Hiểu Đúng Về Phẫu Thuật Cắt Bỏ Khối U Ung Thư

--- Bài mới hơn ---

  • Mổ Ung Thư Vú: Nên Phẫu Thuật Cắt Bỏ Tuyến Vú Hay Khối U?
  • Loại Bỏ Bệnh Ung Thư Ruột Kết Bằng Phương Pháp Nào?
  • Chăm Sóc Cho Bệnh Nhân Ung Thư Ruột Kết
  • Ngăn Ngừa, Hỗ Trợ Điều Trị Ung Thư Ruột Kết Bằng Bông Cải Xanh
  • Bốn Triệu Chứng Chính Của Ung Thư Ruột Kết Giai Đoạn Sớm
  • Mục đích của phẫu thuật cắt bỏ khối u

    Khi nhắc đến phẫu thuật cắt bỏ khối u, đa phần bệnh nhân chỉ hiểu đây là một phương pháp để chữa bệnh. Thực tế, phẫu thuật ung thư có nhiều mục đích khác nhau:

    • Phẫu thuật chẩn đoán ung thư: Sinh thiết một phần để lấy đi một mẫu mô hay sinh thiết trọn lấy đi toàn bộ khu vực nghi ngờ ung thư. Sau đó mẫu mô sẽ được xử lý và quan sát dưới kính hiển vi để chẩn đoán xác định ung thư dựa vào đặc điểm của tế bào.
    • Phẫu thuật phân độ, giai đoạn: Dùng để tìm hiểu kích thước, vị trí và độ xâm lấn của khối u là cơ sở cho bác sĩ lên phác đồ điều trị.
    • Phẫu thuật cắt toàn bộ khối u (hay phẫu thuật điều trị): Thường được chỉ định khi ung thư chỉ khu trú trong một phần của cơ thể. Nó có thể được sử dụng đơn độc hoặc kết hợp với hóa trị, xạ trị trước hay sau phẫu thuật.
    • Phẫu thuật giảm độ lớn khối u – phẫu thuật giảm khối: Nếu khối u nằm ở những vị trí dễ gây tổn thương và nguy hiểm cho bệnh nhân, bác sĩ phẫu thuật sẽ cố gắng cắt bỏ khối u nhiều nhất có thể. Hóa trị, xạ trị được sử dụng trước hoặc sau phẫu thuật được chỉ định kết hợp để thu nhỏ khối u và loại bỏ những tàn dư còn sót lại không thể loại bỏ khi phẫu thuật.
    • Phẫu thuật giảm nhẹ triệu chứng: Chỉ định với những bệnh nhân ung thư giai đoạn tiến triển khi khối u đã di căn tới nhiều cơ quan xa trong cơ thể. Khi đó phẫu thuật giúp giảm các triệu chứng mà bệnh nhân phải chịu đựng do khối u phát triển gây ra như đau, khó nuốt, tắc ruột,… Phẫu thuật trong giai đoạn này giúp cải thiện chất lượng sống của bệnh nhân mà không có giá trị điều trị.
    • Phẫu thuật tái tạo cấu trúc: Hay còn gọi là phẫu thuật tạo hình, được chỉ định để tái tạo lại hình dáng hoặc chức năng ban đầu của cơ quan bị phẫu thuật. Ví dụ phẫu thuật tạo hình vú sau khi cắt khối u vú.
    • Phẫu thuật dự phòng: Là loại phẫu thuật được tiến hành để phòng ngừa và giảm nguy cơ phát triển ung thư. Ví dụ phẫu thuật cắt bỏ polyp tiền ung thư ở đại tràng để ngăn ngừa ung thư đại tràng phát triển.

    Một số kỹ thuật phẫu thuật và thủ thuật xâm lấn tối thiểu để cắt bỏ khối u Phẫu thuật cắt bỏ khối u bằng laser

    Là kỹ thuật sử dụng tia sáng dải hẹp với cường độ cao để loại bỏ khối u. Nó được sử dụng để đốt cháy và phá hủy các khối u hoặc tăng trưởng tiền ung thư và điều trị ung thư cổ tử cung, dương vật, âm đạo, âm hộ, phổi và da.

    Phẫu thuật lạnh cắt bỏ khối u

    Sử dụng nitơ lỏng để đóng băng và tiêu diệt khối u bất thường. Kỹ thuật này đôi khi được sử dụng để điều trị các tình trạng tiền ung thư, như những bệnh ảnh hưởng đến da, cổ tử cung và dương vật. Phẫu thuật lạnh cũng có thể được sử dụng để điều trị một số bệnh ung thư như ung thư gan và tuyến tiền liệt.

    Phẫu thuật điện cắt bỏ khối u

    Một dòng điện tần số cao có thể được sử dụng để phá hủy các tế bào. Kỹ thuật này có thể được thực hiện cho một số bệnh ung thư da và miệng.

    Phẫu thuật cắt bỏ khối u bằng sóng cao tần

    Kỹ thuật này sử dụng sóng vô tuyến năng lượng cao truyền qua một cây kim để đốt nóng và tiêu diệt các tế bào ung thư. Kỹ thuật này có thể được sử dụng để điều trị các khối u trong bệnh ung thư gan, phổi, thận và các cơ quan khác.

    Phẫu thuật Mohs cắt bỏ khối u

    Phẫu thuật vi phẫu Mohs còn được gọi là phẫu thuật bằng kính hiển vi. Nó được sử dụng để loại bỏ một số bệnh ung thư da bằng cách cạo từng lớp rất mỏng. Sau khi mỗi lớp được loại bỏ, bác sĩ sẽ quan sát mô bằng kính hiển vi để kiểm tra các tế bào ung thư. Quy trình này được lặp lại cho đến khi tất cả các tế bào trong một lớp đều là tế bào bình thường. Phẫu thuật Mohs được sử dụng khi không rõ mức độ lan rộng của ung thư hoặc khi cần giữ lại nhiều tế bào khỏe mạnh nhất có thể. Ví dụ, như khi điều trị ung thư da gần mắt.

    Phẫu thuật nội soi cắt bỏ khối u

    Phẫu thuật nội soi có thể được sử dụng trong điều trị ung thư, nhưng không phải cho tất cả các bệnh ung thư. Một số loại ung thư có thể được điều trị bằng phẫu thuật nội soi gồm: Ung thư ruột kết, trực tràng, gan, tuyến tiền liệt, tử cung và thận. Sử dụng đối với các loại ung thư khác vẫn đang được nghiên cứu.

    Phẫu thuật nội soi lồng ngực

    Máy nội soi lồng ngực là một ống mỏng với một camera nhỏ ở đầu được đặt qua một vết cắt nhỏ tại ngực sau khi phổi bị xẹp xuống. Điều này cho phép bác sĩ quan sát được bên trong ngực. Các mẫu mô của bất kỳ khu vực nào trên niêm mạc của thành ngực có thể được lấy ra, chất lỏng có thể được dẫn lưu và các khối u nhỏ trên bề mặt của phổi có thể được loại bỏ.

    Phẫu thuật bằng robot để cắt bỏ khối u

    Phẫu thuật robot là một loại phẫu thuật nội soi trong đó bác sĩ ngồi ở bảng điều khiển và sử dụng cánh tay robot chính xác để kiểm soát phạm vi và các dụng cụ đặc biệt khác. Ưu điểm của phương pháp này là giảm mất máu và giảm đau sau phẫu thuật. Phẫu thuật bằng robot thường được sử dụng để điều trị các loại ung thư như trực tràng, tuyến tiền liệt, tử cung.

    Tác dụng phụ của phẫu thuật cắt bỏ khối u

    Tương tự như các phẫu thuật khác, phẫu thuật này thường có các tác dụng phụ như đau, mất máu, cục máu đông, nhiễm trùng. Ngoài ra phẫu thuật có thể gây tổn hại đến các cơ quan lân cận và làm chậm hồi phục chức năng cơ quan. Các tác dụng phụ này sẽ được bác sĩ điều trị kiểm soát để giảm tối đa những ảnh hưởng xấu đến bệnh nhân.

    Phẫu thuật là phương pháp điều trị tại chỗ. Liệu pháp này có thể chữa khỏi ung thư nếu khối u khu trú tại một khu vực và chưa lây lan ra các bộ phận khác. Sau phẫu thuật cắt bỏ khối u, bệnh nhân cần tuân thủ theo lời khuyên của bác sĩ về chế độ dinh dưỡng, tập luyện và khám lại định kỳ để phòng bệnh tái phát vì tế bào ung thư có thể quay trở lại bất cứ khi nào. Bên cạnh đó, các bệnh nhân ung thư có thể sử dụng thêm các sản phẩm thảo dược để phòng ung thư tái phát.

    Một trong những loại nấm hay được người Nhật Bản sử dụng để bồi bổ sức khỏe, đặc biệt là tăng cường miễn dịch, phục hồi sức khỏe cho những bệnh nhân ung thư sau phẫu thuật cắt bỏ khối u là nấm miễn dịch Hanabiratake – một loài nấm quý hiếm chỉ mọc ở những vùng núi cao trên 1.000m so với mực nước biển.

    Mới đây, một sản phẩm có chứa nấm Hanabiratake lên men lactic, được tin dùng ở các bệnh viện ung thư hàng đầu tại Nhật Bản như bệnh viện IGT, Karasuma Wada đã được nhập khẩu nguyên hộp và phân phối độc quyền tại Việt Nam bởi Công ty TNHH Y tế Minh Ngọc. Sản phẩm Tokyo Res 1000 có thành phần chính là hoạt chất sinh học Beta glucan được chiết xuất từ nấm miễn dịch Hanabiratake.

    Beta glucan sau khi được chiết xuất sẽ được lên men bằng vi khuẩn Lactobacillus paracasei KLB-1 theo công nghệ đã được Nhật và Mỹ cấp bằng sáng chế. Tokyo Res 1000 chứa tới 47.6% Beta glucan trên 100g trọng lượng thô – hàm lượng cao nhất từ trước tới nay, có tác dụng tăng cường miễn dịch, ức chế sự phát triển của khối u. Hoạt chất sinh học Beta glucan giúp tăng cường số lượng và khả năng tiêu diệt tế bào ung thư của đại thực bào, bạch cầu trung tính và tế bào NK mà không ảnh hưởng đến tế bào lành.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ung Thư Da Và Khối U Ác Tính: Nguyên Nhân
  • ✅ Kiến Thức : Khối U Ác Tính
  • Xét Nghiệm Đánh Dấu Khối U Là Gì?
  • Dấu Hiệu Của Khối U Não Ở Giai Đoạn Đầu Ở Người Lớn Và Trẻ Em
  • Chuyên Gia Chỉ Cách Phân Biệt Khối U Và Ung Thư
  • Phương Pháp Cắt Bỏ Khối U Không Cần Phẫu Thuật

    --- Bài mới hơn ---

  • 8 Dấu Hiệu Lạ Cảnh Báo Bạn Bị Ung Thư Cổ Tử Cung
  • Báo Động Ung Thư Phụ Khoa
  • Mắc Bệnh Ung Thư Cổ Tử Cung Vì Những Thói Quen Cực Xấu
  • Bệnh Về Lách (Lách To, Ung Thư Lá Lách)
  • Gây Mù Tạm Thời Và Ung Thư Nếu Dùng Điện Thoại Trong Bóng Tối
  • Người đầu tiên được áp dụng phương pháp điều trị tân tiến nay là Rory Kleinman, 42 tuổi người Mỹ. Năm 2012, sức khỏe Rory có dấu hiệu giảm sút nghiêm trọng. Qua thăm khám, anh được chẩn đoán mắc ung thư thận.

     Thông qua cây kim được đưa vào cơ thể, công nghệ vi sóng sẽ chiếu trực tiếp vào tế bào ung thư và loại bỏ chúng.

    Chia sẻ với tờ Foxnews, Rory cho biết: “Tôi cảm thấy sốc khi nghe hung tin này. Chưa bao giờ tôi nghĩ mình sẽ bị ung thư, đặc biệt ở tuổi sức khỏe còn dồi dào như hiện nay. Nếu thượng đế đã an bài tôi phải đối mặt với căn bệnh, có lẽ ở độ tuổi về hưu tôi có thể dễ chấp nhận hơn”.

    Trước đây, để “tiêu diệt” khối u ở thận, các bác sĩ chuyên khoa tiến hành sinh thiết khối u rồi quyết định phẫu thuật cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ quả thận để đảm bảo khả năng sống cho bệnh nhân. Hiện nay, khoa học tiên tiến cho phép chúng ta sử dụng công nghệ vi sóng để tiến hành loại bỏ khối u. Điều đặc biệt là công nghệ này có thể được thực hiện đồng thời cùng quá trình sinh thiết, góp phần rút ngắn thời gian điều trị.

    Lý giải về cơ chế hoạt động của công nghệ mới, bác sĩ Aaron Fischman đến từ Bệnh viện Mount Sinai (New York) cho biết: “Đây là một phương pháp đột phá dùng để cắt khối u. Thông qua cây kim được đưa vào cơ thể, chúng tôi dùng tia sóng chiếu trực tiếp vào vị trí ung thư và tiêu diệt nó mà không để lại bất kỳ vết mổ nào trên quả thận. Điểm ưu việt của phương pháp này là không cần các ca phẫu thuật phức tạp, thời gian bệnh nhân phục hồi được rút ngắn, nguy cơ biến chứng do mất máu cũng được giảm thiểu”.

    Phương pháp điều trị bằng công nghệ vi sóng có thể áp dụng cho các khối u xuất hiện trên gan, phổi và thận. Các bác sĩ tại Bệnh viện Moutain Sinai khẳng định tỷ lệ thành công ở các bệnh nhân dao động trong khoảng 90 – 95%. Các bệnh nhân chỉ mất một hoặc hai ngày là có thể hồi phục hoàn toàn.

    Theo Airingnews/kienthuc.net

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa U Lành Tính Và U Ác Tính
  • Thuốc Trị Ung Thư Kaposi Liên Quan Tới Aids
  • Sàng Lọc Và Phát Hiện Sớm Ung Thư Khoang Miện – Sàng Lọc Ung Thư
  • Tiếp Tục Thua Kiện Vì Gây Ung Thư, Johnson & Johnson Phải Bồi Thường Số Tiền ‘khủng’
  • Chẩn Đoán Ung Thư Tụy
  • Mổ Ung Thư Vú: Nên Phẫu Thuật Cắt Bỏ Tuyến Vú Hay Khối U?

    --- Bài mới hơn ---

  • Loại Bỏ Bệnh Ung Thư Ruột Kết Bằng Phương Pháp Nào?
  • Chăm Sóc Cho Bệnh Nhân Ung Thư Ruột Kết
  • Ngăn Ngừa, Hỗ Trợ Điều Trị Ung Thư Ruột Kết Bằng Bông Cải Xanh
  • Bốn Triệu Chứng Chính Của Ung Thư Ruột Kết Giai Đoạn Sớm
  • 4 Triệu Chứng Chính Của Ung Thư Ruột Kết Giai Đoạn Đầu Tiên
  • ➡ Làm rõ hai khái niệm phẫu thuật núi đôi

    – Phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú: Đây là phương pháp phẫu thuật cắt bỏ 1 hoặc cả 2 bên núi đôi. Khi sử dụng phương pháp này các bác sĩ sẽ loại bỏ tất cả các mô vú và hạch bạch huyết lân cận.

    – Phẫu thuật cắt bỏ khối u: Đây là kỹ thuật mổ chỉ loại bỏ các khối u và một phần mô vú xung quanh. Thế nên, chị em vẫn có thể bảo toàn bộ ngực của mình.

    Có lẽ phải lựa chọn giữa hai phương pháp này là quyết định rất khó khăn. Bởi phẫu thuật bảo toàn vú có thể giúp chị em giữ lại “vũ khí” trời ban. Còn phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú lại khiến người bệnh an tâm vì mầm bệnh đã được “xóa sổ” hoàn toàn.

    ➡ So sánh về tỉ lệ sống ở hai phương pháp mổ ung thư vú

    Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng:

    – Người phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú và cắt bỏ khối u có kết hợp xạ trị. Tỉ lệ sống sau 10 năm của của họ là như nhau.

    – Tỉ lệ ung thư vú đã di căn xa cũng không khác nhau giữa hai phương pháp.

    – Tỉ lệ tái phát tại chỗ của phương pháp cắt bỏ khối u cao hơn so với phương pháp mổ cắt bỏ tuyến vú.

    Chung quy lại, hiệu quả mang lại của cả hai phương pháp là tương đương nhau.

    2. Ưu nhược điểm của từng phương pháp

    💡 Ưu, nhược điểm của phẫu thuật cắt bỏ khối u

    Theo các chuyên gia, phẫu thuật cắt bỏ khối u có ưu thế là cho kết quả thẩm mỹ tốt. Phụ nữ sẽ không tự ti sau phẫu thuật, thời gian phục hồi nhanh. Đặc biệt, chị em không phải trải qua phẫu thuật tái tạo vú hay đẹp vật phẩm giả trang.

    Ưu điểm là thế nhưng phương pháp này cũng vướng phải một số nhược điểm. Đó là sau phẫu thuật, bệnh nhân phải xạ trị để cải thiện tỉ lệ sống. Đồng thời, ngăn ngừa nguy cơ tái phát về sau. Tuy nhiên, xạ trị là một quá trình lâu dài và có thể gây ra tác dụng phụ.

    Thêm nữa, phẫu thuật bảo toàn núi đôi cũng không thể cắt bỏ hết toàn bộ khối u. Do đó, tế bào ung thư có thể còn sót lại nên tỉ lệ phát bệnh rất cao. Nếu điều này xảy ra người bệnh có thể sẽ phải cắt bỏ cả vú.

    💡 Ưu, nhược điểm của cắt bỏ tuyến vú

    Phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú giúp người bệnh an tâm hơn. Bởi các tế bào ung thư đã được loại bỏ hoàn toàn. Hơn nữa, người bệnh cũng không cần tham gia xạ trị nhiều lần sau phẫu thuật. Thế nhưng, phương pháp này cần rất nhiều thời gian để phục hồi.Thậm chí, để lại nhiều tác dụng phụ như đau mạn tính.

    Ngoài ra, loại bỏ một bên vú hay cả hai bên chính là nỗi sợ lớn nhất của phụ nữ. Họ sẽ có cảm giác tự ti, mặc cảm với diện mạo mới. Dù có trải qua phẫu thuật tái tạo vú hay sử dụng các sản phẩm hỗ trợ thì nỗi đau rất khó nguôi ngoai.

    3. Lựa chọn phương pháp nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố

    Trên thực tế, lựa chọn phương pháp mổ ung thư vú nào còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Chẳng hạn như giai đoạn bệnh, tuổi tác, sức khỏe, mong muốn của bệnh nhân…

    Bởi nhiều bệnh nhân vướng phải “án tử” ung thư vú khi tuổi đã cao. Lúc này bác sĩ quyết định điều trị hóa chất để thu nhỏ khối u trước. Sau đó mới xem xét khả năng phẫu thuật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hiểu Đúng Về Phẫu Thuật Cắt Bỏ Khối U Ung Thư
  • Ung Thư Da Và Khối U Ác Tính: Nguyên Nhân
  • ✅ Kiến Thức : Khối U Ác Tính
  • Xét Nghiệm Đánh Dấu Khối U Là Gì?
  • Dấu Hiệu Của Khối U Não Ở Giai Đoạn Đầu Ở Người Lớn Và Trẻ Em
  • U Khí Quản: Chẩn Đoán Và Điều Trị Ngoại Khoa Cắt Bỏ Khối U Và Tái Tạo Khí Phế Quản

    --- Bài mới hơn ---

  • Ung Thư Khẩu Cái Mềm: Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Cách Điều Trị
  • Quan Niệm Sai Lầm Về Dinh Dưỡng Trong Ung Thư
  • Khối U Hiếm Gặp Nằm Suốt 3 Năm Ở Vòm Miệng Của Cô Giáo Khiến Giọng Nói Bị Biến Đổi
  • Tại Sao Ung Thư Phải Tránh Đám Ma?
  • Nguyên Nhân Nào Gây U Sarcome Kaposi ?
  • Tóm tắt:

    Đặt vấn đề: u khí quản nguyên phát chủ yếu là bệnh lý ác tính, hay gặp là carcinoma (tế bào gai, tuyến). Bệnh gây chèn lấp khí quản đòi hỏi phải được phẫu thuật tái tạo khí quản đồng thời giải quyết bệnh lý ung thư của khí quản. Ở những khối u lớn dự báo sẽ mất đoạn khí quản lớn, việc tái tạo khí quản sẽ gặp nhiều khó khăn, có thể thất bại ngay trong mổ, ngay sau mổ hoặc một thời gian sau mổ. Với thực tế hiện tại, chưa có vật liệu hay cơ quan thay thế khí quản, việc cân nhắc chỉ định, đường mổ, và kỹ thuật tái tạo khí quản góp phần quyết định kết quả phẫu thuật và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật. Nghiên cứu này đánh giá tính khả thi của phẫu thuật đối với loại bệnh này.

    Phương pháp: Hồi cứu những trường hợp u khí quản đã được phẫu thuật cắt bỏ khối u và tái tạo khí quản tại khoa ngoại Lồng ngực trong thời gian 6 năm (2010 – 2022). Bệnh nhân được hoá xạ trị sau mổ và nội soi khí phế quản hoặc chụp ctscan sau mổ 1 tháng, 6 tháng và hàng năm. Vị trí và độ lớn khối u, phương pháp phẫu thuật, đường mổ, biến chứng trong và sau mổ, thời điểm tái phát, tử vong được thu thập và phân tích đánh giá.

    Kết quả: Có 22 trường hợp được phẫu thuật, trong đó, vị trí cổ ngực là 14 trường hợp, trong ngực trên carina là 3 trường hợp, carina + 1 phế quản gốc là 4 trường hợp, carina + 2 phế quản gốc là 1 trường hợp. Giải phẫu bệnh cho thấy 4 trường hợp là di căn từ K giáp, 18 trường hợp là u khí quản nguyên phát. Có 3 trường hợp tử vong (13,6%), do mất đoạn khí quản lớn; 1 sau 5 ngày, một sau 3 tuần và 1 sau 4 tháng. Một bệnh nhân tử vong do tái phát sau 3 năm do còn để lại khối u ở phế quản gốc trái. Các bệnh nhân còn lại được cho là phẫu thuật thành công hiện vẫn đang sống và theo dõi tiếp.

    Kết luận: Phẫu thuật cắt bỏ và tái tạo u khí quản có tính khả thi cao, nên được chỉ định cho những khối u không chiếm quá 1/3 độ dài khí quản. Phẫu thuật triệt để khối u là điều kiện quan trọng để tái tạo thành công khí quản. Đối với những khối u vùng carina, bao gồm cả khí quản và phế quản gốc một hoặc 2 bên, đường mở xương ức giúp phẫu thuật hiệu quả hơn so với đường mở ngực phải.

    Từ khoá: U khí quản, phẫu thuật tái tạo khí quản.

    * Khoa ngoại Lồng ngực, Bệnh viện Chợ Rẫy

    Surgical management of tracheal tumors

    Vu Huu Vinh*

    Abstract:

    Background: Primary tracheal neoplasms are mainly malignant; most of them are carcinoma (squamous, adenoma). The diseases may cause airway obstruction requiring tumor resection and tracheal reconstruction. Advanced stage tumors would expect much tracheal resection, making reconstruction to be challenge. Catastrophe may encounter intraoperative, postoperative, or even in short-term follow-up. At psent, there is no any substitute material for tracheal tube, so careful considering indication and surgical technique could help improving the outcome. This study examines the feasibility of the surgical interference for this disease.

    Methods: Retrospectively review tracheal tumor cases operated with resection and reconstruction at the Thoracic Department, Choray hospital during 6 years (2010 – 2022). Patients received adjuvant chemo-radiation postoperatively and were followed-up with tracheal endoscopy and/or CT-scan for 1 month, 6 months, and annual postoperatively. Size of tumors, locations, surgical accesses, reconstruction techniques, morbidity, and mortality are subjects to be examined.

    Results: There were 22 cases operated. Among them, tumors located at cervico-thoracic region in 14 cases, intrathoracic but above the carina in 3, at carina and one bronchus in 4, and carina plus both bronchi in 1 case. Histopathology results: 4 metastasis from thyroid cancer, 18 primary tracheal cancers. Mortality is 3 (13.6%), due to over missing of the tracheal tissue. One happened 5 days postoperatively, one after 3 weeks, and one after 4 months. In one other case, the tumor recurred after 3 years due to the remnant tumor at the left main bronchus and died without surgical interference. Others are still alive normally and assume to be successful in term of surgical interference.

    Conclusion: Tracheal tumor resection and reconstruction surgery is feasible. Indication should reserves for tumors that invade less then one third of the trachea. Complete resection of the tumor is the most importance for the successful of the surgery. Sternotomy facilitates carina tumor resection comparing to the right thoracotomy.

    Keywords: Tracheal tumor, tracheal reconstruction

    * Department of Thoracic Surgery, Choray Hospital

    1. MỞ ĐẦU

    Bệnh lý u phế quản nguyên phát là một bệnh lý hiếm gặp, và thường là ác tính ở người lớn (80-90%) và lành tính ở trẻ em (60-70%)1,2. Triệu chứng chính của bệnh là khó thở kèm theo tắc nghẽn đưởng hô hấp trên. Các báo cáo về bệnh lý u phế quản còn tương đối ít. Chưa có các nghiên cứu lớn về bệnh sinh, diển tiến tự nhiên của bệnh, các yếu tố nguy cơ. Các báo cáo đa phần là các nghiên cứu báo cáo hàng loạt các trường hợp.

    U phế quản nguyên phát là bệnh lý hiếm gặp chiếm khoảng 0,1 đến 0,4% trong các bệnh lý ác tính3. Ung thư tế bào gai thường gặp ở bệnh nhân khoảng 60 tuổi, ung thư tế bào tuyến dạng nang thường ở bệnh nhân 50 tuổi, nam giới chiếm tỉ lệ cao hơn nữ khoảng 60% và 73% bệnh nhân có tiền căn hút thuốc lá4.

    Phẫu thuật điều trị u khí quản bao gồm cắt bỏ triệt để u khí quản, tái tạo lại khí quản, bao gồm cả carina và các phế quản gốc. Khí quản là tạng hiện chưa có vật liệu thay thế tự thân, ghép hay nhân tạo nên kỹ thuật tái tạo khí quản là một kỹ thuật khó, chỉ áp dụng được khi mất đoạn khí quản ở một giới hạn nhất định 5, 6

    Hiện nay, ở Việt Nam, các báo cáo về u phế quản nguyên phát còn ít, phần lớn là các báo cáo trường hợp ca lâm sàng đơn lẻ. Vì vậy, chúng tôi quyết định làm nghiên cứu báo cáo tổng kết 22 trường hợp mổ u khí quản nguyên phát tại bệnh viện Chợ Rẫy trong vòng 6 năm từ 2010 đến năm 2022

    2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    Nghiên cứu báo cáo hàng loạt 22 trường hợp bệnh u khí quản nguyên phát được phẫu thuật tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ 2010 đến 2022. Các trường hợp được chỉ định nội soi phế quản và CTscan cổ ngực có cản quang trước mổ để chẩn đoán bản chất, độ hẹp của lòng phế quản, vị trí, kích thước u, mức độ xâm lấn và ước lượng đoạn phế quản bị cắt bỏ trong phẫu thuật (H.1, H.2).

    Hình 1: Hình ảnh CT scan điển hình của u khí quản nguyên phát

    Đường mổ được lựa chọn theo vị trí, mức độ xâm lấn và độ dài đoạn khí quản dự kiến phải cắt bỏ. Ở nền cổ, khí quản, thân động mạch cánh tay đầu và tĩnh mạch vô danh trái thường bắt chéo nhau. Chúng tôi lấy vị trí giao nhau giữa tĩnh mạch vô danh trái và khí quản làm điểm phân chia giới hạn cho khí quản cổ và ngực. Vùng cổ ngực là vùng nằm cả trên và dưới tĩnh mạch vô danh.

    • Đối với các u khí quản vùng cổ, vùng cổ – ngực, lựa chọn đường mổ cổ rộng rãi có hay không có kết hợp mở bán phần xương ức.

    • Đối với các u khí quản đoạn trong ngực trên carina, lựa chọn đường mổ ngực phải.

    • Đối vối u khí quản vùng carina hay có xâm lấn phế quản gốc 1 hay 2 bên, lựa chọn đưởng mổ mở ngực phải hay đường giữa xương ức.

    Hình 3: U khí quản trong ngực, trên carina. Đường mổ là chẻ xương ức, có mở rộng lên cổ do có nhiều hạch cổ. Hình ảnh thân động mạch cánh tay đầu và tĩnh mạch vô danh trái bắt chéo nhau trước khí quản được cho là giao điểm cổ – ngực của khí quản.

    Bệnh nhân được thu thập các yếu tố: tuổi, giới tính, triệu chứng lâm sàng khởi phát, tình trạng lúc nhập viện, hình ảnh CTscan, nội soi khí quản, phương pháp mổ, đường mổ, hậu phẫu, kết quả giải phẫu bệnh. Bệnh nhân được theo dõi sau mổ định kì 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng, nội soi phế quản kiểm tra lành sẹo khí quản và u tái phát.

    Đánh giá kết quả phẫu thuật theo tiêu chuẩn:

    • Tốt : BN sau phẫu thuật ổn định, được xuất viện, theo dõi không thấy tái phát u tại chỗ.

    • Xấu : Bn tử vong sau phẫu thuật, trong thời gian theo dõi, u tái phát.

    Các số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 và trình bày dưới dạng bảng biểu.

    3. KẾT QUẢ:

    Có 22 trường hợp u khí quản nguyên phát được phẫu thuật.

    Tuổi trung bình: 52,9 tuổi (nhỏ nhất 29; lớn nhất 69 tuổi)

    Bảng 1: Đặc điểm dịch tễ và lâm sàng của bệnh nhân

    Tiền căn hút thuốc lá toàn bộ là nam chiếm 11/13 trường hợp. Có 2 bệnh nhân đến viện trong tình trạng suy hô hấp đã được chẩn đoán u khí quản từ tuyến trước cần đặt nội khí quản thở máy.

    Bảng 2: Đặc điểm của u khí quản

    Ghi nhận đa phần bệnh nhân có u vùng cổ và cổ ngực, có thể mổ bằng đường cổ hoặc thêm chẻ bán phần xương ức. Kích thước u tương đối lớn từ 2-4cm chiếm đa số. Ghi nhận có 4/22 trường hợp u xâm lấn vào cơ quan xung quanh trong đó có 3 trường hợp u xấm lân vào thành thực quản, cần khâu tăng cường cơ thực quản bằng chỉ tiêu đơn sợi (PDS, monoryl), 1 trường hợp xâm lấn vào thân động mạch cánh tay đầu cần kẹp cô lập, bóc tách và khâu phục hồi.

    Bảng 3: Kết quả phẫu thuật:

    BÀN LUẬN :

    Chúng tôi ghi nhận được 22 trường hợp ung thư khí quản được phẫu thuật tại bệnh viện Chợ Rẫy trong vòng 6 năm. Độ tuổi trung bình 52,9 tuổi. Trong đó, tỉ lệ ung thư khí quản nguyên phát chiếm đa số 81,8%, điều này cũng phù hợp với các nghiên cứu khác trên thế giới 1, 2, 7. Có 4/22 trường hợp là ung thư di căn từ K giáp. Tiền căn hút thuốc lá 11/13 bệnh nhân nam, điều này cũng phù hợp với nghiên cứu Litch và cộng sự 4 70% bệnh nhân ung thư khí quản nguyên phát có tiền căn hút thuốc lá. Như vậy, hút thuốc lá là một yếu tố nguy cơ của u khí quản nguyên phát.

    Triệu chứng lâm sàng thường gặp của u khí quản nguyên phát là khò khè khó thở chiếm 59,1%, kế tiếp là ho ra máu chiếm 18,2%. Có 3/22 trường hợp nuốt nghẹn, khi đối chiếu với hình ảnh CT scan và trong phẫu thuật ghi nhận u khí quản thành sau có xâm lấn chèn ép thực quản. Điều này cho thấy u khí quản diễn tiến âm thầm, bệnh nhân thường đến bệnh viện ở giai đoạn trễ của bệnh khi u hẹp lòng khí quản gây khó thở hoặc đã xâm lấn ra xung quanh.

    Về vị trí u khí quản, đa phần u khí quản nằm ở vùng cổ – ngực chiếm 54,2 %. Đây là một vị trí rất khó trong phẫu thuật u khí quản vì kích thuốc của lỗ thoát lồng ngực hẹp, phía sau là cột sống và phía trước là xương ức, có nhiều cấu trúc quan trọng đi qua khu vực này như động mạch cảnh 2 bên, thực quản. Đối với những bệnh nhân này, chúng tôi lựa chọn đường mổ ngang cổ và chẻ bán phần xương ức. Với đường mổ này kết hợp với tư thế ngửa cổ tối đa, chúng tôi có thể tiếp cận được 1/2 khí quản đoạn trong ngực (khoảng 4cm tính từ mặt phẳng ngang xương ức). Các thành phần như bó mạch cảnh 2 bên và thực quản có thể bóc tách dễ dàng. Tuy nhiên cần chú ý tới thân động mạch cánh tay đầu bên phải và tĩnh mạch vô danh, đây là 2 thành phần nằm sâu trong ngực, dể bị tổn thương trong quá trình phẫu thuật. Ngoài ra trong một số trường hợp, miệng nối khí quản tiếp xúc trực tiếp với 2 thành phần này, cần phải cô lập bằng mảnh ghép nhân tạo hay tự thân, tránh tình trạng dò khí quản – động mạch. Chúng tôi có 2 trường hợp tử vong khi phẫu thuật u khí quản đoạn cổ ngực. Trường hợp 1, bệnh nhân có u khí quản 5cm, tử vong tại ngày hậu phẫu thứ 5 do bung miệng nối khí quản. Trường hợp 2, bệnh nhân u khí quản 3cm, tử vong sau 4 tháng do dò loét miệng nối khí quản – thân động mạch cánh tay đầu phải, bệnh nhân ho ra máu lượng nhiều, được nội soi khí quản chẩn đoán trong phòng mổ.

    U khí quản đoạn trong ngực và carina, đường mở ngực phải liên sườn 4 có thể tiếp cận và giải quết tốt khối u. Chúng tôi có 8 trường hợp u khí quản đoạn trong ngực và carina, trong đó, 3 trường hợp trên carina đều mổ bằng đường mở ngực phải và 5 trường hợp carina và phế quản thì 2 mở ngực phải, 3 mở xương ức. 2 trường hợp mở ngực phải thì một phải xử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể, một thì thất bại trong thì xử lý phế quản gốc trái, chỉ nối phế quản gốc phải vào khí quản và “thả” phế quản gốc trái sang bên trái, nơi mà không thể thao tác từ đường mở ngực phải được. 3 trường hợp sau chúng tôi chẻ xương ức, không cần tuần hoàn ngoài cơ thể, tiếp cận khí quản giữa tĩnh mạch chủ trên và quai động mạch chủ. Động mạch phổi phải được bóc tách và vén xuống dưới, tạo phẫu trường khá tốt để xử lý khí quản vùng carina và 2 phế quản gốc.

    Đối với sẹo hẹp hoặc các tổn thương khí quản lành tính đoạn khí quản cắt bỏ tối đa có thể lên tới 5- 6cm hay gần nửa chiều dài khí quản 5,6,7. Tuy nhiên, ung thư khí quản thì nếu khối u xâm lấn cần cắt bỏ 1/3 chiều dài khí quản đã là một vấn đề thách thức do sự xâm lấn rộng rãi ra xung quanh và tính chất dễ hoại tử tiếp phần gianh giới lành ác của mô khí quản sau mổ 6,7,8,9. Trong nghiên cứu chúng tôi 3 trường tử vong đều có u khí quản từ 4-6cm, có đoạn khí quản cắt bỏ dài. Theo các tác giả trên thế giới, hiện tượng sẹo tăng sinh tại miệng nối khí quản gây hẹp lòng khí quản là một biến chứng thường gặp sau phẫu thuật khí quản 10, 11,12. Khác với sẹo hẹp, u khí quản hiếm khi chiếm toàn bổ chu vi khí quản mà thường là chiếm trọn thành sau và một thành bên, trái hoặc phải, nhưng phần nhiều là bên phải. Vì thế mà sau khi cắt bỏ nó có dạng khuyết nửa chu vi thay vì mất đoạn hoàn toàn (H.2). Nó là cơ sở để tạo hình khí quản hơn là cắt bỏ và nối tận – tân. Có nhiều phương pháp giúp làm giảm tình trạng tăng sinh mô sẹo trong phẫu thuật khí quản như làm giảm tối đa tình trạng căng kéo miệng nối khí quản, khâu nối bằng chỉ tan đơn sợi, dùng corticoid sau mổ 13,14.

    Hình 2: Ung thư khí quản thường gây khuyết nửa chu vi của khí quản, thường là thành sau bên phải, hiếm gặp sau bên trái.

    5. KẾT LUẬN:

    Bệnh lý u thư khí quản là bệnh lý ít gặp, triệu chứng âm thầm, bệnh nhân thường vào viện với tình trạng trễ. Phẫu thuật cắt bỏ và tái tạo u khí quản có tính khả thi cao, nên được chỉ định cho những khối u không chiếm quá 1/3 độ dài khí quản. Phẫu thuật triệt để khối u là điều kiện quan trọng để tái tạo thành công khí quản. Đối với những khối u vùng carina, bao gồm cả khí quản và phế quản gốc một hoặc 2 bên, đường mở xương ức giúp phẫu thuật hiệu quả hơn so với đường mở ngực phải.

    Vũ Hữu Vĩnh

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Gilbert JB, Mazzarella LA, Feit LJ. Primary tracheal tumours in infants and children. J Pediatr 1949;35:63- 69.

    2. Desai DP, Holinger LD, Gonzales-Crussi F. Tracheal neoplasm inchildren. Ann Otol Rhinol Laryngol 1998;107:790-796

    3. Machiarini P. Primary tracheal tumors. Lancet Oncol 2006;7:83-91.

    4. Licht PB, Friis S, Pettersson G. Tracheal cancer in Denmark: a nation-wide study. Eur J Cardiothorac 2006;19:339-345.7. Gaissert HA. Primary tracheal tumors. Chest Surg Clin N Am 2003;13:247-256.

    5. Vũ Hữu Vĩnh và cs. Xử trí tổn thương sẹo hẹp khí quản và rò khí – thực quản bằng nối khí quản tận – tận trực tiếp và khâu đường rò thực quản. Y học Việt Nam – Tập 375 – Số tháng 11 – 2010. Tr. 353 – 360

    6. Vũ Hữu Vĩnh và cs. Phẫu thuật điều trị tổn thương carina và phế quản gốc. Tạp chí Y dược lâm sàng 108, tập 7 số đặc biệt, tháng 11/2012. Tr.1-3.

    7. Grillo HC. Primary tracheal tumours. In Grillo HC, (Ed.), Surgery of the trachea and bronchi, 4th Ed. London: BC Decker, 2004. Pp. 208-247. 2.

    8. .Weber AL, Grillo HC. Tracheal tumors. A radiological, clinical, and pathological evaluation of 84 cases. Radiol Clin N Am 1978;16:227-246.

    9. Honings J, Dijck JA, Verhagen AF, Heijden HF, Marres HA. Incidence and treatment of tracheal cancer: a nationwide study in the Netherlands. Ann Surg Oncol 2007;14:968-976.

    10. Manninen MP, Antila PJ, Pukander JS, Karma PH. Occurrence of tracheal carcinoma in Finland. Acta Otolaryngol 1991;111:1162-1169.

    11. Gelder CM, Hetzel MR. Primary tracheal tumours: a national survey.Thorax 1993;48:688-492.

    12. Bhattacharyya N. Contemporary staging and prognosis for primary tracheal malignancies: a population-based analysis. Otolaryngol Head Neck Surg 2004;131:639-642.

    13. Kurien G, Cole I. Primary carcinoma of the trachea. Clin Otolaryngol 1981;6:197-204.

    14. FG. Adenoid cystic carcinoma of the airway: thirty-two-year experience. J Thorac Cardiovasc Surg 1996;112:1522-1532.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoang Mang Với Sản Phẩm Của Johnson & Johnson
  • Hình Ảnh Lâm Sàng Trong Ung Thư Da: Ung Thư Tế Bào Hắc Tố (Melanoma)
  • Phòng Ngừa Ung Thư Vòm Họng: Không Sử Dụng Thuốc Lá
  • Bệnh Nhân Ung Thư Hạch Hodgkin Đầu Tiên Được Điều Trị Miễn Dịch Thành Công, Sống Khỏe Mạnh
  • U Lympho Ác Tính Không Hodgkin Có Chữa Được Không?
  • Chẩn Đoán Khối U Gan Ác Tính Trên Cắt Lớp Vi Tính

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Xét Nghiệm Chẩn Đoán Ung Thư Gan
  • Biến Chứng Viêm Gan C Là Xơ Gan Và Ung Thư Gan
  • Những Cách Phát Hiện Sớm Ung Thư Gan Và Xơ Gan Ở Người Bệnh Viêm Gan B,c
  • Xét Nghiệm Máu Ung Thư Gan Giúp Phát Hiện Bệnh K Gan Hiệu Quả
  • Xét Nghiệm Máu Phát Hiện Sớm Ung Thư Gan
  • Các khối u gan nguyên phát triển từ các thành phần của nhu mô gan bao gồm các khối u biểu mô: ung thư tế bào gan (carcinome hépatocellulaire, CHC), ung thư tế bào gan dạng xơ lá (carcinome fibolamellaire hépatocellulaire, CFLHC) là những khối u có nguồn gốc tế bào gan; ung thư tế bào đường mật trong gan (Carcinome cholangiocellulaire intraépatique) có nguồn gốc từ tế bào đường mật; ung thư hỗn hợp (cholangio-hépatocarcinome). Các khối u phát triển từ trung mô thường hiếm, bao gồm các khối u mạch máu (angiosarcome, hémangio-endothélio-sarcome) u tế bào kuppfer (kuppferome). Ngoài ra có thể gặp u nguyên bào gan (hépatobalastome) u cơ trơn (leiomyosarcome) hoặc u cơ vân (rhabdomyosarcome).

    1. Các khối u biểu mô ác tính

    1.1.Ung thư tế bào gan (CHC)

    1.1.1. Đại cương

    CHC chiếm khoảng 95% các khối u gan ác tính. Tỷ lệ mác bệnh ở châu âu thấp hơn nhiều so với châu á và châu Phi. Nam nhiều hơn nữ (châu âu 3/1, Việt nam 5/1).

    ở Việt nam theo thông kê của Tôn Thất Tùng từ năm 1955-1961 trong số 5429 trường hợp ung thư có 159 ung thư gan (2,9%), từ năm 1962-1968 791/7911 trường hợp ung thư (10%). Trong một nghiên cứu trên những người có nguy cơ cao, Hoàng Kỷ, Nguyễn Duy Huề cho thấy tỷ lệ ung thư gan ở nhóm người này là 18/438 (4,1%) và đa số ung thư phát triển trên nền xơ gan.

    Về mặt đại thể CHC có 4 thể: thâm nhiễm đám, thể khối (hay gặp) thể phối hợp và thể lan toả. Khối thường nhiễm mỡ, hoại tử, xơ và vôi hoá. CHC được tưới máu từ hệ thống động mạch gan. Nó thâm nhiễm một cách nhanh chóng vào các cấu trúc tĩnh mạch cửa, tĩnh mạch gan. CHC có thể có một khối đơn độc hoặc nhiều khối; Theo một nghiên cứu trên 333 trường hợp CHC tại bệnh viện Việt Đức của Hoàng Kỷ, Nguyễn Duy Huề cho thấy 55,5% có nhiều ổ, 44,5 có một ổ, gan phải nhiều hơn gan trái (64,3%), cả hai gan chỉ chiếm 1,1%. Cũng theo nghiên cứu này cho thấy loại nhiều khối nhỏ dưới 3cm chiếm 12,4%, từ 3-10cm 64% và trên 10cm là 23,4%. U có hoại tử chiếm 17,1% và huyết khối tĩnh mạch cửa là 6,6%.

    Vấn đề chẩn đoán sớm được đặt ra cho tất cả những bệnh nhân có bệnh gan mãn tính bàng cách theo dõi siêu âm và định lượng ỏFP. ỏFP tăng trong 60-70% các trường hợp CHC. Đây là một dấu hiêu đặc hiệu cho chẩn đoán CHC nó không tăng ở người bình thương và các loại u khác, trừ teratoblastome tinh hoàn.

    1.1.2. Hình ảnh cắt lớp vi tính Hình ảnh trực tiếp của khối u

    Giá trị chẩn đoán Ung thư tế bào gan của chụp cắt lớp vi tính tương đương với siêu âm với độ nhạy khoảng 90%. Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính của ung thư tế bào gan rất thay đổi: Một khối duy nhất (50%), nhiều khối (16-20%) hoặc lan toả(30-35%).

    Thăm khám cắt lớp vi tính được tiến hành một cách bắt buộc trước và sau khi tiêm thuốc cản quang. Trên các lớp cắt không tiêm thuốc cản quang khối u thường giảm tỷ trọng (30-50UH) có thể đồng nhất hoặc không đồng nhất với những vùng dịch do hoại tử và những vùng thoái hoá mỡ. Rất hiếm thấy khối u tế bao gan ác tính đồng tỷ trọng với nhu mô gan, lúc này sự phát hiện khối u phải dựa vào sự biến dạng của bờ gan và sự đè đẩy vào các mạch máu xunh quanh khối u. Đôi khi trong khối có những vùng tăng tỷ trọng tự nhiên do chảy máu hoặc các nốt vôi hoá nhỏ rải rác (15-25%) hoặc nốt vôi hoá lớn.

    Ngoài kỹ thuật tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch nhanh như đã trình bày ở phần kỹ thuật chung; kỹ thuật tiêm tĩnh mạch nhanh, lần 2, với khoảng 60ml thuốc cản quang với lớp cắt khu trú vào khối u hoặc vào vùng rốn gan nhằm mục đích nghiên cứu cấp máu động mạch và hệ thống cửa được nhiều tác giả đáng giá cao trong thăm khám ung thư tế bào gan. Thì động mạch (thì động mạch chủ cản quang) khối u tăng cấp mạch với các mạch máu tân tạo và những động mạch không điển hình, những vùng vô mạch tương ứng với tổn thương hoại tử. Thì tĩnh mạch cửa tổn thương trở nên giảm tỷ trọng so với nhu mô gan xung quanh với một vòng tăng tỷ trọng xung quanh khối bao gồm nhiều mạch mà ở đó máu lưu thông chậm. Tuy nhiên, hình ảnh này cũng có thể gặp trong một số khối u lành tính và nó không đặc hiệu cho u tế bào gan ác tính. U tế bào gan ác tính cũng có thể trở nên đồng tỷ trọng hoặc vẫn tăng tỷ trọng nếu nó có nhiều tổ chức liên kết giữ chất thuốc quang.

    Kỹ thuật chuyền tĩnh mạch không được áp dụng trong trường hợp này vì có nguy cơ làm mất hình ảnh khối u giảm tỷ trọng trước khi tiêm.

    Hình ảnh lan rộng của khối u

    Tắc tĩnh mạch cửa là một chứng cứ quan trọng để chẩn đoán u tế bào gan ác tính trước mộ khối u gan. Khối u ác tính có xu hướng xâm lấn các tĩnh mạch cửa bắt đầu từ các nhánh hạ phân thuỳ, nhánh phân thuỳ, thuỳ và sau cùng đến thân tĩnh mạch. Hình ảnh cắt lớp vi tính của tắc tĩnh mạch cửa gồm 4 dấu hiệu:

    -Thấy trực tiếp các nụ giảm tỷ trọng (20-30 UH) sùi vào trong lòng tĩnh mạch kèm theo nhánh tĩnh mạch cửa thượng lưu giãn. Các nụ sùi này không cản quang sau khi tiêm thuốc, nhưng người ta thường thấy các dải tăng tỷ trọng quanh tĩnh mạch cửa kéo dài tương ứng với sự hiện rõ hơn của thành tĩnh mạch và nhất là sự cản quang của các mạch của mạch.

    -Không thấy một nhánh của tĩnh mạch cửa, khối u phá huỷ hoan toàn thành của tĩnh mạch. Người ta có thể thấy trên đường đi của nhánh tĩnh mạch này sự tăng cường mạng lưới động mạch nhỏ và bắt thuốc kéo dài tới thì tĩnh mạch cửa.

    -Cả một thuỳ giảm tỷ trọng đồng nhất ở thì trước khi tiêm thuốc cản quang vì 2 lý do: khối u giảm tỷ trọng đồng thời nhu mô gan quanh khối u cũng giảm tỷ trọng vì thiếu cấp máu của tĩnh mạch cửa.

    -Sự bất thường về tưới máu của vùng quanh khối u:Khi tĩnh mạch cửa bị tắc, nhu mô gan chỉ được cấp máu duy nhất bởi động mạch gan vì thế lưu lượng động mạch này tăng. Vì vậy, sau khi tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch có thể thấy sự tăng tỷ trọng nhất thời trong vùng nhu mô gan “lành” quanh khối u ở thì động mạch.

    Thông động-tĩnh mạch cửa: trên chụp cắt lớp vi tính thấy cản quang đồng thời tĩnh mạch cửa và động mạch chủ ở thì động mạch, trong khi tĩnh mạch cửa chưa cản quang.

    Thâm nhiễm tĩnh mạch gan: hiếm gặp hơn. Chụp cắt lớp vi tính có hình giảm tỷ trọng trong lòng tĩnh mạch gan và giản tĩnh mạch phía thượng lưu. Hội chứng Budd-Chiari có thể gặp do thâm nhiễm hay chèn ép tĩnh mạch gan nhưng hay gặp hơn là hình ảnh thâm nhiễm một phần tĩnh mạch gan.

    Ngoài ra, CT còn cho phép phát hiện huyết khối tĩnh mạch chủ dưới, hạch to, có hay không tổn thương cơ hoành, cơ thành bụng, và tổn thương các cơ quan lân cận.

    (carcinome fibolamellaire hépatocellulaire, CFLHC)

    Ung thư tế bào xơ dẹt hiếm gặp, 500lần thấp hơn CHC, thường gặp ở trẻ em, tuổi vi thành niên và người trẻ: 90% các trương hợp dưới 25tuổi. CFLHC thường xuất hiện trên gan lành không có các bệnh lý mãn tính (xơ gan, viêm gan B, C). Nam bị bệnh cao hơn nữ. Lâm sàng thường biểu hiện gan to, khối sờ thấy trên 50% các trường hợp, thăm khám cho thấy khối sờ thấy lớn nhưng thể tạng bệnh nhân ít bị ảnh hưởng. Các xét nghiệm cận lâm sàng không đặc hiệu, ỏFP bình thường trong 90% các trường hợp.

    CT cho thấy khối giới hạn rõ, giảm tỷ trọng và bắt thuốc cản quang rất thay đổi sau khi tiêm thuốc cản quang. Hai dấu hiệu có thể hướng tới chẩn đoán là vôi hoá trung tâm và các dải giảm tỷ trọng do xơ hoá. Tuy nhiên, dấu hiệu thứ hai cũng có thể thấy trong các khối phì đại khu trú thể nốt. Ung thư tế bào xơ dẹt là một ung thư tiến triển chậm, thời gian sống trung bình có thể 2 năm sau khi có triệu chứng. Tuy nhiên nó có thể di căn tới phổi, hạch, phúc mạc.

    1.3. Ung thư đường mật trong gan (Carcinome cholangiocellulaire intrahéptique)

    1.3.1. Đại cương.

    Ung thư đường mật trong gan hay ung thư đường mật ngoại vi là khối u hiếm gặp nó có nguồn gốc các tế bào biểu mô đường mật trong gan. Nó ít gặp hơn nhiều so với ung thư đường mật ngoài gan hoặc túi mật. Nó chiếm khoảng 10% các khối u gan nguyên phát.

    Về mặt lâm sàng, ung thư đường mật trong gan cũng giống như tất cả các khối u ở gan như đau hạ sườn phải, muộn hơn có thể sờ thấy khối ổ bụng, vàng da rất hay gặp. Các xét nghiệm sinh học cho thấy dấu hiệu tắc mật, kháng nguyên kháng ung thư bào thai tăng (antigène carcino-embryonnaire) trong khoảng 70%

    Tiên lượng của ung thư đường mật trong gan rất xấu. Sự lan rộng sang tổ chức lân cận rất nhanh theo đường bạch huyết, phúc mạc, các tạng trong ổ bụng, hiếm hơn có thể di căn tới xương và da. Thời gian sống trung bình là 6-7 tháng.

    Hình ảnh cắt lớp vi tính: thường không đặc hiệu. Trước khi tiêm thuốc cản quang khối có thể hơi giảm tỷ trọng hơn nhu mô gan xung quanh và tăng tỷ trọng rất ít sau khi tiêm. Đường mật trong gan trước khối u có thể giãn.

    Rất ít gặp. Các khối u trung mô ác tính hay gặp là u máu ác tính và u máu nội mô.

    2.1. U máu ác tính (angiosarcome)

    U máu ác tính gan là khối u phát từ tế bào nội mô vùng xoang gan, thường gặp ở người già 50-70 tuổi, nam nhiều hơn nữ (3/1). Hình ảnh cắt lớp vi tính trước khi tiêm thuốc cản quang là hình khối không đồng nhất, sau khi tiêm bắt thuốc cản quang ở vùng ngoại vi dạng “hồ” ở thì động mạch và vùng trung tâm ngoèo mạch do hoại tử trong khối u.

    2.2. U nội mô mạch máu dạng biểu mô (Hémangio-endothéliome épithélioide).

    Là khối u phát triển từ tế bào nội mô của xoang gan, nhưng ở dạng tế bào biểu mô. Loại u này hiếm gặp, chỉ chiếm khoảng 1% các khối u nguyên phát của gan, thường gặp ở người trẻ nữ nhiều hơn nam. Khối tiến triển chậm. Phát hiện ở một người trẻ, thể tạng tốt nhưng khối u ở gan có kích thước lớn, có nhiều vôi hoá, ít mạch máu có ý nghĩa gợi ý một u nội mô mạch máu dạng biểu mô.

    Hình ảnh cắt lớp vi tính: Trước khi tiêm thuốc cản quang khối biêu hiên bằng tổn thương giảm tỷ trong có kích thước thay đổi từ 1-10cm. Rất hay gặp vôi hoá trong khối (khoảng 3/4 các trường hợp). Sau khi tiêm khối bắt thuốc yếu ở vùng ngoại vi .

    2.3. U tuyến dạng nang (cystadénocarcinome).

    Rất hiếm, biểu hiện dưới dạng tổn thương nang nhiều vách ngăn giàu mạch máu. Trên CT cho thấy tổn thương là khối nang thành dày có các nụ sùi tổ chức.

    2.4. U bạch huyết bào (lymphomes) nguyên phát ở gan

    Hiếm nhưng thường thứ phát sau u hạch Hodgkin hoặc không hodkin.

    Thể nốt được biểu hiện trên phim cắt lớp vi tính bằng những tổn thương tròn giảm tỷ trọng (15-30 UH), có thể nằm sát bờ gan nhưng không làm thay đổi bờ gan. Vôi hoá hoặc hoại tử hiếm gặp. Sau khi tiêm thuốc cản quang các nốt vẫn giản tỷ trọng và trở nên đồng tỷ trọng ở những lát cắt muộn.

    Thể thâm nhiễm hiếm gặp hơn và rất khó chẩn đoán bằng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh. Trước khi tiêm chỉ thấy gan to, đều và sau khi tiêm ở thì chụp rất sớm có thể thấy hình ảnh không đồng đều của gan. Chẩn đoán thường phải dựa vào chọc sinh thiết.

    Khoảng 40% các khối u ác tính có thể di căn gan, trong đó 95% các khối nguyên phát thuộc hệ thống vùng lấy máu của hệ thống cửa (dạ dày, ruột non, đại tràng, tuỵ và đường mật). Ngoài ra các khối u nguyên phát có thể là vú, phổi, tuyến giáp, các cơ quan sinh dục-tiết niệu. Độ nhạy của cắt lớp vi tính tương đương với siêu âm và đạt khoảng 90% theo một số tác giả. Chụp cắt lớp vi tính thường được tiến hành sau khi siêu âm gặp khó khăn trong chẩn đoán.

    Trước khi tiêm thuốc cản quang: Tổn thương biểu hiện bằng những nốt giới hạn rõ, giảm tỷ trọng (20-45UH). Trung tâm có thể có những vùng tỷ trọng dịch trong trường hợp hoại tử từng phần và đôi khi tạo nên hình ảnh nang. Nang di căn thường có thành dày không đều và có các vách ngăn. Di căn dạng nang thường gặp do di căn của u cơ trơn ác tính của ống tiêu hoá, ung thư biểu mô, ung thư da, ung thư đại tràng hoặc buồng trứng.

    Di căn có thể biểu hiện tăng tỷ trọng tự nhiên nếu có chảy máu trong khối hoặc do nhu mô gan nhiễm mỡ. Vôi hoá ít gặp và có thể thấy trong các khối di căn có chảy máu cũ hoặc hoại tử. Các di căn của ung thư đại tràng tiết dịch nhầy thường hay bị vôi hoá.

    Sau khi tiêm thuốc can quang: Hình ảnh hay gặp là một vùng trung tâm giảm tỷ trọng được bao quanh bởi vòng tăng tỷ trọng ở thì động mạch và kéo dài tới thì tĩnh mạch cửa. Hiếm hơn, khối di căn có thể bắt thuốc đồng nhất hoặc thậm chí không bắt thuốc. Một thể di căn đặc biệt bắt thuốc cản quang giống u máu đó là bắt thuốc vùng ngoại vi vào trung tâm và sau đó trở nên đồng nhất.

    Các kỹ thuật khác như chụp cắt lớp vi tính động mạch hoặc chụp cắt lớp vi tính tĩnh mạch cửa hoặc tiêm động mạch iodolipide cho phép làm tăng dộ nhạy của chụp cắt lớp vi tính trong phát hiện di căn gan.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xét Nghiệm Ung Thư Gan Ở Đâu? Bao Gồm Những Xét Nghiệm Gì?
  • Xét Nghiệm Máu Biết Ung Thư Gan Sớm Có Kéo Dài Thời Gian Sống Không?
  • Xét Nghiệm Chẩn Đoán Ung Thư Gan Sớm Thế Nào? Đến Đâu Xét Nghiệm?
  • Xét Nghiệm Ung Thư Gan Sớm Là Gì? Biện Pháp Tầm Soát Ung Thư Gan
  • Phương Pháp Và Điều Kiện Thực Hiện Của Xạ Trị Ung Thư Gan
  • Việt Nam Lần Đầu Tiên Cắt Bỏ Thành Công Khối U Xương Chày, Phục Hồi Hoàn Toàn Chân Cho Bệnh Nhân

    --- Bài mới hơn ---

  • Xương Sườn Chế Tạo Từ Công Nghệ 3D Đầu Tiên Trên Thế Giới Cho Người Ung Thư
  • Tầm Soát Ung Thư Xương Hàm Đúng Cách?
  • Ung Thư Xương Hàm Có Nguy Hiểm Không? 7 Triệu Chứng Nhận Biết
  • Bệnh Ung Thư Xương Cột Sống
  • Ung Thư Xương Ác Tính Được Phát Hiện Có Từ Loài Rùa Kỷ Trias
  • Mới đây nhất, ca mổ cực kỳ phức tạp để cắt bỏ khối ung thư xương chầy với sự phối hợp hoàn hảo giữa phẫu thuật ung thư, phẫu thuật tạo hình khớp, phẫu thuật chuyển vạt che phủ, đã thành công. Đặc biệt, ca mổ không chỉ triệt căn được khối u, mà còn phục hồi chức năng khớp gối tốt nhất và đảm bảo cả thẩm mỹ cho bệnh nhân. Chỉ sau 3 ngày phẫu thuật, không chỉ đỡ đau mà đầu gối bệnh nhân còn gấp được 30 độ.

    Trao đổi với chúng tôi hôm nay, 3/1, BS. Nguyễn Trần Quang Sáng – người tham gia kíp mổ – cho biết, bệnh nhân là anh Nguyễn Văn H. 24 tuổi. Gần một năm nay, anh H. thường bị đau âm ỉ ở chân trái. Các cơn đau xuất hiện dày hơn, khiến anh đau đớn đến mức không ăn không ngủ được, dù đã dùng thuốc giảm đau và thuốc ngủ. Đến bệnh viện khám, anh H. được chẩn đoán bị ung thư xương.

    Với khối u loại này, việc hóa trị, xạ trị rất ít tác dụng, nên phẫu thuật là lựa chọn duy nhất để cứu sống bệnh nhân. Nhưng việc phẫu thuật vô cùng khó khăn, do tổn thương ở xương chày lan rộng, nên muốn loại bỏ triệt để khối u, phải cắt toàn bộ 2/3 xương chày. Do đó bệnh nhân có nguy cơ bị cắt cụt 1/3 dưới xương đùi.

    Nhưng, bệnh nhân mới 24 tuổi, lại chưa có gia đình, nên việc cắt cụt đùi khác nào khép cánh cửa cuộc sống tương lai của anh lại? Là một bác sĩ ngoại khoa có tay nghề, từng tiếp xúc với hàng nghìn trường hợp tương tự, chúng tôi Trần Trung Dũng hiểu hơn ai hết nỗi sợ hãi của một người đối diện với việc mất một phần cơ thể, nên anh trăn trở rất nhiều trước khi tiến hành ca phẫu thuật.

    Khối ung thư của xương chầy có thể dễ dàng loại bỏ bằng việc cắt cụt, đảm bảo nguyên tắc triệt căn, nhưng sẽ để lại những hệ luỵ sâu sắc về tâm, sinh lý cho bệnh nhân và gia đình họ. Tôi quan niệm, bác sỹ phẫu thuật không chỉ là người có đường dao chính xác và hoàn hảo, mà còn phải là người hiểu sâu sắc cả tâm, sinh lý bệnh nhân; điều khiển lưỡi dao mổ không phải bằng khối óc, mà còn bằng cả trái tim mình.”

    Bác sỹ không phải chỉ là người chữa bệnh cho bệnh nhân, mà là người cùng với bệnh nhân ở trên 1 trận chiến với căn bệnh ung thư của họ. Sự khác biệt trong nhận thức giúp cho người bác sỹ ý thức hơn trách nhiệm và động lực, để sát cánh cùng bệnh nhân trong cuộc chiến này ” – chúng tôi Trần Trung Dũng tâm sự suy nghĩ của anh trước khi đưa ra phương án phẫu thuật tối ưu.

    Vì thế, chúng tôi Trần Trung Dũng và các cộng sự lên phương án phẫu thuật cho bệnh nhân với mục tiêu cao nhất là cắt bỏ hoàn toàn khối u, đồng thời, phải bảo tồn chân cho bệnh nhân.

    Tuy nhiên, quyết định này khiến ekip phẫu thuật đối diện với rất nhiều khó khăn, như phải tạo hình lại khuyết hổng của xương rất lớn sau khi cắt bỏ u, tới 2/3 xương chày, dài hơn 20cm. Đặc biệt phức tạp là việc tạo hình phục hồi lại điểm bám và chức năng gân bánh chè, bởi khi khâu gân bánh chè vào khớp nhân tạo, sẽ không tạo được sự kết dính, nên sau một thời gian, khi đứt chỉ khâu, toàn bộ diện bám gân bánh chè sẽ bị nhổ, làm cho khớp gối không duỗi được.

    Sau khi nghiên cứu, các bác sĩ đưa ra phương án chuyển vạt cân cơ sinh đôi trong che phủ diện bám gân bánh chè, giúp gân bánh chè có sự kết dính bền vững, chức năng khớp gối được đảm bảo. Cũng nhờ xác định chính xác các thông số về kích thước u, đoạn xương cần phải cắt, kích thước khớp gối dưới định dạng 3D, nhóm phẫu thuật đã yêu cầu nhà sản xuất tạo được khớp và đoạn kim loại thay thế phần xương khuyết phù hợp với bệnh nhân.

    Với sự chuẩn bị khoa học, kỹ lưỡng của cả ekip, cùng tay nghề và kinh nghiệm dày dạn trong phẫu thuật ung thư của chúng tôi Trần Trung Dũng, ca mổ đã diễn ra với sự kết hợp hoàn hảo các kỹ thuật chuyên khoa sâu về phẫu thuật ung thư, phẫu thuật chỉnh hình và chuyển vạt cơ.

    Sau mổ, sức khỏe bệnh nhân diễn biến tốt, đang được hướng dẫn phục hồi chức năng và chăm sóc chu đáo. chúng tôi Trần Trung Dũng tin rằng, ca mổ không chỉ triệt được khối u mà còn giúp khôi phục chức năng khớp gối, giúp bệnh nhân đi lại bình thường, sớm xuất viện và quay trở lại cuộc sống.

    Ca mổ phức tạp lần đầu ở Việt Nam diễn ra thành công đúng Ngày Thầy thuốc Việt Nam 27/2, càng khiến cho niềm hạnh phúc đong đầy với toàn bộ ekip, nhất là với PGS. Trần Trung Dũng. Anh kể, 2 năm trước, một du học sinh Việt Nam ở Nga cũng bị ung thư xương chày nhờ anh mổ, nhưng do Việt Nam chưa đủ điều kiện về trang thiết bị y tế, nên bệnh nhân phải quay lại Nga mổ, với chi phí cao gấp nhiều lần ở Việt Nam. Khi đó, anh chỉ ước ao sẽ có ngày thực hiện được ca phẫu thuật ung thư xương chày cho bệnh nhân ngay tại Việt Nam, để họ không còn phải ra nước ngoài chữa bệnh khi các thầy thuốc trong nước đủ khả năng như thế nữa…

    Ước mơ 2 năm trước giờ đã thành sự thật và sẽ là cánh cửa mở ra cơ hội sống cho nhiều người bệnh ở Việt Nam. ” Việc bảo tồn chi thể sau khi loại bỏ khối u là một bước tiến quan trọng không chỉ trong điều trị khối u, mà là cả cuộc sống của bệnh nhân “- chúng tôi Trần Trung Dũng nhấn mạnh.

    Nguyễn Trần Quang Sáng chia sẻ: ” Ca mổ thành công không những mang lại hạnh phúc cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, mà còn là sự động viên ekip phẫu thuật trong việc đồng hành cùng bệnh nhân chống lại bệnh ung thư“. Thành công của ca mổ cũng là lời tri ân của cả ekip với PGS. Trần Trung Dũng – người thầy luôn dành toàn bộ tâm huyết, trí tuệ để truyền nhiệt huyết tới các thế hệ học trò trong cuộc chiến chống lại bệnh ung thư: Không bao giờ đầu hàng trước căn bệnh quái ác này!”

    BOX: Ca mổ đặc biệt này do chúng tôi Trần Trung Dũng (Trường Đại Học Y Hà Nội) thực hiện cùng ekip tham gia: BS. Nguyễn Trần Quang Sáng, BS. Trần Đức Thanh, BS.Trần Tuấn Anh, BS. Hoàng Minh Sâm, TS. Trần Đức Th; (Bệnh viện K); BS. Phạm Sơn Tùng, BS. Lê Văn Nam (Bệnh viện Xanh Pôn)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dùng Mảnh Ghép In 3D Để Thay Thế Xương Chày Cho Bệnh Nhân Ung Thư
  • Ung Thư Xương Giai Đoạn Cuối
  • Triệu Chứng Cảnh Báo Ung Thư Xương Ở Giai Đoạn Cuối
  • Ung Thư Xương Hàm Và Người Bệnh Cần Biết
  • Top 5 Ứng Dụng Bắt Wifi
  • Cắt Cụt Chân Để Lấy Khối U Rồi Nối Lại Chân Cho Bệnh Nhi Ung Thư Xương

    --- Bài mới hơn ---

  • Thường Xuyên Nhức Đầu Gối Về Đêm, Nam Sinh Bất Ngờ Phát Hiện Ung Thư Xương
  • Vì Sao Người Bị Bệnh Ung Thư Nên Kiêng Đi Đám Ma?
  • Bị K Tuyến Giáp Có Kiêng Đám Ma Không? Câu Trả Lời Có Ngay Sau Đây!
  • Ung Thư Kaposi: Chứng Ung Thư Hiếm Gặp Bạn Cần Lưu Ý
  • Ung Thư Ruột Kết Và Trực Tràng
  • Khi bé Maxi Richards bị ung thư ở đầu gối, bác sĩ buộc phải cắt cụt chân để loại bỏ ung thư. Với phần chân dưới còn khỏe mạnh, họ không bỏ đi mà nối lại cho Maxi. Tuy nhiên, bàn chân quay gần 180 độ ra sau.

    Bé Maxi Richards hiện đã 4 tuổi và đang sống với gia đình ở bang Tasmania, Úc. Vào cuối tháng 10. 2022, khi được 15 tháng tuổi, Maxi đột nhiên không thể đi lại hay đứng được trên chân phải, theo Daily Mail.

    Bố mẹ Maxi là ông Greg Richards (31 tuổi) và bà Julie Ford (28 tuổi) đã vội vã đưa con đi khám. Ban đầu, bác sĩ chẩn đoán Maxi bị nhiễm vi rút và yêu cầu tái khám nếu 1 tuần sau chưa khỏi.

    Đầu tháng 11.2016, cặp vợ chồng đưa Maxi tái khám. Bác sĩ cho bé chụp X-quang và phát hiện khối u trên đầu gối phải bé.

    Họ được yêu cầu chuyển Maxi đến bệnh viện lớn hơn. Tại đây, bé được chụp X-quang và MRI kỹ hơn. Kết luận cuối cùng chẩn đoán Maxi mắc một dạng ung thư xương hiếm gặp gọi là u xương ác tính.

    Cả hai vợ chồng gần như sụp đổ. Bà Ford đã khóc rất nhiều. Đến cuối tháng 11.2016, họ được thông báo là ung thư vẫn chưa di căn và có thể điều trị hiệu quả bằng phẫu thuật và hóa trị.

    Maxi phải nằm viện 9 tháng và cần đến 23 đợt hóa trị. Cậu bé cũng phải trải qua ca phẫu thuật khác thường gọi là phẫu thuật xoay đầu gối vào tháng 2.2017. Ca phẫu thuật kéo dài trong 9 giờ.

    Theo đó, các bác sĩ cắt bỏ đoạn chân bị ung thư. Đoạn này kéo dài từ phần dưới cùng của xương đùi, qua đầu gối và đến phần trên cùng xương cẳng chân. Phần từ cẳng chân đến bàn chân còn khỏe mạnh sẽ được quay 180 độ ra sau và phẫu thuật nối vào xương đùi. Sau phẫu thuật, chân phải của Maxi sẽ không còn khớp gối và khớp cổ chân sẽ giữ chức năng của khớp gối , theo Daily Mail.

    Ca phẫu thuật diễn ra thành công. Vì mất đầu gối và một đoạn xương nên chân phải của Maxi sẽ ngắn hơn chân trái. Cậu bé được thiết kế một chiếc chân giả đặc biệt để lắp vào chân phải. 7 tháng sau ca phẫu thuật, cậu bé đã đi những bước đầu tiên.

    Giờ đây, Maxi đã khỏi ung thư và có thể chạy và chơi đùa thoải mái với bạn bè, theo Daily Mail.

    Theo Thanh niên

    Những sai lầm khi chế biến rau, củ dễ gây ung thư nhiều người Việt mắc phải Rau, củ là thực phẩm rất tốt cho sức khỏe. Tuy nhiên, nếu chế biến sai cách sẽ dễ gây ngộ độc thậm chí là nguyên nhân mắc bệnh ung thư. Không nên chế biến rau, củ ở nhiệt độ cao trong thời gian dài – Ảnh: Minh…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Ung Thư Amidan Khẩu Cái
  • Người Bị Ung Thư Tuyến Giáp Không Nên Ăn Gì?
  • Bệnh Nhân Ung Thư Cổ Tử Cung Không Nên Ăn Gì?
  • Người Bị Ung Thư Cổ Tử Cung Nên Ăn Gì?
  • Người Bị Bệnh Ung Thư Phổi Nên Ăn Gì
  • Bvxa – Bệnh Nhân Ung Thư Gan Được Phẫu Thuật Loại Bỏ Khối U Gan Khủng

    --- Bài mới hơn ---

  • Điều Trị Thành Công Bệnh U Lympho Ác Tính Không Hodgkin Tại Trung Tâm Y Học Hạt Nhân Và Ung Bướu – Bệnh Viện Bạch Mai
  • Phẫu Thuật Thành Công Khối U To Nằm Ở Vòm Miệng
  • Sự Thật, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị Ung Thư Tai
  • Các Dấu Hiệu Nhận Biết Ung Thư Máu
  • Ung Thư Bạch Cầu Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Ông T. đến khám tại BVXA trong tình trạng cơ thể gầy sộp, bụng trướng to. Qua khám lâm sàng, làm các xét nghiệm cận lâm sàng như siêu âm, chụp CT Scan, MRI, các bác sĩ phát hiện có khối u tại gan phải của bệnh nhân, khối u này khả năng ác tính, kích thước lớn chiếm gần hết gan phải.

    Sau khi hội chẩn các chuyên khoa Ngoại Tổng Quát, Đơn vị U Gan, Can thiệp Tim Mạch, Gây mê Hồi sức, các bác sĩ thống nhất phẫu thuật cắt gan phải là cách điều trị hiệu quả nhất để giải quyết dứt điểm khối u này. Tuy nhiên, do khối u quá lớn, phần gan trái còn lại sau khi phẫu thuật sẽ không đủ đảm bảo chức năng gan. Các bác sĩ tìm cách làm cho lá gan trái (phần gan chừa lại) to lên trước khi phẫu thuật.

    Do đó, trước tiên bệnh nhân sẽ được các bác sĩ giàu kinh nghiệm tại Trung tâm Can Thiệp Tim Mạch tiến hành chụp tắc nút mạch gan theo phương pháp TACE nhằm tắc mạch máu nuôi khối u đồng thời bơm thuốc ngăn chặn và tiêu diệt sự phát triển của tế bào ung thư dưới sự hỗ trợ của máy chụp mạch xóa nền DSA.

    Sau đó, bệnh nhân được can thiệp tắc tĩnh mạch cửa gan phải nhằm giúp cho lá gan trái to lên.

    Ngày 11/11/2019, ca mổ cắt gan phải nhằm loại bỏ khối u gan của bệnh nhân đã được thực hiện bởi các bác sĩ dày dạn kinh nghiệm trong điều trị phẫu thuật gan mật tại Đơn vị U Gan BVXA. Sau 3 tiếng phẫu thuật, bệnh nhân đã được cắt bỏ hoàn toàn gan phải, lấy ra khối u lớn. Sau phẫu thuật, bệnh nhân tỉnh táo và được tiếp tục theo dõi sau mổ. Sau phẫu thuật 2 tuần, sức khỏe bệnh nhân đã ổn định và đã được xuất viện về nhà trong sự vui mừng của gia đình.

    Ảnh khối u gan có kích thước lớn.

    Ảnh khối u gan có kích thước lớn.

    Các bác sĩ tại Đơn vị U Gan BVXA cho biết, từ khi thành lập, đơn vị đã tiến hành can thiệp, phẫu thuật thành công cứu sống nhiều bệnh nhân có các khối u gan khổng lồ nhờ sự kết hợp các phương pháp phẫu thuật chuyên sâu và sự hỗ trợ đắc lực của các trang thiết bị hiện đại. Những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ mắc bệnh ung thư gan như tiền sử gia đình mang bệnh lý ung thư gan, bị xơ gan, viêm gan B mạn tính, viêm gan C mạn tính, nghiện rượu,… nên tầm soát ung thư gan định kỳ nhằm phát hiện bệnh sớm và điều trị bệnh kịp thời.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chương Trình Tư Vấn Trực Tuyến “Những Điều Cần Biết Cho Người Bệnh Ung Thư Trong Đại Dịch Covid
  • U Não Không Chỉ Mắc Ở Người Lớn Mà Còn Xuất Hiện Ở Nhiều Trẻ Nhỏ
  • Phiên Bản Dành Cho Chuyên Gia
  • U Nguyên Bào Thận (U Wilms) Ở Trẻ Em
  • Ung Thư Ở Trẻ Em – Dấu Hiệu, Các Phương Pháp Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Khối U Trong Mắt Và Dấu Hiệu Nhận Biết Ung Thư Mắt Không Nên Bỏ

    --- Bài mới hơn ---

  • Dấu Hiệu Của Bệnh Ung Thư Mắt
  • Bạn Biết Gì Về Nguyên Nhân Gây Ung Thư Mắt?
  • Hiện Tượng Ung Thư Máu Cần Lưu Ý
  • Nguyên Nhân Và Cách Chữa Trị Ung Thư Mắt
  • Bảng Mã Imei Iphone, Kiểm Tra Xuất Xứ Iphone Của Bạn
  • Ung thư mắt tạo thành khối u trong mắt, các tế bào gây bệnh có thể lan sang các vị trí khác. Theo các nhà khoa học, ung thư mắt bắt nguồn từ một khối u ác tính phát triển ở vùng mắt và chia làm ba loại:

    – Ung thư phần phụ của mắt

    Việc phát hiện sớm các dấu hiệu của bệnh ung thư mắt đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ điều trị bệnh. Do vậy, bạn cần chú ý những dấu hiệu bất thường ở mắt để phát hiện và hỗ trợ điều trị bệnh kịp thời.

    + Một trong những dấu hiệu quan trọng nhưng thường bị bỏ qua đó là thị lực mắt giảm, tầm nhìn bị hạn chế. Nguyên nhân là do khối u trong mắt chèn ép, một số trường hợp khối u còn tạo ra các “hạt” nhỏ nổi lên ở mắt hay các vết tụ máu, vết hằn.

    + Sự phát triển bất thường về kích thước khối u, khó kiểm soát, nốt nhỏ trong mắt ngày càng to, hình dạng khó xác định với nhiều cạnh lởm chởm.

    + Bên cạnh đó, khối u cũng thay đổi màu sắc theo thời gian, màu mắt nhạt dần so với màu tự nhiên. Đối với người có mắt đen cần chú ý bởi đôi mắt đen khó phát hiện sự thay đổi màu sắc này.

    + Ngoài ra, những biểu hiện khác của ung thư mắt như: mắt lé, mắt có màu vàng, trắng, cam khi có đèn flash chiếu vào, vùng mí mắt sưng tấy, thậm chí xuất hiện các vết lở loét, đau mắt, đau đầu, xuất huyết ở mắt mà không rõ lý do, nhãn cầu lồi ra, chuyển động con người khó khăn.

    Khối u trong mắt có thể là biểu hiện của bệnh ung thư mắt nguy hiểm. Cần có những biện pháp bảo vệ mắt trước những nguy cơ mắc bệnh, khám và hỗ trợ điều trị kịp thời nếu thấy mắt có những biểu hiện bất thường là lời khuyên các của các chuyên gia.

    Để chủ động bảo vệ sức khỏe bản thân, bạn còn cần trang bị cho cho mình những ứng dụng chăm sóc sức khỏe Online để theo dõi tình hình sức khỏe hàng ngày, hàng giờ, nhờ đó có thể phát hiện và ngăn chặn kịp thời những diễn biến xấu của bệnh.

    Mọi chi tiết xin liên hệ: 024 66885102

    Website: https://myhealth.com.vn/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bé Trai 4 Tuổi Bị Ung Thư Hốc Mắt, Sinh Mệnh “ngàn Cân Treo Sợi Tóc”
  • 5 Bộ Phận Trên Cơ Thể Cực Dễ Bị Ung Thư
  • Mí Mắt Bị Ngứa Và Sưng Là Do Đâu?
  • Ung Thư Mắt Là Gì? Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Cách Điều Trị
  • Triệu Chứng Ung Thư Mắt
  • Khối U Ở Bụng Là Ung Thư?

    --- Bài mới hơn ---

  • Ung Thư Ống Hậu Môn: Nguyên Nhân, Triệu Chứng Và Cách Điều Trị
  • Loại Bỏ Ống Dẫn Trứng Sẽ Làm Giảm Nguy Cơ Ung Thư Buồng Trứng?
  • Tỷ Lệ Ung Thư Ở Trung Quốc
  • Nguy Cơ Bị Ung Thư Tuyến Tiền Liệt Do Thắt Ống Dẫn Tinh
  • Ống Dẫn Tinh Là Gì Và Hoạt Động Như Thế Nào?
  • Tôi ngoài 40 tuổi, thường xuyên đau bụng và đi tiêu ra máu. Nghĩ mình bị rối loạn tiêu hóa, tôi tự mua thuốc uống mà không đi khám.

    Gần đây, nhờ đi kiểm tra sức khỏe, tôi phát hiện khối u ở bụng, bác sĩ (BS) cho sinh thiết và nghiêng nhiều về phán đoán ung thư đại trực tràng, khiến tôi hoang mang, lo lắng. Xin tư vấn giúp tôi về bệnh này. (Đức Tùng- quận 9, TPHCM) Chào bạn, Ung thư đại trực tràng (UTĐTT) thường có triệu chứng mơ hồ, ban đầu chỉ là những triệu chứng đau bụng, gầy sút, mệt mỏi, da xanh, rối loạn tiêu hóa (RLTH) và có lúc đi tiêu ra máu… Người bệnh thường nghĩ mình bị RLTH thông thường nên tự mua thuốc về uống. Thậm chí, một số thầy thuốc đôi khi cũng ngộ nhận về bệnh này, cho là kiết lỵ hay trĩ và bỏ lỡ cơ hội phát hiện sớm. Khi người bệnh thấy cókhối u ở bụng hoặc đến lúc bí trung tiện, nôn, đau quặn bụng (triệu chứng tắc ruột), mới đến bệnh viện khám thì đã quá muộn, rất khó điều trị. Thói quen ăn uống nhiều chất béo, ít rau xanh , thuốc lá, rượu bia, lại lười vận động chính là những các yếu tố gây nên bệnh này. Ngoài ra, nguy cơ bệnh còn đến từ các yếu tố di truyền như viêm loét đại tràng, bệnh pô líp ruột…

    Do vậy, cách phòng chống UTĐTT hiệu quả là ăn nhiều rau xanh, trái cây tươi, nhất là các loại rau quả đậm màu. Duy trì thói quen vận động, thể dục từ 30-60 phút/ngày. Do bệnh tiến triển âm thầm, triệu chứng không rõ rệt nên để phát hiện sớm, nhất là những người thuộc nhóm nguy cơ cao nên kiểm tra sức khỏe thường xuyên để được BS tư vấn làm các xét nghiệm tầm soát ung thư UTĐTT như: thử máu; nội soi khung đại tràng hoặc đại tràng (ruột già); siêu âm, X quang đại tràng giúp tìm thấy bướu.

    Brandsquatet.com Theo chúng tôi Nguyễn Chấn Hùng – Chủ tịch Hội Ung thư VN – Phụ Nữ Online

    --- Bài cũ hơn ---

  • 15 Dấu Hiệu Ung Thư Cần Biết
  • Biểu Hiện Của Ung Thư Di Căn Não
  • U Nguyên Bào Nuôi: Dấu Hiệu Triệu Chứng, Chẩn Đoán Điều Trị Sản Phụ Khoa
  • 5 Triệu Chứng Bệnh Ung Thư Nướu Răng Dễ Gặp
  • Thượng Nghị Sĩ John Mccain Mắc Ung Thư Não Thể Nguy Hiểm Nhất
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100