Top 16 # Xem Nhiều Nhất Ung Thư Biểu Mô Khoang Miệng / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Ung Thư Biểu Mô Khoang Miệng / 2023

Ung thư biểu mô khoang miệng là một trong những ung thư biểu mô đường hô hấp, tiêu hoá trên.

Khoang miệng bao gồm: Lưỡi di động, sàn miệng, lợi hàm dưới, lợi hàm trên và vòm miệng phần cứng, niêm mạc má trong, khe liên hàm, môi dưới, môi trên và mép.

CHẨN ĐOÁN

Triệu chứng

Khi các triệu chứng lâm sàng biểu hiện thì thường là khối u đã xâm lấn rộng và đôi khi đã là giai đoạn muộn.

Các triệu chứng có thể là

Cảm giác vướng trong miệng.

Tăng tiết nước bọt đôi khi có máu.

Nói khó.

Nuốt đau.

Đau lan lên tai (cảm giác).

Đôi khi được phát hiện sớm bải đi khám bệnh thường kỳ, hoặc bởi thầy thuốc răng hàm mặt khi bệnh nhân đi chữa răng… hoặc sờ thấy hạch dưới cằm hoặc cổ.

Nuốt đau nhói lên tai.

Nói khó khăn.

Khạc ra đờm nhầy, có lẫn máu thường là có mùi hôi thối.

1/3 các trường hợp đến khám vì có hạch cổ, mà chưa có dấu hiệu lâm sàng rõ rệt.

Các dấu hiệu tổn thương tại chỗ

Các hình thái có thể gặp: Nụ sùi hoặc loét hoặc vừa sùi vừa loét bờ nham nhở, sờ vào bệnh nhân đau và vướng, u không có ranh giới rõ ràng, cứng, dễ chảy máu.

Khi khám cần phải đánh giá:

+ Mức độ xâm lấn vào đường giữa, vào trong hay ra phía trước.

+ Mức độ xâm lấn vào lưỡi di động.

+ Mức độ xâm lấn vào phần lưỡi cố định.

+ Mức độ xâm lấn vào xương hàm phía trước, và xâm nhiễm ra da.

Sinh thiết rất cần cho chẩn đoán: Gây tê, nếu khó khăn phải phải gây mê để sinh thiết, nhất là những trường hợp u thâm nhiễm hoặc khi u ở sâu.

Khám tai mũi họng

Phát hiện tổn thương phối hợp, có thể khám bằng gương soi gián tiếp, nếu cần thiết thì nội soi để phát hiện.

Khám hệ hạch

Sờ nắn hệ thống hạch cổ, hạch dưới hàm, hạch dưới cằm. Khám cả hai bên cổ phát hiện hạch sờ thấy và ghi nhận các vị trí hạch.

Chẩn đoán hình ảnh

Chụp Xquang thông thường: hay được dùng để phát hiện tổn thương xâm lấn xương, hay xâm lấn sâu.

Chụp phim cắt lớp hay cộng hưởng từ: Để phát hiện những khối u xâm lấn vào các cơ lưỡi hoặc ở các vị trí khó khám bằng lâm sàng.

Khám toàn thân

Phát hiên di căn, các ung thư phổi họp hoặc với các bệnh khác, đánh giá khả năng điều trị tuy theo từng bệnh nhân.

Khám răng hàm mặt

Nhằm đặt ra khả năng làm hàm giả hoặc tạo hình trong hoặc sau phẫu thuật rộng.

Đánh giá mức độ tiến triển: Theo TNM (IUCC-2002)

Khối II nguyên phát (T)

Tx: Không đánh giá được u nguyên phát bằng lâm sàng

To: Không có u nguyên phát

Tis: Ung thư tại chỗ

T1: Đường kính < 2cm

T2: Đường kính 2cm <u < 4cm

T 4: u xâm lấn sâu vào xương da hoặc cơ

T 4j Môi: u đã xâm lấn qua màng xương, dây thần kinh răng dưới, sàn miệng

hoặc da (cằm hoặc mũi).

T 4a Khoang miệng: Khối u xâm lấn qua màng xương, vào lớp cơ sâu ngoài của lưỡi (cơ cằm lưỡi, cơ dưới lưỡi, cơ vòm miệng và cơ trâm lưỡi, xoang hàm hoặc da mặt)

T 4b: Môi và khoang miệng: Khối u xâm lấn cơ nhai, các xương bướm hoặc nền sọ hoặc bao bọc động mạch cảnh trong.

Hạch vùng (N)

Nx: Khổng đánh giá chính xác được sự di căn hạch.

No: Không có hạch di căn

N1: 1 hạch duy nhất cùng bên đường kính < 3cm

N 2b: Nhiều hạch cùng bên đường kính < 6cm

N 2c: Hạch 2 bên hoặc đối bên đường kính < 6cm

Chú ý: Hạch ở giữa được coi như là hạch cùng bên

Di căn xa (M)

Mx: Không đánh giá chính xác được sự di căn xa

Mo: Chưa di căn xa

M1: Có di căn xa

Xếp loại giai đoạn:

ĐIỀU TRỊ

Điều trị ung thư biểu mô khoang miệng bao gồm điều trị hệ thống hạch cổ và khối u nguyên phát.

Thái độ và nguyên tắc chung

Điều trị hệ thống hạch cổ là một yếu tố quan trọng trong việc tiên lượng quá trình tiến triển của ung thư biểu mô khoang miệng nói riêng và ung thư biểu mô đường hô hấp. tiêu hoá nói chung. Thái độ điều trị phụ thuộc vào 2 yếu tố:

Trường hợp sờ thấy hạch trên lâm sàng: Đánh giá tính chất và sự tiến triển của hạch.

Trường hợp không sờ thấy hạch trên làm sàng: Người ta có thể dự tính được vùng hạch thường hay bị xâm lấn dựa vào vị trí của khối u nguyên phát hoặc bằng các phương pháp cận lâm sàng như: Chụp cắt lớp TDM, IRM hay qua siêu âm.

Về nguyên tắc điều trị, phải xử lý hệ thống hạch cùng với khối u nguyên phát. Tuy nhiên cũng có 1 số trường hợp ngoại lệ: ví dụ ung thư khoang miệng điều trị bằng Curie liệu pháp.

Quyết định điều trị sẽ phụ thuộc vào các yếu tố sau:

+ Loại mô bệnh học của tổn thương nguyên phát: 75-80% các trường hợp carcinoma ít hoặc không biệt hoá cho di căn hạch.

+ Vị trí của u nguyên phát:

Đối với trường hợp tổn thương nguyên phát được xạ trị, tuỳ tình huống có thể kèm theo phẫu thuật lấy hạch còn lại sau hai tháng xạ trị.

Trường hợp tổn thương nguyên phát được điều trị bằng phẫu thuật: Hệ thống hach sẽ được vét hạch rộng hoặc vét hạch chọn lọc tuỳ theo kích thước của u nguyên phát và sự xâm lấn hạch được phát hiện trên lâm sàng.

Điều trị những trường hợp đặc biệt:

Với những tổn thương nguyên phát: Đã được điều trị bằng Curie liệu pháp thì hệ thống hạch sẽ được điều trị bằng phẫu thuật. Phẫu thuật lấy hạch còn lại được thực hiện hai hoặc ba tháng sau khi xạ trị. Đối với trường hợp tổn thương nguyên phát đã được điều trị khỏi người ta sẽ thực hiện lấy hạch ở vùng xâm lấn ban đầu. Nếu hạch N3 người ta sẽ vét hạch rộng tùy theo sự xâm lấn hạch lúc ban đầu.

Phẫu thuật tái tạo được chỉ định trong các trường hợp:

+ Phẫu thuật lớn lấy bỏ các u nguyên phát có kèm theo xử lý hạch hoặc không xử lý hạch.

+ Các di chứng có hốc hoặc không có hốc trong khoang miệng, đường hô hấp trên do việc cắt bỏ các vùng bị khối u xâm lấn rộng quá trình xạ trị hoặc phẫu thuật. Những trường hợp đó người ta đã áp dụng phương pháp phẫu thuật tạo hình quay vạt da cơ hoặc làm phương pháp tiến bộ hơn là: Vạt da cơ có mạch máu nuôi.

Phẫu thuật sau hóa trị: Trong các trường hợp u có kích thước lớn, phát triển nhanh mà không có thể phẫu thuật rộng ngay được, người ta dùng hoá trị toàn thân hay hoá trị động mạch nhằm giảm thể tích và sự phát triển của khối u. Sau đó người ta tiến hành phẫu thuật cắt bỏ rộng u còn lại sau khi hóa trị.

Chống chí định vét hạch trong các trường hợp sau:

+ Có hạch trong khi u đang tiến triển nhanh: Có thể xạ trị hoặc hoá trị trước, sau đó đánh giá khả năng phẫu thuật.

+ Hạch không thể phẫu thuật được do xâm lấn tại chỗ: (ví dụ: hạch N3 cố định vào phía sâu). Trường hợp này sẽ được xạ trị phối hợp với hoá trị.

Tóm lại:

Điều trị phẫu thuật chiếm một vị trí quan trọng trong điều trị hệ thống hạch vùng cổ.

Kỹ thuật vét hạch cổ bảo tổn ngày càng được áp dụng rộng rãi do đưa ra được hiệu quả tương đương như vét hạch cổ cổ điển mà tỷ lệ di chứng lại rất thấp.

Với phương thức xạ trị hậu phẫu thì tuỳ theo tính chất xâm lấn của hạch. Nếu sau vét hạch có N(+) nên xạ trị hậu phẫu vào vùng hạch.

Điều trị hạch cổ

Phẫu thuật vét hạch cổ

Từ trước tới nay, phẫu thuật vét hạch cổ được xác định là lấy bỏ toàn bộ hệ thống hạch cổ cùng với mạng mạch bạch huyết, tổ chức mỡ và cân vùng cổ. Tuy nhiên hiện nay người ta cố gắng định khu giải phẫu vùng hạch, nhằm một mặt mô tả vùng hạch được chú ý để vét hạch, mặt khác cho phép kiểm tra được vùng hạch khác.

Có sáu vùng hạch được chia thành ô như sau:

I-Nhóm dưới cằm, dưới hàm.

II-Nhóm cảnh cao (bao gồm nhóm dưới cơ nhị thân và nhóm hạch gai trên).

Ilbis – Nhóm cạnh gai.

III – Nhóm cảnh giữa.

IV-Nhóm sau dưới (bao gồm các nhóm gai giữa, dưới và phần sau của nhóm hạch cổ ngang).

V-Nhóm trước cổ.

Dựa vào sự phân vùng hệ thống hạch, người ta đã vét hạch cổ với nhiều phương pháp tuỳ theo mục đích điều trị.

Bao gồm việc vét tất cả các nhóm hạch, cơ ức đòn chũm, cơ nhị thân hoặc bó sau của nó, tĩnh mạch cảnh trong, thần kinh gai và tuyến dưới hàm. Ngược lại, bảo vệ các thành phần sau: Động mạch cảnh, dây thần kinh phế vị, thần kinh giao cảm cố. thần kinh hoành, thần kinh dưới lưỡi, nhánh thần kinh cằm mặt.

Vét hạch triệt căn cài tiến (chức năng)

Là hạn chế một cách tối đa việc cắt bỏ tĩnh mạch cảnh trong, cơ ức đòn chũm và thần kinh gai.

Chi định này thu hẹp ớ những bệnh nhân có hạch bị xâm lấn trung bình.

Phương pháp này giữ lại một hoặc nhiều cấu trúc mà trong vét hạch triệt căn phá huý, đồng thời vẫn lấy được các vùng hạch.

Chỉ quan tâm đến việc vét một hoặc một vài nhóm hạch.

Lấy đi một vài nhóm hạch và được áp dụng trong trường hợp hạch có kích thước nhỏ hơn 2cm. Trường hợp này phải thực hiện sinh thiết tức thì. Nếu có xâm lấn hạch thì phải thực hiện phẫu thuật vét hạch cổ chức năng (biến đổi) ngay lập tức.

Xạ trị hậu phẫu

Xạ trị hậu phẫu được chỉ định tuỳ theo xét nghiệm mô bệnh học của hạch và quá trình thực hiện phẫu thuật vét hạch:

Nếu bệnh phẩm sau mổ cho thấy hạch xâm lấn và phá vỡ vỏ (N(+), R(+) thì xạ trị toàn cổ 50Gy và ưu tiên 15Gy trên vùng phá vỡ vỏ hạch.

Nếu trên bệnh phẩm sau mổ thấy hạch xâm lấn mà không phá vỡ vỏ N(+), R(-) thì xạ trị hậu phẫu được cân nhắc tuỳ theo số lượng hạch xâm lấn và kích thước vị trí của u nguyên phát.

Xạ trị hậu phẫu đối với những tổn thương có nguy cơ cao nếu nghi ngờ chưa cắt rộng được tổn thương.

Không xạ trị nếu ít hơn 3 hạch xâm lấn và những vùng tổn thương u nguyên phát ít có nguy cơ cho xâm lấn hạch (môi mép và vòm khẩu).

Điều trị ung thư biểu mô của lưỡi di động

Điều trị tổn thương của lưỡi

Tổn thương bề mặt (không xâm lấn cơ).

Nếu tổn thương rất khu trú thì Radium 65-75 Gy hoặc phẫu thuật.

Nếu tổn thương ít khu trú hơn (đặc biệt có loạn sản ở bên cạnh) thì phẫu thuật cắt một phần lưỡi.

Trường hợp khối u <6cm, chưa xâm lấn tới đường giữa, nếu có khả năng phẫu thuật thì:

+ Hoá trị (ưu tiên hóa chất động mạch). Sau đó cắt 1/2 lưỡi + xạ trị ngoài (hậu phẫu). Quyết định này được cân nhắc tuỳ theo đánh giá sau phẫu thuật và giải phẫu bệnh.

+ Radium liệu pháp (được cân nhắc tuỳ theo sự lui bệnh sau hóa trị).

Trong trường hợp chống chỉ định phẫu thuật do bệnh toàn thân thì xạ trị trải liều cổ điển (50Gy) phối hợp với Radium liệu pháp 20-25Gy.

+ Hoá trị (ưu tiên hoá chất động mạch). Sau đó 1/2 lưỡi + xạ trị ngoài (hậu phẫu). Quyết định này được bàn luận tuỳ theo đánh giá sau phẫu thuật và mô bệnh học.

+ Hoặc Radium liệu pháp (được cân nhắc tuỳ theo sự lui bệnh sau hóa trị).

Trong trường hợp chống chỉ định phẫu thuật do bệnh toàn thân thì:

+ Hoá trị: Ưu tiên hoá chất động mạch một hoặc 2 bên + cắt lưỡi và tạo hình bằng vạt da cơ + xạ trị hậu phẫu.

Điều trị hệ thống hạch cổ

Xem phần điều trị hạch.

Điều trị ung thư biểu mô vùng sàn miệng

Điêu trị tổn thương nguyên phát

Nếu tổn thương kém khu trú: Dùng phẫu thuật cắt bỏ vùng chậu sàn miệng hoặc chậu sàn miệng cằm (tuỳ theo việc có cắt xương hàm hay không mà quyết định tạo hình) + xạ trị hậu phẫu tuỳ theo đánh giá sau phẫu thuật và giải phẫu bệnh của bệnh phẩm.

Nếu không có chỉ định phẫu thuật: thì xạ trị liều cao giống như phần lưỡi di động.

Điều trị hệ hạch cổ (Chung cho ung thư biểu mô của lưỡi + sàn miệng)

Không sờ thấy có hạch.

Trường hợp 1: Tổn thương nguyên phát được điều trị bằng curie liệu pháp.

+ Nếu tổn thương khu trú và trên bề mặt nhỏ hơn hoặc bằng lcm thì chỉ lấy u đơn thuần và theo dõi hạch.

+ Nếu tổn thương nguyên phát ở bên hoặc phía sau: vét hạch ở tam giác cố (nhóm I. II,III) cùng bên, bảo tồn các cơ quan vùng cổ đồng thời vét hạch ở tam giác đối bên nếu N(+) khi làm sinh thiết tức thì.

+ Nếu tổn thương ở giữa hoặc xung quanh đường giữa thì vét hạch đầy đủ vùng tam giác cổ 2 bên.

Trường hợp 2:

+ Tốn thương nguyên phát được điều trị bằng phẫu thuật.

+ Vét hạch cổ theo nguyên tắc được dự kiến tuỳ thuộc vào kích thước của u nguyên phát.

Trường hợp 3: Tổn thương nguyên phát được xạ trị + curie liệu pháp. Hệ thống hạch được xạ trị liều 50Gy”

Hạch sờ thấy :

Trường hợp 1:

+ Tổn thương nguyên phát được điều trị bằng curie liệu pháp.

+ Tổn thương ở bên và sau: vét hạch cổ chức năng ở tam giác cổ (Nhóm I,II,III) cùng bên và vét hạch cổ ở tam giác đối bên nếu N(+) khi sinh thiết tức thì.

+ Tổn thương ở giữa: Vét hạch ở tam giác cổ 2 bên tuỳ theo định khu của hạch và kết quả sinh thiết tức thì.

Trường hợp 2:

+ Tổn thương nguyên phát được xạ trị liều cao hoặc xạ trị + Curie liệu pháp. Trong trường hợp hạch còn lại, phẫu thuật lấy hạch 2-3 tháng sau khi xạ trị.

+ Không thể phẫu thuật được hạch thì phối hợp hoá trị và xạ trị hoặc xạ trị liều cao.

Xạ trị ngoài

Được thực hiện kết hợp với Curie liệu pháp liều cao ở khối u nguyên phát. Nếu N (+) xạ trị hệ hạch cổ 50Gy và tăng thêm trên những vùng hạch bị phá vỡ vỏ. Hoặc kết hợp với phẫu thuật (hoặc sau hoá trị):

T Phẫu thuật đủ và N(-): Không xạ trị.

T Phẫu thuật đủ và/hoặc N(+), R(-): Xạ trị 50Gy

T Phẫu thuật không đủ và/hoặc N(+) R(+): Xạ trị u 65Gy trên diện u và vùng vỡ vỏ hạch.

Phẫu thuật lấy hạch còn lại sau xạ trị 50Gy Không bổ xung xạ trị dự phòng.

Trong trường hợp vét hạch chọn lọc ở tam giác cổ, nếu có từ 1 đến 2 hạch bị xâm lấn nhưng chưa phá vỡ vỏ ở chặng hạch đầu tiên mà phẫu thuật đối với T đủ thì xạ trị hậu phẫu cần phải cân nhắc. Mặt khác nếu sự xâm lấn hạch 1 bên rất nhiều mà ở đối bên đã được kiểm tra bằng phẫu thuật thì chỉ xạ trị ở một bên cổ.

Điều trị ung thư biểu mô vùng lợi hàm

Khối u giới hạn ở bờ lợi, không có hoặc có xâm lấn xương ở mức độ ít (bong màng xương): Phẫu thuật giới hạn và bảo tồn một phần xương hàm (giữ lại khung xương).

Tổn thương có kèm theo tiêu huỷ xương: cắt đoạn xương hàm. Chỉ định có hoặc không xạ trị hậu phẫu tuỳ theo chất lượng phẫu thuật và sự xâm lấn hạch.

Khối u xâm lấn vào sàn miệng, lưỡi và má: Tham khảo với những tổn thương nguyên phát của những vùng này.

Chú ỷ: Trong những trường hợp chống chỉ định phẫu thuật thì xạ trị 70Gy.

Điều trị hệ hạch: Giống phần chung.

Ung thư biểu mô lợi hàm trên và vòm miệng phần cứng

Điều trị tổn thương nguyên phát

Khối u đường kính <3cm: Phẫu thuật đơn thuần, không xạ trị hậu phẫu nếu phẫu thuật đủ và No.

Loại 1: Khối u phẫu thuật được (tiêu chuẩn toàn thân, tại chỗ, tại vùng).

+ Đối với u nguyên phát:

+ Thì 1: Hoá trị Cisplatinum, 5FU.

+ Thì 2: Phẫu thuật rộng hoặc phẫu thuật theo mức độ lui bệnh sau khi hoá trị.

+ Thì 3: Xạ trị hậu phẫu 65Gy trong vùng khối u và 50Gy trên chặng hạch đầu tiên.

Loại 2: Bệnh nhân không phẫu thuật được.

+ Hoá trị tại chỗ hoặc toàn thân sau đó đánh giá lại tổn thương + Nếu có thể được thì phẫu thuật và xạ trị hậu phẫu.

+ Nếu không chỉ xạ trị đơn thuần vùng u nguyên phát và hệ hạch.

+ Tuỳ tình huống có thể phối hợp xạ trị và hoá trị.

+ Nếu có chống chỉ định hoá trị, điều trị xạ trị liều cao nhưng chia nhỏ liều.

No: Xạ trị trên chặng đầu tiên của hạch.

N(+): Phẫu thuật lấy hạch hoặc vét hạch tuỳ theo mức độ hạch có trên lâm sàng. Sau đó có thể xạ trị hậu phẫu nếu N(+), R(+).

Điều trị ung thư biểu mô khe liên hàm

Điều trị tổn thương u nguyên phát

Khối u có thể phẫu thuật được: Phẫu thuật cắt bỏ miệng – họng – xương hàm + xạ trị hậu phẫu.

Khối u không thể phẫu thuật được do:

+ Khối u lan ra các bộ phận quan trọng.

+ Hoặc tính chất lan toả không có giới hạn.

+ Hoặc bệnh nhân từ chối.

+ Hoặc bệnh toàn thân không phẫu thuật được.

Tia xạ 70Gy trải liều bình thường hoặc phối hợp hóa trị và xạ trị.

Điều trị hệ hạch (Giống như phần điều trị hệ hạch cổ chung)

Điều trị ung thư biểu mô niêm mạc má phía trong

Điều trị tổn thương nguyên phát

Khối u đường kính <5cm, không xâm lấn vào lợi, không xâm lấn vào khe liên hàm: Phẫu thuật lấy u + tạo hình + xạ trị hậu phẫu (tuỳ theo bệnh phám sau mổ). ,

+ Có thể phẫu thuật được.

. Hoá trị động mạch.

. Phẫu thuật lấy u có thể tạo hình hoặc không.

. Xạ trị hậu phẫu tuỳ theo chất lượng phẫu thuật.

+ Không phẫu thuật được: Xạ trị đơn thuần 70Gy trải liều cổ điển.

Điều trị hệ hạch(Giống phần điều trị hạch cổ phần chung)

Điều trị ung thư biểu mô môi dưới

Khối u không có xâm lấn vào lợi và xương: Phẫu thuật lấy u + tạo hình. Khối u có xâm lấn vào lợi và xương

+ Có thể phẫu thuật được: Điều trị hoá chất (ưu tiên hoá chất động mạch) sau đó phẫu thuật rộng và tạo hình.

+ Không có khả năng phẫu thuật: xạ trị liều cao.

No:

+ Nếu xạ trị khối u: Cần phải phẫu thuật hạch khi điều kiện theo dõi bệnh nhân khó khăn hoặc tổn thương 2-4cm có kèm theo sự xâm lấn vào phần môi ướt hoặc u có đường kính 4-6cm.

+ Nếu khối u nguyên phát điều trị bằng phẫu thuật: Vét hạch cổ toàn bộ 2 bên tuỳ theo mức độ xâm lấn của hạch (thông qua kết quả sinh thiết tức thì hạch) + xạ trị hậu phẫu nếu N(+).

Hạch sờ thấy được:

+ Phẫu thuật vét hạch rộng 2 bên có bảo tổn hoặc không.

+ Tuỳ thuộc vào sự xâm lấn cấu trúc hạch và mô bệnh học.

+ Xạ trị hậu phẫu tuỳ thuộc vào đánh giá mô bệnh học sau mổ.

Điều trị ung thư biểu mô môi trên

Khối u có kích thước đường kính <5cm(Giống như môi dưới)

Khối u có kích thước lớn, có phá huỷ cấu trúc

Hóa trị: Ưu tiên hoá chất động mạch sau đó phẫu thuật rộng và tạo hình.

– Xử lý hạch:

+ Hạch không sờ thấy: Không cần xử lý, chỉ cần theo dõi.

+ Hạch sờ thấy: Vét hạch cùng bên hoặc 2 bên nếu sinh thiết tức thì (+).

Điều trị ung thư vùng mép

+ Hóa trị (ưu tiên hoá chất động mạch).

+ Điều trị phối hợp đa hoá chất:

. Ngày đầu: Cisplatin 100mg/m 2.

. 5 ngày tiếp theo: 5FU 1000mg/m 2/ngày.

+ Điều trị đơn hoá chất: 5FƯ 1000mg/m 2/ngày (7 ngày).

+ Xạ trị ngoài 70Gy hoặc xạ trị ngoài 50Gy .

+ Curie liệu pháp 25-35Gy.

Điều trị hệ hạch (Giống như của môi)

Tóm lại: Điều trị ung thư khoang miệng

Đối với khối u:

+ u nhỏ: Phẫu thuật đơn thuần.

+ u rất lớn không thể phẫu thuật được: Xạ trị đơn thuần hoặc hoá trị động mạch kết hợp với xạ trị.

Đối với hệ hạch:

+ Không phát hiện được hạch di căn: Theo dõi sát.

+ Phát hiện được hạch di căn: Vét hạch theo nhóm. Xạ trị hậu phẫu hệ hạch khi có hơn 3 hạch (+) hoặc hạch đã phá vỡ vỏ.

Hóa trị động mạch:

Điều trị phối hợp đa hoá trị:

+ Ngày đầu: Cisplatin 100mg/m 2.

+ 5 ngày tiếp theo: 5FU 1000mg/m 2/ ngày.

Điều trị đơn hoá chất: 5 FU 1000mg/m 2/ngày X 7 ngày

Nên Thực Hiện Tầm Soát Ung Thư Biểu Mô Khoang Miệng Định Kỳ / 2023

Tầm soát ung thư biểu mô khoang miệng định kỳ là việc làm cần thiết để phát hiện được các nguy cơ gây bệnh và loại bỏ hoặc phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm để có thể điều trị hiệu quả.

Bệnh ung thư biểu mô khoang miệng thuộc loại ung thư biểu mô đường tiêu hoá, hô hấp trên. Khoang miệng gồm có các phần lưỡi, sàn miệng, hàm lợi dưới, hàm lợi trên, niêm mạc má trong, khe liên hàm, vòm miệng phần cứng, môi dưới, môi trên và mép. Ung thư khoang miệng là hiện tượng tế bào ung thư phát triển ở các phần nói trên.

Giai đoạn đầu

– Cảm thấy có gì đó vướng trong miệng.

– Tiết nước bọt nhiều hơn bình thường, đôi khi thấy có máu.

– Cảm thấy gặp khó khăn khi nói, nuốt.

– Cảm giác đau lan sang tai.

Bệnh có thể được phát hiện sớm khi đi khám bệnh định kỳ hoặc do bác sĩ chuyên khoa răng hàm mặt phát hiện khi bệnh nhân tới khám răng.

Giai đoạn toàn phát

– Thấy đau nhói lên tai mỗi khi nuốt.

– Khó khăn khi nói.

– Thường khạc ra đờm nhầy, có dính máu thường là có mùi hôi thối.

Có tới hơn 30% bệnh nhân ung thư biểu mô khoang miệng tới khám do có hạch ở cổ mà chưa có biểu hiện lâm sàng bệnh rõ rệt.

Tầm soát ung thư biểu mô khoang miệng

Bác sĩ sẽ đánh giá mức độ xâm lấn của tế bào ung thư ở nơi tiến triển bệnh. Nếu tầm soát ung thư biểu mô khoang miệng cho ra kết quả ung thư, người bệnh thường được tiến hành sinh thiết khoang miệng nhằm xác định chính xác mức độ tổn thương của tế bào và kết luận bệnh ở giai đoạn nào.

Một số phương pháp khám để phát hiện ung thư biểu mô khoang miệng thường được các bệnh viện sử dụng:

Khám tai mũi họng

Bác sĩ sẽ dùng gương soi gián tiếp hoặc nội soi khoang miệng để phát hiện các tổn thương.

Khám hệ hạch

Bác sĩ sờ nắn hệ thống hạch ở cổ, dưới hàm và dưới cằm để phát hiện hạch sờ thấy và ghi nhận các vị trí của hạch.

Chẩn đoán hình ảnh

Chụp X – quang thông thường để phát hiện các tổn thương có xâm lấn vào xương hay xâm lấn sâu. Ngoài ra, người bệnh có thể được chỉ định làm cộng hưởng từ (MRI) hoặc chụp cắt lớp vi tính (CT -scanner) nhằm phát hiện mức độ xâm lấn của khối u vào các cơ lưỡi hoặc các vị trí khó khám bằng lâm sàng.

Khám toàn thân

Nhằm phát hiện di căn các ung thư với các loại bệnh khác, tiên lượng điều trị cho bệnh nhân.

Theo Viện K Hà Nội

Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Vảy Họng Miệng / 2023

Ước tính có hơn 13.000 người bị ung thư tế bào vảy họng miệng mỗi năm. Thuốc lá và rượu là những yếu tố nguy cơ chính. Vai trò của nhiễm virút gây u nhú ở người (papillomavirus: HPV) là một yếu tố nguy cơ đang ngày càng gia tăng. Các triệu chứng bao gồm đau họng và / hoặc khó nuốt. Điều trị bằng xạ trị, hóa trị hoặc cả hai, nhưng phẫu thuật cắt bỏ trước thường được sử dụng nhiều hơn. Tỷ lệ sống thêm cao hơn nhiều ở những bệnh nhân HPV dương tính.

Ung thư biểu mô tế bào vảy họng miệng bao gồm ung thư amidan, ung thư gốc và một phần ba sau lưỡi, ung thư khẩu cái mềm và ung thư thành sau và bên của hầu họng. Ung thư biểu mô tế bào vảy chiếm hơn 95% ung thư họng miệng.

Ở Mỹ vào năm 2015, có khoảng 13.000 trường hợp mới mắc ung thư họng miệng. Mặc dù tỷ lệ mắc ung thư họng miệng có xu hướng tăng lên, nhưng tỷ lệ chữa khỏi cũng được tăng lên.

Các triệu chứng ung thư họng miệng có thể khác nhau tùy thuộc vào vị trí nhưng thường là các bệnh nhân có đau cổ họng, khó nuốt, nuốt đau, thất ngôn và đau tai. Khối ở cổ, thường là nang, là triệu chứng thường gặp của bệnh nhân bị ung thư họng miệng. Do các triệu chứng của ung thư họng miệng không đặc hiệu, nên bệnh nhân thường đến khám bác sĩ chuyên khoa muộn sau nhiều tháng.

Tất cả các bệnh nhân phải được làm nội soi thanh quản trực tiếp và sinh thiết trước khi bắt đầu điều trị để đánh giá tổn thương ban đầu và tìm các tổn thương thứ phát. Bệnh nhân chẩn đoán ung thư thường chụp CT cổ có tiêm thuốc cản quang và hầu hết các bác sĩ lâm sàng thường cho chụp PET vùng cổ và ngực.

Phẫu thuật, điều trị bằng laser vi phẫu qua đường miệng ngày càng phổ biến.

Xạ trị, có hoặc không có hoá trị liệu

Phẫu thuật đang ngày càng được sử dụng như là phương pháp điều trị chính của ung thư họng miệng. Vi phẫu thuật bằng tia laser qua đường miệng (TLM) ngày càng được sử dụng phổ biến để cắt bỏ khối u của amidan và ung thư thư đáy lưỡi, giúp tránh được các tàn tật của phẫu thuật mở. Phẫu thuật bằng robot qua đường miệng (TORS) là một phương pháp ngày càng phổ biến trong điều trị các tổn thương họng miệng. Trong TORS, một robot phẫu thuật có nhiều cánh tay thích hợp, được điều khiển bởi bác sĩ phẫu thuật tại bàn điều khiển. Các cánh tay của robot và một camera nội soi được đưa vào khoang miệng của bệnh nhân (được mở bằng một cái banh giữ). Phẫu thuật robot cho phép quan sát tốt hơn các cấu trúc và gây ra ít biến chứng so với phẫu thuật mở. Tuy nhiên, các chỉ định sử dụng TORS chưa được xác định rõ ràng. Khi TORS được sử dụng trên những bệnh nhân có khối u giai đoạn tiến triển hơn, xạ trị sau phẫu thuật hoặc hóa trị thường được thực hiện.

Xạ trị, đôi khi kết hợp với hóa trị (chemoradiation), có thể được sử dụng làm trị liệu ban đầu hoặc sau phẫu thuật. Theo truyền thống, xạ trị đã được sử dụng cho ung thư giai đoạn sớm và hóa trị liệu được sử dụng cho ung thư gia đoạn tiến triển. Xạ trị điều biến liều (IMRT) ngày càng được sử dụng phổ biến như là một cách để bảo vệ các mô lành xung quanh và giảm các tác dụng phụ lâu dài.

Vì họng miệng giàu tổ chức lympho, do đó di cẳn hạch lympho ở cổ diễn ra phổ biến và cần phải xem xét kỹ lưỡng với tất cả các bệnh nhân mắc ung thư họng miệng. Nếu hạch bạch huyết vùng cổ không giải quyết được sau khi xạ trị hoặc hoá trị liệu, thì việc phẫu thuật sau điều trị vùng cổ được cho phép.

Tìm Hiểu Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Vùng Miệng Mới Nhất / 2023

Ung thư biểu mô tế bào vùng miệng (ung thư vùng miệng) thường xảy ra ở những người trên 40 tuổi và xuất hiện nhiều ở nam giới hơn nữ giới, đồng thời đây cũng là một trong 10 loại ung thư phổ biến nhất.

Các yếu tố nguy cơ dẫn đến ung thư biểu mô tế bào vùng miệng

– Hút thuốc và uống rượu: Những người vừa hút thuốc lá vừa uống nhiều rượu có nguy cơ mắc ung thư biểu mô tế bào vùng miệng cao hơn những người chỉ hút thuốc hoặc uống rượu.

– Vệ sinh răng miệng kém: Nếu không giữ thói quen vệ sinh khoang miệng rất có thể bị ung thư vùng miệng.

– Hút thuốc lá: Hút thuốc lá là yếu tố đầu tiên dẫn đến ung thư biểu mô tế bào vùng miệng, theo thống kê, 75% trường hợp được chẩn đoán bị ung thư miệng là những người sử dụng thuốc lá. Càng hút thuốc nhiều, nguy cơ ung thư biểu mô tế bào vùng miệng càng cao.

Dấu hiệu và triệu chứng ung thư vùng miệng

Hầu hết ung thư biểu mô tế bào vùng miệng đều phát hiện ở giai đoạn muộn. Giai đoạn đầu của ung thư biểu mô tế bào vùng miệng thường không đau, có thể không được chú ý và điều này dẫn đến tỷ lệ tử vong cao hơn so với các bệnh ung thư khác. Do đó, việc sớm xác định các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh ung thư miệng là rất quan trọng:

– Một mảng trắng và/hoặc mảng đỏ xuất hiện ở nướu răng, ở lưỡi hoặc niêm mạc miệng.

– Một vết loét nhỏ đau hoặc cứng trông giống như một vết loét niêm mạc phổ biến mà không chữa lành.

– Một khối u có thể cảm nhận được ở môi hoặc trong miệng hoặc cổ họng.

– Có sự chảy máu bất thường, đau hoặc bị tê cứng vùng miệng.

– Đau hoặc khó khăn khi nhai, nuốt.

– Cổ họng bị đau thường xuyên hoặc có cảm giác vướng víu trong cổ họng.

– Các răng giả bám không khít hoặc trở nên khó chịu do bị sưng hàm.

– Có sự thay đổi giọng nói hoặc khàn tiếng kéo dài lâu ngày.

– Đau trong tai.

Các vị trí hay mắc phải ung thư biểu mô tế bào vùng miệng là môi dưới, lưỡi và sàn miệng, tuy nhiên không có nghĩa là ung thư biểu mô không xuất hiện ở các vùng khác. 30-80% bệnh nhân bị ung thư miệng có tổn thương thứ cấp trong các hạch bạch huyết ở cổ (di căn). Ở giai đoạn muộn, tế bào ung thư có thể lan đến các hạch bạch huyết khu vực, phổi, gan và xương.

Cũng như các bệnh ung thư khác, việc chẩn đoán và điều trị ung thư biểu mô tế bào vùng miệng trong giai đoạn đầu sẽ giúp cho việc điều trị trở nên đơn giản và hiệu quả hơn rất nhiều. Ung thư biểu mô tế bào gai vùng miệng thường được điều trị bằng phẫu thuật và (hoặc) xạ trị.

Phẫu thuật nhằm loại bỏ khối u nguyên phát và cắt rộng ra các mô bình thường xung quanh để chắc chắn loại bỏ hoàn toàn mô ung thư biểu mô cũng là phương pháp quen thuộc trong việc điều trị ung thư. Nếu bệnh nhân được phẫu thuật trong giai đoạn đầu của ung thư sẽ thuận lợi hơn. Ở các giai đoạn sau, có thể cần tạo hình cho các bộ phận của miệng hoặc khuôn mặt.

Hóa trị cũng có thể được sử dụng để điều trị các bệnh ung thư biểu mô tế bào vùng miệng, ở những người bệnh được xác định có di căn đến mô và cơ quan khác. Một số biến chứng có thể xảy ra sau xạ trị hoặc hóa trị ung thư như viêm loét niêm mạc miệng, đau, chảy máu, nhiễm trùng, khô miệng và sâu răng.

Theo Tuổi trẻ online