Top 2 # Xem Nhiều Nhất Bệnh Ung Thư Xương Di Căn Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Bệnh Ung Thư Di Căn Xương

Ung thư di căn xương (Bone metastases) là tình trạng những tế bào ung thư từ ổ nguyên phát di căn đến tổ chức xương làm tổn hại đến cấu trúc của xương. Hệ thống xương là một trong những cơ quan hay bị ung thư di căn nhất và thường gây ảnh hưởng nhiều nhất đến chất lượng cuộc sống người bệnh do gây đau đớn.

Những loại ung thư hay gây di căn vào xương bao gồm ung thư tại các vị trí như phổi, vú (nữ), tiền liệt tuyến, thận, tuyến giáp, dạ dày. Vị trị xương hay bị di căn là: cột sống, xương chậu, xương sườn, xương sọ, xương cánh tay, xương dài ở chi dưới, trong đó cột sống, xương sườn, xương chậu là những vị trí thường bị ảnh hưởng sớm nhất.

Hiện tại có thể điều trị kiểm soát được các triệu chứng của ung thư di căn xương và làm ngăn cản sự phát triển của ung thư.

2. CHẨN ĐOÁN

a) Chẩn đoán xác định: Dựa vào lâm sàng và các thăm dò cận lâm sàng, trong đó việc tìm thấy tế bào ung thư nguyên phát qua chọc hút hoặc sinh thiết xương là tiêuchuẩn vàng quan trọng nhất.

Biểu hiện lâm sàng:

– Đau xương: Là biểu hiện hay gặp nhất, thường đau tăng về đêm và khi nghỉ ngơi.

– Gẫy xương bệnh lý: Đôi khi triệu chứng gẫy xương là dấu hiệu ban đầu của ung thư di căn xương. Gãy xương bệnh lý thường gặp hơn ở những bệnh nhân ung thư di căn xương có tổn thương tiêu xương.

– Dấu hiệu chèn ép rễ thần kinh hoặc chèn ép tủy sống khi có di căn cột sống.

– Các triệu chứng tăng calci máu: Kém ăn, mệt mỏi, nôn, táo bón, lú lẫn

– Toàn thân: Sút cân, có thể thấy hạch ngoại vi

– Triệu chứng khác: Thiếu máu (do tổn thương tủy xương), nhiễm trùng cơ hội (do giảm sức đề kháng), xuất huyết (do giảm tiểu cầu).

– Có thể có các biểu hiện của ung thư nguyên phát.

Cận lâm sàng:

– : Các xét nghiệm về bilan viêm (máu lắng, CRP tăng) thường tăng phosphatase kiềm máu tăng, calci máu tăng khi có sự huỷ xương nhiều, giảm tế bào máu: giảm hồng cầu, giảm bạch cầu và tiểu cầu. Các xét nghiệm về marker ung thư có thể tăng cao theo từng loại ung thư nguyên phát (CEA, CA125, PSA…)

– X quang xương: Hình ảnh tổn thương xương có thể là những ổ tiêu xương, hoặc kết đặc xương, hoặc hỗn hợp. Khi đã thấy tổn thương xương trên X quang thường quy thì bệnh nhân đã ở giai đoạn muộn.

– Xạ hình xương: Giúp phát hiện tổn thương ung thư di căn sớm hơn X quang thường quy, có độ nhậy cao nhưng độ đặc hiệu không cao. Dấu hiệu điển hình là hìnhảnh tăng hoạt tính phóng xạ đa ổ với hình dạng, kích thước và tỉ trọng khác nhau, phân bố không đối xứng, không đều, rải rác trên toàn bộ hệ thống xương, đặc biệt trên cột sống. Nếu cần thiết, nên chụp SPECT (chụp 3 pha), đặc biệt khi ổ tổn thương là đơn độc, để phân tích đặc tính ổ tổn thương qua 3 pha huyết động, hoặc chụp PET hoặc PET-CT để phát hiện ung thư ở giai đoạn sớm cả về vị trí và chức năng của khối u.

– : Cho thấy hình ảnh xương và các tổ chức phần mềm một cách rõ nét.Có giá trị nhất khi di căn ở vùng cột sống.

– : Sinh thiết trực tiếp hoặc dưới hướng dẫn chụp CT, làm xét nghiệm mô bệnh học. Cần sinh thiết nhiều mẫu bệnh phẩm để tránh bỏ sót. Phát hiện tế bào ung thư nguyên phát được coi là tiêu chuẩn vàng.

– Các thăm dò khác:

+ Đo mật độ xương: Phát hiện sớm loãng xương.

+ Phát hiện sự mất thăng bằng giữa tạo cốt bào và hủy cốt bào.

+ Các thăm dò để chẩn đoán ung thư nguyên phát, tuy nhiên nhiều trường hợp không phát hiện được ung thư nguyên phát.

b) Chẩn đoán phân biệt:

– Các u xương lành tính

– Loãng xương thông thường và loãng xương thứ phát do các nguyên nhân khác

– Đa u tủy xương (bệnh Kahler)

– Sarcoma xương hoặc các bệnh lý ác tính khác của xương

– Điều trị triệu chứng và chăm sóc giảm nhẹ để cải thiện chất lượng sống là những biện pháp điều trị chủ yếu và quan trọng nhất: Giảm đau, điều trị gẫy xương, tăng calci máu, nâng cao sức đề kháng…

– Ngặn chặn và/hoặc làm giảm quá trình huỷ xương, làm chậm quá trình di căn xương.

– Kết hợp với điều trị ung thư nguyên phát nếu có thể.

b) Điều trị cụ thể

– Điều trị triệu chứng

+ Giảm đau:

Bậc 1: Paracetamol liều người lớn 500 – 1000mg mỗi 4-6 giờ nếu cần và không quá 4000mg/ngày, liều cho trẻ em < 12 tuổi là 10-15mg/kg cân nặng, mỗi 4-6 giờ.

Bậc 2: Paracetamol + codein hoặc tramadol liều dùng 1-2 viên mỗi 4-6 giờ và không quá 8 viên/ngày, dùng không quá 5 ngày, giảm liều ở những bệnh nhân suy gan, suy thận, người lớn tuổi.

Bậc 3: Morphin hoặc các dẫn xuất của morphin (morphin sulphat 10mg, liều tùy theo từng mức độ đau của bệnh nhân, có thể sử dụng dạng uống hoặc tiêm, liều dao động 5-30mg, mỗi 4 giờ nếu cần).

Thuốc chống viêm không steroid (NSAID): Kết hợp thuốc chống trầm cảm:

Chọn một trong các thuốc sau: Diclofenac 100 – 150mg/ngày; Piroxicam 20mg/ngày; Meloxicam 7,5 – 15 mg/ngày; Celecoxib 200-400mg/ngày; Etoricoxib 60mg/ngày.Dùng đường uống hoặc tiêm bắp (không nên tiêm quá 4 ngày).

Ở những bệnh nhân có biểu hiện lo lắng hay trầm cảm nhiều: Amitriptyline 25mg, liều 1-4 viên/ngày, sulpiride 50mg, ngày 2-4 viên.

Có thể được chỉ định cho những bệnh nhân có các biểu hiện đau thần kinh.

+ Điều trị tăng calci máu:

Dung dịch natriclorua 0,9% 3- 4 lít/ngày (200 – 300ml/giờ và duy trì nước tiểu 100-200ml/giờ) với điều kiện huyết áp cho phép. Truyền dịch qua tĩnh mạch trung tâm là tốtnhất.

Calcitonin:

Lợi tiểu: Dùng nhóm furosemide 20mg (tiêm tĩnh mạch), sử dụng trong và sau khi truyền dịch

Tiêm bắp hoặc pha với natriclorua 0,9% truyền tĩnh mạch có tác dụng hạ calci máu nhanh với liều 4- 6UI/kg cứ mỗi 12 giờ. Theo dõi nồng độ calci máu để quyết định việc sử dụng thuốc tiếp tục (không dùng kéo dài calcitonin).

Corticoid: Truyền tĩnh mạch methylprednisolon 1-2mg/kg .

Pamidronate 90mg pha với natriclorua 0,9% truyền trong 2 giờ, hoặc zoledronate acid 4mg pha với 200ml natriclorua 0,9% hoặc glucose 5% truyền nhanh trong 30 phút.

+ Điều trị thiếu máu:

Truyền khối hồng cầu hoặc các chế phẩm của máu khác nếu cần. Erythropoietin tiêm dưới da 2000 – 4000 UI/ngày, tuần 3 lần.

– Điều trị ngặn chặn hoặc giảm huỷ xương, làm chậm quá trình tiến triển di căn xương và tiến triển của bệnh

+ Biphosphonate: Pamidronate 30mg, liều 90mg, mỗi tháng truyền một lần hoặc zoledronic acid 4mg, liều 4mg tháng một lần pha truyền tĩnh mạch.

+ Một số thuốc chống hủy xương khác: Thuốc kháng RANKL, thuốc kháng cathepsin K, …

+ Thuốc ức chế tăng sinh mạch của tổ chức ung thư: Ức chế Endothelin- 1

+ Xạ trị ngoài, chiếu xạ vào những vùng di căn với mục đích giảm đau,

hạn chế sự phát triển của khối u.

+ Dược chất phóng xạ ( xạ trị trong): Có tác dụng giảm đau do ung thư di căn xương: Strontium – 89 và phosphous – 32, Samarium 153

+ Liệu pháp quang động học (phytodynamic therapy)

+ Hướng điều trị trong tương lai: Tác động theo từng khâu của quá sinh sinh bệnh, phát triển và di căn của tế bào ung thư: gen trị liệu, ức chế cytokin ( IL-11, TGF, IGF).

– Điều trị ngoại khoa: Khi có gẫy xương, chèn ép tủy, hoặc cắt bỏ tổn thương khi có chỉ định.

4. TIẾN TRIỂN, BIẾN CHỨNG

Các biến chứng thường gặp của ung thư di căn xương bao gồm đau xương nặng, gãy xương bệnh lý, chèn ép tủy sống, thiếu máu nặng, tăng calci máu.

Một khi ung thư đã di căn vào xương, tiên lượng nhìn chung là xấu. Tiên lượng bệnh phụ thuộc vào mức độ ung thư của cơ quan nguyên phát. Thời gian sống trung bình có thể tínhtheo năm, tuy nhiên nếu di căn từ ung thư phổi thì chỉ tính được theo tháng.

5. PHÒNG BỆNH

– Mục tiêu là phát hiện ung thư sớm khi chưa có di căn để điều trị triệt căn.

– Thực hiện khám sức khỏe định kỳ, sàng lọc ung thư sớm.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bruce E. Hillner, James N. Ingle, Rowan T. Chlebowski et al. “American Society of Clinical Oncology 2003 update on the Role of Bisphosphonates and Bone HealthIssues in Women With Breast Cancer”. J. Clin Oncol. 2003; 21(21), 4042 – 4057.

Cook RJ, Major P. “Methodology for treatment evaluation in patients with cancer metastatic to bone”. J Natl Cancer Inst 2001; 93:534-538,

Patel LR, et al. “Mechanisms of cancer cell metastasis to the bone: a multistep process“. Lancet, 2011;377(9768):813-22.

Fizazi K,Carducci M, et al. “Denosumab versus zoledronic acid for treatment of bone metastases in men with castration – resistant prostate cancer: a randomized,double-blind study”. Future Oncol, 2011;7(11):1285- 97.

Ung Thư Phổi Di Căn Xương

Ung thư phổi di căn sang xương, dấu hiệu nhận biết

Ung thư phổi di căn từ tế bào ung thư phổi đến xương, gây ảnh hưởng tới xương. Xương là bộ phận thường các tế bào ung thư phổi di căn tới. Xương cột sống, xương chậu, xương cánh tay,… thường hay bị di căn nhất.

Triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân ung thư phổi di căn

– Đau xương, đau nhiều về đêm hoặc khi bệnh nhân nghỉ ngơi.

– Gãy xương bệnh lý.

– Di căn sang xương cột sống có thể gây chèn ép dây thần kinh gây đau.

– Giảm cân nhanh, đột ngột: sụt cân nhanh không rõ rõ nguyên nhân.

– Triệu chứng tăng calci máu: lúc nào cũng cảm thấy chán ăn, mệt mỏi, táo bón, lũ lẫn.

Bệnh ung thư phổi di căn ung thư xương có thể được chuẩn đoán bằng các xét nghiệm, chụp x-quang, chụp cắt lớp, công hưởng từ, sinh thiết sương,…

Với mục tiêu chính trong việc kéo dài cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Điều trị ung thư phổi di căn thường hóa trị kết hợp với xạ trị để kiểm soát bệnh.

– Điều trị giảm đau: sử dụng các loại thuốc giảm đau như paracatamol, codein, morphin hoặc dẫn xuất của morphin,… theo dạng uống hoặc dạng tiêm với lượng phù hợp để gian những cơn đau. Có thể kết hợp uống với thuốc chống viêm steroid, chống trầm cảm với những bệnh nhân lo lắng, hoảng sợ.

– Điều trị tăng calci máu: truyền dịch natriclorua 0.9% để lợi tiểu, tiêm calcitonin, gluscose … với lượng phù hợp.

– Ngăn ngừa tình trạng hủy xương, giảm quá trình phát triển bệnh: điều trị kích thích quá trình tạo sương bắng sử dụng hormone tuyến giáp, ức chế khối u chậm quá trình di căn, xạ trị để giảm đau, sử dụng liệu pháp quang học với di căn xương khu trú, vị trí nông hoặc tiêm truyền những loại hóa chất khác,…

Lời kết

Điều trị ung thư nói chung và ung thư phổi nói riêng ở đâu đạt hiệu quả cao? Đây là câu hỏi mà người bệnh đặt ra khi mắc bệnh. Điều trị bệnh ung thư tại Singapore là một sự lựa chọn sáng suốt. Bệnh viện raffles Singapore là tập đoàn y tế lớn với đội ngũ y bác sỹ giỏi tầm khu vực cũng như quốc tế, cơ sở vật chất đảm bảo cho quá trình điều trị, luôn mang lại niềm tin và sức sống cho nhiều bệnh nhân.

Điều Trị Ung Thư Di Căn Xương

Ung thư là căn bệnh nguy hiểm. Có nhiều loại ung thư khác nhau. Và bệnh ung thư di căn vào xương là một trong những căn bệnh nguy hiểm. Nhưng hiện nay đã có các thiết bị hiện đại hỗ trợ bạn trong quá trình điều trị ung thư di căn xương.

Ung thư xương di căn từ ung thư dạ dày

Xương thường bị ảnh hưởng các tế bào ung thư ỏ những cơ quan khác do xương nhận khoảng 10% lưu lượng máu của cơ thể và những tế bào ung thư thường được di căn theo đường máu và đường bạch huyết để đến các cơ quan khác nhau. Cũng chính từ nguyên nhân đó xương thường bị di căn nhiều hơn các bộ phận khác trên cơ thể.

2. Dấu hiệu nhận biết ung thư di căn xương

Làm sao để biết mình có mắc bệnh hay không? Bạn có thể tham khảo những dấu hiệu nhận biết sau đây:

Đau xương là triệu chứng thường mắc phải khi bị ung thư xương

Gãy xương bệnh lý

Chán ăn, buồn nôn và luôn cảm thấy khát

Đau ở lưng hoặc cổ do tủy sống bị chèn ép tê . Và cũng có thể gặp khó khăn khi đi tiểu vì dây thần kinh ở tủy sống kiểm soát bàng quang.

Nếu bạn gặp phải một trong những vấn đề trên bạn nên đến bác sĩ khám để chữa trị kịp thời.

Với một căn bệnh nguy hiểm đến tính mạng con người như vậy liệu có cách điều trị hay không?

Hiện nay với những công nghệ hiện đại đã có những phương pháp để điều trị bệnh ung thư di căn xương. Việc điều trị sẽ giúp bệnh nhân giảm được các cơn đau và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Hóa trị giảm đau cho bệnh nhân ung thư xương

Tùy vào từng vị trí bạn bị ung thư xương sẽ có cách điều trị ung thư di căn xương khác nhau.

Ung thư di căn xương thông thường sẽ xảy ra ở cột sống, xương sườn,xương ức , xương đùi,…Do đó tùy vào tình trạng bệnh và vị trí xảy ra sẽ có cách điều trị ung thư di căn xương khác nhau. Ví dụ: Khi bị ung thư di căn cột sống lúc này phương pháp điều trị ung thư di căn xương lúc này có thể được bơm các hóa chất đặc biệt vào đốt sống, vừa để giảm đau vừa hỗ trợ điều trị bệnh, tiêu diệt tế bào ung thư.

Những phương pháp thường sử dụng điều trị ung thư di căn xương: xạ trị, hóa trị, bơm hóa chất,..

Nếu phát hiện có bệnh phải đến ngay bác sĩ để có những phương pháp điều trị đúng đắn và mang lại hiệu quả cao .

Với những thông tin trên hy vọng sẽ giúp bạn nhân biết cũng như chọn phương pháp điều trị thích hợp để chống chọi với căn bệnh và có cuộc sống tốt hơn.

Kiến Thức Về Căn Bệnh Ung Thư Xương Di Căn Nguy Hiểm

Ung thư di căn xương (Bone metastases) là tình trạng những tế bào ung thư từ ổ nguyên phát di căn đến tổ chức xương làm tổn hại đến cấu trúc của xương.

Hệ thống xương là một trong những cơ quan hay bị ung thư di căn nhất và thường gây ảnh hưởng nhiều nhất đến chất lượng cuộc sống người bệnh do gây đau đớn.

Những loại ung thư hay gây di căn vào xương bao gồm ung thư tại các vị trí như phổi, vú (nữ), tiền liệt tuyến, thận, tuyến giáp, dạ dày. Vị trí xương hay bị di căn là: cột sống, xương chậu, xương sườn, xương sọ, xương cánh tay, xương dài ở chi dưới, trong đó cột sống, xương sườn, xương chậu là những vị trí thường bị ảnh hưởng sớm nhất.

Hiện tại có thể điều trị kiểm soát được các triệu chứng của ung thư di căn xương và làm ngăn cản sự phát triển của ung thư.

Hệ thống xương là một trong những cơ quan hay bị ung thư di căn nhất

Chẩn đoán xác định

Dựa vào lâm sàng và các thăm dò cận lâm sàng, trong đó việc tìm thấy tế bào ung thư nguyên phát qua chọc hút hoặc sinh thiết xương là tiêu chuẩn vàng quan trọng nhất.

Biểu hiện lâm sàng:

− Đau xương: Là biểu hiện hay gặp nhất, thường đau tăng về đêm và khi nghỉ ngơi.

− Gãy xương bệnh lý: Đôi khi triệu chứng gãy xương là dấu hiệu ban đầu của ung thư di căn xương. Gãy xương bệnh lý thường gặp hơn ở những bệnh nhân ung thư di căn xương có tổn thương tiêu xương.

− Dấu hiệu chèn ép rễ thần kinh hoặc chèn ép tủy sống khi có di căn cột sống.

− Các triệu chứng tăng can-xi máu: Kém ăn, mệt mỏi, nôn, táo bón, lú lẫn.

− Toàn thân: Sút cân, có thể thấy hạch ngoại vi.

− Triệu chứng khác: Thiếu máu (do tổn thương tủy xương), nhiễm trùng cơ hội (do giảm sức đề kháng), xuất huyết (do giảm tiểu cầu).

− Có thể có các biểu hiện của ung thư nguyên phát.

Cận lâm sàng:

− Xét nghiệm: Các xét nghiệm về bilan viêm (máu lắng, CRP tăng) thường tăng phosphatase kiềm máu tăng, can-xi máu tăng khi có sự hủy xương nhiều, giảm tế bào máu: giảm hồng cầu, giảm bạch cầu và tiểu cầu. Các xét nghiệm về marker ung thư có thể tăng cao theo từng loại ung thư nguyên phát (CEA, CA125, PSA…).

− X-quang xương: Hình ảnh tổn thương xương có thể là những ổ tiêu xương, hoặc kết đặc xương, hoặc hỗn hợp. Khi đã thấy tổn thương xương trên X-quang thường quy thì bệnh nhân đã ở giai đoạn muộn.

− Xạ hình xương: Giúp phát hiện tổn thương ung thư di căn sớm hơn X-quang thường quy, có độ nhậy cao nhưng độ đặc hiệu không cao. Dấu hiệu điển hình là hình ảnh tăng hoạt tính phóng xạ đa ổ với hình dạng, kích thước và tỉ trọng khác nhau, phân bố không đối xứng, không đều, rải rác trên toàn bộ hệ thống xương, đặc biệt trên cột sống.

Nếu cần thiết, nên chụp SPECT (chụp 3 pha), đặc biệt khi ổ tổn thương là đơn độc, để phân tích đặc tính ổ tổn thương qua ba pha huyết động, hoặc chụp PET hoặc PET-CT để phát hiện ung thư ở giai đoạn sớm cả về vị trí và chức năng của khối u.

− Chụp cắt lớp vi tính: Có thể phát hiện được tổn thương di căn có hủy xương mà xạ hình xương không phát hiện được.

− Cộng hưởng từ: Cho thấy hình ảnh xương và các tổ chức phần mềm một cách rõ nét. Có giá trị nhất khi di căn ở vùng cột sống.

− Sinh thiết xương: Sinh thiết trực tiếp hoặc dưới hướng dẫn của chụp CT, làm xét nghiệm mô bệnh học. Cần sinh thiết nhiều mẫu bệnh phẩm để tránh bỏ sót. Phát hiện tế bào ung thư nguyên phát được coi là tiêu chuẩn vàng.

− Các thăm dò khác:

+ Đo mật độ xương: Phát hiện sớm loãng xương.

+ Phát hiện sự mất thăng bằng giữa tạo cốt bào và hủy cốt bào.

+ Các thăm dò để chẩn đoán ung thư nguyên phát, tuy nhiên nhiều trường hợp không phát hiện được ung thư nguyên phát.

Chẩn đoán phân biệt

− Các u xương lành tính.

− Loãng xương thông thường và loãng xương thứ phát do các nguyên nhân khác.

− Đau tủy xương (bệnh Kahler).

− Sarcoma xương hoặc các bệnh lý ác tính khác của xương.

Khi đã thấy tổn thương xương trên X-quang thường quy thì bệnh nhân đã ở giai đoạn muộn.

Nguyên tắc điều trị

− Điều trị triệu chứng và chăm sóc giảm nhẹ để cải thiện chất lượng sống là những biện pháp điều trị chủ yếu và quan trọng nhất: Giảm đau, điều trị gãy xương, tăng can-xi máu, nâng cao sức đề kháng…

− Ngặn chặn và/hoặc làm giảm quá trình hủy xương, làm chậm quá trình di căn xương.

− Kết hợp với điều trị ung thư nguyên phát nếu có thể.

Điều trị cụ thể

− Điều trị triệu chứng:

Điều trị giảm đau theo bậc thang giảm đau của WHO:

Bậc 1: Paracetamol liều người lớn 500 – 1000mg mỗi 4-6 giờ nếu cần và không quá 4000mg/ngày, liều cho trẻ em < 12 tuổi là 10-15mg/kg cân nặng, mỗi 4-6 giờ.

Bậc 2: Paracetamol + codein hoặc tramadol liều dùng 1-2 viên mỗi 4-6 giờ và không quá 8 viên/ngày, dùng không quá 5 ngày, giảm liều ở những bệnh nhân suy gan, suy thận, người lớn tuổi.

Bậc 3: Morphin hoặc các dẫn xuất của morphin (morphin sulphat 10mg, liều tùy theo từng mức độ đau của bệnh nhân, có thể sử dụng dạng uống hoặc tiêm, liều dao động 5-30mg, mỗi 4 giờ nếu cần).

Thuốc chống viêm không steroid (NSAID):

Chọn một trong các thuốc sau: Diclofenac 100 – 150mg/ngày; Piroxicam 20mg/ngày; Meloxicam 7,5 – 15 mg/ngày; Celecoxib 200-400mg/ngày; Etoricoxib 60mg/ngày. Dùng đường uống hoặc tiêm bắp (không nên tiêm quá 4 ngày).

Kết hợp thuốc chống trầm cảm:

Ở những bệnh nhân có biểu hiện lo lắng hay trầm cảm nhiều: Amitriptyline 25mg, liều 1-4 viên/ngày, sulpiride 50mg, ngày 2-4 viên.

Thuốc giảm đau thần kinh (pregabalin, gapentin): Có thể được chỉ định cho những bệnh nhân có các biểu hiện đau thần kinh.

+ Điều trị tăng can-xi máu:

Truyền dịch pha loãng:

Dung dịch natriclorua 0,9% 3- 4 lít/ngày (200 – 300ml/giờ và duy trì nước tiểu 100-200ml/giờ) với điều kiện huyết áp cho phép. Truyền dịch qua tĩnh mạch trung tâm là tốt nhất.

Lợi tiểu: Dùng nhóm furosemide 20mg (tiêm tĩnh mạch), sử dụng trong và sau khi truyền dịch.

Calcitonin:

Tiêm bắp hoặc pha với natriclorua 0,9% truyền tĩnh mạch có tác dụng hạ can-xi máu nhanh với liều 4- 6UI/kg cứ mỗi 12 giờ. Theo dõi nồng độ can-xi máu để quyết định việc sử dụng thuốc tiếp tục (không dùng kéo dài calcitonin).

Corticoid: Truyền tĩnh mạch methylprednisolon 1-2mg/kg.

Biphosphonat đường tĩnh mạch:

Pamidronate 90mg pha với natriclorua 0,9% truyền trong 2 giờ, hoặc zoledronate acid 4mg pha với 200ml natriclorua 0,9% hoặc glucose 5% truyền nhanh trong 30 phút.

+ Điều trị thiếu máu:

Truyền khối hồng cầu hoặc các chế phẩm của máu khác nếu cần. Erythropoietin tiêm dưới da 2000 – 4000 UI/ngày, tuần 3 lần.

− Điều trị ngặn chặn hoặc giảm hủy xương, làm chậm quá trình tiến triển di căn xương và tiến triển của bệnh.

+ Biphosphonate: Pamidronate 30mg, liều 90mg, mỗi tháng truyền một lần hoặc zoledronic acid 4mg, liều 4mg tháng một lần pha truyền tĩnh mạch.

+ Một số thuốc chống hủy xương khác: Thuốc kháng RANKL, thuốc kháng cathepsin K…

+ Thuốc ức chế tăng sinh mạch của tổ chức ung thư: Ức chế Endothelin – 1.

+ Xạ trị ngoài, chiếu xạ vào những vùng di căn với mục đích giảm đau, hạn chế sự phát triển của khối u.

+ Dược chất phóng xạ (xạtrịtrong): Có tác dụng giảm đau do ung thư di căn xương: Strontium – 89 và phosphous – 32, Samarium 153.

+ Liệu pháp quang động học (phytodynamic therapy).

+ Hướng điều trị trong tương lai: Tác động theo từng khâu của quá trình sinh bệnh, phát triển và di căn của tế bào ung thư: gen trị liệu, ức chế cytokin (IL-11, TGF, IGF).

− Điều trị ngoại khoa: Khi có gãy xương, chèn ép tủy, hoặc cắt bỏ tổn thương khi có chỉ định.

− Vật lý trị liệu, tâm lý liệu pháp,

− Chăm sóc giảm nhẹ: Hỗ trợ giảm đau cho người bệnh.

Tiến triển, biến chứng

− Các biến chứng thường gặp của ung thư di căn xương bao gồm đau xương nặng, gãy xương bệnh lý, chèn ép tủy sống, thiếu máu nặng, tăng can-xi máu.

− Một khi ung thư đã di căn vào xương, tiên lượng nhìn chung là xấu. Tiên lượng bệnh phụ thuộc vào mức độ ung thư của cơ quan nguyên phát. Thời gian sống trung bình có thể tính theo năm, tuy nhiên nếu di căn từ ung thư phổi thì chỉ tính được theo tháng.

− Mục tiêu là phát hiện ung thư sớm khi chưa có di căn để điều trị triệt căn.

− Thực hiện khám sức khỏe định kỳ, sàng lọc ung thư sớm.