Đề Xuất 1/2023 # Tìm Hiểu Về Các Phương Pháp Xét Nghiệm Ung Thư Máu Hiện Nay # Top 10 Like | Growcaohonthongminhhon.com

Đề Xuất 1/2023 # Tìm Hiểu Về Các Phương Pháp Xét Nghiệm Ung Thư Máu Hiện Nay # Top 10 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tìm Hiểu Về Các Phương Pháp Xét Nghiệm Ung Thư Máu Hiện Nay mới nhất trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Xét nghiệm máu

Đây là xét nghiệm được thực hiện nhằm đo hàm lượng một vài chất trong máu từ đó đánh giá mức độ của các tế bào đồng thời giúp bác sĩ nhận biết những dấu hiệu bất bình thường của bệnh ung thư máu. Thông thường sẽ thực hiện một số xét nghiệm sau.

Xét nghiệm máu thông thường này là đo số lượng các loại tế bào máu khác nhau trong một mẫu máu của bạn nhằm đánh giá tình trạng sức khỏe của bệnh nhân ở hiện tại.

Ưu điểm của xét nghiệm này là có thể thu thập được nhiều thông tin giá trị về tình hình sức khỏe chung nhất cũng như có khả năng phát hiện ra ung thư máu từ sớm. Tuy nhiên, xét nghiệm này có thể gây nhầm lẫn với những nguyên nhân khách quan khác như là căng thẳng, tập thể dục hay mang thai. Đây cũng là điểm hạn chế của xét nghiệm này, do đó để đánh giá chính xác thì bác sĩ cần kết hợp thêm một vài xét nghiệm khác.

Xét nghiệm (điện di) để kiểm tra các protein khác nhau trong máu có thể giúp phát hiện một số protein bất thường của hệ thống miễn dịch. Thông thường, phương pháp xét nghiệm ung thư máu này hay sử dụng ở những người bị đa u tủy.

Các xét nghiệm đánh dấu khối u

Các xét nghiệm này được thực hiện nhằm mục đích tìm ra dấu hiệu của khối u trong cơ thể thông qua việc xác định các chất được tiết ra bởi các tế bào ung thư trong máu của bạn.

Nhưng có thể các “dấu hiệu khối u” này cũng được tạo ra bởi một số tế bào bình thường trong tình trạng không phải ung thư. Điều này làm cho các xét nghiệm đánh dấu khối u trong chẩn đoán ung thư có thể gây nhầm lẫn. Do đó, các nhà khoa học vẫn đang dày công nghiên cứu để có thể lấy được kết quả chính xác nhất từ xét nghiệm này.

Xét nghiệm di truyền

Đây là một trong những phương pháp xét nghiệm ung thư máu nhằm kiểm tra các gen trong tế bào ung thư. Có thể sử dụng xét nghiệm phân tử, karyotyping hoặc xét nghiệm FISH.

Mọi loại ung thư, kể cả ung thư máu, đều do những thay đổi DNA trong tế bào gây ra. Bằng cách sử dụng một mẫu tế bào ung thư, các bác sĩ có thể tìm kiếm những thay đổi cụ thể trong gen và nhiễm sắc thể giúp họ xác định loại ung thư máu cụ thể. Từ đó đưa ra những phương pháp điều trị phù hợp nhất cho bạn.

Sinh thiết

Tủy xương là một mô xốp được tìm thấy bên trong xương, nơi cơ thể tạo ra các tế bào máu.

Sinh thiết tủy xương bao gồm việc sử dụng một mẫu tủy xương được chiết ra để xem xét dưới kính hiển vi. Từ đó có thể xác định được cơ thể bạn có đang tạo ra các tế bào máu bình thường, khỏe mạnh hay không.

Mẫu tủy xương thông thường sẽ được lấy từ xương hông của bạn. Bạn sẽ nằm nghiêng với đầu gối co lên trước ngực. Sau đó, bác sĩ sẽ tiến hành gây tê cục bộ rồi sử dụng một kim lớn để hút một mẫu tủy xương từ vị trí này. Sinh thiết tủy xương là một phương pháp phổ biến trong xét nghiệm ung thư máu mà không gây ra bất kỳ rủi ro nào.

Hạch bạch huyết là các tuyến nằm trong hệ thống bạch huyết của bạn. Sinh thiết hạch bạch huyết là khi bác sĩ chiết ra một phần hạch sau đó xem xét và kiểm tra dưới kính hiển vi để xác định liệu có tế bào máu nào bất thường hay không.

Các xét nghiệm hình ảnh

Phương pháp chụp MRI này có giúp bác sĩ quan sát được các mô mềm, từ đó xác định các mức độ tổn thương nhờ vào hình ảnh giải phẫu chi tiết và độ xét nét cao.

Trường hợp bệnh nhân bị sưng hạch bạch huyết, bác sĩ sẽ chỉ định chụp PET. Đây là một trong những kỹ thuật tiên tiến trong xét nghiệm ung thư máu hiện nay giúp bác sĩ kiểm tra được ở mức độ tế bào hoặc phân tử. Từ đó xác định nhanh các khối u lành tính hay ác tính.

2. Những lưu ý khi xét nghiệm ung thư máu

Khi xét nghiệm ung thư máu, bạn cần phải lưu ý những điều sau đây:

Tuyệt đối tuân thủ theo những hướng dẫn của bác sĩ về chế độ ăn uống trước khi xét nghiệm máu. Vì một vài xét nghiệm có yêu cầu bệnh nhân cần nhịn ăn 10 đến 12 giờ hoặc không ăn gì vào lúc sáng.

Không nên uống bất kỳ loại thuốc nào trước khi xét nghiệm máu vì một bài loại có thể làm ảnh hưởng đến kết quả của xét nghiệm.

Nên đi xét nghiệm vào buổi sáng vì đây là thời điểm thích hợp nhất.

Không được dùng chất kích thích như chè, cà phê, rượu hay thuốc lá vì sẽ cho kết quả không chính xác.

Đôi khi, những chỉ số bất thường khi xét nghiệm máu cũng có thể do nhiều nguyên nhân chứ không thể kết luận ung thư máu được. Vì vậy, để được chẩn đoán chính xác hơn thì bệnh nhân cần kết hợp thêm nhiều loại xét nghiệm ung thư máu ở trên tùy trường hợp của mỗi người.

Cuối cùng, để có thể lấy được kết quả chẩn đoán chính xác nhất thì người bệnh nên ưu tiên tìm đến các cơ sở y tế hoặc bệnh viện có uy tín. Ở đây, các bác sĩ có kinh nghiệm nghề nghiệp lâu năm sẽ giúp bạn đánh giá đúng mức độ và tình trạng sức khỏe của mình. Hơn hết là căn cứ vào đó để đưa ra những phương pháp phòng ngừa cũng như điều trị hiệu quả.

Kết Quả Xét Nghiệm Ung Thư Máu Và Các Phương Pháp Xét Nghiệm

Kết quả xét nghiệm ung thư máu là một trong những yếu tố quan trọng nhất để xác định được tình trạng bệnh lý của người bệnh. Ngày nay, khoa học công nghệ kết quả xét nghiệm nhanh chóng và chính xác hơn. Bệnh nhân có thể được điều trị tốt hơn nếu phát hiện kịp thời. Phương pháp xét nghiệm và kết quả xét nghiệm ung thư máu sẽ định hướng cho pháp đồ điều trị của bệnh nhân.

Kết quả xét nghiệm ung thư máu cho biết tình trạng bệnh lý

Bệnh ung thư máu là căn bệnh nguy hiểm với con người. Hiện nay, khoa học vẫn chưa tìm ra được giải pháp điều trị nào cho loại bệnh này.

Tuy nhiên, nếu xét nghiệm ung thư máu phát hiện sớm. Sau đó điều trị kịp thời thì vẫn có cơ hội chữa khỏi. Kết quả xét nghiệm sẽ cho biết tình trạng bệnh lý của người bệnh. Và nó là cơ sở để các bác sĩ tiến hành điều trị.

Ung thư máu xuất hiện khi quá trình tạo máu diễn ra trong tủy xương bị biến đổi. Quá trình này tạo ra những tế bào bạch cầu bất thường hay còn gọi là tế bào bạch cầu ác tính.

Những tế bào này không giống tế bào máu bình thường. Nó không tự chết đi mà sẽ phát triển nhanh chóng và lấn át những tế bào máu bình thường của cơ thể. Chính vì thế nó làm mất các chức năng bình thường của máu.

Xét nghiệm ung thư máu phát hiện sớm bệnh ung thư

Tình trạng bệnh lý của những người mắc bệnh ung thư máu sẽ tiến triển theo chiều hướng tiêu cực. Nếu không được phát hiện kịp thời thì sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Khi tiến hành xét nghiệm bác sĩ sẽ theo dõi được tình trạng diễn biến của bệnh.

Vì vậy, khi có những biểu hiện như đau bụng, mệt mỏi, sụt cân, chảy máu cam, đau sương, nhiễm trùng thường xuyên…Thì nên đến ngay bệnh viện để tiến hành xét nghiệm và chuẩn đoán sớm tình trạng của cơ thể.

Các phương pháp xét nghiệm ung thư máu

Công nghệ khoa học ngày càng hiện đại hơn. Vì vậy, những cách để biết kết quả xét nghiệm ung thư máu không phải là điều khó khăn. Thông thường các bác sĩ sẽ tiến hành xét nghiệm máu, xét nghiệm tủy hoặc xét nghiệm gen. Từ đó bác sĩ sẽ phát hiện bệnh nhân có bị ung thư máu hay không.

Xét nghiệm máu để phát hiện ung thư máu

Xét nghiệm máu là phương pháp được sử dụng phổ biến để phát hiện ung thư máu. Và nó cũng là cách để định lượng khả năng ung thư trong máu. Tiến hành xét nghiệm máu rất hữu ích để bác sĩ đánh giá tình trạng nặng nhẹ của bệnh. Đồng thời biết được diễn biến của bệnh ung thư trong quá trình trị liệu.

Phương pháp xét nghiệm máu giúp bác sĩ phát hiện ra những dấu hiệu của nhiều căn bệnh khác. Trong đó có ung thư vú, ung thư dạ dày, ung thư tụy…

Xét nghiệm tủy để phát hiện ung thư máu

Xét nghiệm tủy cũng là một trong những xét nghiệm quan trọng. Nó là cơ sở để bác sĩ có thể chuẩn đoán về căn bệnh ung thư máu nguy hiểm này. Nhiều bệnh viện áp dụng phương pháp xét nghiệm này khi nhận thấy bệnh nhân có những dấu hiệu của bệnh.

Nếu kết quả xét nghiệm ung thư máu cho thấy lượng Junvenile cell tring máu. Nếu nó tăng cao vượt qua 5% thì xác định bệnh nhân bị ung thư máu.

Có 3 phương pháp xét nghiệm tủy thường được sử dụng hiện nay là:

+ xét nghiệm Immunophenotyping

+ xét nghiệm dịch não tủy

+ xét nghiệm tế bào di truyền.

Mục đích của mỗi phương pháp là khác nhau. Bác sĩ sẽ căn cứ vào tình trạng của bệnh nhân để chọn phương pháp xét nghiệm nào là thích hợp.

Xét nghiệm gen để phát hiện ung thư máu

Ung thư máu là một dạng bệnh có thể di truyền. Nếu trong gia đình, họ hàng từng có người bị ung thư máu thì có khả năng di truyền cho thế hệ sau . Vì vậy, khi cảm thấy cơ thể có những dấu hiệu bất thường thì nên đi khám. Đồng thời nên tiến hành khám định kì .

Kết quả xét nghiệm ung thư máu bằng ghen sẽ xác định các nhiễm sắc thể bất thường Philadelphia trong dòng tủy mạn tính.

Ngoài những phương pháp xét nghiệm ung thư máu kể trên còn có những phương pháp xét nghiệm khác như: siêu âm, chụp MRI, chụp cắt lớp, siêu âm và phương pháp kết hợp giữa máy PET và máy CT…

Chúng đều cho ra kết quả xét nghiệm ung thư máu. Tuy nhiên, tùy thể trạng và điều kiện của người bệnh. Bác sĩ sẽ chỉ định cho bệnh nhân những phương pháp xét nghiệm khác nhau.

Thực hiện các biện pháp để hạn chế ung thư

Ung thư máu hay còn có tên gọi khác là ung thư bạch cầu là luôn là thách thức với nền y học nhân loại. Mặc dù, đã có nhiều ca bệnh ung thư máu được chữa khỏi nhờ được phát hiện sớm và chữa trị kịp thời. Nhưng so với số lượng người mắc phải căn bệnh này thì con số được chữa trị quả thật rất nhỏ.

Để phòng ngừa và ngăn chặn căn bệnh ung thư máu bạn chú ý quan tâm đến cơ thể và trang bị những hiểu biết về căn bệnh nguy hiểm này. Khi cơ thể có những dấu hiệu bất thường thì nên đi khám và tiến hành các xét nghiệm để cho ra kết quả xét nghiệm ung thư máu chính xác nhất.

Tìm Hiểu Về U Mạch Máu Và Các Phương Pháp Điều Trị

30-09-2011

II. Phân loại: Các u máu được chia làm hai loại căn cứ vào đặc điểm của các khối u:

1. Tổn thương mạch máu mắc phải (hemangioma)

U mạch (hemangioma), loại tổn thương này gặp ở trẻ em nhiều hơn người lớn. Khối u mạch ở trẻ em diễn biến qua hai thời kỳ: tăng sinh và thoái triển. Quá trình tăng sinh phát triển mạnh nhất khi 12 tháng tuổi rồi giảm dần và dừng lại lúc trẻ 2 tuổi. Khoảng 50% khối u mạch thoái triển sau 5 tuổi và hết hoàn toàn vào độ tuổi 7 đến 10. U mạch ở người lớn không trải qua những giai đoạn kể trên và có thể phối hợp với các bệnh lý khác như u mạch ở người già, thông thương động tĩnh mạch do chấn thương, bệnh lý ác tính của mạch máu.

2. Bệnh lý mạch bẩm sinh (vascular malformation)

Hay gặp nhất là dị dạng mạch máu bẩm sinh, bắt nguồn từ sự sai lạc về cấu tạo mạch máu ở thời kỳ phôi thai, luôn được tìm ra ngay sau khi đẻ. Những tổn thương này phát triển ngày càng rộng theo thời gian. Dị dạng mạch máu được chia thành nhiều dạng: Loại có dòng chảy chậm gồm dị dạng mạch, mao mạch, dị dạng mạch tĩnh mạch, dị dạng mạch bạch huyết. Loại có dòng chảy nhanh: dị dạng động mạch và hỗn hợp của hai loại bệnh này. Khối u mạch máu hay gặp ở nữ thường nhiều hơn nam.

III. Triệu chứng: Có nhiều loại u mạch khác nhau, nhưng có chung một số triệu chứng lâm sàng như:

– Màu đỏ hay màu tím. Không đau. – Nổi gồ trên da hay niêm mạc. Nếu ta bóp hay ấn u thì u xẹp, buông tay ra u lại phồng trở lại. – Nếu va chạm, xây xát có thể gây chảy máu, có thể bội nhiễm vi trùng và làm chảy máu nhiều gây nguy hiểm.

Căn cứ vào giải phẫu bệnh lý và dấu hiệu lâm sàng ta có thể gặp vài thể u máu sau đây:

1. U máu phẳng (angiome plan): chiếm tỉ lệ khoảng 50%, là những bớt đỏ trên da, đa số bẩm sinh hay có từ lúc nhỏ,Các vết bớt thường có màu nâu xám, vàng, xanh, hồng hay đỏ. Chúng được tạo thành do sự kết tụ lại của các mạch máu.

Bớt có nhiều dạng: Marcular stains, Strawberry hemangiomas, và Portwine stains mà trong đó đáng chú ý nhất là Portwine stains với nhiều biến chứng.

2. U máu gồ (angiome tubéreux): gồ trên da từng chùm như chùm dâu, có màu đỏ của máu, bờ rõ, hình thể u giống như “một quả dâu lớn đặt trên da”, thường khu trú ở mặt và trên thân mình

3. U máu dưới da (angiome caverneux): là một khối mềm, ở sâu bên dưới và đội da u lên, thường tạo thành các hang máu, chủ yếu do tĩnh mạch trở thành xơ, hang. Sự ứ đọng máu lâu ngày tạo thành các hạt sỏi trắng. Sờ u hơi chắc, thấy rõ các hạt sạn cứng.

U mạch củ có thể phối hợp với một u mạch dưới da, làm thành một u máu hỗn hợp.

Đối với những u máu ngoài da chúng ta có thể quan sát và dễ dàng chẩn đoán ,đánh giá khối u trên lâm sàng. Tuy nhiên, với các khối u mạch máu ở họng, hạ họng, bệnh nhân có thể nuốt vướng, đôi khi nuốt đau nếu khối u bị bội nhiễm. Khàn tiếng kéo dài, khó thở thì hít vào, ho nhiều nếu khối u mạch ở thanh quản, đôi khi ho ra máu đỏ tươi, số lượng nhiều hay ít tùy theo bản chất khối u và thường có hơi thở rất hôi. Soi hạ họng thanh quản thấy khối u sùi như chùm nho hoặc khối tròn nhẵn có màu đỏ hay tím sẫm. Hình ảnh CT scan có tiêm thuốc cản quang hoặc cộng hưởng từ sẽ đánh giá sự xâm lấn của khối u với các tổ chức lân cận.

IV. Biến chứng

Nếu các u mạch mọc ở trong miệng, trên môi, mũi hay trên mi mắt, có thể gây cho trẻ những trở ngại trong việc ăn uống, hô hấp hay tầm nhìn. Nếu nó quá to, có thể làm mất thẩm mỹ và gây ra rối loạn máu. Nếu mọc trên bộ phận sinh dục nữ, trực tràng,.. có thể gây nguy hại, nên được các bác sỹ theo dõi cẩn thận và có phương pháp điều trị thích hợp Trong quá trình diễn biến của nó, có thể bị xuất huyết bên trong u máu, xuất huyết ra ngoài, lở loét, bội nhiễm.

U máu ở họng, hạ họng nếu không được chẩn đoán và xử lý kịp thời sẽ lan rộng hoặc xâm lấn vào các tổ chức sâu như thanh quản sẽ có nguy cơ xảy ra các biến chứng như khó thở, chảy máu ồ ạt, khó cầm do vị trí khối u ở sâu. Những trường hợp này phải cắt bỏ thanh quản bán phần hoặc toàn phần để lấy hết bệnh tích, tránh tái phát. Do đó việc chẩn đoán sớm khối u là rất cần thiết giúp cho việc bảo tồn chức năng nuốt và nói cho bệnh nhân, đồng thời đem lại chất lượng cuộc sống tốt nhất sau khi phẫu thuật, đặc biệt khi chúng ta có điều kiện áp dụng kỹ thuật dùng laser cho loại bệnh lý này ở những giai đoạn đầu tiên của bệnh.

1. Portwine stains

Portwine stains hay bớt màu rượu vang là một dạng khác của bớt bẩm sinh, xảy ra khoảng 3 trên 1000 đứa trẻ, còn gọi là nevus flammeus hay capilllary hemangioma.

Portwine stains xuất hiện lúc mới sinh ra. Chúng có màu hồng, đỏ hay đỏ tía nhạt và phẳng, hầu hết được tìm thấy ở mặt, cổ, tay hoặc chân và có nhiều kích cỡ khác nhau. Portwine stains sẽ lớn dần khi đứa trẻ lớn lên. Theo thời gian, Portwine stains sẽ trở nên dầy hơn phát triển thành một mụn thịt nhỏ. Portwine stains không tự biến mất, chúng tồn tại theo suốt cuộc đời.

Những bớt màu rượu vang Portwine stains có 5-8% nguy cơ bị hội chứng Sturge-Weber

2. Hội chứng Sturge – Weber

Hội chứng Sturge-Weber được đặc trưng bởi các bớt màu rượu vang trên mặt và u mạch màng não mềm. Các biến dạng rải rác thường gặp nhất ở các màng não mềm, mao mạch mặt, và các mạch máu trong mắt. U mạch màng não mềm biểu hiện lâm sàng dưới dạng động kinh, chậm phát triển tâm thần, và liệt nửa người.

– Bệnh nhân có thể bị động kinh từng phần sau đó tiến triển thành động kinh toàn thể.

– Liệt co thắt, tổn thương cảm giác, và bán manh cùng bên, xuất hiện muộn ở trẻ em và đối bên. Khoảng 6-7 tuổi, X quang thần kinh sọ cho thấy các vạch đôi cong của vỏ đính xương chẩm, là sự vôi hóa đường rầy xe điện kinh điển.

– Chậm phát triển tâm thần có ở khoảng 55-92% trường hợp.

-Khi nhìn thấy các vết bớt màu rượu vang có phân phối vùng thần kinh V1, chuyển bệnh nhân qua bắt sĩ chuyên khoa mắt để theo dõi chắm sóc. Biến chứng mắt gặp ở 30-60% bệnh nhân. Glaucom bắt đầu ở 2 tuổi; vì thế, giám sát kỹ áp lực nội nhãn. Biểu hiện mắt thường gặp nhất là u màng mạch lan tỏa, thường gặp cùng bên.

-Laser sớm điều trị các vết bớt màu rượu vang để tránh biến chứng như sưng mô mềm và phì đại.

VI. Điều trị các loại U mạch

90% các loại u mạch củ và 60% các u mạch dưới da hay hỗn hợp sẽ teo đi hoàn toàn trong vòng vài năm. Có một số u mạch máu đặc biệt vì vị trí khu trú, vì kích thước hay vì diễn biến phức tạp của nó cần được xử trí. U mạch không to ra trong vòng một hai ngày. Nếu điều này xảy ra, ta nên đến bác sĩ để xem xét ngay.

Điều quan trọng được đặt ra là vấn đề thẩm mỹ và trong đa số trường hợp, việc điều trị những u mạch này cần sự kiên nhẫn. Có một vài cách điều trị chẳng những vô ích, không đem lại hiệu quả gì mà còn nguy hiểm vì có nguy cơ để lại những vết sẹo xấu. Chỉ trong những trường hợp vị trí, kích thước và những biến chứng của các u máu này có nguy cơ đến tính mạng của trẻ, hay gây mất thẩm mỹ nghiêm trọng, người ta mới xét đến việc điều trị bằng các thuốc corticoides hay phẫu thuật.

– U máu phẳng có thể được cắt, ghép da hay dùng phương pháp áp lạnh bằng nitơ lỏng

– U máu gồ, u máu dưới da cũng có thể phẫu thuật cắt bỏ nếu u nhỏ, có ranh giới rõ. Nếu u to, ranh giới không rõ nguy hiểm nếu phẫu thuật, ta có thể tiêm gây xơ bằng thuốc tiêm xơ.

Nội khoa được áp dụng cho những u máu ở trẻ em trong giai đoạn tiến triển: corticoid, interferon, vincristine, propranolone, xạ trị, tiêm chất gây xơ, ngoại khoa (laser, phẫu thuật).

Điều trị tia xạ và tiêm các chất gây xơ hiện không còn được áp dụng do những tai biến của nó như nguy cơ ung thư tuyến giáp, sẹo hẹp thanh quản gây khó thở.

Điều trị phẫu thuật dành cho các khối u mạch ở người lớn và áp dụng cho những khối u lan rộng. Tuy nhiên có thể để lại những hậu quả nặng nề như tàn phế về giọng nói.

Laser được dùng làm biến chất các huyết sắc tố, làm đông đặc các mạch máu mà không làm tổn hại đến lớp thượng bì để lấy bỏ những u máu còn khu trú. Phương pháp dùng laser có nhiều triển vọng, nhất là đối với những bớt sẫm màu, nhưng có nhược điểm là gây đau đớn cho bệnh nhân.

Phòng bệnh chỉ áp dụng được đối với những khối u máu mắc phải sau côn trùng cắn, sau chấn thương bằng cách phải kiểm soát tốt các tổn thương tại các vùng mạch máu dễ gây ra u mạch ngay sau khi bệnh nhân bị thương tổn và điều trị kịp thời.

Điều trị các vết bớt Port wine stain: Nhiều phương pháp điều trị khác nhau đã từng được áp dụng trong quá khứ, nhưng chưa có phương pháp nào tối ưu cả.

Việc điều trị bằng laser được thực hiện nhiều lần, mỗi lần cách nhau khoảng hai tháng. Khoảng 25% bệnh nhân bị Portwine stains có thể xóa sạch, 70% bệnh nhân có vết bớt được cải thiện hơn. Vì không hiểu điều này nên các bệnh nhân thường không quan tâm lắm đến liệu pháp trị bệnh bằng tia laser.

Cũng có thể xảy ra nhiều rủi ro khi điều trị bằng laser. Màu sắc của vết có thể đậm lên hoặc nhạt bớt, để lại những mảng màu vàng nhạt hoặc màu trắng trên da, nhưng điều này không thường xảy ra. Có thể bị sưng, bị đóng mài hoặc chảy máu chút ít. Nhưng điều này cũng không thường xuyên và có thể điều trị dễ dàng. Phương pháp mài mòn cũng được sử dụng, nhưng hiếm.

Bác sĩ Uông Anh Tú và cộng sự Ở Khoa Ngoại Nhi BV Nhi Đồng Cần Thơ đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tác dụng của corticoids lên tổ chức u mạch máu ở trẻ em với 432 trường hợp. Kết quả đạt được rất khả quan với tỉ lệ 85% đáp ứng tốt với điều trị. Liều khởi đầu cho một trẻ khỏe mạnh là 40mg Prednisolone uống cách nhật trong 20 ngày (10 liều), sau đó giảm liều xuống dần 20mg – 10mg – 5mg – 2,5mg. Mỗi giai đoạn được cho uống cách nhật trong 20 ngày.

Cơ chế tác dụng của corticosteroids lên tổ chức u mạch máu vẫn chưa được biết rõ ràng. Có thể do corticosteroids ức chế hoạt động của chất tiêu hủy fibrin tại thành mạch máu, làm giảm hoạt động của plasminogene và làm tăng sự nhạy cảm của cơ thắt tiền mao mạch đối vớ các chúng tôi kết hợp với các tế bào có nguồn gốc từ heparine. Corticosteroids ức chế tăng sinh mạch máu và làm thoái triển mao mạch.

Ngoài Corticosteroids, u mạch máu ở trẻ em còn có thể được điều trị bằng Propranolol theo môt nghiên cứu vừa đươc công bố trên tạp chí New England Journal of Medicine (NEJM Volume 358 (24): 2649-2651, Figure 1- June 12, 2008 – No 24).

BS. LÊ ĐỨC THỌ Trưởng khoa Da liễu – BV Hoàn Mỹ Sài Gòn

Các Phương Pháp Xét Nghiệm Ung Thư Vú

Kiểm tra vú để phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm khi chưa có triệu chứng lâm sàng rõ ràng được gọi là tầm soát ung thư vú. Theo ThS. DS. Nguyễn Thị Vũ Thành – Chuyên gia y tế công cộng Quỹ toàn cầu, những phương pháp xét nghiệm ung thư vú được sử dụng phổ biến như chụp X-quang tuyến, siêu âm, chụp MRI, sinh thiết – tế bào học…

Chụp X-quang tuyến vú

Chụp X-quang tuyến vú (chụp nhũ ảnh) là xét nghiệm ung thư vú được sử dụng thường xuyên trong xét nghiệm ung thư vú. Bác sĩ sử dụng các chùm tia X có cường độ thấp và bước sóng dài hơn, chiếu xuyên qua vú, ghi lại hình ảnh tuyến vú lên phim. Thời gian chụp tuy nhanh, nhưng quá trình chụp bắt buộc chèn ép vào vùng mô vú để chụp ảnh mô vú một cách toàn diện, nên có thể gây cảm giác khó chịu cho bệnh nhân.

Theo khuyến cáo, phụ nữ trên 40 tuổi nên chụp X-quang định kỳ 6 tháng để tầm soát ung thư vú. Lưu ý không chụp nhũ ảnh trong kỳ kinh hay các ngày gần ngày kinh nguyệt, do nồng độ hormone nội tiết tố nữ tăng cao khiến tuyến vú căng tức hơn bình thường. Nếu chụp vào thời điểm này không chỉ gây nhầm lẫn các tổn thương trên phim, mà còn tăng cảm giác khó chịu cho người chụp. Thời điểm tốt nhất X-quang tuyến vú là 1 tuần sau khi kỳ kinh nguyệt kết thúc.

Tuy vậy, phương pháp này có nhược điểm khó phát hiện khối u ác tính ở phụ nữ trẻ, do mô vú ở độ tuổi này khá dày đặc.

Siêu âm

Phương pháp này dùng các sóng siêu âm để phát hiện những bất thường ở vú hoặc xung quanh bầu ngực, chỉ ra những thương tổn nằm sâu trong mô vốn khó phát hiện nếu người bệnh chỉ thăm khám lâm sàng. Siêu âm cũng giúp phân biệt giữa u nang (túi chứa đầy dịch lỏng) và các khối rắn, tìm kiếm các hạch bạch huyết có kích thước lớn, xác định kích thước, mức độ tổn thương của các khối u.

Ưu điểm của siêu âm là xét nghiệm nhanh chóng, tiện lợi, cho kết quả ngay. Có thể thực hiện nhiều lần, không gây hại cho cơ thể. Có thể siêu âm với phụ nữ mang thai, bé gái đang dậy thì, người có tuyến vú to, dày. Bác sĩ phát hiện được tổn thương có đường kính dưới 5mm, nhất là giai đoạn đầu ung thư vú. Người bệnh cũng cảm thấy dễ chịu hơn chụp X-quang, không đau.

Tuy nhiên, phương pháp này phụ thuộc vào người thực hiện siêu âm với nhiều năm kinh nghiệm và khả năng đọc tổn thương, nên việc tầm soát, xét nghiệm ung thư vú thông qua siêu âm cần được tiến hành ở các cơ sở y tế, bệnh viện tin cậy.

Chụp CT, chụp MRI

Chụp cắt lớp vi tính (CT) và chụp cộng hưởng từ (MRI) là kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh giúp phát hiện ung thư và một số bất thường ở tuyến vú với độ chính xác cao. Hình ảnh hiển thị trên máy tính giúp bác sĩ đưa ra kết luận chính xác.

Chụp MRI cho hình ảnh có chất lượng cao và độ phân giải tốt, giúp bác sĩ đánh giá chi tiết các tổn thương. Phương pháp thường dùng cho những phụ nữ có mô vú dày đặc hoặc có nguy cơ cao mắc ung thư vú, vì chụp MRI có thể phát hiện các khối u rất sớm. Tuy vậy, MRI tuyến vú có thể cho kết quả dương tính giả.

Xét nghiệm gen

Tầm soát xét nghiệm ung thư vú để phát hiện ra mang gen BRCA1 và BRCA2 đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán sớm, đánh giá đúng nguy cơ mắc bệnh.

Sinh thiết vú

Bác sĩ sẽ lấy một mẫu mô rất nhỏ để kiểm tra dưới kính hiển vi, phát hiện bệnh ung thư vú. Phương pháp này thực hiện sau khi chụp X-quang, siêu âm vẫn chưa xác định được bệnh.

Từ những phương phát xét nghiệm chuyên sâu, các bác sĩ sẽ đưa ra chẩn đoán, đánh giá theo các giai đoạn để lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

(Nguồn: GoldHealth)

Bạn đang đọc nội dung bài viết Tìm Hiểu Về Các Phương Pháp Xét Nghiệm Ung Thư Máu Hiện Nay trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!