Top 1 # Xem Nhiều Nhất Khái Niệm Ung Thư Cổ Tử Cung Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Bệnh Ung Thư Cổ Tử Cung: Khái Niệm, Nguyên Nhân, Triệu Chứng Và Cách Phòng Ngừa

Ung thư cổ tử cung phát triển bởi các tế bào ung thư tại niêm mạc tử cung. Sau đó chúng phát triển một cách nhanh chóng, khó kiểm soát và hình thành khối u lớn. Bệnh này thường gặp phải ở những phụ nữ trên độ tuổi 30 và ít gặp ở phụ nữ dưới 20 tuổi. Đặc biệt, độ tuổi xuất hiện nhiều nhất là từ 40 đến 50 tuổi. Hiện nay, tại Việt Nam cứ hơn 1000 phụ nữ thì có 2 phụ nữ mắc ung thư cổ tử cung. Đây cũng là con số đáng báo động và trong đó có rất nhiều trường hợp không chữa khỏi và tử vong do tế bào ung thư ở giai đoạn cuối, chúng đã xâm lấn và di căn sang các bộ phận khác. Ung thư cổ tử cung là căn bệnh phổ biến và dễ mắc phải nhất ở phụ nữ trên toàn thế giới. Tuy nhiên, bạn có thể phòng tránh và làm giảm nguy cơ mắc phải bằng nhiều phương pháp khác nhau.

2. Nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung

Lây nhiễm virus HPV:

Đây là loại vi rút phổ biến dễ xuất hiện ở phụ nữ. HPV cũng là loại vi rút gây bệnh sùi mào gà và mụn cóc ở bộ phận sinh dục của phụ nữ. Tuy loại này không gây nguy hiểm đến sức khỏe người bệnh mà làm giảm chất lượng cuộc sống giữa hai vợ chồng và có nguy cơ gây ung thư cổ tử cung cao.

Quan hệ tình dục sớm, quan hệ với nhiều bạn tình:

Loại vi rút HPV nguyên nhân chủ yếu lây truyền quan đường tình dục. Trường hợp nếu quan hệ trong độ tuổi còn quá trẻ với nhiều người có khả lây nhiễm vi rút cao hơn. Tuy nhiên, không đánh đồng với việc người đó quan hệ trăng hoa. Đặc biệt, người chỉ quan hệ một vợ một chồng vẫn có khả năng mắc bệnh cao.

Hút thuốc:

Những người có thói quen hút thuốc cũng là nguyên nhân gây nên ung thư, có hại cho sức khỏe, đặc biệt cũng có thể bị ung thư cổ tử cung.

Người có hệ thống miễn dịch suy yếu:

Ung thư tử cung cũng có thể dễ bị mắc phải với những người có hệ miễn dịch kém. Đặc biệt, những người đang mang trong cơ thể loại vi rút HPV hay người thường xuyên sử dụng thuốc làm ức chế miễn dịch.

Thừa hưởng các yếu tố di truyền:

Khoa học cũng đã chứng minh được rằng: Ung thư tử cung có thể bị mắc phải do di truyền. Nếu trong gia đình có bà hoặc mẹ đã từng bị ung thư tử cung thì thế hệ phía sau cũng có nguy cơ bị mắc bệnh cao hơn so với những người bình thường khác.

Ức chế, căng thẳng tinh thần kéo dài:

Nếu tinh thần luôn căng thẳng, mệt mỏi kéo dài trong một khoảng thời gian thì khả năng mắc bệnh cũng cực kì cao. Từ những chứng minh từ các công trình khoa học nghiên cứu từ nhiều trung tâm, nếu chị em phụ nữ luôn được sống trong tình trạng vui vẻ, lạc quan thì sẽ ngăn nguy cơ mắc các bệnh ung thư nguy hiểm khác thấp hơn nhiều so với người hay lo nghĩ, căng thằng và trầm cảm nặng. Chính vì vậy, việc sống và làm việc với tinh thần thoải mái, vui vẻ đóng vai trò rất quan trọng đối với sức khỏe của mỗi chúng ta.

Sinh con khi tuổi đời còn trẻ:

Sinh đẻ nhiều lần:

Những người phụ nữ có số lượng sinh đẻ nhiều cũng có nguy cơ cao gấp 2 lần so với những phụ nữ sinh con ít hoặc không sinh con. Cụ thể ở những phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên.

Advertisement. Scroll to continue reading.

Lạm dụng thuốc tránh thai:

Việc lợi dụng sử dụng thuốc tránh thai cũng là nguy cơ mắc ung thư tử cao. Cũng do nỗi lo sinh con ngoài ý muốn nên việc sử dụng biện pháp tránh thai không an toàn làm người phụ nữ dễ bị mắc các bệnh nguy hiểm khác, trong đó có ung thư tử cung. Vì vậy, để tránh thai nên sử dụng các biện pháp an toàn hơn.

Có tiền sử mắc các bệnh lây lan qua đường tình dục khác:

Điều kiện kinh tế gia đình thấp:

Những người không có đủ tiềm lực kinh tế, kinh tế không ổn định cũng là nguyên do gây nên bệnh ung thư cổ tử cung. Bởi những người này không có đủ thời gian cũng như tiền bạc để chăm sóc bản thân tốt như người có điều kiện. Cũng chính vì thế mà số lượng người mắc bệnh ở đối tượng này cũng có xu hương tăng cao.

3. Triệu chứng và dấu hiệu nhận biết ung thư cổ tử cung

Ra máu âm đạo hoàn toàn không bình thường

Trường hợp phổ biến thường xuyên xảy ra đó là chảy máu âm đạo một cách bất thường. Nếu một người đang trong giữa thời kì kinh nguyệt, sau quan hệ hay bị mãn kinh bị chảy máu không nguyên so thì đây là giai đoạn chứng tỏ bệnh đang trong giai đoạn nguy hiểm. Lúc này có thể khối u đang lan rộng sang các mô lân cận, di căn sang cơ quan khác thì bệnh nhân nên đi khám trong thời gian sớm nhất để kịp thời chữa trị.

Kinh nguyệt ra nhiều

Khí hư âm đạo

Khí hư là tình trạng phụ nữ thường xuyên gặp phải. Tuy nhiên, tùy theo mức độ ra khí hư mà báo động tình trạng bệnh khác nhau. Nếu bị mắc ung thư tử cung thì khí hư sẽ có mùi hôi và màu hồng, đỏ hoặc nâu hoặc có thể lẫn chất hoại tử. Vì khối u có thể tiết ra chất dịch khiến cho khí hư ra liên tục mà người bệnh không phát hiện hoặc không rõ nguyên do ở đâu.

Đau vùng chậu, lưng, hoặc chân

Nếu đột nhiên bạn cẩm thấy đau nhức vùng xương chậu. Có nghĩa là dấu hiệu của tế bào ung thư tử cung thay đổi, có thể bệnh đã di căn đến bàng quang, phổi, gan hoặc ruột. Lúc này, bạn thường xuyên cảm thấy đau quanh vùng xương chậu, chân hoặc lưng. Những triệu chứng này chứng tỏ bạn đã ở giai đoạn muộn. Vì thế, cần được phát hiện sớm hơn và điều trị kịp thời, tránh tình trạng muộn hoặc bệnh đã di căn sang bộ phận nguy hiểm khác.

Mệt mỏi nhiều

Mệt mỏi chắc chắc là một trong những triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân ung thư tử cung. Tuy nhiên, dấu hiệu này khó có thể nhận ra và dễ bị lẫn với bệnh lí khác. Nguyên nhân gây nên tình trạng mệt mỏi là do âm đạo bất thường làm giảm lượng hồng cầu và oxy trong cơ thể. Điều này làm cho cơ thể kiệt sớm, mệt mỏi, chóng mặt…Lúc này, bệnh nhân cần được kiểm tra và có liệu trình điều trị nhanh chóng.

Luôn có cảm giác muốn ói

Nếu bạn luôn cảm thấy buồn nôn và tình trạng khó tiêu kéo dài thì đây chính là dấu hiệu của ung thư tử cung. Đây là tình trạng khi ung thư đã phát triển vào khoang bụng làm tử cung sưng lên, chèn ép đường ruột và gây khó chịu cho người bệnh. Vì tình trạng buồn nôn có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng nếu gặp trường hợp này nên đi khám và kiểm tra kĩ lưỡng để có biện pháp chữa trị kịp thời.

Sụt cân ngoài ý muốn

Nếu trong vòng 3 đến 4 tháng bạn bị sụt cân một cách nghiêm trọng thì lúc này đánh dấu tình trạng bệnh đã khá nặng. Khi tình trạng chán ăn, buồn nôn, khó chịu kéo dài cũng dẫn đến sức khỏe bị giảm sút trầm trọng. Lúc này, cần đến các cơ sở gần nhất để kiểm tra.

4. Phương pháp điều trị bệnh ung thư cổ tử cung

Đối với trường hợp ung thư cổ tử cung không xâm lấn

Trường hợp bệnh nhận đang ở giai đoạn đầu của bệnh thì việc kết hợp các phương pháp điều trị có thể mang lại kết quả khả quan. Hơn nữa, tỉ lệ có thể chữa khỏi là rất cao. Hiện nay, những bệnh nhân đang trong gian đoạn chưa xâm lấn có thể được điều trị bằng những cách sau:

Sử dụng các tia laser cường độ lớn để tiêu diệt hoàn toàn tế bào ung thư.

Dùng vòng dây dẫn điện thay cho dao phẫu thuật

Tìm vị trí bất thường và cắt bỏ tế bào ung thư.

Đối với ung thư cổ tử cung xâm lấn

Những trường hợp đã khá muộn hoặc ung thư giai đoạn xâm lấn thì các bác sĩ cần tiến hành chuẩn đoán chính xác tình trạng bệnh. Sau đó tiến hành các phương pháp điều trị phù hợp như:

Phẫu thuật cắt bỏ: Loại bỏ hoàn toàn ung thư, tùy vào mức độ xâm lấn mà bác sĩ sẽ thực hiện cắt bỏ tử cung. Có thể là một phần hoặc hoàn, việc này cũng đồng nghĩa rằng họ sẽ mất khả năng sinh con.

Xạ trị: Thực hiện tia X năng lượng cao để tiêu diệt khối u ác tính.

Hóa trị: Sử dụng chất hóa học tiêu diệt tế bào ung thư. Bệnh nhân cần sự kết hợp giữa hóa trị và xạ trị để đạt kết quả tốt nhất. Việc đưa hóa trị vào giúp hạn chế khả năng lây lan và tiêu diệt tế bào.

Advertisement. Scroll to continue reading.

Không quan hệ tình dục sớm

Tiêm vắc xin HPV

Cải thiện chất lượng cuộc sống

Xây dựng cuộc sống lành mạnh

Không nên dùng thuốc tránh thai hoặc chất kích thích

Khám phụ khoa định kỳ

6. Phòng ngừa ung thư cổ tử cung

Qua những thông tin chia sẻ hữu ích trên về bệnh ung thư cổ tử cung. Mong rằng các chị em phụ nữ có thể hiểu thêm về loại căn bệnh nguy hiểm này cũng như biết cách chăm sóc bản thân, phòng ngừa bệnh và khám xét định kì hàng tháng. Lưu ý: Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, không nên áp dụng khi không có sự hướng dẫn và sử dụng từ bác sĩ.

Khái Niệm “Ung Thư” Trong Y Học Cổ Truyền

Ngày nay, điều trị ung thư là điều trị đa mô thức với nhiều phương pháp điều trị khác nhau đem lại hiệu quả vượt trội. Và mỗi phương pháp điều trị đều có những thế mạnh nhất định. Để giúp cho bệnh nhân ung thư điều trị được tốt hơn, tỉ lệ thành công cao hơn, bên cạnh phẫu trị, xạ trị, hóa trị thì Y học cổ truyền được ứng dụng vào điều trị và chăm sóc hướng đến mực tiêu: Nâng cao sức khoẻ người bệnh; hạn chế sự tiến triển của khối u, giảm đau, ngăn chặn xuất huyết; Hỗ trợ điều trị tác dụng phụ của các liệu pháp hoá, xạ, phẫu thuật trong ung thư. 

Thuật ngữ “ung thư” không tương đương ngữ nghĩa giữa Đông y và Tây y. Cùng với sự hiện diện rất sớm của mình, thầy thuốc YHCT qua quan sát đã mô tả các biểu hiện bệnh lý như ung thư hiện nay bằng các bệnh danh như Thủng lựu (chỉ các loại ung thư nói chung); Nhũ nham (khối cứng như đá trong vú – Ung thư vú), Phế nham (ung thư phổi), Thạch thư (ung thư xương); Nhục lựu (ung thư hạch, hoặc u lympho); Trưng hà (khối u ở bụng)…

Sách Linh Khu (Hoàng đế nội kinh Linh khu – thế kỷ thứ 2 – 3 trước công nguyên) cho rằng nguyên nhân gây “ung thư” theo YHCT là do khí huyết uất kết mà hình thành ung thũng, nhiệt hun đốt khiến cơ nhục hủ hoá thành mủ, thành lở loét. Nếu nhiệt độc đi sâu vào trong gây tổn thương tạng phủ, ngũ tạng tổn thương thì sẽ tử vong.

Xét về tương quan giữa YHCT và YHHĐ, khi mô tả các nguyên nhân làm cho khí huyết ứ trệ, nhiệt độc sinh ra có thể khái quát hóa mối tương quan như:

Nhân tố ngoại tà: Có thể hiểu bệnh do các yếu tố thuận lợi từ môi trường xâm nhập vào trong một điều kiện cơ địa có sẵn là khí huyết hư suy, hoặc mất cân bằng âm – dương như vi khuẩn, virus, ký sinh trùng… Ví dụ như YHHĐ đã minh chứng vi khuẩn Hp gây ung thư dạ dày, virus HPV gây ung thư cổ tử cung…

Nhân tố ẩm thực: Ẩm thực thất điều, tổn thương tỳ vị khí huyết hóa nguyên bất túc, gây ra tạng phủ khí huyết khuy hư. Tỳ hư thì đồ ăn không thể hóa thành tinh vi mà sẽ biến thành đàm trọc, đàm tắc khí trệ, đàm huyết ứ kết mà hình thành ung nhọt, tích khối.

Ăn uống cay nóng, uống nhiều rượu, hút thuốc là là những thứ đại nhiệt gây tổn thương tân dịch sinh đàm, đàm nhiệt uất kết, khí huyết ứ trệ gây bệnh, YHHĐ cũng đã minh chứng thuốc lá gây Ung thư phổi, Rượu gây xơ gan và có thể đưa đến ung thư gan…

Chính khí nội suy: người lớn tuổi cơ thể suy nhược, hoặc do những bệnh mãn tính, hoặc do thất tình tổn thương gây khí nghịch khí trệ, thăng giáng không đều, hoặc do lao lực quá sức gây ra âm dương đều hư dẫn đến ngoại tà thừa cơ hội xâm nhập, lưu lại ở trong, cuối cùng dẫn đến huyết hành ứ trệ mà gây ra u cục.

Khái Niệm Cơ Bản Về Ung Thư Vú

Ung thư vú là gì?

Cũng như tất cả các dạng ung thư khác, ung thư vú được tạo thành từ các tế bào bất thường phát triển không kiểm soát. Thông thường những tế bào này cũng có thể di chuyển đến những nơi trong cơ thể, nơi chúng thường không được tìm thấy. Khi điều đó xảy ra, giai đoạn này được gọi là ung thư di căn.

Ung thư vú thường bắt đầu ở một khu vực nhỏ, giới hạn hoặc tuyến, đây là nơi sản xuất sữa (Ung thư biểu mô tiểu thùy) hoặc ống dẫn ( Ung thư biểu mô ống dẫn), mang sữa đến núm vú. Ngoài ra ung thư có thể phát triển lớn hơn ở vú và lây lan qua các ống đến các hạch bạch huyết gần đó hoặc qua dòng máu của bạn đến các cơ quan khác. Không những thế ung thư có thể phát triển và xâm lấn mô xung quanh vú, chẳng hạn như da hoặc thành ngực. Hiện nay các loại ung thư vú phát triển và lan rộng với tốc độ khác nhau, trong đó có một số loại phải mất nhiều năm mới lan ra ngoài vú, trong khi những loại khác phát triển và lan rộng nhanh chóng.

Nhưng ai thường bị ung thư vú?

Thực tế đàn ông cũng có thể bị ung thư vú, nhưng họ chiếm ít hơn 1% trong tất cả các trường hợp ung thư vú. Thông thường phụ nữ mắc căn bệnh này nhiều hơn, hiện nay ung thư vú là căn bệnh phổ biến đứng hàng thứ hai được chẩn đoán ở phụ nữ sau ung thư da và là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai do ung thư sau ung thư phổi.

Trung bình, trong 8 phụ nữ thì sẽ có 1 người bị ung thư vú. Hiện tại khoảng 2/3 phụ nữ mắc bệnh ung thư vú đều từ 55 tuổi trở lên. Hầu hết phần còn lại nằm trong khoảng từ 35 đến 54.

May mắn thay, ung thư vú rất có thể điều trị nếu được phát hiện sớm. Ung thư cục bộ (có nghĩa là nó không lan ra bên ngoài vú của bạn) thường có thể được điều trị thành công trước khi ung thư lan rộng. Ví dụ: Một phụ nữ bị ung thư vú cục bộ có khả năng sống ít nhất 5% sau khi chẩn đoán.

Nhưng một khi ung thư bắt đầu lan rộng, việc điều trị sẽ trở nên rộng hơn. Và nó thường có thể kiểm soát bệnh trong nhiều năm. Thông thường các xét nghiệm sàng lọc và lựa chọn điều trị được cải thiện, có nghĩa là khoảng 8 trong số 10 phụ nữ bị ung thư vú sẽ sống sót ít nhất 10 năm sau chẩn đoán ban đầu.

Các loại ung thư vú là gì?

Ung thư tại chỗ (In situ cancers): Những loại này không lan qua ống dẫn hoặc tiểu thùy nơi chúng bắt đầu:

Ung thư ống dẫn sữa tại chỗ (Ductal carcinoma in situ, gọi tắt là DCIS): Đây là ung thư biểu mô ống ở giai đoạn sớm nhất (giai đoạn 0). Trong trường hợp này, bệnh vẫn còn trong ống dẫn sữa. Nhưng nếu bạn không điều trị, căn bệnh này có thể trở nên xâm lấn. Nhưng nó thường có thể chữa được.

Ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ (LCIS – Lobular carcinoma in situ): Căn bệnh này chỉ được tìm thấy trong các tiểu thùy, nơi sữa được sản xuất. Đây không phải là một căn bệnh ung thư thực sự, nhưng đây là một dấu hiệu cho thấy bạn có nhiều khả năng bị ung thư vú sau này. Nếu bạn có nó, hãy đi khám vú và chụp quang tuyến vú thường xuyên.

Ung thư xâm lấn (Invasive cancers): Ung thư đã lan rộng hoặc xâm lấn các mô vú xung quanh, chúng bao gồm:

Ung thư biểu mô tuyến vú xâm lấn (Invasive or Infiltrating Ductal Carcinoma – IDC): Ung thư này bắt đầu trong các ống dẫn sữa. Nó phá vỡ thành của ống dẫn và xâm lấn vào mô mỡ của vú. Đây là dạng ung thư phổ biến nhất, chiếm 80% các trường hợp xâm lấn.

Ung thư biểu mô dạng tuyến nang (Adenoid Cystic Carcinoma – ACC): Những tế bào này giống như trong các tuyến nước bọt và nước bọt của bạn.

Ung thư biểu mô tuyến vảy nguyên phát (một loại của ung thư biểu mô dạng dị sản): Khối u hiếm gặp này thường phát triển chậm và thường bị nhầm với các loại khác.

Ung thư biểu mô tủy (Medullary carcinoma): Các khối u trong loại này rất hiếm là một khối mềm, hình vuông trông giống như tủy trong não của bạn.

Ung thư biểu mô nhầy (Mucinous carcinoma): Các khối u trong loại hiếm này trôi nổi trong một bể chất nhầy, một phần của thứ trơn, nhầy nhụa tạo nên chất nhầy.

Ung thư biểu mô thể nhú (Papillary carcinoma): Chúng có hình dạng giống như ngón tay đặt các khối u này cách nhau. Loại hiếm này thường ảnh hưởng đến những phụ nữ đã trải qua thời kỳ mãn kinh.

Ung thư biểu mô ống (Tubular carcinoma): Các khối u phát triển chậm và hình ống.

Ung thư vú viêm (Inflammatory breast cancer): Loại này hiếm gặp là do các tế bào viêm trong các mạch bạch huyết trên da của bạn.

Bệnh Paget vú (Ung thư đầu vú – Pagets Disease of the Nipple): Loại này ảnh hưởng đến quầng vú, vùng da mỏng quanh núm vú của bạn.

U Phyllodes vú (Phyllodes tumors of the breast): Đây là những khối u hiếm, và phát triển theo mô hình lá cờ. Chúng phát triển nhanh chóng nhưng hiếm khi lan ra ngoài vú.

Ung thư vú di căn (Metastatic breast cancer): Ung thư đã lan sang một bộ phận cơ thể khác, như não, xương hoặc phổi của bạn.

Các triệu chứng của ung thư vú là gì?

Hiện tại các triệu chứng của ung thư vú bao gồm:

Một khối u hoặc dày lên trong hoặc gần vú hay nách trong thời gian dài.

Một khối hoặc cục, ngay cả khi thấy nó cảm thấy nhỏ như hạt đậu.

Thay đổi kích thước, hình dạng hoặc đường cong của vú.

Tiết dịch núm vú, nó có thể có máu hoặc trong suốt.

Da của vú hoặc núm vú trông khác biệt, nó có thể bị lúm đồng tiền, nhăn nhúm, có vảy hoặc bị viêm.

Da bị đỏ trên vú hoặc núm vú.

Thay đổi hình dạng hoặc vị trí của núm vú.

Một khu vực có hình dạng bất thường với bất kỳ khu vực khác ở một trong hai vú.

Một vùng cứng, kích thước bằng đá cẩm thạch dưới da.

Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ của ung thư vú là gì?

Thực tế các yếu tố nguy cơ ung thư vú là không thể kiểm soát

Tuổi tác. Phụ nữ trên 50 tuổi dễ bị ung thư vú hơn phụ nữ trẻ.

Chủng tộc: Phụ nữ Mỹ gốc Phi có nhiều khả năng mắc bệnh hơn phụ nữ da trắng trước khi mãn kinh .

Mật độ vú. Nếu ngực của bạn có nhiều mô liên kết hơn mô mỡ, điều này có thể khó nhìn thấy khối u trên nhũ ảnh.

Tiền sử cá nhân bị ung thư. Tỷ lệ mắc bệnh của bạn sẽ tăng nếu bạn có tình trạng u vú lành tính nhất định. Và tỷ lệ này sẽ tăng mạnh hơn nếu bạn bị ung thư vú trong quá khứ.

Lịch sử gia đình. Nếu có người thân (mẹ, chị gái, con gái) bị ung thư vú, thì bạn có nguy cơ mắc bệnh cao gấp hai lần. Nhưng nếu bạn có hai hoặc nhiều người thân có tiền sử bị ung thư vú thì nguy cơ mắc bệnh của bạn tăng ít nhất gấp ba lần. Điều này đặc biệt đúng nếu họ bị ung thư trước khi mãn kinh hoặc nếu nó ảnh hưởng đến cả hai vú. Hoặc nguy cơ cũng có thể tăng nếu cha hoặc anh trai của bạn được chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú.

Lịch sử kinh nguyệt. Tỷ lệ mắc ung thư vú của bạn tăng lên nếu:

Chu kỳ kinh nguyệt của bạn bắt đầu trước 12 tuổi.

Chu kỳ kinh nguyệt không dừng lại sau khi bạn 55 tuổi.

Xạ trị. Nếu bạn đã điều trị ung thư như ung thư hạch Hodgkin trước 40 tuổi, bạn có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn.

Thuốc Diethylstilbestrol (DES – Diethylstilbestrol). Các bác sĩ đã sử dụng loại thuốc này trong khoảng thời gian từ 1940 đến 1971 để tránh sảy thai. Nhưng nếu bạn hoặc mẹ của bạn sử dụng nó, thì tỷ lệ mắc bệnh ung thư vú sẽ tăng lên.

Các yếu tố nguy cơ ung thư vú bạn có thể kiểm soát

Hoạt động thể chất. Bạn càng di chuyển ít, cơ hội của bạn mắc bệnh càng cao.

Cân nặng và chế độ ăn uống. Thừa cân sau khi mãn kinh làm tăng tỷ lệ mắc bệnh của bạn.

Rượu. Uống thường xuyên, đặc biệt là nhiều hơn một ly mỗi ngày, làm tăng nguy cơ ung thư vú.

Lịch sử sinh sản:

Bạn có con đầu lòng sau 30 tuổi.

Bạn không cho con bú.

Bạn có thai không đủ tháng.

Dùng hormone. Cơ hội của bạn có thể tăng lên nếu bạn:

Sử dụng liệu pháp thay thế hormone bao gồm cả estrogen và progesterone trong thời kỳ mãn kinh trong hơn 5 năm. Và nguy cơ mắc căn bệnh này sẽ gia tăng trở lại bình thường 5 năm sau khi bạn ngừng điều trị.

Sử dụng một số phương pháp ngừa thai bao gồm thuốc tránh thai, chích ngừa, cấy ghép, vòng tránh thai (viết tắt là IUD), miếng dán da hoặc vòng âm đạo có chứa hormone.

Tuy nhiên, không phải hầu hết phụ nữ có nguy cơ cao đều bị ung thư vú. Mặt khác, 75% phụ nữ bị ung thư vú không có yếu tố nguy cơ được biết đến.

Chẩn đoán cho ung thư vú như thế nào?

Khi đó bác sĩ sẽ đặt câu hỏi về lịch sử y tế cá nhân và gia đình của bạn. Tiếp theo, họ sẽ thực hiện kiểm tra vú và có thể yêu cầu các xét nghiệm bao gồm:

Xét nghiệm hình ảnh: Bác sĩ sẽ sử dụng những hình ảnh này để tạo ra hình ảnh của vú của bạn.

Siêu âm (Ultrasound): Kiểm tra này sử dụng sóng âm thanh để tạo ra một hình ảnh của vú.

Chụp quang tuyến vú (Mammogram): X-quang chi tiết này của vú giúp bác sĩ nhìn rõ hơn về các khối u và các vấn đề khác.

Chụp cộng hưởng từ (MRI – Magnetic resonance imaging): Kiểm tra này sử dụng một nam châm được liên kết với máy tính để tạo ra hình ảnh chi tiết bên trong ngực của bạn.

Sinh thiết (Biopsy): Đối với xét nghiệm này, bác sĩ sẽ loại bỏ mô hoặc chất lỏng từ vú của bạn. Sau đó họ sẽ nhìn vào nó dưới kính hiển vi để xem các tế bào ung thư có xuất hiện hay không và nếu có thì thuộc loại nào. Hiện có hai loại sinh thiết thường được sử dụng trên vú:

Chọc hút bằng kim nhỏ (Fine Needle Aspiration – FNA): Thủ thuật này dễ dàng tiếp cận những khối u hoặc khu vực có thể chứa đầy chất lỏng.

Sinh thiết dùng ống dò (Core Needle Biopsy): Loại này sử dụng kim lớn hơn để loại bỏ một mảnh mô.

Sinh thiết thông qua phẫu thuật mở (Surgical (open) biopsy): Một bác sĩ phẫu thuật sẽ loại bỏ toàn bộ khối u cùng với các mô vú bình thường xung quanh.

Sinh thiết hạch bạch huyết (Lymph node biopsy): Bác sĩ sẽ loại bỏ một phần của các hạch bạch huyết dưới cánh tay của bạn để xem ung thư đã lan rộng chưa.

Sinh thiết dưới hướng dẫn bằng hình ảnh (Image-guided biopsy): Bác sĩ sử dụng hình ảnh, như MRI, chụp nhũ ảnh hoặc siêu âm, để hướng dẫn kim.

Ngoài ra bác sĩ có thể kiểm tra mẫu sinh thiết của bạn cho:

Đặc điểm khối u. Điều này giúp kiểm tra xem khối u đang ở dạng nào xâm lấn hoặc tại chỗ, ống dẫn hoặc thùy, và nó đã lan đến các hạch bạch huyết của bạn hay chưa? Bác sĩ cũng đo lề hoặc cạnh của khối u và khoảng cách của chúng với mép mô sinh thiết, được gọi là chiều rộng lề.

Các thụ thể estrogen (ER) và thụ thể progesterone (PR). Các yếu tố này giúp cho bác sĩ biết nếu hormone estrogen hoặc progesterone làm cho ung thư của bạn phát triển. Điều này ảnh hưởng đến khả năng ung thư của bạn sẽ quay trở lại và loại điều trị nào có khả năng ngăn chặn điều đó nhất.

HER2. Xét nghiệm này nhằm tìm kiếm gen thụ thể yếu tố phát triển biểu mô người 2 (HER2 – gene human epidermal growth factor receptor 2). Nó có thể giúp ung thư phát triển nhanh hơn. Nếu ung thư của bạn dương tính với HER2, liệu pháp nhắm mục tiêu có thể là một lựa chọn điều trị cho bạn.

Phân loại. Điều này giúp cho bác sĩ biết các tế bào ung thư khác nhau như thế nào so với các tế bào khỏe mạnh và liệu chúng có phát triển chậm hơn hoặc phát triển nhanh hơn hay không.

Chỉ số ung thư vú. Xét nghiệm này có thể giúp bác sĩ quyết định bạn cần điều trị nội tiết như thế nào.

Xét nghiệm MammaPrint (một loại xét nghiệm gen). Xét nghiệm này sử dụng thông tin từ 70 gen để dự đoán nguy cơ ung thư quay trở lại.

Phương pháp PAM50. Xét nghiệm này sử dụng thông tin từ 50 gen để dự đoán liệu ung thư sẽ lan rộng.

Bạn có thể được xét nghiệm máu bao gồm:

Công thức máu (CBC – Complete blood count). Điều này đo số lượng các loại tế bào khác nhau, như hồng cầu và bạch cầu, trong máu của bạn. Kiểm tra này sẽ cho bác sĩ tìm thấy nếu tủy xương của bạn hoạt động như bình thường.

Sinh hóa máu (Blood chemistry). Điều này cho thấy gan và thận của bạn hoạt động tốt như thế nào.

Xét nghiệm viêm gan (Hepatitis tests). Đôi khi chúng được thực hiện để kiểm tra phơi nhiễm với viêm gan B và viêm gan C. Nếu bạn bị nhiễm viêm gan B, bạn có thể cần dùng thuốc để ức chế virus trước khi bạn hóa trị. Nếu không dùng thuốc, hóa trị có thể khiến virus phát triển và làm hỏng gan của bạn.

Các giai đoạn của ung thư vú là gì?

Giai đoạn đầu, giai đoạn 0 hoặc ung thư vú không xâm lấn. Bệnh được khu trú ở vú mà không lan đến các hạch bạch huyết (bác sĩ sẽ gọi đây là ung thư biểu mô tại chỗ).

Giai đoạn I ung thư vú. Ung thư có kích thước từ 2cm trở xuống và không lan rộng ra bất cứ nơi nào.

Ung thư vú giai đoạn IIA. Khối u là:

Nhỏ hơn 2cm và một số hạch bạch huyết đã lan vào nách.

Lớn hơn 2cm nhưng nhỏ hơn 5cm và hạch bạch huyết chưa lan vào nách.

Lớn hơn 5cm trên và hạch bạch huyết chưa lan vào nách, kiểm tra dương tính với ung thư.

Lớn hơn 2cm nhưng nhỏ hơn 5cm và một số khối u đã lan hạch bạch huyết.

Ung thư vú giai đoạn IIIA hoặc ung thư vú tiến triển cục bộ:

Một khối u lớn hơn 5cm đã lan đến các hạch bạch huyết dưới cánh tay hoặc gần xương ức.

Khối u có kích thước bất kỳ với các hạch bạch huyết dính vào nhau hoặc mô xung quanh.

Ung thư vú giai đoạn IIIB. Một khối u có kích thước bất kỳ đã lan đến da hoặc thành ngực.

Ung thư vú giai đoạn IV (di căn). Một khối u, bất kể kích thước, đã di căn đến những khu vực xa vú, chẳng hạn như xương, phổi, gan, não hoặc các hạch bạch huyết xa.

Điều trị ung thư vú là gì?

Nếu các xét nghiệm phát hiện ung thư vú, bạn và bác sĩ sẽ xây dựng kế hoạch điều trị để loại bỏ ung thư, giảm tỷ lệ tái phát ung thư, cũng như giảm khả năng khối u di chuyển ra bên ngoài vú của bạn. Điều trị thường bắt đầu sau khi chẩn đoán vài tuần.

Cho đến nay loại điều trị được đề nghị sẽ phụ thuộc vào kích thước và vị trí của khối u trong vú, trong đó kết quả xét nghiệm tại phòng thí nghiệm được thực hiện trên các tế bào ung thư và giai đoạn hoặc mức độ của bệnh. Vì vậy bác sĩ thường xem xét tuổi và sức khỏe chung cũng như cảm nhận của bạn về các lựa chọn điều trị.

Phương pháp điều trị ung thư vú có thể bao gồm:

Tại chỗ: Loại bỏ, tiêu diệt hoặc kiểm soát các tế bào ung thư trong một khu vực cụ thể, chẳng hạn như vú. Bao gồm các:

Phẫu thuật bảo tồn vú. Bác sĩ phẫu thuật chỉ loại bỏ một phần của vú (bị ung thư), cùng với một số mô bình thường xung quanh. Hiện tại kích thước vú được loại bỏ phụ thuộc vào vị trí của khối u và những thứ khác. Nhưng bạn cũng có thể nghe thấy nó được gọi là:

Cắt bỏ khối u (Lumpectomy).

Cắt bỏ một phần (Quadrantectomy).

Phẫu thuật cắt bỏ một phần vú (Partial mastectomy).

Phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ vú (Segmental mastectomy)

Phẫu thuật cắt tuyến vú đơn giản hoặc toàn bộ: Bác sĩ phẫu thuật sẽ cắt bỏ toàn bộ vú của bạn, nhưng không phải các hạch bạch huyết dưới cánh tay của bạn trừ khi chúng nằm trong mô vú.

Phẫu thuật cắt bỏ vú triệt căn biến đổi : Bác sĩ phẫu thuật sẽ loại bỏ toàn bộ vú của bạn cùng với các hạch bạch huyết dưới cánh tay của bạn.

Phẫu thuật cắt bỏ triệt để: Bác sĩ phẫu thuật sẽ loại bỏ toàn bộ vú, các hạch bạch huyết dưới cánh tay và lên đến xương đòn, cũng như các cơ thành ngực dưới vú của bạn.

Phẫu thuật cắt bỏ một phần: Bác sĩ phẫu thuật sẽ loại bỏ mô vú bị ung thư và một số mô gần đó, thường là nhiều hơn so với cắt bỏ khối u.

Phẫu thuật cắt bỏ vú bảo toàn núm vú: Bác sĩ phẫu thuật sẽ loại bỏ tất cả các mô vú mà chỉ để lại núm vú của bạn.

Xạ trị: Cho dù bạn có được nó và loại nào đi chăng nữa, thì bác sĩ vẫn phụ thuộc vào loại phẫu thuật bạn đã có, nếu ung thư của bạn đã lan đến các hạch bạch huyết hoặc một nơi nào khác trong cơ thể, kích thước của khối u và đôi khi là tuổi của bạn. Do đó bạn có thể được điều trị chúng riêng lẻ hoặc kết hợp:

Liệu pháp xạ trị giảm hấp thụ: Bạn nhận được liều lớn hơn bằng cách sử dụng ít phương pháp điều trị hơn, thường chỉ trong 3 tuần.

Liệu pháp xạ trị trong phẫu thuật (IORT – Intraoperative radiation therapy): Trong phương pháp này, bạn nhận được một lượng lớn phóng xạ trong phòng phẫu thuật ngay sau khi phẫu thuật bảo tồn vú (trước khi vết mổ được đóng lại).

Liệu pháp xạ trị không gian 3 chiều (3D – CRT : Three-dimensional conformal radiation therapy): Bạn nhận được bức xạ từ các máy đặc biệt có thể nhắm mục tiêu tốt hơn vào khu vực có khối u. Bạn sẽ được điều trị hai lần một ngày trong 5 ngày.

Xạ trị bên trong: Trong loại này, bác sĩ đặt một nguồn phóng xạ bên trong cơ thể bạn trong một thời gian ngắn.

Liệu pháp chiếu xạ áp sát gắn phóng xạ: Bác sĩ sẽ chèn một số ống nhỏ, rỗng gọi là ống thông vào xung quanh khu vực bị ung thư vú. Chúng sẽ ở tại chỗ trong vài ngày. Sau đó bác sĩ đặt các viên phóng xạ vào chúng trong thời gian ngắn mỗi ngày.

Bức xạ được đặt bên trong một khoang cơ thể: Đây là loại xạ trị phổ biến nhất cho phụ nữ bị ung thư vú. Bác sĩ sử dụng một ống thông nhỏ để đặt một thiết bị bên trong vú của bạn. Sau khi vào, thiết bị được mở rộng và giữ nguyên vị trí trong quá trình điều trị. Đầu kia sẽ nhô ra khỏi vú. Sau đó bác sĩ sử dụng ống để đưa các nguồn bức xạ (thường là dạng viên) vào thiết bị. Thông thường bạn nhận được điều trị này hai lần một ngày trong 5 ngày như một bệnh nhân ngoại trú. Và sau lần điều trị cuối cùng, bác sĩ đã thu gọn và tháo thiết bị.

Toàn thân: Điều trị này giúp tiêu diệt hoặc kiểm soát các tế bào ung thư trên khắp cơ thể bạn. Những phương pháp điều trị bao gồm:

– Hóa trị. Bạn có thể dùng các loại thuốc này dưới dạng thuốc hoặc tiêm vào tĩnh mạch. Đây có thể là điều trị chính nếu bạn bị ung thư vú tiến triển. Hoặc bạn có thể điều trị nó trước khi phẫu thuật (hóa trị tân dược) hoặc sau phẫu thuật (hóa trị liệu bổ trợ).

– Liệu pháp hormon: Một số bệnh ung thư phát triển để đáp ứng với một số hormone. Những loại thuốc này ngăn chặn các hormone gắn vào các tế bào ung thư, ngăn chặn sự phát triển của chúng.

Tamoxifen (Nolvadex, Soltamox, Tamoxen).

Fulvestrant (Faslodex).

Thuốc ức chế Aromatase:

Anastrozole (Arimidex).

Exemestane (Aromasin).

Letrozole (Femara).

– Thuốc nhắm mục tiêu: Những loại thuốc này ngăn chặn những thay đổi làm cho các tế bào phát triển ngoài tầm kiểm soát.

Abemaciclib (Verzenio).

Everolimus (Afinitor).

Lapatinib (Tykerb).

Neratinib (Nerlynx).

Olaparib (Lynparza).

Palbociclib (Ibrance).

Pertuzumab (Perjeta).

Ribociclib (Kisquali).

Talazoparib (Talzenna).

Trastuzumab (Herceptin).

Trastuzumab emtansine (Kadcyla).

Tôi có thể ngăn ngừa ung thư vú?

Kiểm soát cân nặng của bạn: Giảm cân nếu bạn cần, sau đó giữ cân nặng khỏe mạnh. Bởi vì tăng cân khi trưởng thành làm tăng tỷ lệ mắc bệnh ung thư vú sau khi mãn kinh.

Duy trì hoạt động thể dục: Giảm nguy cơ của bạn. Đặt mục tiêu cho 150 phút hoạt động vừa phải hoặc 75 phút mỗi tuần (hoặc hỗn hợp). Thực hiện hoạt động liên tục trong tuần.

Hạn chế hoặc bỏ qua rượu: Phụ nữ nên uống không quá 1 ly rượu mỗi ngày tương đương 355ml bia, 147ml rượu vang hoặc 44ml rượu mạnh.

Cho con bú: Càng lâu càng tốt để giảm nguy cơ.

Hạn chế điều trị nội tiết tố sau mãn kinh. Vì vậy hãy hỏi bác sĩ về các lựa chọn không có nội tiết tố để điều trị các triệu chứng của bạn.

Do Cơ Quan Dịch Vụ Dự Phòng Hoa Kỳ (U.S. Preventive Services Task Force) khuyến nghị, bao gồm:

40 – 49 tuổi: Chụp quang tuyến vú mỗi 2 năm nếu bạn và bác sĩ nghĩ rằng, bạn cần nó.

50 – 74 tuổi: Chụp quang tuyến vú mỗi 2 năm.

Trên 75 tuổi: Hỏi bác sĩ của bạn nếu bạn nên tiếp tục chụp nhũ ảnh.

Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ thì khuyến nghị:

40 – 44 tuổi: Chụp quang tuyến vú hàng năm nếu bạn và bác sĩ nghĩ rằng, bạn cần nó.

45 – 54 tuổi: Chụp quang tuyến vú hàng năm.

55 – 74 tuổi: Chụp quang tuyến vú mỗi 1-2 năm.

Trên 75 tuổi: Chụp quang tuyến vú mỗi năm miễn là bạn có sức khỏe tốt và dự kiến ​​sẽ sống từ 10 năm trở lên.

Bệnh Bướu Cổ: Khái Niệm, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Phòng Ngừa

Bệnh bướu cổ là tình trạng mở rộng của tuyến giáp, nhưng đặc biệt không phải là ung thư. Một người bị bướu cổ có thể là do bị mất cân bằng hormone tuyến giáp, do quá cao hoặc quá thấp.

Tuyến giáp là một tuyến có hình dạng như con bướm nằm ở đáy cổ nhưng tuyến giáp phát triển quá lớn sẽ gây ra tình trạng bướu cổ. Hoặc cũng có thể do bị ảnh hưởng từ chế độ, môi trường sống và làm việc từ bên ngoài.

Những triệu chứng thường gặp ở người bệnh nhân bướu cổ gồm những biểu hiện bệnh thường về kích thước tuyến giáp, thường xuyên bị đau rát họng, ho, nói khan, khó nuốt, mệt mỏi, chán ăn,..

Trong một số trường hợp, bệnh bướu cổ chỉ xuất hiện tạm thời và tự khỏi theo thời gian, không cần chữa trị nhiều. Nhưng cũng có trường hợp gây ra tình trạng nghiêm trọng là bướu ác gây ung thư nếu như không được theo dõi và chăm sóc đúng cách.

2. Nguyên nhân bị bệnh bướu cổ

Nhiều người không phát hiện sớm mình bị mắc bệnh bướu cổ do nắm rõ được các nguyên nhân gây ra căn bệnh này.

Trên thực tế cho thấy, bướu cổ có thể xảy ra khi tuyến giáp sản xuất quá nhiều hormone (cường giáp) hoặc sản xuất quá ít (hypothyroidism). Ngoài ra, trong những trường hợp cực kỳ hiếm khi gặp là do tuyến yên sẽ kích thích tăng trưởng tuyến giáp để tăng một lượng hormone cần thiết.

Ngoài nguyên nhân sản sinh ra hormone, một nguyên nhân gây ra căn bệnh bướu cổ này do chế độ ăn uống quá giàu thực phẩm làm tăng nguy cơ như đậu, bắp cải, đậu phộng. Những thực phẩm này can thiệp vào quá trình xử lý I – ốt làm ngăn chặn việc sản xuất ra hormone tuyến giáp.

Khi dùng kéo dài một số loại thuốc như muối Lithi (được dùng trong khoa tâm thần), thuốc kháng giáp tổng hợp, thuốc có chứa I – ốt như thuốc cản quang, thuốc trị hen, thấp khớp,… cũng là nguyên nhân gây ra bệnh bướu cổ cho con người.

Ngoài ra, những phụ nữ bị kích thích thần kinh trong thời kỳ mang thai và cho con bú cũng có thể làm bướu giáp phóng to một chút, góp vào nguyên nhân dễ mắc bướu cổ.

3. Triệu chứng và biến chứng của bệnh bướu cổ

Triệu chứng

Triệu chứng của bệnh bướu cổ chủ yếu là do tuyến giáp gây nên. Ở phụ nữ có thai, cho con bú, con gái trong độ tuổi dậy thì, lúc bắt đầu kinh nguyệt thì to hơn so với bình thường. Nhưng qua nhiều thời kỳ, tuyến giáp có thể nhỏ hơn một chút.

Thông thường, đến độ tuổi trung niên, bướu cổ có thể cứng và có nốt cục. Bướu cổ có thể rất nhỏ hoặc rất to, phân theo độ to nhỏ.

Bướu giáp chìm: Trong trường hợp này, bướu xuất hiện ở cổ nhưng lại có vị trí ở trong lồng ngực sau xương ức. Lúc này, bướu làm khó chịu mỗi khi chúng ta nuốt thức ăn hoặc khi thở.

Bướu dưới lưỡi: Trường hợp này thường gặp hơn ở phụ nữ, bướu cổ ở đáy lưỡi nên khi chúng ta nhai, nuốt thức ăn hay nói chuyện đều rất khó khăn

Bệnh bướu cổ lúc mới bắt đầu xuất hiện thì rất nhỏ nhưng về sau thì to nhỏ không chừng, cứng thành cục hoặc nang, bề mặt có thể xuất hiện tĩnh mạch nổi còng quèo. Trong trường hợp quá to sẽ sinh ho, khó thở, vướng cổ, nuốt khó, khàn giọng thậm chí là xuất huyết trong gây đau đớn.

Biến chứng

Nhiều người cho rằng bệnh bướu cổ là một căn bệnh lành tính nên không chú trọng chữa trị cẩn thận. Nhưng bướu cổ không được điều trị kịp thời sẽ gây ra những biến chứng nguy hiểm, thậm chí là có thể tử vong.

Các chuyên gia y tế đã khẳng định, bệnh bướu cổ có thể có nhiều biến chứng gây nguy hiểm như mù mắt, suy tim, cơn cường giáp gấp. Hoặc hàm lượng hormone ở tuyến giáp cao gây ra những tổn hại lớn đến mô của cơ thể.

Nếu như bệnh kéo dài thời gian khiến người bị bệnh bị suy kiệt sức khỏe. Hoặc bệnh cũng có thể tác dụng lên chức năng sinh dục ở cả nam và nữ, đối với phụ nữ thì dễ bị lãnh cảm, kinh nguyệt không đồng đều, còn ở nam thì rơi vào tình trạng liệt dương.

4. Các phương pháp điều trị bệnh bướu cổ

Điều trị bướu cổ bằng phương pháp Đông Y

Bài thuốc 1 có chứa những thành phần hải tảo, mẫu lệ và bối mẫu lớn. Khi sử dụng bài thuốc này, bạn đem các thành phần thuốc trên tán thành bột nhỏ, mỗi lần uống 2 thìa, một ngày uống 2 lần. Để có kết quả điều trị, bạn cần phải sử dụng đều đặn, thường xuyên.

Bài thuốc 2 có chứa thành phần 100g thạch cao sống, 18g đại hoàng, 12g huyền minh phấn, 15g tri mẫu, 15g chỉ thực, 15g hậu phác. Bài thuốc trên chỉ áp dụng cho các trường hợp bướu giáp có kích thước lớn và bị nặng. Khi sử dụng bài thuốc này, các bạn đem các vị thuốc trên sắc thành nước uống, một thang uống một ngày.

Điều trị bệnh bướu cổ bằng phương pháp Nam Y

Khi sử dụng bài thuốc này, các bạn lấy 40g cây xạ đen và 15g ké đầu ngựa và tiến hành sắc lấy nước uống hàng ngày. Các bạn thực hiện phương pháp này đều đặn trong khoảng hai tháng để thấy được kết quả điều trị. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ áp dụng cho những bệnh nhân có những khối u bướu có kích thước nhỏ.

Các bạn sử dụng phương pháp này bằng cách lấy 1 nắm lá bùm xụm giã lấy nước rồi uống nước cốt này vào buổi sáng mỗi ngày. Còn phần bã, các bạn xào với một thìa dấm rồi bó vào vị trí của bướu, thực hiện trong vòng 2 tiếng. Phương pháp thực hiện mỗi ngày một lần và thực hiện liên tục trong vòng 10 ngày

Điều trị bướu cổ bằng phương pháp Tây Y

Thứ nhất: Loại thuốc mà mọi người có thể sử dụng đó chính là Levothyroxine có tác dụng thay thế hoặc cung cấp hormone tuyến giáp. Tuy nhiên loại thuốc này cũng gây nên tác dụng phụ như rối loạn nhịp tim, run tay, sử dụng thuốc trong thời gian dài sẽ gây ra tình trạng loãng xương.

Thứ hai: là loại thuốc Propylthiouracil có tác dụng ức chế tổng hợp hormone tuyến giáp. Nhưng loại thuốc này cũng gây nên tác dụng phụ như giảm bạch cầu, sung huyết, độc gan, rối loạn tiêu hóa.

Thứ ba: là loại thuốc Berlthyrox có tác dụng chính ức chế tiết Thyrotropin nhằm giảm kích thước của bướu. Tuy nhiên, thuốc cũng gây ra tác dụng phụ như loạn nhịp tim, mất ngủ, giảm cân.

Thứ tư: là thuốc Propranolol có tác dụng kiểm soát các triệu chứng lo âu hay tuyến giáp hoạt động quá mức, nhưng nó cũng gây ra các tác dụng phụ như đau đầu, chóng mặt, rối loạn thị giác, ảo giác.

Điều trị bướu cổ bằng phương pháp phẫu thuật chỉ thực hiện khi có kết luận của bệnh ung thư hay nghi ngờ ung thư tuyến giáp. Tuy nhiên, khi bướu cổ gây nên hiện tượng chèn ép, mất tính thẩm mỹ thì vẫn có thể tiến hành phẫu thuật cắt bỏ.

Khi tiến hành phẫu thuật bướu cổ, các bác sĩ sẽ tiến hành cắt bỏ toàn bộ hoặc hầu hết các tuyến giáp. Nhưng nếu như sau khi xét nghiệm tế bào lành tính thì chỉ cần cắt bỏ một phần tuyến giáp.

Phương pháp này tuy có gây ra đau đớn sau khi phẫu thuật nhưng cũng giảm bớt đi các nguy cơ để lại biến chứng của bệnh.

Phương pháp điều trị lode phóng xạ được áp dụng với những bệnh nhân có bướu hoạt động, có hoặc không kèm cường giáp. Tỉ lệ khỏi bệnh trung bình của bệnh nhân bướu cổ khi sử dụng phương pháp này lên tới 75%. Tuy nhiên phương pháp này không được áp dụng đối phụ nữ có thai hoặc đang trong quá trình cho con bú.

5. Cách phòng ngừa bệnh bướu cổ xảy ra

Bên cạnh việc điều trị các triệu chứng cụ thể thì các bạn cũng cần phải có những phương pháp phòng ngừa để tránh mắc phải căn bệnh bướu cổ này. Bướu cổ có thể xảy ra đối với bất kỳ người nào, vì thế mà chúng ta cần có những phương pháp phòng ngừa bệnh hiệu quả

Bổ sung hàm lượng I – ốt trong khẩu phần ăn

Khi chúng ta ăn uống trong tình trạng thiếu I – ốt dài ngày, không đáp ứng được nhu cầu bổ sung chất cho tuyến giáp thì sẽ gây nên bệnh bướu cổ. Vì thế mà chúng ta cần bổ sung tích cực I – ốt trong dinh dưỡng hàng ngày, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em.

Vì I – ốt có vai trò cực kỳ quan trọng đối với việc phòng tránh bệnh bướu cổ ở mọi người. Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên sử dụng quá nhiều, quá mức tránh gây ra các căn bệnh về sỏi thận.

Chế độ ăn uống phù hợp

Bướu cổ xảy ra là thường do ăn uống thiếu I – ốt gây nên, vì thế cần bổ sung thêm thức ăn có hàm lượng I – ốt cao như hải sản sò, ngao, hải đới… và quan trọng nhất là muối I – ốt cần dùng thường xuyên.

Đặc biệt, chúng ta cũng nên tránh ăn những thức ăn có hại cho bệnh như củ cải, rau cải trắng,… Vì thế nên chúng ta cần sắp xếp một chế độ ăn uống hợp lý tránh nguyên nhân gây ra bệnh và còn có thể làm bệnh nặng hơn.