Top 4 # Xem Nhiều Nhất 4 Sự Thật Về Ung Thư Đại Tràng Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

4 Sự Thật Về Ung Thư Đại Tràng

Ung thư đại tràng là một trong những bệnh ung thư thường gặp nhất trong cộng đồng. Ung thư đại tràng là một bệnh lý phổ biến. Tại Mỹ, hàng năm có khoảng trên 200.000 người mắc bệnh và khoảng gần 60.000 người tử vong vì ung thư đại tràng. Đây là căn bệnh đứng hàng đầu trong ung thư đường tiêu hóa tại các quốc gia Âu và Mỹ.

Ung thư đại tràng là gì?

Ở Việt Nam, ung thư đại tràng là một trong ba loại ung thư hàng đầu thuộc hệ tiêu hóa. Theo Hội Ung thư TP Hồ Chí Minh, ung thư đại tràng nằm trong số 5 bệnh ung thư có số người mắc cao nhất. Khảo sát mới nhất về tình trạng ung thư tại TP Hồ Chí Minh cho thấy, ung thư đại tràng xếp thứ 4 ở nam giới (sau ung thư gan, phổi và dạ dày) và thứ 3 ở nữ giới (sau ung thư cổ tử cung và ung thư vú). Nhưng cũng cần biết rằng, di căn của ung thư đại tràng lại nằm ở gan và phổi.

Dự đoán trong vài năm tới, số người mắc căn bệnh này sẽ tăng nhanh do lối ăn uống ít chất xơ, giàu thịt và các món ăn nhanh ngày một thịnh hành. Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, trong số bệnh nhân tử vong do ung thư tại Mỹ thì có tới 60% do ung thư đại tràng, tại Ba Lan con số này vượt 75%.

Hiện nay, y học chưa biết chính xác nguyên nhân gây ung thư đại tràng. Tuy nhiên, có những yếu tố nguy cơ chắc chắn làm dễ mắc bệnh hơn như tuổi tác (trên 9% bệnh nhân ung thư đại tràng là trên 50 tuổi), có tiền sử bị polip đại tràng, có tiền sử mắc bệnh viêm loét đại tràng, có tiền sử mắc bệnh viêm loét đại tràng và bệnh Crohn, trong gia đình có người mắc bệnh ung thư đại tràng hay đường ruột, chế độ ăn – uống nhiều chất mỡ động vật, thịt màu đỏ, nghèo chất xơ nguồn gốc thực vật, ít vận động, béo phì, uống nhiều rượu và hút nhiều thuốc lá…

Ung thư đại tràng là căn bệnh có những triệu chứng ban đầu không rõ ràng?

Chính xác. Ung thư đại tràng có thể khởi phát ở bất cứ vị trí nào trên đại tràng, từ lớp trong cùng của thành ruột (niêm mạc đại – trực tràng), sau đó xâm lấn ra phía ngoài qua các lớp khác của thành ruột. Ung thư ở mỗi vị trí trên đại tràng sẽ có biểu hiện triệu chứng khác nhau – thông thường là có máu trong phân. Trong đại đa số các trường hợp, ung thư đại tràng phát triển âm thầm trong nhiều năm. Trên 95% các trường hợp ung thư đại tràng là loại ung thư tế bào tuyến, nó bắt nguồn từ tế bào của niêm mạc ruột già.

Ở giai đoạn sớm, triệu chứng thường không rõ, nhiều khi người bệnh chỉ đau bụng nhẹ, cũng có khi bị trướng hay đầy bụng, đau tức vùng bụng trước hoặc sau khi ăn. Triệu chứng thường gặp và có giá trị chẩn đoán là đi ngoài ra máu – nhất là ở những người ở độ tuổi 45 – 55; rối loạn tiêu hóa, có ngày bị táo bón, có ngày lại bi đi lỏng kiểu tiêu chảy. Những triệu chứng này thường bị người bệnh nhầm với bệnh trĩ hay rối loạn tiêu hóa do ăn – uống. Do vậy, có tới 85% bệnh nhân nhập viện đã bị ung thư đại tràng giai đoạn giữa hay đã bị di căn.

Theo khuyến cáo của Hiệp hội Ung thư Mỹ, muốn phát hiện sớm ung thư đại tràng cần thử phân, khi xuất hiện triệu chứng như có thay đổi thói quen đi vệ sinh, đau bụng dưới, mệt mỏi. Do căn bệnh nguy hiểm này rất phổ biến, nên mọi người ở tuổi 45 – 55 đi kiểm tra xét nghiệm định kỳ, như thử phân, nội soi đại tràng. Khi có những triệu chứng rối loạn đường tiêu hóa, ăn không tiêu, táo bón, đầy bụng, bị tiêu chảy, nhất là ở tuổi trên 40, thì cần khẩn trương đi khám. Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, khoảng 58% bệnh nhân bị ung thư giai đoạn II và di căn khi được chẩn đoán lần đầu tiên. Trên 85% số bệnh nhân mắc ung thư đại tràng bị di căn và tử vong do phát hiện chậm.

Phẫu thuật và hóa trị là liệu pháp hữu hiệu nhất trong điều trị ung thư đại tràng?

Đúng thế. Trên thực tế, cho đến nay chưa có loại thuốc nào được công nhận là có tác dụng với bệnh này. Tỷ lệ sống được 5 năm sau phẫu thuật là 90% nếu ung thư còn trong lòng ruột. 50% nếu ung thư đã ăn qua thành ruột, chưa ăn vào hạch, còn 30% khi khối u đã ăn vào hạch và chỉ 10% nếu đã di căn vào nội tạng, như gan và phổi.

Theo tiến sĩ Khoo Kei Siong, cố vấn cao cấp về ung thư học và điều trị thuộc bệnh viện Gieneagles (Singapore), biện pháp phẫu thuật cắt bỏ khối u là tối ưu cho loại ung thư này và sau đó là áp dụng liệu pháp hóa trị. Nguy cơ rủi ro của phẫu thuật (như chảy máu trong mô liên kết hay nhiễm trùng) nếu được các chuyên gia phẫu thuật tiến hành sẽ giảm 50 – 60%. Sau phẫu thuật cắt bỏ khối u, hóa trị có thể không cần thiết. Điều này phụ thuộc vào bệnh nhân đang bị ung thư ở giai đoạn nào. Ở giai đoạn II và III của bệnh, bệnh nhân phải được hóa trị để tăng khả năng phục hồi. Ở giai đoạn IV, hóa trị có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của các tế bào ung thư. Không dùng xạ trị cho ung thư đại tràng vì dễ gây viêm nhiễm xạ cho các tạng trong ổ bụng.

Gần đây, đã có những loại thuốc mới trong hóa trị bệnh ung thư đại tràng không chỉ hiệu quả hơn mà tác dụng phụ tiêu cực cũng ít hơn. Do vậy, hóa trị liệu là phương pháp an toàn hơn cả. Oxaliplatin, Irinotecan, Cetuximab (Erbitux) và Acizumab (Avastin) là những loại thuốc mới hiệu quả trong biện pháp hóa trị liệu, một vài loại trong số này không hề gây rụng tóc. Đặc biệt, mới đây đã có loại thuốc viên đầu tiên chống ung thư đại tràng di căn mang tên Xeloda (Capecitabine), với liều dùng để uống 2 ngày/lần tại nhà. Nghiên cứu tại Đại học Texas (Mỹ) cho thấy, khi vào cơ thể thuốc kết hợp với một enzyme để biến thành 5-FU – một loại thuốc điều trị ung thư đã được sử dụng nhiều năm nay. Hiệu quả điều trị của Xeloda là tương đương với các thuốc hóa trị khác, trong khi tác dụng phụ rất ít, giúp cho sự điều trị không bị gián đoạn và bệnh nhân không phải nhập viện.

Thực phẩm có khả năng ngăn ngừa ung thư đại tràng?

Đúng thế. Tiến sĩ Khoo Kei Siong, cố vấn cao cấp về ung thư học và điều trị thuộc bệnh viện Gleneagles (Singapore) cho biết, tại các quốc gia châu Á, tỷ lệ mắc bệnh ung thư đường tiêu hóa nói chung và đại tràng nói riêng ngày càng tăng cao. Dinh dưỡng hợp lý là biện pháp dễ thực hiện làm giảm tỷ lệ ung thư đại tràng. Nghiên cứu mới đây của Tổ chức Y tế Thế giới (WTO) đưa ra kết quả rất lạc quan rằng có thể phòng ngừa ung thư bằng thực phẩm. Các chuyên gia dinh dưỡng thuộc WHO đưa ra lời khuyên để giảm tỷ lệ ung thư đại tràng nên hạn chế tiêu thụ đạm động vật, giảm các chất béo nguồn gốc động vật và gia tăng nguồn đạm từ thực vật, tăng lượng chất xơ từ trái cây và rau xanh. Nghiên cứu gần đây của Singapore cho thấy, nguyên nhân khiến nhiều người Hoa sống tại nước này hay bị ung thư đại tràng chính là chế độ ăn có nhiều thịt màu đỏ và ít rau xanh. Nguy cơ này đã giảm đáng kể khi tăng lượng rau, đậu phụ trong khẩu phần ăn hàng ngày.

+ Dầu ô liu: Trong dầu ô liu có chứa chiết xuất zyflamend có khả năng kiềm chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư. Gần đây các nhà khoa học thuộc Đại học Granada (Mỹ) còn phát hiện ra loại acid maslinic trong dầu ô liu và đã chứng minh được rằng acid maslinic có tác dụng điều hòa tăng sinh tế bào và có thể dùng điều trị ung thư đại tràng. Bằng cách ức chế tăng sinh tế bào, acid maslinic còn phát huy tác dụng phá hủy các tế bào ung thư đại tràng HT29. Đây là nghiên cứu đầu tiên về tác dụng phòng chống ung thư đại tràng của acid maslinic được công bố. + Đậu nành và ngũ cốc họ đậu: Đậu nành và các quả họ đậu là loại thực phẩm giàu chất xơ nhất. Ngoài dồi dào về chất xơ – có tác dụng kích thích nhu động ruột phòng ngừa ung thư đại tràng, hạt đậu nành còn chứa 8% nước, 5% chất vô cơ, 15 – 25% chất glucose, 15 – 20% chất béo, 35 – 40% chất đạm và nhiều axít amin và sinh tố khoáng chất cần thiết cho cơ thể. Sữa đậu nành nguyên chất, bảo đảm về chất lượng và vệ sinh thực phẩm là một trong những thực phẩm rất tốt cho việc ngăn ngừa ung thư đại tràng và các loại ung thư khác. + Cà rốt sống và rau sống: Theo nghiên cứu mới đây tại Italy cho thấy, cà rốt sống chứa một lượng lớn các hợp chất có khả năng chống lại bệnh ung thư đại tràng, trực tràng và ung thư vú. Rau sống cũng đem lại hiệu quả cao làm giảm nguy cơ mắc các loại ung thư này. Khảo cứu gần đây cho thấy, những người ăn cà rốt và rau sống 12 lần mỗi tuần đã giảm được 29% nguy cơ ung thư đại tràng, 18% ung thư trực tràng so với những người chỉ ăn 2 – 3 lần mỗi tuần. + Các sản phẩm làm từ bơ, sữa: Trong những sản phẩm này rất giầu chất béo thực vật và axít linoleic giúp giảm nguy cơ mắc ung thư đại – trực tràng. Một nghiên cứu tại Thụy Điển cho biết, người có lượng a-xít linoleic cao thì nguy cơ mắc bệnh ung thư đại tràng giảm tới trên 30% so với người có lượng a-xít này thấp. Đặc biệt, những người tiêu thụ nhiều pho-mai thì nguy cơ mắc bệnh rất thấp.

+ Dứa: Trong dứa có chứa hai phần từ hợp chất CCZ và CCS có khả năng kích thích hệ miễn dịch tấn công tế bào ung thư, kìm hãm khả năng di căn của các loại ung thư đại tràng ung thư vú, phổi và ung thư da. + Rau xanh và trái cây khác:Các loại rau xanh như bắp cải, súp lơ xanh, cải xoong và trái cây như táo, lê, kiwi, mận, đào, nho, dâu tây, dưa hấu… ngoài việc cung cấp chất xơ và vitamin cùng khoáng chất cho cơ thể còn có nhiều hợp chất có khả năng kìm hãm sự phát triển những tế bào ung thư đại tràng và hạn chế khả năng di căn của loại ung thư này. + Hành, tỏi: Chứa nhiều chất allicin có tác dụng tăng cường hệ miễn dịch, ngăn ngừa bệnh ung thư đường tiêu hóa

Sự Thật Về Ung Thư Vú

Ung thư vú được chẩn đoán bằng cách nào?

Khám lâm sàng – đặc biệt trong trường hợp có cục u hoặc tiết dịch ở núm vú, hoặc phát hiện có thay đổi bất thường ở vú.

Chụp nhũ ảnh – một công cụ chẩn đoán hình ảnh đặc biệt bằng X-quang có thể phát hiện các khối bất thường trong vú như mảng lắng đọng canxi, u nang và u.

Siêu âm – để kiểm tra các bất thường được phát hiện trên nhũ ảnh. Siêu âm có thể giúp phân biệt giữa một khối đặc, có thể là ung thư, với một u nang chứa dịch, thường không phải là ung thư.

Chụp cộng hưởng từ (MRI) – chụp MRI có thể kiểm tra kỹ hơn các vùng vú nghi ngờ có khả năng phát triển ung thư. Phương pháp này rất hữu ích đối với những phụ nữ trẻ do họ thường có mật độ mô vú cao hơn, điều này có thể làm giảm hiệu quả của các thủ thuật kiểm tra chẩn đoán hình ảnh tiêu chuẩn (ví dụ như chụp nhũ ảnh và siêu âm) trong việc phát hiện ung thư vú.

Sinh thiết là gì?

Sinh thiết là thủ thuật cần thiết để xác nhận tình trạng mắc ung thư vú. Thủ thuật này được thực hiện bằng cách lấy mẫu mô bất thường để kiểm tra kỹ dưới kính hiển vi.

Các kỹ thuật sinh thiết phổ biến:

Chọc hút bằng kim nhỏ (FNA)

Sinh thiết lõi kim hoặc tru-cut

Sinh thiết cắt bỏ

Ung thư vú được đánh giá bằng cách nào?

Giai đoạn / Mức độ lan rộng

Giai đoạn Mức độ lan rộng Tỷ lệ sống 5 năm trung bình (%)*

0 Ung thư không xâm lấn 99

I

Ung thư xâm lấn với u kích thước nhỏ

(nhỏ hơn 2cm và chưa lan sang hạch bạch huyết ở nách)

90

II

Ung thư xâm lấn

(từ 2 – 5cm hoặc/kèm theo xâm lấn hạch bạch huyết)

70

III

Ung thư xâm lấn với u kích thước lớn

(lớn hơn 5cm kèm theo xâm lấn da hoặc lan sang nhiều hạch bạch huyết)

40

IV Ung thư lan rộng hoặc di căn 20

*Mỗi bệnh nhân có thể có trải nghiệm khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm cụ thể của bệnh ung thư vú và điều này sẽ ảnh hưởng đến liệu pháp được sử dụng để nhắm đích ung thư.

Những đặc điểm sau đây của ung thư vú có thể ảnh hưởng đến khả năng tái phát và tỷ lệ sống sót của bệnh nhân.

Cấp độ u / Cấp độ mô học

Chỉ số này cho thấy mức độ tế bào u giống với tế bào bình thường khi kiểm tra dưới kính hiển vi, được đánh giá theo cấp độ từ 1 – 3. U cấp độ 3 bao gồm những tế bào ung thư bất thường và tăng trưởng rất nhanh. Cấp độ mô học càng cao thì khả năng tái phát ung thư vú càng lớn.

Hạch bạch huyết

Số lượng hạch bạch huyết bị xâm lấn (dương tính) ở nách nằm cùng bên với vú bị ảnh hưởng là một chỉ dấu quan trọng về khả năng hồi phục thành công. Số lượng hạch dương tính cao hơn thường dẫn đến kết quả kém khả quan hơn và cần phải áp dụng các phương pháp điều trị tấn công mạnh hơn.

Kích thước u

Nhìn chung, kích thước u càng lớn thì nguy cơ tái phát ung thư vú càng cao.

Thụ thể oestrogen/progesterone

HER2

HER2 là một loại protein hỗ trợ sự tăng trưởng của tế bào ung thư và được tìm thấy trên bề mặt của một số tế bào ung thư. U dương tính với HER2 là loại u có thừa protein HER2 trên các tế bào hình thành u. Những u này có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn các loại u ung thư vú khác, và u dương tính với HER2 xuất hiện ở 20-25% trong tổng số các trường hợp ung thư vú.

Việc biết được u ung thư có dương tính với HER2 hay không có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp điều trị vì phụ nữ mang những u này có khả năng nhận được lợi ích từ các liệu pháp nhắm đích HER2. Những phương pháp này bao gồm các liệu pháp sử dụng thuốc như trastuzumab (Herceptin®), pertuzumab (Perjeta®) hoặc TDM-1 (Kadcyla®).

Sự Thật Về Ung Thư Vòm Họng

Ung thư biểu mô keratin hóa

Ung thư biểu mô biệt hóa không keratin hóa

Ung thư biểu mô tế bào vảy

Việc điều trị là giống nhau cho tất cả các loại NPC, tuy nhiên ung thư biểu mô không keratin hóa đáp ứng tốt hơn với điều trị. Nhiều NPC cũng chứa rất nhiều tế bào hệ thống miễn dịch, đặc biệt là các tế bào bạch cầu gọi là tế bào lympho. Sự hiện diện của tế bào này giúp các nhà khoa học phát triển các phương pháp điều trị mới.

Một số dạng ung thư vòm họng khác: U lympho, Adenocarcinoma và adeno cystic carcinoma, Khối u mũi họng lành tính, Khối u vòm họng lành tính.

Các yếu tố nguy cơ gây ung thư vòm họng

Các nhà khoa học đã tìm thấy các yếu tố nguy cơ khiến một người có nhiều khả năng phát triển ung thư vòm họng (NPC). Bao gồm các:

➤ Giới tính: Tỷ lệ nam giới mắc NPC cao gấp đôi so với nữ giới

➤ Tuổi tác: Ung thư vòm họng có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng phổ biến hơn cả là độ tuổi 30-50

➤ Lịch sử gia đình: Có một thành viên gia đình bị ung thư biểu mô vòm họng làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

➤ Dân tộc và nơi bạn sống: NPC phổ biến nhất ở các nước Đông Nam Á, Canada và Greenland. Ung thư vòm họng cũng rất phổ biến tại Việt Nam

➤ Chế độ ăn: Chế độ ăn nhiều cá và muối làm tăng nguy cơ ung thư vòm họng. Ngược lại, một số nghiên cứu cho rằng chế độ ăn nhiều hạt, đậu, trái cây và rau quả và ít các sản phẩm từ sữa và thịt có thể giúp giảm nguy cơ NPC.

➤ Rượu và thuốc lá: Liên kết giữa nhiễm EBV và NPC rất phức tạp và chưa được hiểu rõ. Chỉ nhiễm EBV là không đủ để gây ra NPC, vì nhiễm vi-rút này là rất phổ biến và ung thư này là rất hiếm. Các yếu tố khác, chẳng hạn như gen của một người, có thể ảnh hưởng đến cách cơ thể đối phó với EBV, do đó có thể ảnh hưởng đến cách EBV đóng góp vào sự phát triển của NPC.

➤ Phơi nhiễm nơi làm việc: Một số nghiên cứu cho rằng việc tiếp xúc với formaldehyd tại nơi làm việc làm tăng nguy cơ NPC.

➤ Nhiễm virus Epstein-Barr (EBV): Hầu hết tất cả các tế bào NPC đều chứa các bộ phận của virus Epstein-Barr (EBV) và hầu hết những người bị NPC đều có bằng chứng nhiễm EBV trong máu. Liên kết giữa nhiễm EBV và NPC rất phức tạp và chưa được hiểu rõ.

Chỉ nhiễm EBV là không đủ để gây ra NPC, vì nhiễm vi-rút này là rất phổ biến và ung thư này là rất hiếm. Các yếu tố khác, chẳng hạn như gen của một người, có thể ảnh hưởng đến cách cơ thể đối phó với EBV, do đó có thể ảnh hưởng đến cách EBV đóng góp vào sự phát triển của NPC.

➤ Nhiễm virus EBV: Hầu hết các trường hợp nhiễm virus Epstein-Barr diễn ra vào thời thơ ấu, và hồi phục mà không gây ra bất kỳ vấn đề gì dài hạn. Nhưng trong một số trường hợp, các mảnh ADN cuẩ EBV trộn với ADN của tế bào vòm họng.

Sau đó, ADN của EBV có thể hướng dẫn các tế bào của vòm họng phân chia và phát triển một cách bất thường, sinh ra các khối u tại vòm họng. Tuy nhiên, nhiễm EBV hiếm khi dẫn đến NPC, vì vậy các yếu tố khác có thể đóng vai trò trong việc có gây ung thư hay không.

➤ Chế độ ăn: Chế độ ăn nhiều thịt muối, cá muối làm tăng khả năng EBV gây ra NPC. Các nghiên cứu cho thấy, các thực phẩm được bảo quản bằng muối có thể tạo ra hóa chất làm hỏng ADN. ADN bị hỏng sau đó làm thay đổi khả năng tế bào để kiểm soát sự tăng trưởng và sao chép của nó.

Triệu chứng của ung thư vòm họng

Kiểm tra sức khỏe định kỳ được khuyến khích tại các nước có ung thư vòm họng phổ biến. Hầu hết các bệnh nhân ung thư vòm họng đều nhận thấy có khối u ở cổ. Các cục u gây ra bởi ung thư lan đến các hạch bạch huyết ở cổ khiến chúng sung lên.

Các triệu chứng có thể khác của NPC bao gồm:

Nghe kém, ù tai, đau hoặc cảm giác đầy trong tai (đặc biệt chỉ ở một bên)

Nhiễm trùng tai tái phát

Tắc nghẽn mũi hoặc nghẹt mũi

Chảy máu cam

Nhức đầu

Đau mặt hoặc tê

Khó mở miệng

Nhìn mờ hoặc nhìn đôi

Khó thở hoặc nói chuyện

Các xét nghiệm chẩn đoán ung thư vòm họng

Nếu bạn có triệu chứng cho thấy bạn có thể bị NPC, bạn sẽ cần làm một bài kiểm tra sức khỏe và các xét nghiệm cần thiết để chẩn đoán chính xác về tình trạng ung thư vòm họng. Bác sĩ sẽ chú ý một số cơ quan như mũi, miệng, cổ họng, cơ mặt và các hạch bạch huyết ở cổ để tìm Nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị của Ung thư vòm họng.

Mũi họng nằm sâu trong đầu và không dễ nhìn thấy, vì vậy cần có các kỹ thuật đặc biệt để kiểm tra khu vực này. Có 2 loại xét nghiệm chính được sử dụng để nhìn vào bên trong vòm họng cho sự phát triển bất thường:

➤ Nội soi mũi họng gián tiếp: Bác sĩ sử dụng gương nhỏ đặc biệt và đèn sáng để nhìn vào vòm họng và các khu vực lân cận.

➤ Nội soi mũi họng trực tiếp: Sử dụng một ống mỏng, linh hoạt, được chiếu sáng xuyên qua mũi của bạn. Thuốc gây tê được xịt vào mũi của bạn trước khi thi để dễ dàng hơn. Đây là phương pháp thường được sử dụng để kiểm tra cẩn thận vòm họng.

Sinh thiết

Cách duy nhất để chắc chắn về ung thư vòm họng là thực hiện sinh thiết và soi tế bào bất thường dưới kính hiển vi. Các loại sinh thiết khác nhau có thể được thực hiện, tùy thuộc vào nơi khu vực bất thường.

➤ Sinh thiết nội soi: Nếu thấy sự tăng trưởng đáng ngờ trong vòm họng.

➤ Sinh thiết chọc kim mịn (FNA): Sinh thiết FNA có thể được sử dụng nếu bạn có một khối u đáng ngờ trong hoặc gần cổ

Xét nghiệm hình ảnh

Các xét nghiệm hình ảnh sử dụng bao gồm: tia X, từ trường, sóng âm hoặc các hạt phóng xạ để tạo ra hình ảnh bên trong cơ thể bạn. Các xét nghiệm hình ảnh có thể được thực hiện vì một số lý do, bao gồm để giúp tìm ra khu vực đáng ngờ có thể là ung thư

Một số xét nghiệm hình ảnh được sử dụng trong chẩn đoán ung thư vòm họng

Chụp X-quang ngực

Chụp cắt lớp vi tính (CT)

Chụp cộng hưởng từ (MRI)

Chụp cắt lớp phát xạ positron (PET)

Xét nghiệm máu không được sử dụng để chẩn đoán NPC, nhưng chúng có thể được thực hiện vì những lý do khác, chẳng hạn như để giúp tìm hiểu xem ung thư có lan sang các bộ phận khác của cơ thể hay không bằng cách đánh giá ADN của virus Epstein-Barr (EBV)

Các xét nghiệm để đo nồng độ ADN của virus Epstein-Barr (EBV) trong máu có thể được thực hiện trước và sau khi điều trị để giúp cho thấy điều trị có hiệu quả như thế nào.

Giai đoạn 0 được gọi là ung thư biểu mô tại chỗ.

Giai đoạn I là ung thư vòm họng giai đoạn đầu chưa lan đến các hạch bạch huyết hoặc các bộ phận xa của cơ thể.

Giai đoạn II là ung thư vòm họng có thể đã lan đến các mô và hạch bạch huyết gần đó nhưng chưa lan đến các phần xa của cơ thể.

Các giai đoạn III và IV được coi là tiên tiến hơn vì kích thước khối u lớn, lan rộng đến các mô lân cận, các hạch bạch huyết và/ hoặc các bộ phận xa của cơ thể.

Nếu ung thư vòm họng trở lại, nó được gọi là ung thư tái phát.

Các phương pháp điều trị ung thư vòm họng

Phẫu thuật

Vòm họng là vị trí tương đối khó can thiệp. Hơn hết các phương pháp điều trị khác cho kết quả khá tốt. Do vậy, phẫu thuật không thường được áp dụng cho ung thư vòm họng. Mục đích chủ yếu của phẫu thuật là loại bỏ các hạch bạch huyết tại cổ. Một số loại phẫu thuật được thực hiện gồm: phẫu thuật cắt bỏ khối u, phẫu thuật cắt bỏ hạch bạch huyết. Tuy ít được sử dụng nhưng phương pháp này giúp bác sĩ quan sát được khối u đã được cắt bỏ và đảm bảo không bị sót.

Tác dụng phụ thường gặp của của phẫu thuật ung thư vòm họng thường gặp bao gồm: Chảy máu, nhiễm trùng, biến chứng gây mê và viêm phổi…

Hóa trị

Hóa trị kết hợp xạ trị là phương pháp điều trị đầu tiên cho các giai đoạn tiến triển hơn của NPC do thuốc hóa học làm tăng nhạy cảm với bức xạ của tế bào ung thư.

Thuốc hóa học phổ biến cho NPC là Cisplatin. Nó có thể dùng độc lập trong hóa trị hoặc được kết hợp với một loại thuốc khác, 5-fluorouracil (5-FU), nếu được sử dụng sau khi xạ trị.

Một số loại thuốc khác cũng có thể hữu ích trong điều trị NPC đã lan rộng. Bao gồm các: Carboplatin (Paraplatin®), Doxorubicin (Adriamycin®), Epirubicin (Ellence®), Paclitaxel (Taxol®), Docetaxel (Taxotere®), Gemcitabine (Gemzar®), Bleomycin, Methotrexate

Các tác dụng phụ của hóa trị phụ thuộc vào loại và liều lượng thuốc bạn sử dụng và thời gian bạn nhận được chúng. Các tác dụng phụ thường gặp bao gồm:

Rụng tóc

Loét miệng

Ăn mất ngon

Buồn nôn và ói mửa

Bệnh tiêu chảy

Tăng nguy cơ nhiễm trùng (do số lượng bạch cầu thấp)

Dễ bị bầm tím hoặc chảy máu (do số lượng tiểu cầu trong máu thấp)

Mệt mỏi (do số lượng hồng cầu thấp)

Những tác dụng phụ này thường là ngắn hạn và biến mất theo thời gian sau khi kết thúc điều trị

Xạ trị

Các bệnh nhân ung thư NPC rất nhạy cảm với phóng xạ. Do vậy, xạ trị luôn được sử dụng như 1 phần của điều trị ung thư vòm họng. Xạ trị thường được dùng cho cả khối u vòm họng chính và các hạch bạch huyết gần đó ở cổ. Ngay cả khi các hạch bạch huyết không cứng hoặc lớn bất thường, bức xạ vẫn được sử dụng.

Xạ trị chùm tia ngoài (EBRT): Loại xạ trị này sử dụng tia X nhắm vào khối u từ một máy lớn. Đây là hình thức xạ trị phổ biến nhất cho NPC.

Brachytherou (bức xạ nội bộ): Bức xạ di chuyển một khoảng cách rất ngắn, vì vậy nó ảnh hưởng đến bệnh ung thư mà không gây ra nhiều tác hại cho các mô khỏe mạnh gần đó.

Tác dụng phụ thường gặp của bức xạ chùm ngoài:

Thay đổi da ở khu vực mà bức xạ đi qua, đỏ hoặc phồng rộp

Buồn nôn và ói mửa

Mệt mỏi

Các vết loét trong miệng và cổ họng có thể dẫn đến khó nuốt và giảm cân do không ăn

Khàn tiếng

Mất vị giác

Liệu pháp nhắm mục tiêu cho ung thư vòm họng

Liệu pháp nhắm mục tiêu nhằm vào sự thay đỏi trong các tế bào gây ung thư. Liệu pháp này có thể sử dụng thay thế khi hóa trị ít hiệu quả, thậm chí có thể giúp thuốc hóa trị hoạt động tốt hơn.

Thuốc nhắm mục tiêu thường được sử dụng là Cetuximab (Erbitux®): Cetuximab là một kháng thể đơn dòng hắm vào thụ thể của yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR). EGFR là protein được tìm thấy trên bề mặt tế bào có tác dụng kiểm soát sự phát triển và phân chia của tế bào. Ở các tế bào ung thư, lượng EGFR tăng đột biến. Bằng cách ngăn EGFR, Cetuximab giúp ức chế khối u phát triển

Cetuximab được tiêm truyền tĩnh mạch, thường là một lần một tuần. Các tác dụng phụ thường gặp bao gồm:

Các vấn đề về da, chẳng hạn như nổi mẩn ngứa, nổi mụn ở mặt và ngực, có thể dẫn đến nhiễm trùng

Đau đầu

Mệt mỏi và yếu đuối

Sốt

Bệnh tiêu chảy

Buồn nôn và ói mửa

Giảm cân

Các phương pháp điều trị như: hóa trị, xạ trị, phẫu thuật ngoài tác động là thu nhỏ và tiêu diệt ung thư thì ảnh hưởng lên các cơ quan lành tính cũng rất lớn, khiến cho bệnh nhân suy kiệt. Vì vậy, trong quá trình điều trị, bệnh nhân ung thư cần phải tăng cường dinh dưỡng, ăn uống điều độ và sử dung các sản phẩm tăng miễn dịch và sức đề kháng của cơ thể.

Mong rằng qua bài viết ” Sự thật về Ung thư vòm họng: Nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị “, bạn đọc đã có cài nhín khái quát về căn bệnh này. Nếu có bất kì thắc mắc nào cần chuyên gia giải đáp, liên hệ ngay số Hotline 0911 241 022 để được tư vấn.

Có Thể Bạn Quan Tâm: ung thu vòm họng, nhung dau hieu ung thu vom hong, trieu chung ung thu da day, ung thư vú, ung thư vú và dấu hiệu nhận biết, ,

Sự Thật, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị Ung Thư Đại Trực Tràng

Ung thư đại trực tràng, còn gọi là ung thư đại tràng, ung thư trực tràng hoặc ung thư ruột, là bệnh ung thư xảy ra ở đại tràng (đoạn dài nhất của ruột già) hoặc trực tràng (đoạn cuối cùng dài vài inch của ruột già trước khi tới hậu môn). Các trường hợp ung thư đại trực tràng hầu hết đều là ung thư biểu mô tuyến (ung thư bắt đầu ở những tế bào sản xuất chất nhầy và các loại dịch khác).

Ung thư đại trực tràng là bệnh ung thư phổ biến nhất ở Singapore1. Số trường hợp mắc ung thư đại trực tràng đang tăng dần ở cả nam giới và nữ giới. Singapore là một trong những quốc gia có số trường hợp mắc loại ung thư này cao nhất ở Châu Á, cùng với Đài Loan, Nhật Bản và Úc. May mắn là số trường hợp tử vong do ung thư đại trực tràng đã giảm trong 15 năm qua. Kết quả này là nhờ vào việc ngày càng có nhiều người thực hiện tầm soát bệnh định kỳ, từ đó giúp phát hiện ung thư đại trực tràng ở giai đoạn sớm. Các phương pháp điều trị ung thư đại trực tràng cũng được cải thiện, trở nên hiệu quả hơn, đặc biệt khi ung thư được phát hiện sớm.

1Báo cáo Thường niên Giữa kỳ của Cơ quan Đăng ký Ung thư Singapore, Xu hướng mắc ung thư ở Singapore trong giai đoạn 2010 -2014, Văn phòng Đăng ký Bệnh tật Quốc gia (công bố ngày 26 tháng 5 năm 2015)

Ung thư đại trực tràng không xảy ra do một nguyên nhân đơn lẻ nào, trong đó ung thư đại tràng bắt đầu từ một polyp (khối tăng sinh bất thường), sau đó phát triển thành khối tăng sinh ung thư. Những người có một số yếu tố nguy cơ có khả năng phát triển ung thư đại trực tràng cao hơn, những yếu tố nguy cơ này bao gồm:

1. Polyp đại trực tràng

Đây là các khối tăng sinh trên thành trong của đại tràng hoặc trực tràng, thường được phát hiện ở những người trên 50 tuổi. Mặc dù hầu hết các polyp đều lành tính (không ung thư), một số polyp vẫn có thể trở thành ung thư.

2. Viêm loét đại tràng hoặc bệnh Crohn

Viêm loét đại tràng hoặc bệnh Crohn là tình trạng gây sưng đại tràng qua nhiều năm và có thể làm tăng nguy cơ phát triển ung thư đại trực tràng.

3. Tiền sử ung thư của cá nhân

Những người sống sót sau ung thư đại trực tràng có thể phát triển ung thư đại trực tràng lần thứ hai. Những phụ nữ có tiền sử ung thư buồng trứng, ung thư tử cung hoặc ung thư vú cũng có nguy cơ phát triển ung thư đại trực tràng cao hơn.

4. Tiền sử gia đình mắc ung thư đại trực tràng

Những người có tiền sử gia đình mắc ung thư đại trực tràng có thể có nguy cơ phát triển căn bệnh này cao hơn, đặc biệt là khi thành viên trong gia đình hoặc họ hàng mắc ung thư từ khi còn nhỏ.

Những người hút thuốc hoặc có chế độ ăn giàu chất béo và ít trái cây, rau quả có nguy cơ phát triển ung thư đại trực tràng cao hơn.

6. Trên 50 tuổi

Những người trên 50 tuổi có nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng cao hơn. Hơn 90% trong số những người mắc bệnh đều trên 50 tuổi.