Top 4 # Xem Nhiều Nhất Nguyên Nhân Gây Ung Thư Amidan Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

4 Nguyên Nhân Gây Ung Thư Amidan Phổ Biến

Giống với hầu hết các bệnh ung thư khác, các bác sĩ không thể nói cho bạn biết chính xác nguyên nhân gây ung thư amidan. Tuy nhiên, các yếu tố như lối sống, môi trường, virus,.. có thể là những tác nhân dẫn đến bệnh ung thư amidan

1. Khói thuốc lá và rượu bia là nguyên nhân gây ung thư amidan và nhiều căn bệnh khác

Không chỉ riêng ung thư amidan, khói thuốc lá còn được chứng minh là nguyên nhân dẫn đến rất nhiều căn bệnh khác như ung thư vòm họng, ung thư phổi, ung thư dạ dày,… Dù bạn chủ động hút thuốc lá, hay chỉ thụ động hít phải hơi thuốc lá quá nhiều cũng sẽ làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về đường hô hấp, lâu dần làm tổn thương amidan, tạo điều kiện thuận lợi cho ung thư amidan phát triển.

Tương tự như hút thuốc lá, nghiện rượu bia và các thức uống có cồn là một trong những nguyên nhân gây ung thư amidan phổ biến nhất. Rượu bia tác động trực tiếp vào các niêm mạc, bề mặt bao phủ niêm mạc, amidan, làm tổn thương và suy yếu toàn bộ vùng họng, làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh.

Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy, rượu bia và thuốc lá gây hại cho DNA, làm rối loạn mã hóa di truyền trong các tế bào, là nguyên nhân gây ung thư amidan nói riêng, và các bệnh ung thư khác nói chung.

Nếu một người vừa nghiện rượu, vừa nghiện hút thuốc lá thì sẽ có nguy cơ bị ung thư amidan tăng gấp 2 lần nếu chỉ sử dụng một thứ, rượu bia hoặc thuốc lá.

2. Môi trường sống và làm việc

– Những người có môi trường sống kém trong lành, không khí bị ô nhiễm, nhiều bụi bẩn thì nguy cơ mắc các bệnh về đường hô hấp rất cao. Nếu các bệnh về đường hô hấp không được chữa trị kịp thời và dứt điểm để bệnh kéo dài, viêm họng và viêm amidan tái đi tái lại nhiều lần, sẽ khiến cho amidan bị tổn thương và mất đề kháng, lâu dần là nguyên nhân gây ung thư amidan.

– Các thống kê cho thấy, người làm việc trong ngành xây dựng, khai thác mỏ, sản xuất vật liệu, sản xuất tấm lợp,… có nguy cơ mắc ung thư amidan rất cao. Lý do là môi trường làm việc của những ngành này có chứa rất nhiều bụi amiang. Bụi amiang là bụi vô cơ, độc hại, có kích thước siêu nhỏ, dễ đi vào đường thở, là nguyên nhân gây ung thư amidan và ung thư phổi.

3. Lối sống

– Amidan là vị trí có nhiều khe kẽ và hốc sâu, là nơi lý tưởng cho virus và vi khuẩn trú ngụ sinh sôi. Vệ sinh răng miệng kém sẽ làm cho amidan dễ bị vi khuẩn và virus tấn công, dễ bị viêm nhiễm và mắc các bệnh nguy hiểm.

– Chế độ ăn uống nghèo dinh dưỡng, thiếu vitamin A, thiếu chất xơ cũng là nguyên nhân gây ung thư amidan.

– Thường xuyên ăn thức ăn lên men, đồ ăn nhiều gia vị và dầu mỡ, thức ăn cay nóng, thực phẩm chế biến sẵn, thức ăn nhiều muối,… cũng sẽ tác động tới amidan, gia tăng tình trạng viêm nhiễm.

4. Virus HPV

Do vậy, mọi người nên quan hệ tình dục an toàn, hạn chế quan hệ bằng đường miệng để giảm nguy cơ mắc ung thư amidan.

Nguyên Nhân Hàng Đầu Gây Ung Thư Amidan Ai Cũng Phải Biết

Ung thư amidan là một trong những căn bệnh nguy hiểm nhất hiện nay. Có nhiều yếu tố gây ung thư amidan như hút thuốc lá, uống quá nhiều rượu, quan hệ tình dục qua đường miệng, vấn đề vệ sinh răng miệng,…

Theo bác sĩ Lâm Đức Hoàng, Trưởng Khoa Xạ 3, Bệnh viện Ung bướu TP HCM, ung thư amidan là căn bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi, chiếm tỷ lệ 13-15% trong các bệnh ung thư vùng đầu cổ. Tỉ lệ nam giới mắc bệnh cao gấp 4 lần so với nữ giới và thường gặp ở độ tuổi từ 50 đến 60 tuổi.

Amidan là phần nằm ở hai bên họng miệng. Bằng cách dùng gương hoặc rọi đèn pin vào khoang miệng là có thể nhận biết được amindan. Theo ghi nhận của Bệnh viện Ung bướu TP HCM, vào năm 2007, có trên 90% ca ung thư amidan được phát hiện khi đã bước vào giai đoạn cuối.

Thực tế, có rất nhiều nguyên nhân khiến ung thư vùng này khó phát hiện, dẫn tới phát hiện muộn và có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Dấu hiệu nhận biết mắc bệnh ung thư amidan

Bác sĩ Hoàng cho biết các triệu chứng ung thư amidan không đặc hiệu, thường chỉ gặp trong chuyên khoa tai mũi họng. Những dấu hiệu nhận biết mắc bệnh ung thư amidan bao gồm:

– Gặp khó khăn trong việc nuốt: Đây là dấu hiệu sớm nhất của căn bệnh nguy hiểm này. Người bệnh sẽ cảm thấy vướng khi nuốt thức ăn, cảm giác như có dị vật nhỏ trong họng hoặc như đang mắc xương cá. Tình trạng này thường kéo dài trên một tháng.

– Cảm thấy đau mỗi khi nuốt thứ gì đó: Đây được xem là dấu hiệu thường gặp nhất, báo hiệu rằng ung thư amidan đã bắt đầu ‘xâm nhập’ vào họng của bạn. Thông thường, khi nuốt và thấy đau, người bệnh chủ quan, không đi khám vì nghĩ rằng đó có thể là dấu hiệu của viêm họng.

– Cảm giác đau tai: Triệu chứng đau tai thường xuất hiện muộn hơn so với hai dấu hiệu phía trên. Người bệnh sẽ có cảm giác đau buốt tai mỗi lần nuốt đồ ăn

– Ho, khạc ra máu: Một khi người bệnh gặp dấu hiệu này có nghĩa là căn bệnh ung thư amidan đã bước vào giai đoạn cuối, bướu lan rộng và lan đến cơ hàm trên mặt.

– Xuất hiện hạch ở cổ: Thực tế, có rất nhiều bệnh nhân đi khám vì phát hiện trên cổ của mình nổi hạch và phát hiện mình mắc ung thư amidan. Theo số liệu thu được, có tới 70-80% bệnh nhân ung thư amidan phát hiện mình mắc bệnh khi đã có di căn hạch.

Amidan là một vùng nhạy cảm trong họng

Theo bác sĩ Hoàng, họng miệng là nơi tập trung nhiều dây thần kinh cảm giác, vì vậy dễ gây cảm giác buồn nôn và nôn. Có lẽ vậy mà họng miêng được coi là một nơi ‘bất khả xâm phạm’. Vì hầu hết các bác sĩ đều gặp khó khăn trong việc quan sát cũng như khám vùng này một cách kỹ lưỡng.

Khi gặp những dấu hiệu kể trên, bệnh nhân thường có tâm lý chủ quan, nghĩ rằng đó chỉ là những dấu hiệu bình thường, cùng lắm họ chỉ bị viêm amidan mà thôi. Chính vì lẽ đó mà bệnh nhân cho rằng chỉ cần mua thuốc uống là khỏi mà không hề hay biết đó là những dấu hiệu đầu tiên của ung thư amidan.

Amidan là một nơi rất dễ bị viêm nhiễm nếu không vệ sinh răng miệng cẩn thận. Viêm amidan diễn ra phổ biến ở bất kỳ đối tượng nào. Thực tế, người bệnh, thậm chí cả bác sĩ đôi khi cũng nhầm lẫn giữa sưng amidan một bên với ung thư amidan, bác sĩ chủ quan và bỏ sót khi kiểm tra răng miệng cho bệnh nhân. Thông thường, khi bị sưng amidan một bên, người bệnh được khuyến cáo nên cắt amidan hoặc sinh thiết.

Tuy nhiên, có nhiều bệnh nhân đã cắt amidan rồi, vùng hố amidan còn lại vẫn có thể tiếp tục bị ung thư.

Nguyên nhân hàng đầu gây ung thư amidan

– Hút thuốc lá, tùy thuộc số lượng hút, số năm hút và độ tuổi người bệnh bắt đầu hút thuốc.

– Những người nghiện rượu có nguy cơ mắc ung thư amidan cao gấp 6 lần những người bình thường. Đặc biệt, với những đối tượng vừa hút thuốc vừa nghiện rượu thì nguy cơ mắc bệnh lên tới 15 lần.

– Quan hệ tình dục bằng miệng cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến ung thư amidan

– Những người bị nhiễm trùng HPV 16 cũng có nguy cơ bị ung thư amidan.

– Vệ sinh răng miệng kém, viêm nhiễm mãn tính sẽ cũng làm tăng khả năng mắc ung thư amidan.

Bác sĩ Hoàng cho biết thêm, số lượng bệnh nhân còn sống sau 5 năm điều trị ung thư amidan giai đoạn 1 là 80-90%, giai đoạn 2 là 70-80%, tới giai đoạn 3 thì con số này là 60-70% và giai đoạn 4 chỉ còn 30-50%.

Theo Báo xây dựng

Nguyên Nhân Gây Ung Thư Gan Nguyên Phát

Ung thư biểu mô tế bào gan (UBTG) là một bệnh khá phổ biến ở Việt Nam và trên thế giới, đứng hàng thứ 5 ở nam giới và thứ 9 ở nữ giới trong các loại ung thư thường gặp. Gần đây nhờ sự tiến bộ của y học chúng ta đã hiểu biết hơn về căn nguyên, cơ chế bệnh sinh và tìm ra nhiều phương pháp để chẩn đoán, điều trị vàphòng bệnh hiệu quả hơn.

UBTG vẫn được coi là bệnh lý ác tính tiến triển và tiên lượng nặng nề, tỷ lệ tử vong cao. Cho đến nay nguyên nhân UBTG vẫn chưa rõ ràng, người ta chỉ nói đến các yếu tố nguy cơ.

Về sự đồng nhiễm virut viêm gan B và C nhiều nghiên cứu cho thấy làm tăng nguy cơ ung thư gan . Nếu chỉ nhiễm virut B chỉ số nguy cơ là 4,06; trong trường hợp chỉ nhiễm virut C là 3,74, nhưng nếu đồng nhiễm cả hai loại virut thì chiếm 6,41.

Độc tố aflatoxin của nấm mốc (AF)

Aflatoxin B1 là sản phẩm của nấm Aspergillus và A.parasiyicus (ở gạo, lạc, ngũ cốc bảo quản kém ) đã được chứng minh từ lâu là có thể gây ung thư gan thực nghiệm. Đó là một chất gây ung thư tương tác với virut viêm gan B. Người ta có thể bị nhiễm AF do ăn phải ngũ cốc bị nhiễm aflatoxin hoặc ăn thịt các động vật được nuôi bằng ngũ cốc nhiễm AF. Các nghiên cứu ở những vùng có tỷ lệ ung thư cao trên thế giới đều cho thấy nhiễm độc AF là nguy cơ chính gây ung thư gan.

Rượu cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng của UBTG, rất nhiều dữ kiện cho thấy rượu có nhiều tác dụng gây kích thích ung thư gián tiếp. Nghiện rượu và thời gian nghiện rượu là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến viêm gan mạn tính và xơ gan. Người ta nhận thấy rằng nếu uống trên 500ml rượu một ngày trong vòng nhiều năm liên tục thì nguy cơ UBTG tăng cao gấp 4 – 10 lần. Sự ác tính ở các bệnh xơ gan do nghiện rượu tăng rõ rệt, tỷ lệ này sau 5 năm là 19,4%, sau 10 năm là 44,3%, sau 15 năm là 58,2%.

Đa số UBTG đều phát triển trên nền tảng xơ gan , một số khác trên nền viêm gan mạn tính. Nguyên nhân gây xơ gan và viêm gan mạn tính hay gặp là do virut viêm gan B, virut viêm gan C, rượu, nhưng còn nhiều nguyên nhân khác đáng chú ý như: viêm gan nhiễm mỡ không do rượu, xơ gan tự miễn, xơ gan ứ mật tiên phát, bệnh rối loạn chuyển hóa…

Nhiễm chất độc da cam (Dioxin) và UBTG đã được cố Giáo sư Tôn Thất Tùng đề cập đến những năm 1960, một số nghiên cứu cho thấy chất độc da cam có độ tích lũy cao trong nhu mô gan bị ung thư cũng như trong mô mỡ của bệnh nhân. Khả năng gây quái thai gặp rất nhiều ở những người tiếp xúc với chúng lâu dài. Tác dụng gây ung thư của dioxin cũng giống như benzopyren, dimetylamin, nhưng mạnh hơn rất nhiều lần.

Yếu tố di truyền cũng được đề cập đến, một số trường hợp UBTG thấy có người cùng huyết thống cũng bị.

Ngoài ra một số yếu tố khác như khói bụi, thuốc lá, thuốc tránh thai, thuốc trừ sâu, tiếp xúc với những chất độc trong gan… cũng đang được nghiên cứu.

Như vậy cách phòng bệnh UBTG tốt nhất là cần tránh lây nhiễm virut viêm gan B, C bằng cách tiêm phòng vaccin; khi bị nhiễm cần điều trị triệt để bằng thuốc kháng virut; hạn chế uống rượu bia; không sử dụng các thực phẩm ngũ cốc bị nấm mốc, và cần có ý thức hơn trong việc bảo vệ môi trường sống để chúng ta có cuộc sống thật sự khỏe mạnh.

Nguyên Nhân Gây Ung Thư Não

Nhóm người dùng điện thoại, làm nghề ướp xác, công nhân nghành lọc dầu, sản xuất cao su, dược phẩm… có thể làm tăng nguy cơ phát triển u não.

Ung thư não là khái niệm chung để chỉ các khối u ác tính ở não chứa các tế bào ung thư. Chúng ảnh huởng đến các chức năng sống và gây nguy hiếm cho tính mạng. Các khối u này thường phát triển rất nhanh, xâm lấn vào mô lân cận.

Các khối u não có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi. Song các nghiên cứu cho thấy chúng phổ biến nhất ở hai nhóm tuổi: trẻ em từ 3 đến 12 tuổi và người lớn 40-70 tuổi.

Các nhà nghiên cứu đã tìm ra một số yếu tố nguy cơ nhất định có thể làm tăng nguy cơ phát triển u não. Chẳng hạn một số loại u não thường xuất hiện hơn ở những công nhân trong một số ngành công nghiệp như lọc dầu, sản xuất cao su và sản xuất dược phẩm. Các nhà khoa học và những người làm nghề uớp xác có tỷ lộ u não cao hơn.

Các nhà nghiên cứu cũng đang xem xét việc tiếp xúc vởi virus có thể là một nguyên nhân gây u não hay không.

Trong hầu hết các trường hợp, bệnh nhân u não không có yếu tố nguy cơ rõ ràng. Bệnh này có thể là kết quả của nhiều yếu tố nguy cơ cùng tác động.

Tổ chức Y tế Thế giới đã liệt điện thoại di động vào danh sách các tác nhân có thể gây ung thư. Rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trong nhiều năm để tìm kiếm mối liên hệ giữa điện thoại di động và ung thư não song đều thất bại.

Song một nghiên cứu quy mô lớn năm 2010 lại tìm thấy một sự tăng nhẹ – tuy chưa có ý nghĩa lắm về mặt số liệu. Theo đó nhóm người dùng điện thoại di động có nguy cơ mắc một dạng ung thư não hiếm gặp có tên là glioma. Một công trình khác do Viện Nghiên cứu sức khỏe quốc gia Mỹ tiến hành cũng tìm thấy điện thoại di động làm tăng hoạt động của não.

Triệu chứng của ung thư não

Triệu chứng của u não phụ thưộc chủ yếu vào kích thước và vị trí của khối u trong não.

Triệu chứng thường gặp của u não gồm:– Đau đầu, đặc biệt vào buổi sáng và đỡ dần trong ngày– Co giật– Buồn nôn hoặc nôn– Yếu hoặc mất cám giác ở tay hoặc chân– Mất thăng bằng khi đi lại– Cử động nhãn cầu bất thường hoặc thay đổi thị giác– Buồn ngủ– Thay đối tính cách hoặc trí nhở– Thay đổi ngôn ngữ