Top 4 # Xem Nhiều Nhất Cách Chữa Bệnh Wilson Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Bệnh Wilson Có Chữa Được Không?

Bệnh Wilson là bệnh di truyền nguy hiểm với tỉ lệ mắc bệnh rất thấp, tầm khoảng 1/100.000 – 1/200.000 dân số. Trước đây, bệnh không có thuốc điều trị, hay nói cách khác, bệnh chỉ có thể gây tử vong. Ngày nay, nếu phát hiện bệnh sớm thì may ra có nguy cơ được chữa khỏi.

Bệnh wilson là bệnh gì?

Wilson là một loại bệnh di truyền khá hiếm gặp ở Việt Nam, chính vì thế bệnh này khá lạ lẫm, được ít người biết đến. Thế nhưng, nhiều người mắc loại bệnh này lại không có hiểu biết cụ thể, rõ ràng về bệnh.

Theo các chuyên gia, bệnh wilson là bệnh biến dị gen tự thể ẩn tính. Bệnh gây rối loạn chuyển hóa chất đồng trong cơ thể, dẫn đến thoái hóa một số khu vực não và gây xơ gan. Bệnh nếu không đươc chữa trị kịp thời thì sẽ rất nguy hiểm, gây nhiều biến chứng thậm chí là tử vong.

Bệnh wilson có chữa được không?

Hiện nay, nếu như được phát hiện sớm thì bệnh wilson vẫn có thể được chữa khỏi. Tuy nhiên, để phát hiện sớm bệnh không phải là điều dễ dàng. Bởi vì các triệu chứng thường gặp của bệnh rất giống với bệnh viêm gan bình thường. Điều này khiến cho các bác sĩ dễ chuẩn đoán sai bệnh và điều trị theo hường khác.

Các triệu chứng của bệnh wilson khá giống với bệnh gan

Vì thế, bệnh wilson càng ngày càng gây ra nhiều hậu quả trầm trọng, khiến cho cơ thể vừa phải chống chọi với bệnh wilson chưa được phát hiện, vừa phải chống chọi với những phương thuốc sai bệnh.

Một nguyên nhân nữa khiến các bác sĩ có thể chuẩn đoán sai là do bệnh khá hiếm gặp. Những bệnh nhân bị bệnh wilson thường không nhiều. Thậm chí, nhiều chuyên gia và bác sĩ không rõ về bệnh wilson. Đó cũng là một trong những lí do khiến bệnh wilson tàn phá sức khỏe của chúng ta, chỉ vì chúng ta không biết nhiều về chúng.

Cách chữa bệnh wilson hiện nay?

Nếu may mắn phát hiện ra bệnh thì bạn sẽ được chữa trị dựa trên nguyên tắc là hạn chế không cho bệnh nhân ăn nhiều thực phẩm có chứa chất đồng. Một số thức ăn có chứa chất đồng mà bệnh nhân nên tránh là: gan, sò, ốc, hàu, … hải sản nói chung. Cùng với đó là một số thực phẩm khác như: nấm, đậu xanh, các loại hạt, hạt vừng, …

Sau đó, bạn phải dùng thuốc để thải đồng ra khỏi cơ thể. Bệnh phải được điều trị kịp thời, có thể dùng các loại thuốc sau:

+ D-penicilamin 1-3g/ngày: cho kết quả tốt nếu sử dụng trong thời gian lâu dài.

+ Sử dụng thêm Sulphat kẽm (liều lượng 100-300mg/ ngày)

+ Sử dụng BAL để tận dụng dự trữ đồng trong cơ thể giúp bài tiết đồng qua nước tiểu. Lượng BAL này đặc biệt tăng đột biến ở những bệnh nhân mắc wilson.

Bệnh wilson gây nhiều biến chứng nguy hiểm

Nếu không may mắn phát hiện bệnh kịp thời để có phương pháp điều trị kịp thời thì trong trường hợp cấp thiết nhất, bạn phải dùng đến phương pháp cấy ghép gan. Tuy nhiên, sử dụng phương pháp này rất mất thời gian, bạn phải chờ đợi gan có kết quả xét nghiệm hợp với cơ thể người bệnh. Thậm chí tệ hơn, người bệnh sẽ không tìm được gan thay thế.

Bệnh wilson gây ra những hậu quả nghiêm trọng mà bạn có thể kể đến như: xơ gan, tay chân co giật, suy gan, …Vì thế để phát hiện sớm thì người nhà bệnh nhân nên đi xét nghiệm khi có người thân trong nhà mắc bệnh wilson để có phương pháp chữa trị kịp thời.

Từ đó, có thể thấy wilson không phải là bệnh không thể chữa được. Tuy nhiên, bệnh cần đươc phát hiện kịp thời mới có thể chữa trị nhanh chóng mà không gây hậu quả về sau. Các y bác sĩ cần có chuyên môn về wilson để có thể kịp thời phát hiện bệnh cho bệnh nhân.

Bệnh Wilson – Liệu Mẹ Bầu Đã Hiểu Rõ?

I. Định nghĩa

Bệnh Wilson là một rối loạn di truyền, là nguyên nhân gây tích tụ quá nhiều đồng trong gan, não và cơ quan quan trọng khác. Một hạn cho bệnh Wilson là thoái hóa gan bã đậu.

Đồng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của dây thần kinh khỏe mạnh, xương, collagen và sắc tố da melanin. Thông thường, đồng được hấp thụ từ thức ăn, và bài tiết qua mật khi vượt quá – chất được sản xuất trong gan.

Nhưng ở những người bị bệnh Wilson, đồng không được bài tiết đúng cách và thay vào đó tích tụ lại, có thể đến một mức độ đe dọa tính mạng. Nếu không điều trị, bệnh Wilson gây tử vong. Khi được chẩn đoán sớm, bệnh Wilson có thể điều trị được, và nhiều người bị rối loạn sống cuộc sống bình thường.

II. Các triệu chứng của bệnh Wilson

Về thần kinh: Rối loạn trương lực cơ tăng lan tỏa kiểu ngoại tháp ở các cơ mặt, cơ phát âm, cơ vùng cổ và thắt lưng; khi bệnh nhân gắng sức, đi, nói và đôi khi có thể có co thắt đối động; bất động mặt, miệng, hầu; khó nói, tốc độ chậm, âm thanh đơn điệu, loạn âm; đi và khi đứng khó khăn; rối loạn mắt, nhiều dãi, nhiều trứng cá, rối loạn vận mạch; có thể xảy ra những cơn động kinh hoặc đột quỵ.

Về tâm thần: Người bệnh thường bị rối loạn cảm xúc và khí sắc. Nhiều trường hợp suy yếu trí tuệ có khuynh hướng tiến tới tâm thần sa sút, loạn thần.

Rối loạn sắc tố: Mắt xuất hiện vòng Kayser – Fleischer màu xanh nâu, quanh giác mạc ở vị trí mặt sau màng Descemet. Đồng có thể lắng đọng ở củng mạc và thể thủy tinh gây đục nhân hình hoa hướng dương; màu da nâu nhạt hoặc xám nhạt.

Rối loạn tiêu hóa: Đại tiện lỏng kèm theo sốt, nôn, chán ăn, đau bụng, chảy máu mũi, chảy máu lợi, vàng da. Tình trạng xơ gan diễn ra với các dấu hiệu gan và sau đó teo, tăng áp lực tĩnh mạch cửa, giãn tĩnh mạch thực quản, lách to.

Biến đổi xương khớp, nhuyễn xương, rỗ xương, xương dễ gãy; ở khớp có đóng vôi ở các dây chằng và đầu sụn có thể bị mòn.

Rối loạn nội tiết: Hoạt động sinh dục bị rối loạn, kèm rối loạn thực vật vùng gian não như ngủ nhiều, hạ hoặc hơi tăng thân nhiệt, có thể bị đái tháo đường. Một số bệnh nhân có thể gặp thiếu máu huyết tán hoặc tổn thương thận gây protein niệu.

III. Nguyên nhân bệnh Wilson

Ở bệnh Wilson, một phần gen nằm trên nhiễm sắc thể số 13 không hoạt động, (ATP7B). Gen giúp kiểm soát việc thải đồng của tế bào gan vào mật. Cơ thể thu thập đồng từ thực phẩm ăn trong quá trình tiêu hóa. đồng này được vận chuyển đến gan nơi mà các tế bào gan sử dụng nó cho công việc hàng ngày. Hầu hết mọi người ăn đồng nhiều hơn họ cần. Trong những trường hợp này, gan dùng lượng nó cần và bài tiết phần còn lại ra mật. Tuy nhiên, do lỗi gen không hoạt động được nên đồng bị tích tụ trong tế bào gan, khi lượng đồng vượt quá mức, sẽ tràn vào máu và lắng đọng ở các cơ quan khác của cơ thể (não, mắt và các cơ quan khác).

IV. Các biến chứng bệnh Wilson

Xơ gan. Khi tế bào gan cố gắng sửa chữa thiệt hại do đồng dư thừa, hình thành mô sẹo trong gan. Các mô sẹo làm cho chức năng gan thực hiện khó khăn hơn.

Suy gan. Suy gan có thể xảy ra đột ngột (suy gan cấp tính), hoặc nó có thể phát triển từ từ qua nhiều năm. Nếu suy chức năng gan tiến triển, ghép gan có thể là một lựa chọn điều trị.

Ung thư gan. Thiệt hại đến gan gây ra bởi bệnh Wilson có thể làm tăng nguy cơ ung thư gan.

Các vấn đề thần kinh. Vấn đề về thần kinh thường cải thiện với điều trị bệnh Wilson. Tuy nhiên, một số người có thể gặp khó khăn về thần kinh kéo dài, mặc dù điều trị.

Vấn đề về thận. Bệnh Wilson có thể gây hại cho thận, dẫn đến vấn đề về thận, chẳng hạn như sỏi thận và một số bất thường bài tiết axit amin trong nước tiểu (aminoaciduria).

V. Các xét nghiệm và chẩn đoán bệnh Wilson

Chẩn đoán bệnh Wilson có thể là thử thách bởi vì các dấu hiệu và triệu chứng của nó thường không thể phân biệt từ những người bị bệnh gan khác như viêm gan. Hơn nữa, nhiều triệu chứng có thể tiến triển theo thời gian, thay vì xuất hiện cùng một lúc. Thay đổi hành vi xuất hiện dần dần có thể đặc biệt khó khăn để xác định liên kết với bệnh Wilson. Các bác sĩ dựa trên sự kết hợp của các triệu chứng và kết quả xét nghiệm để chẩn đoán.

5.1 Các xét nghiệm máu và nước tiểu

Bác sĩ có thể khuyên nên thử máu để theo dõi chức năng gan và tìm kiếm đồng trong máu. máu cũng có thể được kiểm tra mức độ của một protein gọi là ceruloplasmin, có thể mang theo đồng trong máu. Bác sĩ cũng có thể sử dụng xét nghiệm nước tiểu để đo lượng đồng bài tiết nước tiểu trong một khoảng thời gian 24 giờ.

5.2 Chụp não

Nếu có các dấu hiệu và triệu chứng cho thấy bệnh Wilson đang ảnh hưởng đến não, bác sĩ có thể khuyên nên chỉ định chụp não. Các chỉ định có thể bao gồm chụp cắt lớp vi tính (CT) và chụp cộng hưởng từ (MRI).

5.3 Kiểm tra mắt

Sử dụng kính hiển vi với một cường độ ánh sáng cao (khe đèn), bác sĩ nhãn khoa khám mắt tìm kiếm sự xuất hiện bất thường đồng thừa trong mắt

5.4 Thử nghiệm sinh thiết

Trong một thủ tục gọi là sinh thiết gan, bác sĩ chèn một kim nhỏ qua da và vào gan. Bác sĩ rút ra một mẫu mô gan nhỏ và gửi nó đến phòng thí nghiệm để kiểm tra đồng dư thừa.

5.5 Thử nghiệm di truyền

Xét nghiệm máu được gọi là phân tích DNA đột biến có thể xác định được các đột biến gen gây bệnh Wilson. Xét nghiệm này có sẵn ở một số trung tâm y tế và được thực hiện bằng cách sử dụng một mẫu máu nhỏ rút ra từ cánh tay hoặc từ ngón tay. Nên chỉ định như hình thức hỗ trợ thử nghiệm chẩn đoán bệnh Wilson, hoặc khi các xét nghiệm khác không cung cấp kết quả kết luận. Biết đột biến của bệnh Wilson trong gia đình cho phép bác sĩ biết anh chị em không có triệu chứng và bắt đầu điều trị trước khi các triệu chứng phát sinh.

VI. Phương pháp điều trị và thuốc

Nếu đã được chẩn đoán mắc bệnh Wilson, bác sĩ có thể khuyên nên dùng thuốc để giảm lượng đồng trong cơ thể. Khi đã đạt được, điều trị tập trung vào việc ngăn chặn đồng tích tụ lại. Khi tổn thương gan nặng, ghép gan có thể là cần thiết.

6.1 Thuốc loại bỏ đồng dư thừa

Các loại thuốc gọi là chelating, phát hành kịp thời đồng từ các cơ quan vào máu, đồng này sau đó được lọc bởi thận và đào thải ra nước tiểu.

Điều trị cho những người có dấu hiệu và triệu chứng bệnh Wilson thường bắt đầu với một chelating. Khi các dấu hiệu và triệu chứng được kiểm soát, bác sĩ có thể đề nghị liều thuốc thấp hơn để duy trì mức độ an toàn của đồng trong cơ thể.

Các bác sĩ đôi khi cũng khuyên nên dùng chelating cho những người đã được chẩn đoán mắc bệnh Wilson, nhưng không có dấu hiệu và triệu chứng. Đối với những người này, một chelating có thể làm giảm nguy cơ tổn thương gan.

Tác dụng phụ của các chelating phụ thuộc vào thuốc cụ thể:

Penicillamine (Cuprimine, Depen). Penicillamine có thể gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng, bao gồm cả vấn đề về da, ức chế tủy xương, làm xấu đi các triệu chứng thần kinh và các dị tật bẩm sinh.

Trientine (Syprine). Trientine tác dụng giống như penicillamine, nhưng có xu hướng gây ra tác dụng phụ hơn. Tuy nhiên, có nguy cơ triệu chứng thần kinh có thể tồi tệ hơn khi sử dụng trientine, mặc dù nó được cho là nguy cơ thấp hơn penicillamine.

6.2 Thuốc để duy trì mức đồng

Kẽm acetate ngăn chặn cơ thể hấp thụ đồng từ thực phẩm ăn. Kẽm đôi khi được dùng ở những người đã được điều trị thành công với một chelating. Trong những người này, kẽm có thể giúp duy trì mức độ đồng lành mạnh. Kẽm cũng được sử dụng ở những người đã được chẩn đoán mắc bệnh Wilson, nhưng không có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng.

Kẽm acetate gây ra tác dụng phụ, như có thể gây đau dạ dày.

6.3 Ghép gan

VII. Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Các bác sĩ khuyên nên hạn chế lượng đồng tiêu thụ trong chế độ ăn trong năm đầu tiên điều trị bệnh Wilson. Khi các dấu hiệu và triệu chứng rút, mức đồng trong cơ thể xuống thấp, có thể ăn bao gồm các loại thực phẩm có chứa đồng.

Thực phẩm có chứa hàm lượng cao đồng bao gồm:

7.1 Đồng-chứa vitamin và khoáng chất bổ sung:

Gan.

Động vật có vỏ.

Nấm.

Nuts.

Sôcôla.

Trái cây sấy khô.

Đậu Hà Lan khô, đậu và đậu lăng.

Trái bơ.

Sản phẩm cám.

7.2 Đồng trong nước máy

Có mức độ đồng qua vòi nước ống đồng hoặc nếu nước xuất phát từ giếng. Hầu hết các hệ thống cấp nước đô thị không chứa hàm lượng cao đồng.

Nếu có ống đồng, cho chảy vài giây trước khi lấy nước để uống hoặc nấu ăn. Nước lưu trong ống đồng có thể có đồng.

7.3 Đồng nồi chảo

Không sử dụng nồi đồng, nồi hoặc bao gói lưu trữ thực phẩm hoặc đồ uống.

Triệu Chứng Và Cách Điều Trị Bệnh Wilson Như Thế Nào?

Tôi có người trong gia đình, đi khám bác nghỉ đến bệnh Wilson, vậy tôi xin hỏi, bệnh wilson được hiểu như thế nào? Triệu chứng và cách điều trị?

(Hà Thái Lan Anh – TP.HCM)

Wilson là bệnh rối loạn chuyển hóa đồng, di truyền gen lặn trên nhiễm sắc thể thường, do đột biến gen ATP7B trên nhiễm sắc thể 13q14 gây ra. Bệnh được mô tả lần đầu tiên năm 1912 bởi Kinner Wilson.Wilson là một bệnh hiếm, ở Việt Nam có khoảng hơn 2.000 bệnh nhân mắc bệnh này.

Tuy nhiên con số bệnh nhân đã được chẩn đoán ít hơn rất nhiều lần so với số ca bị mắc, có thể còn một số lượng lớn bệnh nhân Wilson chưa được chẩn đoán xác định và điều trị hoặc đang được điều trị các bệnh lý thứ phát tại các cơ quan khác như viêm gan viêm khớp, hội chứng thận hư tâm thần kinh… do bệnh wilson gây ra. Tuổi khởi phát rất dao động, song phổ biến nhất ở độ tuổi từ 5 – 35 tuổi.

Bệnh Wilson thường có biểu hiện đa dạng, hay gặp nhất là tổn thương não gan mắt, thận, khớp, xương… Biểu hiện tại gan, Wilson thể gan thường biểu hiện dưới dạng viêm gan mạn tính kéo dài với transaminase tăng dai dẳng các bệnh nhân được chẩn đoán muộn thường có biểu hiện xơ gan suy gan Khoảng 5 – 9% số trường hợp Wilson có biểu hiện khởi phát với tình trạng suy gan tối cấp với các biểu hiện vàng da cấp tính thiếu máu huyết tán.

Biểu hiện tại thần kinh, bệnh nhân Wilson thể não thường có các biểu hiện lâm sàng khó nói, tốc độ nói chậm, âm thanh đơn điệu, loạn âm, các vận động cứng như người máy kèm theo những động tác bất thường như run, múa giật, múa vờn… Đôi khi có thể thấy dấu hiệu kín đáo như rối loạn nuốt, rối loạn vận nhãn, rối loạn cơ vòng, nhiều trứng cá rối loạn vận mạch Đặc biệt có thể xảy ra những cơn kịch phát là các thể động kinh hoặc đột quỵ

Ở trẻ em các vận động bất thường có thể phát hiện sớm nhất thường là các vận động tinh như chữ viết xấu và nguệch ngoạc, tốc độ viết chậm hơn so với trước, trẻ không thể đánh đàn hay bắn bi…. Về tâm thần, thường biểu hiện ở các bệnh nhân lớn với biểu hiện rối loạn cảm xúc và khí sắc; nhiều trường hợp sa sút trí tuệ có khuynh hướng tiến tới tâm thần, thay đổi nhân cách lo âu loạn thần.

Trẻ thường có kết quả học tập giảm sút, thay đổi nhân cách, bốc đồng, tâm trạng không ổn định, phô trương tình dục hành vi ứng xử không phù hợp…. Biểu hiện tại các cơ quan khác như: tổn thương ở mắt thường chỉ phát hiện được khi thăm khám bởi bác sĩ chuyên khoa mắt; lắng đọng đồng ở tim gây bệnh lý cơ tim; tổn thương ở thận có thể là tổn thương tiên phát của bệnh lý Wilson hoặc thứ phát sau sử dụng các thuốc thải đồng với các biểu hiện viêm thận hội chứng thận hư protein niệu đơn thuần… hoặc một số bệnh nhân Wilson có biểu hiện sạm da trứng cá đau khớp…

Về điều trị, thải đồng bằng các thuốc như D-penicillamin, Trientine; giảm hấp thu đồng bằng muối kẽm; điều trị hỗ trợ bằng cách bổ sung vitamin E vitamin B6, tư vấn chế độ ăn hạn chế đồng, điều trị hỗ trợ chức năng gan và điều trị triệu chứng.

Về chế độ ăn bệnh nhân Wilson nên sử dụng chế độ ăn hạn chế các loại thức ăn đồ uống có chứa hàm lượng đồng cao như bột cacao, sôcôla hạt điều đậu phộng hạt hướng dương hạt bí hạt vừng các loại hạt đậu khô, quả hạnh nhân lúa mì đậu; nội tạng động vật, tiết canh động vật, pate gan đóng hộp; động vật có vỏ, hải sản như hàu biển, mực, tôm hùm, đồ biển; với rau cần tránh rau kinh giới nấm rơm, rau cải cà chua bí ngô; nước uống công nghiệp, nước uống có gas. Cần tránh uống rượu và các đồ uống có cồn do có thể tình trạng tổn thương gan nặng hơn.

Cách Chữa Bệnh Chín Mé

Tác giả: DS. Bùi Phạm Ái Châu

Tham vấn y khoa: BS. Đặng Thành Long

Cập nhật: lúc

Ngâm nước ấm

Ngâm chân trong nước ấm giúp da mềm mại hơn. Sau khi ngâm từ 20-30 phút, giữ chân sạch, đệm một miếng gạc cotton nhỏ dưới góc của phần móng chín mé sau đó từ từ nâng nó lên hoặc có thể dùng móng tay sạch từ từ trượt dưới cạnh móng chân và nâng lên.

Sau 3-4 ngày ngâm chân với nước ấm, hoặc xử trí theo cách trên sẽ giảm tình trạng viêm nhiễm, có thể dùng chiếc kéo nhỏ đã sát trùng để cắt phần móng chân bị mọc vào trong. Giữ sạch sẽ và băng bó lại nhằm ngăn không cho móng bị nhiễm trùng và tổn thương lần nữa. Có thể tiếp tục ngâm chân vài ngày đến khi móng mọc lại.

Ngâm nước giấm

Dùng giấm hoặc giấm táo pha với nước theo tỷ lệ giấm:nước = 1:4. Ngâm chân hoặc tay từ 15-20 phút sau đó lau khô. Thực hiện 2-3 lần/ngày.

Ngâm muối Epsom

Muối Epsom là tên gọi khác của muối Magie sulfat. Đây là loại muối thường được sử dụng trong việc làm đẹp và chăm sóc sức khỏe. Nếu bị chính mé, hãy ngâm muối Epsom vì nó có tác dụng tốt để giảm đau và giảm nhiễm trùng.

Cách làm:

Pha 2 muỗng canh muối Epsom với một lít nước.

Dùng 1-2 lít nước ấm.

Ngâm từ 20-25 phút, lau khô bằng khăn sạch và lặp lại 2-4 một ngày.

Axit trong chanh có tác dụng kháng khuẩn và chống viêm rất tốt. Cắt một lát chanh, đặt lên trên phần móng mọc ngược và quấn băng xung quanh và giữ qua đêm. Các móng tay, chân sẽ không đâm sâu vào da và mầm bệnh cũng không thể tấn công nữa. Đây là một cách làm khá hiệu quả

Lưu ý để không bị lại

Khoảng 40% viêm kẽ móng là do cắt móng sai. Để phòng tránh chín mé tái lại bạn không cắt móng theo hình vòm cung và quá sát với phần thịt, nên cắt thẳng và làm nhẵn các góc bằng giũa. Bên cạnh đó giữ vệ sinh cho móng để tránh bị tái lại.