạ 90Y

ĐIỀU TRỊ UNG THƯ GAN BẰNG HẠT VI CẦU PHÓNG XẠ 90Y

ĐẠI CƯƠNG

Ung thư gan có thể xuất phát từ tế bào nhu mô gan (ung thư gan nguyên phát) hoặc có thể do di căn ung thư từ nơi khác đến (ung thư gan thứ phát).  

Ung thư gan là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ ba trong các loại ung thư. Điều trị ung thư gan có thể sử dụng các phương pháp: phẫu thuật cắt bỏ phần gan mang khối u,ghép gan; phá hủy u tại chỗ bằng sóng cao tần (RFA), bằng vi sóng, bằng điện đông, hoặc tiêm cồn (PEI); cắt nguồn máu nuôi khối u phối hợp diệt tế bào ung thư bằng hóa chất (tắc mạch TACE). Tắc mạch phóng xạ (TARE) bằng vi cầu 90Y (còn gọi là Selective Internal Radiotherapy: SIR)được áp dụng lần đầu tiên ở Mỹ năm 2000, ứng dụng lâm sàng đang ngày càng mở rộng.

NGUYÊN NHÂN

Ung thư gan thứ phát là do di căn ung thư từ nơi khác đến (ung thư đại trực tràng, ung thư phổi, ung thư dạ dày…).

CHẨN ĐOÁN

Lâm sàng

Cơ năng:

Giai đoạn sớm hầu như không có triệu chứng. Muộn hơn có thể gặp: mệt mỏi, chán ăn, đau tức bụng vùng hạ sương phải, đầy bụng, chậm tiêu, vàng da…

Khám lâm sàng:

Khám tổng thể, đánh giá toàn trạng, dấu hiệu sinh tồn, tình trạng vàng da niêm mạc.

Khám bụng, chú ý có sờ thấy gan to, u gan hay không.

Một số triệu chứng có thể gặp ở giai đoạn muộn : sẩn ngứa, vàng da, lách to, giãn tĩnh mạch, chảy máu, suy kiệt, cổ trướng, gan to, sao mạch, phù mềm…

Hỏi tiền sử: 

Nhiễm vi rút viêm gan B hay vi rút viêm gan C, hay cả hai.

Truyền máu hay từng sử dụng kim tiêm chung với người khác.

Sử dụng rượu, bia (số lượng, tần suất, thời gian,…).

Tiếp xúc với các loại độc tố hay hóa chất (loại, thời gian tiếp xúc,…).

Các bệnh lý khác đi kèm.

Cận lâm sàng

Công thức máu, chức năng đông máu toàn bộ.

Chức năng gan thận.

Các xét nghiệm về viêm gan B, C: HBsAg, HBeAg, HbeAb, HBV-DNA,

Anti HCV, HCV-RNA

Chất chỉ điểm ung thư gan: AFP; loại khác: CEA, CA 19-9, CA 72-4, CA125, CA 15-3, PSA. 

X quang tim phổi.

Siêu âm gan, siêu âm Doppler mạch máu gan.

Nội soi dạ dày, đại trực tràng (tìm ổ nguyên phát). 

CT , MRI ổ bụng.

Xạ hình -SPECT gan với Phytat đánh dấu 99mTc đánh giá cấu trúc gan

Xạ hình gan với HIDA đánh dấu 99mTc đánh giá chức năng bài tiết mật, lưu thông đường mật.

Chụp PET/CT giúp đánh giá tình trạng di căn, xếp giai đoạn bệnh.

Chẩn đoán xác định

Ung thư gan nguyên phát:

Có bằng chứng giải phẫu bệnh ung thư tế bào gan nguyên phát.

Hình ảnh điển hình trên CT scan ổ bụng có cản quang hoặc cộng hưởng từ (MRI) ổ bụng có cản từ và AFP tăng cao nhưng chưa đến 400 ng/mlở người bệnh viêm gan B hoặc C. Có thể làm sinh thiết gan để chẩn đoán xác định nếu bác sĩ lâm sàng thấy cần thiết.

Các trường hợp không đủ các tiêu chuẩn nói trên đều phải làm sinh thiết gan để chẩn đoán xác định bằng mô bệnh học.

Ung thư gan thứ phát:

Trường hợp tổn thương di căn gan không điển hình cần sinh thiết để chẩn đoán xác định.

Chẩn đoán phân biệt

U máu ở gan (hemangioma):

Khối u ngấm thuốc dần từ thì động mạch gan đến thì chậm, không có hiện tượng thoát thuốc; chụp SPECT u máu ở gan với hồng cầu tự thân đánh dấu đồng vị phóng xạ có hình ảnh u máu trong gan; AFP bình thường, có thể có hoặc không nhiễm vi rút viêm gan B hay C.

Các u lành ở gan (adenoma, tăng sinh dạng nốt, apxe gan, nốt vôi hóa ở gan…) hình ảnh CT, MRI  không điển hình, chụp xạ hình – SPECT gan mật với 99mTc – HIDA rất có giá trị xác định u gan tăng sinh dạng nốt. Chủ yếu xác định nhờ MRI hoặc sinh thiết gan.

Ung thư đường mật trong gan:

Ngấm thuốc cản quang không đồng đều, không có hiện tượng thoát thuốc, dấu ấn ung thư CA-19.9 tăng cao.

ĐIỀU TRỊ BẰNG VI CẦU PHÓNG XẠ 90Y

Nguyên tắc chung

Khối ung thư gan được nuôi dưỡng bởi máu từ các nhánh động mạch gan (90%) và từ tĩnh mạch cửa (10%). Hạt vi cầu phóng xạ 90Y có kích thước 20-40 micromet bơm vào động mạch nuôi u sẽ gây tắc mạch cắt nguồn dinh dưỡng nuôi u, mặt khác bức xạ bêta với mức năng lượng cực đại 2,23 MeV do 90Y gắn trên các hạt vi cầu phát ra sẽ tiêu diệt các tế bào ung thư, hiệu quả chung sẽ làm giảm thể tích hoặc tiêu hoàn toàn khối ung thư gan mà rất ít ảnh hưởng đến tổ chức lành xung quanh. Đây là phương pháp xạ trị trong chọn lọc (Selective Internal Radiotherapy: SIR) hay còn gọi là phương pháp tắc mạch phóng xạ (Transarterial Radioembolization: TARE). 

Chỉ định

Ung thư gan nguyên phát hoặc thứ phát, không có chỉ định phẫu thuật hoặc không muốn phẫu thuật.

Trong đó:

Tổng trạng người bệnh còn tốt: ECOG  0-2 hoặc Karnofsky ≥70

Chức năng gan còn bù

Bilirubin toàn phần

Shunt lưu thông hoạt độ phóng xạ lên phổi 99mTcMAA.

Tiên lượng thời gian sống của người bệnh 2 tháng. 

Chống chỉ định

Chống chỉ định tuyệt đối

Trào ngược hạt phóng xạ vào các động mạch mạch cấp máu nuôi dưỡng dạ dày ruột, tụy tạng mà không thể kiểm soát trước được bằng nút coils.

Dị ứng thuốc cản quang.

Chống chỉ định tương đối

Người bệnh trước đó đã có xạ trị vào vùng gan.

Cổ trướng tự do hoặc có dấu hiệu của suy gan mất bù

Có tắc nghẽn đường mật, huyết khối toàn bộ thân tĩnh mạch cửa.

Dị ứng thuốc cản quang.

Người bệnh có di căn ngoài gan, có dấu hiệu dọa vỡ khối u gan.

Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú.

Tiên lượng thời gian sống của người bệnh

Các bước tiến hành điều trị ung thư gan bằng hạt vi cầu phóng xạ 90Y

Chụp mạch gan trước điều trị

Chụp mạch đánh giá bản đồ mạch máu của gan cũng như mạch nuôi khối u gan trước điều trị, đánh giá khả năng di chuyển của các hạt phóng xạ vào các cơ quan có nguồn cấp máu từ động mạch thân tạng. Cân nhắc nút tắc dự phòng động mạch tá tụy , động mạ ch vành vị trái để giảm thiểu nguy cơ di chuyển các hạt phóng xạ vào các nhánh mạch này gây loét đường tiêu hóa trên, viêm tụy cấp.   

Chụp xạ hình đánh giá luồng thông mạch máu (shunt) gan – phổi:

Đặt Catheter động mạch gan.

Đặt người bệnh lên bàn máy SPECT, tư thế nằm ngửa, tiêm 99mTc – MAA (Macroaggregated albumin), liều 5-10 mCi qua catheter động mạch gan.

Ghi hình động (Dynamic): ngay sau tiêm, 3 giây/hình x 20 hình.

Ghi hình tĩnh (Static): ngay sau ghi hình động, 5 phút/hình hoặc 700 kcounts/hình với các tư thế: thẳng trước – thẳng sau (Ant – Post), nghiêng phải, nghiêng trái 90q (RL –LL), chếch trước phải -  chếch trước trái (RAO – LAO).

Tính tỷ lệ phần % hoạt độ phóng xạ ở phổi = hoạt độ phóng xạ phổi/ (hoạt độ phóng xạ phổi + hoạt độ phóng xạ gan) x 100.

Đánh giá khả năng di chuyển của hạt phóng xạ 90Y vào vùng dạ dày ruột.

Tính toán liều phóng xạ 90Y điều trị

Sử dụng MSCT hoặc MRI  để tính thể tích gan, là thể tích vùng gan được bơm dược chất phóng xạ qua động mạch nuôi. Sau đó chuyển đổi thành trọng lượng gan điều trị bằng tỷ lệ 1,03g/cm3. 

Hoạt độ phóng xạ 90Y điều trị được tính bằng 1 trong 2 phương pháp sau:

A resin = (BSA – 0,2) + (TI/100).

Trong đó:

A resin là liều (GBq) thực tế các hạt vi cầu nhựa mang 90Y.

BSA là diện tích da toàn bộ cơ thể.

TI là tỷ lệ phần trăm của khối u trong gan,được tính bằng công thức:

TI = (TVx100) / (TV + LV) 

(trong đó TV là thể tích của khối u và LV là thể tích của gan).

Tính liều 90Y theo kinh nghiệm:

Tính liều 90Y theo tích khối u

Giảm liều theo luồng thông gan-phổi

Thể tích u/gan

(%)

Liều 90Y khuyến cáo

(GBq)

Shunt gan-phổi (%)

Giảm liều theo khuyến cáo (%)

2

0

25-50

2,5

10-15

20

3

15-20

40

100

Tiến hành tắc mạch xạ trị

Sử dụng hình ảnh dẫn đường để đặt ống thông và bơm hạt vi cầu phóng xạ 90Y với liều đã chỉ định chọn lọc vào động mạch nuôi khối u gan.

Người bệnh nằm trên bàn chụp mạch, dưới màn hình tăng sáng.

Đặt catheter qua da vào động mạch gan, chụp mạch, chọn nhánh động mạch muôi khối u gan

Lọ hỗn dịch 90Y microsphere đặt trong thiết bị cản tia được nối với ống thông vào động mạch gan.

Tiến hành kích bơm 90Y microsphere trong dung dịch nước cất vô trùng chậm, ít một qua ống thông vào nhánh động mạch chọn lọc nuôi khối u gan.

Theo dõi người bệnh và đánh giá kết quả

Sau khi bơm 90Y microsphere vào gan, người bệnh được theo dõi qua đêm tại phòng riêng biệt.

Theo dõi lâm sàng, xét nghiệm công thức máu, chức năng gan thận trong 48 giờ đầu.

Thuốc giảm đau hạ sốt, ức chế bơm proton, corticoid, kháng sinh được chỉ định để dự phòng biến chứng sau can thiệp.

Ghi hình bức xạ hãm (Bremsstrahlung Radiation) được thực hiện trong vòng 30 giờ sau can thiệp, bằng chụp PET/CT hoặc chụp SPECT đánh giá phân bố 90Y trong gan.

Người bệnh tái khám sau 1 tháng, sau đó định kỳ cách 3 tháng: đánh giá hiệu quả điều trị qua các chỉ số lâm sàng, xét nghiệm công thức máu, chức năng gan thận, AFP, siêu âm, chụp CT ổ bụng, PET/CT.

Đánh giá đáp ứng của khối u: qua sự thay đổi kích thước u theo RECIST hoặc đánh giá mức độ hoại tử u (Necrosis).

BIẾN CHỨNG VÀ XỬ TRÍ

Điều trị ung thư gan với 90Y microsphere có độ dung nạp tốt và an toàn. Hội chứng sau tắc mạch (sốt, đau vùng gan, mệt mỏi, chán ăn, nôn, buồn nôn, tăng men gan) có thể gặp nhưng thường ít và nhẹ nhàng hơn so với TACE. Tuy nhiên cũng có thể gặp một số biến chứng nặng sau:

Viêm gan mật và suy gan:

Viêm gan, viêm đường mật do bức xạ có thể xảy ra trong vòng 4-8 tuần sau can thiệp với tần suất 0-4%. Cổ trướng, vàng da là các triệu chứng đe dọa suy gan tối cấp. Về lâu dài, tắc mạch xạ trị có thể thúc đẩy quá trình gan xơ.

Xử trí: corticoid liều cao (hydrocortison 40-80 mg tiêm truyền tĩnh mạch).

Viêm phổi do tia xạ:

Xử trí: đảm báo thông khí (thở ôxy), khí dung corticosteroid, giảm đau, điều trị các triệu chứng đi kèm nếu có.

Các biến chứng dạ dày ruột:

Biến chứng xảy ra do sự di chuyển các hạt phóng xạ vào tuần hoàn dạ dày ruột. Tỷ lệ biến chứng ≤5% nếu tuân thủ kỹ thuật bơm hạt phóng xạ chậm có kiểm soát và thực hiện tắc dự phòng các động mạch chi phối ống tiêu hóa bằng coils. 

Xử trí: thuốc ức chế bơm proton giảm tiết dịch dạ dày. Kiểm soát đau. Chống nôn. Điều trị triệu chứng đi kèm nếu có. Viêm loét nặng có hoại tử phải tính tới khả năng phẫu thuật nhưng rất hiếm.

PHÒNG BỆNH

Tiêm vaccin phòng bệnh viêm gan siêu vi B cho những người chưa nhiễm, đặc biệt là cho trẻ sơ sinh.

Chủ động tầm soát định kỳ ung thư gan nguyên phát trên những người có nhiễm vi rút viêm gan B và C.

Tuyên truyền giáo dục tránh lây nhiễm vi rút viêm gan B và C qua đường tình dục và từ mẹ sang con, kiểm soát chặt chẽ việc truyền các chế phẩm máu.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Mai Trọng Khoa. (2012). Y học hạt nhân. Sách dùng cho sau đại học. Nhà xuất bản Y học.

Aktolun, Cumali; Goldsmith, Stanley J.: Nuclear Medicine Therapy:Principles and Clinical Applications. (2013). p177.

Memon K., Lewandowski RL., Kulik L., et al. (2010). “Radioembolization for primary and metastatic liver cancer”, Semin Radiat Oncol; 21(4): 294302.

Murthy R., Kamat D. Salem R., Nunes R. (2006). “Radioembolization of Ytrium-90 for Hepatic Malignancy”, Semin Intervent Radiol; 25:48-57.

NCCN Guidelines version 2.2013 Hepatobiliary Cancers.

Sad M Ibrahim, Robert J Lewandowski, Ken T Salo, et al. (2008).

“Radioembolization for the treatmet of unresectable hepatocellular carcinoma: A clinical review”, World J Gastroenterol, 14(11): 1664-1669.

Salem R, Thurston KG. (2006). “Radioembolization with Ytrium-90 micropheres: a state- of- the- art brachytherapy treatment for primary and secondary liver malignancies. Part 2: special topics”, J Vasc Interv Radiol; 17: 1425-1539.

Tiêu Diệt Khối U Ung Thư Gan Bằng Hạt Vi Cầu Phóng Xạ

Gần đây, tôi nghe nói có phương pháp mới điều trị ung thư gan bằng hạt vi cầu phóng xạ sẽ giúp tiêu diệt được khối u. Xin bác sĩ giải đáp kỹ hơn về phương pháp này? (Lê Bách – Q.Hoàn Kiếm, Hà Nội)

PGS.TS Mai Trọng Khoa – Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai trả lời: Điều trị ung thư gan bằng hạt vi cầu phóng xạ là kỹ thuật an toàn, hiệu quả điều trị cao, bệnh nhân không có các tai biến, biến chứng trong và sau điều trị.

Những hạt vi cầu phóng xạ có kích thước nhỏ sẽ được đưa vào động mạch gan đến đúng vị trí nuôi khối u. Những hạt này phát ra tia bức xạ beta với tên gọi là hạt vi cầu phóng xạ Y-90. Khi hạt vi cầu đến khối u sẽ phát tia phóng xạ và tiêu diệt tế bào ung thư.

Tia bức xạ từ hạt vi cầu cũng đồng thời sẽ khiến việc lưu thông dẫn máu vào bị cản trở, nghẽn tắc làm cho khối u bị tiêu diệt. Phương pháp điều trị vi cầu phóng xạ là phương pháp chọn lọc tối ưu, các tế bào ung thư gan được tiêu diệt chọn lọc nhất, còn các tế bào lành xung quanh được bảo vệ an toàn nhất.

Tính ưu việt của hạt vi cầu có tác dụng làm giảm số lần điều trị, hạn chế tác dụng phụ do hóa chất chống ung thư gây ra, hạn chế được tổn thương cho các nhu mô gan lành.

Mới đây Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã phối hợp thực hiện thành công phương pháp mới trong điều trị ung thư gan bằng hạt vi cầu phóng xạ cho 3 bệnh nhân ung thư gan.

Những bệnh nhân này đều có khối u ở gan to từ 7-8cm, sau khi điều trị bằng phương pháp hạt vi cầu phóng xạ khối u đã teo nhỏ đi rõ rệt, đặc biệt các chỉ số chỉ điểm ung thư cũng giảm xuống tương đối. Các bệnh nhân đã được ra viện trong tình trạng sức khỏe tốt, không có các tai biến, biến chứng trong và sau quá trình tiến hành kỹ thuật.

Hiện nay, kỹ thuật điều trị ung thư gan bằng hạt vi cầu phóng xạ là kỹ thuật khó, trên thế giới chỉ có một số nước có thể làm được. Để thực hiện phương pháp này cần có sự phối hợp nhiều chuyên ngành về ung thư, y học hạt nhân, điện quang can thiệp… và hệ thống máy móc thiết bị hiện đại như PET/CT, Spect… và đặc biệt tay nghề có trình độ cao của các bác sĩ.

Chi phí điều trị bằng phương pháp này hiện khá cao do tiền mua hạt vi cầu phóng xạ rất đắt và chi phí cho các xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, trong khi bảo hiểm y tế vẫn chưa thanh toán.

Thời gian tới, khi kỹ thuật này được phổ biến hơn, chúng tôi sẽ đề xuất với Bộ Y tế, cơ quan BHYT chi trả phần nào để người bệnh được hưởng các kỹ thuật điều trị cao, hiện đại, nhất là khi nhu cầu điều trị ung thư gan đang rất lớn. Kỹ thuật này sẽ mang lại hy vọng sống cho nhiều bệnh nhân ung thư gan.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phương Pháp Điều Trị Ung Thư Gan Thành Công Bằng Hạt Vi Cầu Phóng Xạ trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!