Top 11 # Xem Nhiều Nhất Đông Y Chữa Ung Thư Vú Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Đông Y Chữa Ung Thư Vú

Phùng Tuấn Giang – Lê Đắc Quý ( chúng tôi )

ĐẠI CƯƠNG Ung thư vú (UTV) là loại ung thư thường gặp nhất và gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ nhiều nước công nghiệp. Theo Cơ quan nghiên cứu ung thư thế giới (IARC) vào năm1998 thì UTV đứng đầu, chiếm 21% trong tổng số các loại ung thư ở phụ nữ trên toàn thế giới. Cũng theo IARC, xuất độ chuẩn hóa theo tuổi của UTV ở phụ nữ là 92,04 (trên 100.000 dân) ở châu Âu và 67,48 (trên 100.000 dân) trên toàn thế giới vào năm 1998, đều là cao nhất trong các loại ung thư ở nữ giới. [5]

Ngoài ra, nguy cơ UTV cũng gặp ở những nhóm người sau:

+Bệnh nhân sống ở các quốc gia vùng Bắc Mỹ và Bắc Âu

+Có tiền sử phơi nhiễm bức xạ ion hóa

+Những phụ nữ không có con. Người ta cho rằng cho con bú kéo dài trên 6 tháng có tác dụng bảo vệ chống UTV ở các phụ nữ trẻ. [1]

+Uống rượu, tiếp xúc với thuốc trừ sâu (đặc biệt là DDT).

a)Thường gặp Đa phần ung thư vú được phát hiện là do chính người bệnh, khi họ ghi nhận thấy một sự thay đổi ở tuyến vú. Thường gặp nhất đó là một khối bướu hay một chỗ dày cứng lên không đau ở vú. Hoặc cũng có thể do thầy thuốc phát hiện qua một lần khám sức khỏe thường kỳ. Cần phải nghi ngờ UTV khi thấy bất kỳ bướu nào ở vú ở người phụ nữ trên 30 tuổi cho đến khi có triệu chứng chính xác ngược lại mặc dù khoảng 80% khối bất thường ở vú là lành tính. [2] Những tính chất sau của khối bướu gợi ý ác tính:

+Không đau (chiếm khoảng 85-90%)

+Không đồng nhất, bờ không rõ

+Dính vào thành ngực hoặc da trên vú, khó di động

Bệnh nhân đến khám với các triệu chứng của ung thư tiến triển hoặc đã có di căn xa:

+Hạch nách hoặc hạch trên đòn dương tính

+Tràn dịch màng phổi, làm bệnh nhân đau ngực, khó thở.

+Tràn dịch màng ngoài tim, bệnh nhân khó thở, suy hô hấp …

+Gãy xương, khi ung thư đã di căn vào xương

+Bụng: gan to, cổ trướng, …

+Di căn lên não: khối u xuất hiện trong não làm bệnh nhân đau đầu, hôn mê; chèn ép cột sống làm bệnh nhân đau lưng, yếu liệt tay chân…

Điều này đã được làm ở các nước phát triển và đang bắt đầu được áp dụng ở Việt Nam. Các phương pháp sau đây được áp dụng trong chương trình tầm soát UTV:

+Khám lâm sàng tuyến vú: Các phụ nữ trên 40 tuổi cần được khám vú mỗi năm. Cần đảm bảo cho toàn bộ tuyến vú được khám xét kể cả phần đuôi của tuyến ở gần nách. Trong quá trình khám, người bác sỹ nên hướng dẫn cách tự khám vú cho bệnh nhân. Theo UICC khám lâm sàng tuyến vú có thể chấp nhận được để thay thế ảnh chụp vú ở các quốc gia không có phương tiện để thực hiện ảnh chụp vú.

+Tự khám vú: Ít tốn kém. Nếu được thực hiện đúng cách có thể giúp người bệnh phát hiện sớm một bướu vú, được điều trị sớm và vì vậy tiên lượng tốt hơn.

Hình ảnh nhũ ảnh của một tuyến vú bình thường (bên trái) và một khối u ác tính ở vú (bên phải)

+Ảnh chụp vú (nhũ ảnh): Là một phương pháp chụp X quang vú đặc biệt. Dùng một lượng ít tia X, để cho hình ảnh chi tiết của tuyến vú, có thể thấy những điểm vôi hóa rất nhỏ. Ảnh chụp vú đóng vai trò quan trọng trong tầm soát UTV. Nhiều nghiên cứu cho thấy tầm soát bằng ảnh chụp vú giúp giảm tử suất của UTV khoảng 30%. Vì vậy Viện Ung thư quốc gia Hoa Kỳ và Hội Ung thư Hoa Kỳ đề xuất nên chụp ảnh chụp vú mỗi 1-2 năm cho những phụ nữ trên 40 tuổi.

1.Chọc hút bằng kim nhỏ (FNA – Fine Needle Aspiration): dùng một kim hút nhỏ lấy một mẫu bệnh phẩm và dùng để làm xét nghiệm tế bào học. Xét nghiệm này có thể cho biết tế bào lấy ra có đặc trưng cho ung thư hay không, nhưng không thể phân biệt ung thư tại chỗ hay ung thư xâm lấn được. Âm tính giả có thể xảy ra khi thật sự là ung thư mà mũi kim không chạm bướu.2.Sinh thiết trọn khối bướu: thực hiện khi chọc hút không cho chẩn đoán xác định. Tuy nhiên, ngày nay việc sinh thiết trọn khối bướu ít được thực hiện dần đi vì chọc hút bằng kim nhỏ ngày càng cho thấy tính chính xác cao.3.Chụp nhũ ảnh4.Siêu âm tuyến vú: là một xét nghiệm rẻ tiền, đơn giản. Siêu âm giúp phân biệt rõ một tổn thương dạng nang với một tổn thương dạng đặc. Ngoài ra, với siêu âm người phụ nữ không có nguy cơ nhiễm tia X, thích hợp cho phụ nữ có thai và phụ nữ trẻ. [2]5.Còn có nhiều phương tiện chẩn đoán hình ảnh khác được sử dụng trong chẩn đoán UTV như cắt lớp vi tính CT scan, chụp cộng hưởng từ MRI, …6.Những xét nghiệm giúp đánh giá đáp ứng điều trị: Tìm thụ thể với estrogen, đo nồng độ estradiol tự do trong máu,… Những xét nghiệm này ít được làm ở điều kiện Việt Nam.

-Xâm lấn với thành phần trong ống chiếm ưu thế

-Dạng tủy với thâm nhiễm lympho

-Xâm lấn với thành phần tại chỗ vượt trội

-Bệnh Paget, không có gì đặc hiệu

-Bệnh Paget với carcinoma ống

-Bệnh Paget với carcinoma ống xâm lấn

+Carcinoma không biệt hóa

Những loại bướu ít gặp và không được coi là điển hình

+Carcinoma thùy tại chỗ: không bao giờ chẩn đoán được bằng lâm sàng, vì tổn thương ở mức vi thể.

Theo bướu nguyên phát T (tumor)

Tx: Không thể xác định được bướu nguyên phát

T0: Không thấy bướu nguyên phát

T in situ: Carcinoma tại chỗ, carcinoma trong ống, carcinoma thùy tại chỗ, hoặc bệnh Paget núm vú không có bướu kèm theo (bệnh Paget núm vú có bướu kèm theo được xếp theo kích thước của bướu)

T1: Bướu có kích thước lớn nhất ≤ 2.0 cm

T1mc: Xâm lấn vi thể bướu có kích thước lớn nhất ≤ 0.1 cm

T4: Bướu kích thước bất kỳ, nhưng có sự ăn lan trực tiếp vào da hoặc thành ngực

T4b: Phù nề hoặc loét da vú hoặc các nốt vệ tinh ở da vú

T4c: Có cả hai thành phần trên

Theo hạch lympho vùng N (Nodes)

Nx: Không thể xác định các hạch vùng

N0: Không có di căn hạch vùng

N1: Di căn vào hạch lympho vùng nách, di động

N2: Di căn vào hạch lympho nách, hạch dính nhau hoặc dính vào các cấu trúc khác

N3: Di căn vào hạch lympho vú trong cùng bên

Theo di căn xa M (Metastasis)

Mx: Không thể xác định di căn xa

M1: Có di căn xa (kể cả di căn vào hạch lympho trên đòn cùng bên)

PHÂN GIAI ĐOẠN THEO UICC 1997

Giai đoạn 0 : Tis N0 M0

Giai đoạn I : T1 N0 M0

Giai đoạn IIA : T0 N1 M0 ; T1 N1 M0 ; T2 N0 M0

Giai đoạn IIB : T2 N1 M0 ; T3 N0 M0

Giai đoạn IIIA : T0 N2 M0 ; T1 N2 M0 ; T2 N2 M0 ; T3 N1 M0; T3 N2 M0

Giai đoạn IIIB : T4 N bất kể M0; T bất kể N3 M0

Giai đoạn IV : T bất kể N bất kể M1

+Carcinoma ống tại chỗ: Điều trị chủ yếu là đoạn nhũ có tỷ lệ khỏi bệnh là 98-99% với 1-2% trường hợp tái phát. Điều trị bảo tồn vú đang là hướng đi mới, chỉ mổ lấy bướu cùng với xạ trị hỗ trợ cũng khá hiệu quả, với tỷ lệ tái phát là 7-13%. [2]

+Carcinoma tiểu thuỳ tại chỗ: bệnh nhân thường được theo dõi sát có thể kết hợp với hóa trị phòng ngừa (như dùng tamoxifen) và làm giảm các yếu tố nguy cơ. Phẫu thuật chỉ áp dụng cho một số ít bệnh nhân.[2]

2.Ung thư giai đoạn sớm – I, II, IIIA

Là điều trị chủ yếu. Những phẫu thuật trước đây như đoạn nhũ tận gốc (Phẫu thuật Halsted) ngày nay ít được dùng vì mức tàn phá rộng, để lại nhiều dư chứng nặng nề cho bệnh nhân. Các loại phẫu thuật ít tàn phá hơn, bảo tồn các cơ ngực lớn, bé càng ngày càng cho thấy hiệu quả trong việc điều trị tại chỗ căn bệnh.

Phẫu thuật bảo tồn vú: chỉ lấy khối bướu và mô bình thường cách rìa bướu 1-2 cm gần đây được ưa thích và áp dụng nhiều. Nhiều thử nghiệm lâm sàng cho thấy phẫu thuật bảo tồn kèm theo xạ trị cho kết quả ngang bằng với phẫu thuật đoạn nhũ riêng lẻ.

Tuy nhiên, có một số chống chỉ định của phương pháp điều trị này:

+Có hai hoặc nhiều khối bướu nằm ở các góc phần tư khác nhau của vú

+Bướu lan tỏa, giới hạn không rõ

+Bướu to nằm trong tuyến vú nhỏ

+Bướu nằm ở vị trí trung tâm của vú

Nạo hạch cũng là một phần của phẫu thuật. Nhất là nạo hạch lympho vùng nách rất cần cho đánh giá tiên lượng.

+Xạ trị là một phần của phương pháp điều trị bảo tồn: tiến hành sau phẫu thuật cắt bướu. Xạ trị giúp giảm nguy cơ tái phát.

+Xạ trị sau đoạn nhũ: giảm nguy cơ tái phát cho những bệnh nhân nguy cơ cao như bệnh nhân có nhiều hạch vùng, bệnh nhân có bướu nguyên phát to,…

Liệu pháp toàn thân Nguy cơ di căn vi thể ở những ung thư giai đoạn sớm là có. Vì vậy, hóa trị là một biện pháp điều trị toàn thân có thể diệt các tế bào ác tính lan tràn.

-Tamoxifen: là các chất ức chế thụ thể estrogen chọn lọc. Dùng cho các bệnh nhân có thụ thể với estrogen dương tính. Có tác dụng giảm nguy cơ tái phát và giảm xuất độ ung thư vú đối bên khoảng 50%.

+Kết hợp cả hóa trị và liệu pháp nội tiết

-Điều trị hỗ trợ đối với ung thư vú có hạch dương tính (di căn hạch) [6]

+Tiền mãn kinh, Thụ thể Estrogen (ER) dương tính hoặc thụ thể Progesteron (PR) dương tính:

*Cắt bỏ buồng trứng (hoặc chất tương đồng GnRH) +/- Tamoxifen

*Hóa chất +/- Cắt bỏ buồng trứng (hoặc chất tương đồng GnRH) +/- Tamoxifen

*Trước mãn kinh, ER âm tính và PR âm tính: Hóa trị

*Sau mãn kinh, ER âm tính, PR dương tính : Hóa trị, Tamoxifen

*Sau mãn kinh, ER âm tính và PR âm tính: Hóa trị

*Người già: dùng Tamoxifen, nếu không có ER và PR thì dùng hóa trị

Viết tắt ER: Thụ thể Estrogen; PR: Thụ thể Progesterone; GnRH (Gonadotropin releasing hormone): Nội tiết kích thích tiết kích dục tố.

Mục đích chủ yếu là cải thiện chất lượng đời sống và kéo dài cuộc sống.

Có chỉ định cho một số bệnh nhân. Như bệnh nhân cần đoạn nhũ khi các tổn thương sùi, loét gây đau nhức, bệnh nhân có các di căn não, phổi đơn độc, tràn dịch màng ngoài tim, tràn dịch màng phổi, …

Vai trò chủ yếu trong điều trị tạm bợ và nâng đỡ, ví dụ như chỉ định cho các di căn xương đau nhiều, di căn hệ thần kinh trung ương không cắt bỏ được…

Việc lựa chọn thuốc để điều trị phải cân nhắc nhiều yếu tố của bệnh nhân. Các yếu tố đó là: tuổi, bệnh nhân đã mãn kinh hay chưa, bệnh nhân có thụ thể với estrogen dương tính hay không, số lượng hạch di căn…. [3]

Liệu pháp toàn thân bao gồm:

+Liệu pháp nội tiết: thường dùng cho phụ nữ mãn kinh, có thụ thể estrogen dương tính.

Các loại thuốc thường áp dụng: kháng estrogen (Tamoxifen), ức chế enzyme aromatase (Anastrozole, letrozole…), dùng các thuốc tương tự GnRH, các progestin.

+Hoá trị: thường dùng cho những bệnh nhân nào mà căn bệnh vẫn tiếp tục tiến triển dù đã điều trị nội tiết, hoặc bệnh nhân có thụ thể nội tiết âm tính. Có nhiều phác đồ thường dùng như: CA, CAF, CMF,…

+Trastuzumab : Là kháng thể đơn dòng kháng lại thụ thể tăng trưởng biểu bì – HER2/neu

-Do khí huyết bất túc ảnh hưởng tới thận, thận sinh cốt tuỷ, tuỷ sinh huyết, ứ đọng làm thành thũng lựu;

-Đàm thấp bất hoà. Nếu không được điều trị kịp thời sẽ tụ lại thành nhũ nham.

Thường có 4 thể sau đây : Can uất khí trệ, Tỳ hư đàm thấp trở trệ, Độc ứ, và Khí huyết tổn thương.

P 1 : Công anh thang (Bệnh viện nhân dân tỉnh Liêu Ninh) (hiệu quả điều trị 18 ca UTV khỏi 6 ca, u nhỏ còn 50% 6 ca)

D 1 : Bồ công anh, Địa đinh, Viễn chí, Quan quế đều 10g, Qua lâu 60g, Giáp châu, Thiên hoa phấn, Xích thược, Cam thảo đều 6g, Hạ khô thảo, Kim ngân hoa, Hoàng kỳ, Bạch chỉ, Cát cánh, Phỉ bạch đều 15g, Đương quy 30g. Sắc uống.

-Di căn hạch, thêm : Mễ nhân 30g, Hải tảo 15g, Mẫu lệ, Huyền sâm đều 24g.

-Ung thư loét, bỏ : Bồ công anh, Địa đinh thảo; bội Hoàng kỳ.

-Người yếu ra mồ hôi, thêm Hoàng kỳ 30g.

-Miệng khô, táo bón, thêm : Chỉ thực, Thanh bì đều 10g.

-Sợ lạnh, đau lưng, huyết trắng, chân tay mát, thêm Quan quế lên 18g.

-Mặt đỏ sốt, miệng khô, bứt rứt, thêm : Hoàng cầm, Hoàng liên đều 10g, Sài hồ 15g.

-Thuốc đắp ngoài : Ngũ linh chi, Hùng hoàng, Mã tiền tử, A giao, lượng bằng nhau tán mịn, trộn dầu vừng mà đắp.

P 2 : Ngưu hoàng tiêu thũng phương (Khoa ung thư, Bệnh viện Quảng An Môn, Viện nghiên cứu Trung Y Bắc Kinh) (hiệu quả điều trị 134 ca UTV, sống trên 5 năm 88,8%).

D 2 : Ngưu hoàng nhân tạo 10g, Nhũ hương, Một dược, Hải long đều 15g, Hoàng kỳ, Sơn từ cô, Hương duyên, Tam tiên sao đều 30g, Hạ khô thảo, bột Tam thất, Hà thủ ô, Ý dĩ, Tử hoa địa đinh, Nga truật, Tiên linh tỳ đều 60g. Tán bột, hoàn, ngày 2 lấn x 3g.

-Can khí uất, thêm : Sài hồ, Thanh bì, Xích thược, Bạch thược, Uất kim.

-Tỳ hư đàm thấp, thêm : Bạch linh, Bạch truật, Trần bì, Bán hạ.

-Khí huyết lưỡng hư, thêm : Đảng sâm, Đương quy, A giao, Kê huyết đằng.

P 3 : Hải tảo trinh ngân thang (Bệnh viện ung thư trường Đại học y khoa Thượng Hải) (kqls : đt 6 ca UTV đều sống trên 3 năm).

D 3 : Hải tảo, Hải đới đều 30g, Nữ trinh tử, Kim ngân hoa đều 15g, Phục linh, Kỷ tử, Thạch hộc đều 12g, Thái tử sâm 9g, Quyết minh tử 30g, Đan sâm, Trần bì, Thục địa đều 15g. Sắc uống.

P 4 : Mã tiền phong phòng phương (Lôi Vĩnh Trọng, Bệnh viện Thử Quang, Học viện Trung Y Thượng Hải) (kqls : đt 44 ca UTV có 7 ca sống trên 3 năm)

D 4 : Mã tiền tử 1g, Oa ngưu (ốc sên) 5g, Ngô công 10g, Phong phòng 5g, Toàn yết 3g, Nhũ hương 1g. Tán mịn dùng nước làm hoàn. Ngày 2,5g chia 3 lần uống.

P 5 : Nhi đơn thang (Bệnh viên nhân dân số 1 Phúc Châu, Phúc Kiến) (kqls : 1 ca UTV khỏi).

D 5 : Đan sâm 15g, Đơn bì, Bạch cương tàm đều 6g, Đương quy, Hạ khô thảo đều 45g, Quất hạch 12g, Bạch chỉ 9g. Sắc uống.

Phác đồ điều trị UTV của TXĐ: [7]

1.Viên nang Tinh nghệ vàng TXĐ 500mg, ngày 4 lần, mỗi lần 2 viên.

2.Viên nang Kháng Nham TXĐ 500mg, ngày 4 lần, mỗi lần 2 viên.

3.Viên nang Kháng nham 2 TXĐ 500mg, ngày 4 lần, mỗi lần 1 viên.

4.Viên nang Kháng nhũ nham TXĐ 500mg, ngày 4 lần, mỗi lần 4 viên

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng của bệnh. Quan trọng nhất là giai đoạn của bệnh, càng phát hiện ở giai đoạn sớm thì tiên lượng càng tốt. Hạch di căn cũng đóng vai trò đáng kể.

Đặc tính mô học của bướu cũng được quan tâm. Tiên lượng tốt hơn với các ung thư trong nang, ung thư ống dẫn, ung thư dạng tủy, bệnh Paget không bướu.

+Dùng tamoxifen cho các carcinom tiểu thùy tại chỗ

+Chế độ ăn ít béo, giảm cân

+Tránh tiếp xúc với clo hữu cơ, chất phóng xạ

[1].Estrogen and the risk of breast cancer. Mark Clemons, M.B., B.S., M.D., và Paul Goss , M.D., Ph.D. – NEJM [2].Breast cancer. Issam Makhoul, M.D. -Emedecine [3].Manual of clinical oncology – 6th – 1994 – UICC[4].Reducing the risk of breast cancer. Rowan T, C Bowski, M.D., Ph.D -NEJM [5].Cancer incidence, mortality and prevalence in the European Union – 1998 [6].Meeting highlights: International concensus panel on the treatment of primary breast cancer; Goldhirsch A et al. J Natl. Cancer Inst 1998;90:1604

Chữa Ung Thư Vú Bằng Đông Y Bạn Đã Biết Chưa?

Ung thư vú có nên chữa bằng Đông y?

Thuốc Đông y với các thành phần chính là thảo dược, chứa nhiều hoạt chất có khả năng kích thích mạnh mẽ sự phát triển của các tế bào miễn dịch, giúp cơ thể giải độc và tăng cường sức đề kháng, đặc biệt không để lại phản ứng phụ hay gây đau đớn cho bệnh nhân. Nhưng trên thực tế, Đông y không thể tiêu diệt các tế bào ung thư trong cơ thể như các phương pháp y học hiện đại: Phẫu thuật, hóa trị, xạ trị. Do đó, bệnh nhân ung thư vú, nhất là ở giai đoạn 2 và 3 không nên lựa chọn duy nhất phương pháp Đông y để điều trị bệnh.

Nhiều trường hợp ở Việt Nam, bệnh nhân khi bị chuẩn đoán mắc ung thư vú đã tìm thầy thuốc chữa bệnh bằng phương pháp Đông y, đến khi bệnh phát triển lên giai đoạn nặng hơn, di căn sang các bộ phận khác trong cơ thể thì mới nhập viện để điều trị theo y học hiện đại nhưng sự sống cũng không thể kéo dài. Thạc sỹ – Lương y đa khoa Vũ Quốc Trung (Hà Nội) đã khẳng định, Đông y không có tác dụng điều trị khỏi được căn bệnh ung thư mà chỉ có tác dụng hỗ trợ điều trị, giúp bồi bổ sức khỏe cho bệnh nhân và giúp các phương pháp điều trị của Tây y phát huy được hết hiệu quả.

Như vậy, thay vì chỉ lựa chọn một trong 2 phương pháp, bệnh nhân ung thư vú có thể kết hợp cả Đông y và Tây y để điều trị bệnh từ trong ra ngoài. Tuy nhiên, trước khi kết hợp cả hai, bệnh nhân cần hỏi qua bác sĩ điều trị hoặc tham khảo kinh nghiệm của những người đã nghiên cứu Đông y lâu năm để có kết quả tốt nhất. Ngoài ra, khi gặp thầy thuốc Đông y, bệnh nhân cần mang theo kết quả xét nghiệm, chụp chiếu từ Tây y để thầy thuốc có có căn cứ lựa chọn bài thuốc phù hợp nhất cho bệnh nhân.

Các bài thuốc Đông y hỗ trợ điều trị ung thư vú

Bài thuốc 1

Triệu chứng: Được chuẩn đoán ung thư tuyến vú, khối u đã di căn, sắc mặt xám, không ăn uống được, cơ thể mệt mỏi, chân tay rã rời. …Chứng thuộc can uất khí trệ, điều trị lấy sơ can lí khí, công kiên phá ứ là chính.

Thành phần: Sài hồ (15vị), Hoàng cầm (15vị), Trần bì (30), Đẳng sâm (30), Qua lâu (30), Thạch cao (30), Mẫu lệ (30), Hạ khô thảo (30), Tô tử (30), Bạch thược (30), Đại táo (10), Cam thảo (6), Xuyên tiêu (5)

Mỗi ngày 1 thang, sắc lấy nước uống. Sắc 2 lần, mỗi lần 3 chén nước, sắc còn 1 chén.

Bài thuốc 2

Triệu chứng: Đã được chuẩn đoán ung thư tuyến vú bên phải di căn tuyến dịch lim-pha. Sắc mặt vàng héo, miệng khô và đắng, người gầy yếu, vẫn ăn uống được, lưỡi đỏ không có rêu lưỡi…Chứng thuộc tỳ thận hư nhược, can uất khí trệ. Điều trị dùng phương thuốc ích thận kiện tỳ sơ can lí khí.

Thành phần: Thố hương phụ (9), Sài hồ (9), Bồ công anh (12), Trần bì (9), Xuyên giáp châu (9), Toàn qua lâu (15), Xuyên bối mẫu (9), Mạch nha (9), Ti qua (15), Hải tảo (9), Cốc đạo nha (9), Tam lăng (9)

Tất cả đem sắc lấy nước uống. Mỗi ngày một thang.

Bài thuốc 3

Triệu chứng: Đã được chuẩn đoán ung thư tuyến vú, rêu lưỡi mỏng, mạch huyền, tế.. Chứng thuộc can uất tì hư, khí uất ngưng kết, điều trị dùng phương thuốc thư can kiện tì nhuyễn kiên tán kết, giải độc thanh nhiệt.

Thái sài hồ (6), Sinh cam thảo (6), Đương quy (9), Bạch thược (9), Sinh mẫu lệ (9), Nguyên sâm (9), Thanh bì (9), Pháo sơn giáp (9), Ngân hoa (15), Bồ công anh (15), Hạ khô thảo (15).

Ngoài các bài thuốc trên, dân gian còn truyền miệng các bài thuốc chữa ung thư vú khác như lá cây đu đủ đực hoặc cây rau trai.

Về tính dược lý thì lá đu đủ chứa các hoạt chất như carpaine, pseudocarpaine và vitamin E 36mg%. Trong đó, carpaine là hoạt chất kháng ung thư cực mạnh đối với tế bào bạch huyết dạng lympho, và kháng ở mức độ tương thích đối với tế bào u bướu EA, có tác dụng ức chế phần nào trực khuẩn kết hạch, tiêu diệt nguyên trùng Amoeba.

Tuy nhiên bài thuốc trên chỉ là dân gian truyền miệng, chưa được các nhà khoa học kiểm chứng và đưa ra liều lượng cụ thể như chọn lá đu đủ từ loại nào (Đu đủ rất nhiều giống, loại), bao nhiêu gam, bao nhiêu nước để sắc thuốc…Do đó, bài thuốc này chỉ mang tính chất tham khảo và hỗ trợ điều trị chứ chưa được các nhà khoa học nghiên cứu và công nhận chính thức.

Một bài thuốc khác chữa bệnh ung thư vú ở giai đoạn đầu từ cây rau trai cũng được truyền miệng với thành phần gồm: 9 ngọn rau trai, 3 tép tỏi, 9 tép hành lá, 1 cục phèn chua bằng ngón chân cái, đem nghiền nát và trộn đều tất cả sau đó bó vào tay người bệnh 3 ngày, đau ngực phải thì bó vào cổ tay trái và ngược lại – trị theo phương thức “Đau Bắc trị Nam”.

Tuy nhiên, cũng như chữa bệnh ung thư vú bằng đu đủ, việc chữa bằng rau trai cũng chỉ là bài thuốc Đông y dân gian truyền miệng chứ chưa được các lương y nghiên cứu và công nhận. Vì vậy, bệnh nhân ung thư vú không nên coi đây là bài thuốc điều trị chính và duy nhất.

Chữa Ung Thư Vú Không Hề Tốn Kém Với Bài Thuốc Đông Y

Ung thư vú là bệnh nguy hiểm và phổ biến ở phụ nữ hiện nay, nhưng không cần phải lo lắng bởi trong dân gian đã có những bài thuốc Đông y chữa bệnh hiệu quả.

Dùng cà rốt, củ cải trắng và ngưu bàng

Nguyên liệu:

– Cà rốt: 1kg

– 1kg ngưu bàng tươi và 250g ngưu bàng khô

– Củ cải trắng: 350g

– Sau 3 giờ, đem ra nghiền lấy nước và bỏ bã cho vào tủ lạnh.

– Một ngày uống hai lần, mỗi lần dùng 150ml nước thuốc với 100ml nước nguội.

Trong Đông y, mãng cầu xiêm được xem là một vị thuốc rất quý, bởi trong quả mãng cầu xiêm có chứa những dược chất hiếm và có tác dụng ngăn ngừa ung thư rất tốt.

Bạn có thể dùng một ngày với một quả mãng cầu xiêm ép lấy nước uống dùng trong ngày. Bạn kiên trì uống nước ép này trong vòng 3 tháng sẽ có hiệu nghiệm rất tốt.

Bác sĩ Y học cổ truyền TPHCM – Bác sĩ Nguyễn Thanh Hậu, chia sẻ một bài thuốc chữa ung thư vú cũng rất hiệu quả mà những nguyên liệu lại vô cùng dễ tìm. Chỉ cần:

– 9 đọt rau Trai

– 9 tép hành lá

– 3 tép tỏi

– 1 cục phèn chua bằng ngón chân cái

Bạn nghiền nát tất cả các vị thuốc trên với nhau rồi dùng vải bó chặt vào cổ tay người bệnh. (Nếu đau ngực trái thì bó tay phải và ngược lại).

Cây cúc sữa là một loại thảo dược mọc hàng năm, có độ cao từ 30-100cm. Loại cây này có vị đắng, tính hàn và có khả năng giải độc rất tốt. Không chỉ vậy, cây cúc sữa còn là một vị thuốc chữa được bệnh u vú, bạn có thể thực hiện theo hai cách sau”

– Cách 1: Dùng thân và lá cây cúc sữa tươi, rửa sạch rồi giã nát và vắt lấy nước. Tiếp đó, bạn hãy cho thêm nước sôi và chút rượu trắng vào đun, ngày uống nước này hai – ba lần.

– Cách 2: Dùng cành và lá cây cúc sữa đem sắc đặc với nước, sau đó thêm vào nước và chút rượu trắng, uống mỗi ngày vào buổi sáng và buổi tối trước khi đi ngủ.

Không những thế, nếu bạn dùng tỏi đều đặn mỗi ngày không chỉ có thể giúp giảm nguy cơ ung thư vú, ung thư đại tràng, ung thư dạ dày, thực quản … mà tỏi cũng hỗ trợ quá trình giải độc của cơ thể, làm tăng hệ thống miễn dịch, giúp giảm huyết áp…

Tuy nhiên, các bệnh nhân cũng không nên chủ quan vào những bài thuốc dân gian, mà bên cạnh sử dụng những bài thuốc dân gian thì bệnh nhân cũng nên đến cơ sở y tế uy tín để được các bác sĩ giỏi chữa trị. Việc kết hợp giữa Đông y và Tây y sẽ giúp bạn khắc phục hiệu quả và hạn chế tối đa các biến chứng của bệnh, có thể kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân. Đồng thời, cần phải tăng cường ăn nhiều rau xanh, ít thịt và vận động thể dục thể thao hàng ngày.

Đông Y Chữa Ung Thư Tuyến Giáp

(Visited 7.120 times, 1 visits today)

1. Quan niệm của Đông y về ung thư tuyến giáp

Theo ghi chép lại trong các văn kiện y học Đông Y, ung thư tuyến giáp là căn bệnh thuộc phạm trù anh lựu, thạch anh.

Nguyên nhân là do yếu can khí uất kết, thêm vào đó tỳ hư không vận hóa được thủy, thấp trệ hóa đàm, tích tụ tại vùng cổ gây ra bệnh. Lại thêm khí huyết đình trệ không lưu thông được tích tụ thành khối trước cổ.

3. Phương pháp điều trị ung thư tuyến giáp theo Đông y

Nguyên tắc chữa bệnh trong Đông y là điều trị bệnh tận gốc mà không để lại biến chứng cho người bệnh. Phương pháp sử dụng trong điều trị ung thư tuyến giáp là: Suy cam giải uất, lí khí tàn kết, hóa đàm nhuyễn kiên, khai uất hành ứ để biện chứng luận trị.

Các thành phần được kết hợp trong bài thuốc này bao gồm: ô tặc cốt, hải tảo, ốc biển nung, hải đới, bạch chỉ, hạ thô khảo, hải cáp phấn, mộc hương, xuyên khung. Đem nghiền nhuyễn các nguyên liệu này với nhau rồi trộn với mật ong. Mỗi viên nặng 9g. Mỗi ngày uống 3 viên, mỗi lần một viên cùng với nước ấm. Ngũ hải anh lựu hoàn sẽ phát huy tác dụng rõ rệt sau 2 tháng sử dụng liên tục. Bài thuốc này có 3 tác dụng chính: Nhuyễn kiên tán kết, lí khí hoạt ứ và hoá đàm tiêu thũng.

Đây là bài thuốc kết hợp bởi các thành phần: Hải tảo, hải tiêu, côn bố, uất kim, mẫu lệ, xuyên bối, nga truật. Các nguyên liệu này được đem nghiền thành bột. Trộn với mật ong nguyên chất thành những viên tròn nặng 6g. Mỗi lần sẽ uống một viên liên tục trong một tháng. Ngưng một tuần và lại tiếp tục uống.

Bài thuốc này gồm: Hạ khô thảo, hải tảo, thiên hoa phấn, bột ngao sò biển, bối mẫu, muối. Cũng đem nghiền thành hỗ hợp rồi trộn với mật ong thành viên dẻo. Mỗi ngày nên uống 2 lần. Mỗi lần một viên, mỗi viên khoảng 6-9g với nước ấm. Bài thuốc đông y này có công dụng hoá đàm tiêu thũng, giáng hoả, nhuyễn kiên tán kết. Rất thích hợp trong việc điều trị các bệnh ung bướu đặc biệt là ung thư tuyến giáp.

Các nguyên liệu bao gồm: 60g huyết kiệt, 30g hổ phách, 15g ngũ linh chi, 15g kinh mặc, 15gnam tinh, 9g mộc hương, 3g nguyên thốn. Đem nghiền thành bột cùng với mật ong thành viên. Mỗi viên nặng 3g bọc bằng giấy tráng kim để bảo quản. Lưu ý khi uống thì uống chung với rượu nóng. Công dụng chính là loại u bướu nguyên khí hư thiếu hụt.

4. Một số vị thuốc nam chữa ung thư tuyến giáp

Trong Đông Y có một số vị thuốc chữa ung thư tuyến giáp bằng thuốc nam được các bác sĩ y học cổ truyền khuyến khích dùng.

Trong nấm lim xanh có chứa các dược chất như: Triterpenes, Beta-glucan, Germanium, Adenosine, Selenium… Các dược chất này có tác dụng chống ung thư. Tăng cường hệ thống miễn dịch của cơ thể, kích thích tiêu diệt các tế bào ung thư, giảm đau, kháng viêm. Đồng thời bổ sung cung cấp vitamin, dinh dưỡng trong suốt quá trình trị bệnh. Đẩy lùi nguy cơ mắc các căn bệnh khác.

Nấm lim xanh bắt nguồn từ tỉnh Quảng nam, mọc trên gốc và thân cây lim xanh thuộc suối Bùn, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng nam. Bạn sử dụng 30g nấm lim xanh, đem sắc với 2 lít nước cho đến khi nó cô đặc còn 1,5 lít. Chia thành 5 phần uống trong ngày và không để qua đêm. Có thể bảo quản lạnh. Để thích nghi với nấm lim xanh bạn nên dùng bắt đầu với liều nhỏ từ 5-10g trước rồi tăng dần liều.

Nấm lim xanh được y khoa thế giới nghiên cứu rất nhiều trong điều trị ung thư tuyến giáp. Kết quả đem lại rất khả quan. Tuy nhiên không nên sử dụng tùy ý nấm lim xanh. Cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng vị thuốc nam này.

Theo nghiên cứu từ các nhà khoa học, các hoạt chất chứa trong tam thất bắc có khả năng tăng cường hệ miễn dịch. Ngăn chặn sự hủy hoại của tế bào ung thư. Tam thất bắc đặc biệt hữu hiệu với những bệnh nhân đã sử dụng hóa trị, xạ trị… Tam thất bắc hỗ trợ bài tiết và tăng cường sức đề kháng cho cơ thể.

Tam thất cần được trồng trên 5 năm. Tam thất củ lớn từ 50-100 kg là tốt nhất. Tam thất bắc củ khô nghiền thành bột. Mỗi ngày sử dụng 4-12g pha với nước ấm hoặc mật ong uống vào mỗi buổi sáng. Bạn cũng có thể thái lát nhỏ và ngậm sống hàng ngày.

Công dụng của tam thất bắc trong hỗ trợ và điều trị ung thư tuyến giáp đã được nhiều nghiên cứu công nhận. Tuy nhiên bạn vẫn cần sử dụng phối kết hợp với các phương pháp tây Y theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Nghiên cứu chỉ ra các hoạt chất có trong xáo tam phân bao gồm: Flavonoid, alcaoid, saponin, courmarin, triterpenoid. Có công dụng rất tốt trong hỗ trợ và điều trị nhiều dòng ung thư trong đó bao gồm ung thư tuyến giáp. Rễ cây xáo tam phân có khả năng tăng cường hệ miễn dịch, tăng sức đề kháng. Sản sinh ra nhiều loại tế bào chống bệnh ung thư.

Xáo tam phân tươi cắt lát 3-4cm rồi đem đi sao, hạ thổ. Mỗi lần sử dụng 100gram sắc với 150ml nước uống nóng.

Trong Đông y xạ đen có tác dụng rất tốt trong việc điều trị ung thư tuyến giáp. Chất Fanavolnoid-chất chống oxy hóa có tác dụng phòng chống ung thư. Quinon trong xạ đen có tác dụng làm cho tế bào ung thư hóa lỏng dễ tiêu. Saponin triterbenoid có tác dụng chống nhiễm khuẩn… Ngoài ra xạ đen còn có tác dụng mát gan thanh lọc, tăng cường miễn dịch cho cơ thể.

Xạ đen có thể dùng đơn độc để hỗ trợ điều trị ung thư tuyến giáp. Lấy 100gram xạ đen cùng 750ml nước cho vào ấm đất. Đun sôi ngoài 30′ rồi chắt lấy nước uống cho đến khi nhạt màu. Có thể bảo quản lạnh để tăng mùi vị thơm ngon của xạ đen.

Ngoài ra xạ đen có thể phối hợp cùng côn bố và hải tảo. Xạ đen 30g, côn bố 20g, hải tảo 20g cùng 750ml đem sắc trên 30′ rồi chắt lấy nước uống.

Chữa ung thư tuyến giáp bằng đông y cần tham khảo ý kiến của bác sĩ. Các bài thuốc chỉ có tác dụng hỗ trợ, ngăn chặn, phòng chống ung thư. Bạn vẫn cần thăm khám Tây Y để có kết quả điều trị tốt nhất.

(Visited 7.120 times, 1 visits today)

(Visited 7.120 times, 1 visits today)