Top 10 # Xem Nhiều Nhất Ung Thư Biểu Mô Xương Hàm Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Ung Thư Biểu Mô Là Gì? Các Loại Ung Thư Biểu Mô

Ung thư biểu mô là gì? Ung thư biểu mô là tên gọi chung của các bệnh ung thư bắt đầu trong các tế bào biểu mô. Những tế bào này tạo thành mô lót các bề mặt bên trong và bên ngoài cơ thể bạn.

Điều này có nghĩa là, ung thư có thể xảy ra ở bề mặt ngoài da, các cơ quan nội tạng, bên trong các cơ quan rỗng, đường tiêu hóa và ngay cả trong mạch máu. Ung thư biểu mô là loại ung thư phổ biến, được phân loại thành nhiều loại khác nhau dựa trên tế bào mà chúng bắt đầu.

– K biểu mô tế bào đáy: Loại ung thư này phát triển trong các tế bào ở lớp sâu nhất của biểu mô, được gọi là tế bào cơ bản.

– K biểu mô tế bào vảy: Loại ung thư này phát triển trong các tế bào ở lớp trên cùng của biểu mô gọi là tế bào vảy.

– K biểu mô tế bào chuyển tiếp: Loại ung thư này phát triển trong các tế bào co giãn trong biểu mô đường tiết niệu.

– K tế bào thận: Ung thư phát triển trong các tế bào biểu mô của hệ thống lọc của thận.

– K biểu mô tuyến: Bắt đầu trong các tế bào biểu mô chuyên biệt, được gọi là tế bào tuyến.

– Sarcoma (Ung thư mô liên kết): Ung thư này khác với K biểu mô vì chúng bắt đầu trong các tế bào trong gân, xương, sụn, và mô liên kết. Sarcoma xảy ra ít xảy ra hơn so với ung thư biểu mô

Các Loại Ung Thư Biểu Mô Phổ Biến Nhất

Nhiều loại ung thư biểu mô khác nhau có thể phát triển trong cùng một cơ quan. Do đó thay vì phân loại ung thư theo cơ quan nội tạng, người ta phân loại theo nhóm:

Ung thư biểu mô tế bào đáy

Ung thư chỉ xảy ra trong da. Theo Hiệp hội Ung thư lâm sàng Hoa Kỳ, khoảng 80% tất cả các bệnh ung thư da phát triển khối u ác tính là ung thư biểu mô tế bào đáy. Loại ung thư này rất chậm phát triển và hầu như không lây lan.

Ung thư biểu mô tế bào vảy (SCC)

Thông thường, ung thư biểu mô tế bào vảy đề cập đến ung thư da nhiều hơn, nhưng nó cũng thường ảnh hưởng đến các bộ phận khác như:

– Da: Ung thư thường phát triển chậm và không lan rộng. Tuy nhiên, sự xâm lấn và di căn cục bộ xảy ra thường xuyên hơn so với ung thư biểu mô tế bào đáy.

– Phổi: Ung thư tế bào vảy đại diện khoảng 25% tất cả các bệnh ung thư phổi.

– Thực quản. Hầu hết các bệnh ung thư ở thực quản trên biểu mô tế bào vảy.

– Đầu và cổ. Hơn 90% bệnh ung thư ở miệng, mũi và cổ họng là ung thư tế bào vảy SCC.

K biểu mô tế bào thận

Đây là ung thư chiếm khoảng 90% tất cả các khối u thận

K biểu mô tế bào chuyển tiếp

Các tế bào chuyển tiếp được tìm thấy ở khung chậu thận và ống dẫn nước từ thận gọi là niệu quản. Ung thư tế bào chuyển tiếp chiếm khoảng 10% tất cả các ung thư thận.

K biểu mô tuyến

Khi ung thư phát triển, các tế bào biểu mô tiết ra một chất nhầy được gọi là tế bào tuyến. Những tế bào này nằm trong lớp lót của hầu hết các cơ quan.

Các loại ung thư biểu mô tuyến phổ biến nhất là: ung thư vú, địa trực tràng, phổi, tuyến tụy và tuyến tiền liệt.

Phân loại ung thư biểu mô

Khi bất kỳ loại ung thư nào được chẩn đoán, tùy vào mức độ lan truyền mà chúng thường được phân thành một trong ba loại:

– K biểu mô tại chỗ: Ung thư đã lan ra bên ngoài các tế bào biểu mô mà nó bắt đầu.

– K biểu mô xâm lấn: Ung thư đã lan rộng sang các mô lân cận.

– K biểu mô di căn: Ung thư đã lan đến các phần xa của biểu mô.

Các chẩn đoán vật lý được thực hiện để xác định các triệu chứng của bạn có phải là ung thư hay không, hoặc để tìm kiếm các dấu hiệu của ung thư. Các bác sĩ sẽ dựa trên các đặc điểm khác nhau như kích thước, màu sắc, hình dạng, kết cấu, tỉ lệ tăng trưởng… để xác định liệu đó có phải là ung thư biểu mô tế bào đáy hay vảy.

Ung thư biểu mô bên trong cơ thể bạn được đánh giá bằng các xét nghiệm hình ảnh cho thấy vị trí và kích thước của tế bào ung thư. Chúng cũng có thể hiển thị nếu đã lan rộng cục bộ hoặc trong cơ thể bạn. Những xét nghiệm này bao gồm: Chụp X-quang, Quét CT, Quét MRI.

Khi đã chẩn đoán ung thư qua hình ảnh, sinh thiết. Một phần hoặc toàn bộ tế bào tổn thương được phẫu thuật cắt bỏ và nhìn dưới kính hiển vi để xác định xem đó có phải là ung thư hay không và ung thư thuộc loại nào.

Ung Thư Biểu Mô Được Điều Trị Như Thế Nào?

Tất cả các loại ung thư được điều trị bằng sự kết hợp của phẫu thuật, xạ trị, hóa trị tùy thuộc vào vị trí, mức độ tiến triển, lây lan của ung thư.

Phẫu thuật: Được sử dụng để loại bỏ tất cả các tế bào ung thư.

Xạ trị: Được sử dụng để điều trị một khu vực cụ thể với sự lây lan ung thư cục bộ.

Hóa trị: Được sử dụng để điều trị ung thư có thể đã lan xa.

Có Thể Chữa Khỏi Ung Thư Tế Bào Biểu Mô Hay Không?

Ung thư tế bào biểu mô hoàn toàn có thể chữa khỏi hay không phụ thuộc vào các yếu tố: bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn sớm hay muộn? tế bào ung thư tế bào biểu mô lan truyền tại chỗ hay đã lây lan đến các cơ quan khác?…

Biết được ung thư biểu mô là gì, cũng như cách nhận biết giúp bạn có nền tảng kiến thức chăm sóc sức khỏe cùa bản thân cũng như cho những người thân bên cạnh. Ung thư biểu mô được phát hiện sớm trước khi lan rộng có thể được chữa khỏi và cho kết quả khả quan. Bệnh càng để lâu hoặc ung thư tế bào biểu mô càng lan rộng thì việc điều trị càng trở nên khó khăn và kết quả điều trị không được hiệu quả. Hiện nay, khoa học ngày càng phát triển, chúng ta có thể phòng ngừa được các loại bệnh ung thư bằng chế độ ăn uống khoa học, lối sống lành mạnh và bổ sung thực phẩm bảo vệ sức khỏe ngăn ngừa ung thư.

Sức khỏe của bạn là những gì bạn ăn, hạnh phúc nằm trong tầm tay bạn. Vì vậy, hãy bảo vệ sức khỏe một cách tốt nhất, ngay hôm nay.

Ung Thư Vú Biểu Mô

Dựa vào đặc tính của các tế bào ác tính mà bệnh ung thư vú biểu mô được chia làm 2 loại: Ung thư vú biểu mô không xâm lấn và ung thư vú biểu mô xâm lấn.

1. Ung thư vú biểu mô không xâm lấn

Một trong các dạng bệnh phổ biến nhất của ung thư vú biểu mô không xâm lấn là ung thư vú biểu mô ống dẫn tại chỗ – ống mang sữa mẹ từ các tiểu thùy đến núm vú, hay còn gọi là DCIS (Dutal carcinoma in situ). Ở dạng bệnh này, các tế bào ung thư vú bắt đầu xuất hiện và phát triển ở một trong các ống dẫn sữa của vú và chưa lan tỏa ra khỏi ống dẫn sữa hay bất kỳ mô bình thường nào xung quanh tuyến vú.

Theo ước tính của Hiệp hội ung thư Mỹ thì ở nước này cứ mỗi năm có khoảng 60.000 trường hợp DCIS được chuẩn đoán, chiếm 1/5 số lượng bệnh nhân ung thư vú mới.

Các bác sĩ thường phân loại Ung thư vú biểu mô ống dẫn tại chỗ thành các lớp khác nhau để từ đó xác định được phương pháp điều trị thích hợp: Lớp cao cấp (các tế bào ung thư tăng trưởng nhanh hơn), lớp cấp thấp (các thế bào ung thư tăng trưởng chậm hơn) và lớp trung gian ở giữa. Trong đó, lớp cao cấp được cảnh báo là có nhiều khả năng lây lan sang các mô vú xung quanh và nhiều khả năng bệnh sẽ tái phát sau khi điều trị.

Phương pháp điều trị ung thư vú biểu mô không xâm lấn

Thông thường, các bác sĩ sẽ lựa chọn phẫu thuật làm phương pháp chính cho bệnh nhân DCIS để cắt bỏ khối u. Ở phương pháp này, bệnh nhân có thể lựa chọn việc cắt bỏ toàn bộ vú và tái tạo vú bằng bằng giải phẫu thẩm mỹ hoặc chỉ cắt bỏ một phần tuyến vú và thực hiện xạ trị nếu phát hiện các tế bào còn lại của mô vú trông bất thường – lớp cao cấp. Trường hợp các tế bào của DCIS có thụ thể estrogen, bác sĩ sẽ đề nghị điều trị bằng liệu pháp hoocmon để giảm nguy cơ bệnh sẽ phát triển sang hình thức xâm lấn trong tương lai.

Đa số bệnh nhân ung thư vú được phát hiện trong giai đoạn này có thể chữa khỏi. Tuy nhiên, khi bị DCIS nghĩa là sẽ có ung cơ ung thư vú tái phát hoặc phát triển thành một dạng bệnh ung thư vú mới cao hơn so với người chưa từng bị ung thư vú.

Việc phẫu thuật một phần tuyến vú thường ít đau, ít tác dụng phụ và phục hồi nhanh hơn vì chỉ có khối u và các mô rất nhỏ bình thường xung quanh, cũng như hạch bạch huyết cần lấy ra để làm xét nghiệm. Nhưng trường hợp phẫu thuật một phần vú và không xạ trị thì nguy cơ tái phát sẽ lên đến 25-30%, còn nếu dùng xạ trị thì nguy cơ giảm xuống còn 15%. Nếu bệnh DCIS quay trở lại sau khi điều trị thì nửa thời gian đầu sẽ ở dạng không xâm lấn, nhưng có thể nửa thời gian sau sẽ phát triển thành dạng xâm lấn. Do đó, sau khi điều trị, bệnh nhân cần thường xuyên kiểm tra và theo dõi để phát hiện kịp thời các dấu hiệu DCIS tái phát. Cách tốt nhất là chụp X-quang tuyến vú định kỳ hàng năm.

2. Ung thư vú biểu mô xâm lấn

Ung thư vú biểu mô xâm lấn là dạng bệnh mà các tế bào ung thư xuất hiện và phát triển trong niêm mạc ống dẫn sữa, phá vỡ các thành của các ống dẫn và xâm lấn các mô khác trong khu vực vú. Từ đó, các tế bào ác tính có thể di căn tràn lan sang các bộ phận khác của cơ thể như xương, phổi, não, gan….Dạng bệnh này chiếm khoảng 80% trong bệnh ung thư vú.

Ung thư vú xâm lấn được chia thành các dạng như: ung thư vú biểu mô ống xâm nhập, ung thư vú biểu mô tiểu thùy xâm nhập, ung thư vú biểu mô thể tủy, ung thư vú biểu mô thể nhầy.

Đặc điểm cụ thể của các dạng ung thư vú xâm lấn được tổng quát như sau:

Là dạng bệnh thường gặp ở ung thư vú xâm lấn, chiếm 65-80% và nó có thể bao gồm cả những loại mô khác như tiểu thùy, thể tủy, thể nhầy. Khối u ở ung thư vú biểu mô xâm lấn là dạng u đặc, có thể có màu vàng và được chia làm 3 độ: độ 1 – cá biệt hóa cao, độ 2 – biệt hóa vừa và độ 3 -kém biệt hóa. Càng biệt hóa cao thì thì mức độ hình thành các ống nhỏ càng nhiều, mức độ đa dạng của nhân ít và hoạt động nhân chia ít.

Dạng ung thư này hầu hết đều có di căn hạch nách. Ngoài ra, có thể xâm nhập huyết quản và bạch mạch – muốn xác định việc bị xâm nhập hay không thì phải nhuộm HMMD với CD31 và CD34, yếu tố VII, laminin. Ngoài ra, Có 25% hiện tượng tắc mạch do u xảy ra đối với các trường hợp ung thư biểu mô ống xâm nhập, 10% xâm nhập vỏ dây thần kinh.

Là dạng bệnh phổ biến thứ 2 của ung thư vú xâm lấn, với tỉ lệ 10-14%. U ở dạng bệnh này thường rất cứng có màu nhạt và bao gồm các tế bào đồng đều nhau tương tự như tế bào trong ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ và hầu hết có tỷ lệ nhân chia thấp. Hình ảnh khi siêu âm cho thấy dạng bệnh này giống bệnh tuyến vú xơ, các tế bào phát triển bao quanh các tiểu thùy hoặc ống tạo thành hình bia và thường sắp xếp theo kiểu một hàng nhưng khó phát hiện được là u lành tính hay ác tính.

Đây là loại ung thư biệt hóa cao, các tế bào có kích thước đồng đều, sắp xếp thành những ống nhỏ được lót bởi một hàng tế bào. Các ống tế bào được bọc bởi mô liên kết xơ đặc. Thường dạng bệnh này có độ lành tính cao. Hình ảnh siêu âm thường trông như bệnh tuyến vú xơ cứng. Dạng bệnh này thường xâm nhập trong các mô mỡ.

Là dạng bệnh chiếm khoảng 5-7% trong tất cả biểu mô ung thư vú, các tế bào kém biệt hóa với mô đệm ít. Khối u thường có màu xám, đôi khi đệm cả màu vàng do hoại tử và các khối u thường có ranh giới rõ ràng, các dải tế bào u hình thành thành dải hoặc đám và không thấy xuất hiện trong mô mỡ. Thường sự phát triển và lan rộng của các tế bào ung thư tại chỗ trong ống và các tiểu thùy sẽ dẫn đến sự hình thành các cục ụ thứ phát tương tự những cục u ở ung thư biểu mô thể tủy.

Loại ung thư này chỉ chiểm tỉ lệ nhỏ khoảng 2-3.6% các trường hợp ung thư biểu mô vú với 50% diện tích u phát triển thành chất nhầy. Đây là loại biến thể của ung thư biểu mô ống xâm nhập với mật độ u phụ thuộc vào khối lượng mô đệm, mô đệm thưa thì khối u mềm. Hầu hết các khối u biểu mô nhầy đều có màu tía đến đỏ. Cần phân biệt mô thể nhầy với các u dạng nhầy lành tính – là các nang được lót bởi các tế bào mô vuông hoặc trụ lành tính với rất nhiều chất nhầy bên ngoài.

Đây là một dạng biến thể đặc biệt của ung thư biểu mô ống với độ ác tính thấp. Kích thước u có thể lớn hoặc nhỏ, mật độ u chắc và có ranh giới rõ ràng. Ở một vài trường hợp u có hình sao và thường không có hiện tượng hoại tử.

Phương pháp điều trị ung thư vú biểu mô xâm lấn

Tùy thuộc vào kích thước khối u và độ lây lan của ung thư vú biểu mô xâm lấn mà các bác sĩ sẽ lựa chọn các cách khác nhau như điều trị tại chỗ, mục tiêu là tiêu diệt khối u và các khu vực xung quanh hoặc điều trị hệ thống, mục tiêu là tiêu diệt các tế bào ung thư đã lan rộng sang các bộ phận khác.

Về điều trị tại chỗ

Thường bao gồm 2 phương pháp sau:

Phẫu thuật: Được coi là phương pháp hiệu quả nhất trong điều trị ung thư vú xâm lấn, giúp loại bỏ hoàn toàn khối u bằng cách cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ vú.Xạ trị: Phương pháp bức xạ trị liệu được dùng để tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại sau khi phẫu thuật, có thể là bức xạ chùm tia bên ngoài, chiếu xạ một phần vú bên trong hoặc chiếu xạ một phần vú bên ngoài.

Về điều trị toàn thân:

Cũng gồm hai phương pháp điều trị.

Hóa trị: Phương pháp này thường chỉ dành cho những bệnh nhân có khối u lớn hoặc có nguy cơ tái phát cao. Các loại thuốc hóa trị sẽ được sử dụng để giúp loại bỏ các tế bào ung thư còn sót lại sau khi phẫu thuật và xạ trị.

Liệu pháp hoocmon: Còn gọi là liệu pháp nội tiết – các bệnh nhân sẽ được kê dơn thuốc kháng estrogen để ngăn chặn các thụ thể hoocmon của tế bào ống động mạch xâm lấn nhận estrogen và phân chia. Các loại hoocmon này sẽ làm giảm lượng estrogen trong cơ thể, từ đó ngăn ngừa các tế bào ung thư phát triển.

So sánh hai dạng bệnh phổ biến nhất của ung thư vú xâm lấn là ung thư vú biểu mô xâm lấn (IDC) và ung thư vú tiểu thùy xâm lấn (ILC) thì tuy tỉ lệ sống sót là tương tự nhau nhưng nghiên cứu cho thấy bệnh nhân ILC có triển vọng tốt hơn. Cụ thể, một nghiên cứu đã được công bố năm 1997 trên tạp chí British Journal of Cancer cho thấy ILC ít lây lan hơn, tỷ lệ sống thêm 5 năm của bệnh nhân kể từ khi điều trị là 78% và trên 30 năm là 50%, trong khi đó ở bệnh nhân IDC là 63% và 37%.

Ung Thư Biểu Mô Vòm Họng

Ung thư biểu mô vòm họng là ung thư xảy ra ở vòm mũi họng, nó nằm ở sau mũi và ở trên phần sau của họng. Vòm họng là phần trên của họng, một hình ống trải rộng từ phía sau mũi tới đỉnh của khí quản và thực quản trong vùng cổ.

Nam bị bệnh nhiều hơn nữ. Ung thư biểu mô vòm họng thường được chẩn đoán phổ biến ở những người từ 30 đến 60 tuổi, tuy nhiên, ung thư biểu mô vòm họng cũng có thể xảy ra ở những người lớn già hơn và ở trẻ em.

Ung thư biểu mô vòm họng có thể gây nên những dấu hiệu và triệu chứng giống với nhiều bệnh. Do vị trí không lộ rõ, ung thư biểu mô vòm họng thường chỉ được chẩn đoán khi bệnh đã lan tràn. Đáng tiếc vì ung thư biểu mô vòm họng thường được chẩn đoán muộn, nó cũng trở thành khó điều trị.

Các dấu hiệu và triệu chứng

Các dấu hiệu và triệu chứng của ung thư biểu mô vòm họng có thể bao gồm:

– Một khối ở cổ gây nên do sưng hạch

– Chảy máu từ mũi

– Xung huyết mũi ở một phía của mũi

– Không nghe được ở một tai

– Thường bị nhiễm khuẩn tai

– Đau đầu

– Nhìn đôi

– Cảm thấy đầy ở trong họng và các vùng xoang

Nguyên nhân

Tất cả các ung thư bắt đầu với một hoặc nhiều hơn những đột biến di truyền làm cho các tế bào phát triển ngoài sự kiểm soát, xâm nhập vào các cấu trúc xung quanh và thường lan tràn (di căn) tới các phần khác của cơ thể. Những ung thư biểu mô vòm họng bắt đầu trong các tế bào vảy phủ bề mặt vòm họng.

Trong nhiều trường hợp không rõ là nguyên nhân gì gây nên những đột biến gen dẫn đến ung thư biểu mô vòm họng, mặc dù những yếu tố nguy cơ làm tăng nguy cơ với ung thư này đã được xác định. Tuy nhiên, cũng không rõ tại sao một số người có tất cả các yếu tố nguy cơ không bao giờ bị ung thư trong khi những người khác không có yếu tố nguy cơ rõ rệt lại bị ung thư.

Những yếu tố nguy cơ

Ở những vùng ung thư biểu mô vòm họng phổ biến nhất

– Thịt bảo quản: Thịt bảo quản chứa các mức cao của nitrat, nó có thể làm tăng nguy cơ ung thư biểu mô vòm họng.

– Lịch sử gia đình: Có một thành viên trong gia đình bị ung thư biểu mô vòm họng làm tăng nguy cơ bị bệnh của bạn.

Khi nào cần đi khám bệnh

Những dấu hiệu và triệu chứng sớm của ung thư biểu mô vòm họng thường không làm cho bạn quan tâm để đi khám bệnh. Tuy nhiên, nếu bạn nhận thấy những thay đổi bất thường và dai dẳng trong cơ thể bạn, chẳng hạn xung huyết ở mũi bất thường gây khó chịu cho bạn, hãy đi khám chuyên khoa tai mũi họng.

Những biến chứng

Ung thư biểu mô vòm họng thường lan tràn (di căn) ra ngoài vòm họng. Hầu hết các bệnh nhân ung thư biểu mô vòm họng có di căn tại vùng, điều đó có nghĩa là các tế bào ung thư từ khối u ban đầu đã di căn đến các vùng ở gần, chẳng hạn như các hạch bạch huyết ở cổ. Các tế bào ung thư lan tràn ra ngoài vùng đầu và cổ (di căn xa) phổ biến nhất tới xương và tuỷ xương, phổi và gan.

Ung thư biểu mô vòm họng cũng có thể gây nên “các hội chứng cận u”. Trong những trường hợp bệnh hiếm gặp này, hệ thống miễn dịch của cơ thể bạn phản ứng với sự có mặt của các tế bào bình thường bằng cách tấn công những tế bào bình thường. Những hội chứng cận u có thể gây nên các mức cao của một số tế bào bạch cầu trong máu, sốt, những biểu hiện thần kinh hoặc khớp. Khi ung thư được điều trị, các bác sĩ có thể kê đơn thuốc để kiểm soát hệ thống miễn dịch của bạn.

Điều trị

Kế hoạch điều trị ung thư biểu mô vòm họng dựa trên nhiều yếu tố, chẳng hạn như giai đoạn của ung thư, loại tế bào, các mục đích điều trị và các tác dụng phụ mà bạn có khả năng chịu đựng.

Điều trị ung thư biểu mô vòm họng thường bắt đầu bằng xạ trị. Trong khi phẫu thuật là chỗ dựa chính cho nhiều loại ung thư, việc điều trị ung thư biểu mô vòm họng bằng phẫu thuật cần hết sức thận trọng.

Ung thư biểu mô vòm họng rất nhạy cảm với xạ trị, làm cho xạ trị trở thành biện pháp điều trị hàng đầu. Phẫu thuật và điều trị hoá chất được sử dụng trong một số trường hợp.

Xạ trị

Xạ trị điều trị ung thư với chùm tia năng lượng cao. Xạ trị phá huỷ nhanh chóng các tế bào đang phát triển, bao gồm các tế bào ung thư ở vùng nơi chùm tia tập trung vào. Trong quá trình điều trị, bạn được nằm trên một cái bàn và một máy lớn được điều khiển xung quanh bạn để định vị chính xác điểm xạ trị có thể đến trúng đích ung thư.

Bạn sẽ được xạ trị năm ngày một tuần trong sáu đến bảy tuần. Bạn cũng được xạ trị vào vùng cổ ngay cả khi không có bằng chứng ung thư của bạn đã lan tràn ra ngoài vòm họng. Việc xạ trị này làm giảm nguy cơ ung thư của bạn sẽ lan tràn và nguy cơ ung thư tái phát.

Xạ trị có nguy cơ của các tác dụng phụ, bao gồm nghe kém, khô miệng, đau miệng và họng và nguy cơ tăng của ung thư lưỡi và xương. Vòm họng nằm giữa các cơ quan quan trọng như não, tuỷ sống, tuyến giáp, mắt và tai. Đội ngũ bác sĩ xạ trị làm việc để bảo vệ các cơ quan này, nhưng việc này không phải bao giờ cũng làm được.

Xạ trị trong đôi khi được sử dụng trong ung thư biểu mô vòm họng tái phát. Trong phương pháp điều trị này, các hạt hoặc dây phóng xạ được đặt vào trong u hoặc rất gần u.

Điều trị hoá chất

Điều trị hoá chất hay hoá trị là sử dụng các thuốc để điều trị ung thư. Không giống xạ trị, nó tập trung vào một phần của cơ thể của bạn, hoá trị có tác dụng trên toàn cơ thể của bạn. Hoá trị tấn công một cách nhanh chóng các tế bào đang phát triển bao gồm các tế bào ung thư, một số tế bào khoẻ mạnh cũng bị giết bởi hoá trị. Nó có thể gây nên các tác dụng phụ bao gồm mệt mỏi, rụng tóc, buồn nôn và nôn. Hoá trị có thể được sử dụng điều trị ung thư biểu mô vòm mũi họng theo ba đường:

– Hoá trị vào cùng thời gian như xạ trị. Sử dụng hai biện pháp điều trị cùng với nhau có thể làm giảm nhu cầu liều cao của xạ trị. Nó làm giảm các tác dụng phụ với xạ trị. Hoá trị cũng làm giảm nguy cơ cơ thể bạn có thể đề kháng với xạ trị. Tuy nhiên, các tác dụng phụ của hoá trị cũng thêm vào với các tác dụng phụ của xạ trị làm cho việc điều trị đồng thời khó chịu đựng.

– Hoá trị sau xạ trị (hoá trị bổ trợ). Bác sĩ có thể yêu cầu hoá trị bổ trợ sau xạ trị đơn thuần hoặc sau hoá- xạ trị đồng thời. Hoá trị bổ trợ nhằm tấn công bất kỳ tế bào ung thư nào còn sót lại trong cơ thể bạn, bao gồm cả các tế bào vừa tách khỏi u nguyên phát và phát tán ở đâu đó trong cơ thể. Có một số ý kiến trái ngược tồn tại là liệu hoá trị bổ trợ có cải thiện thời gian sống sau điều trị không. Nhiều người được áp dụng hoá trị bổ trợ sau hoá- xạ trị đồng thời không chịu đựng được các tác dụng phụ và phải ngừng điều trị.

– Hoá trị trước xạ trị (hoá trị tân bổ trợ). Hoá trị tân bổ trợ hoạt động cùng một phương thức như hoá trị bổ trợ, nhưng thuốc được dùng trước khi xạ trị đơn thuần hoặc trước khi hoá- xạ trị đồng thời. Một số người thấy ít tác dụng phụ hơn nếu họ được điều trị hoá chất trước khi nghỉ điều trị. Tuy nhiên, ít nghiên cứu được thực hiện trên hoá trị bổ trợ, vì vậy nó mới được coi là thử nghiệm.

Loại thuốc gì bạn được sử dụng và liều dùng như thế nào được quyết định bởi bác sĩ. Các tác dụng phụ bạn sẽ phải chịu đựng phụ thuộc vào thuốc gì bạn được dùng.

Phẫu thuật

Phẫu thuật được tiến hành cho ung thư biểu mô vòm họng tái phát. Phẫu thuật để loại bỏ các hạch bạch huyết ung thư ở cổ là phổ biến nhất với ung thư biểu mô vòm họng. Phẫu thuật loại bỏ khối u ở vòm họng đòi hỏi phẫu thuật viên phải thực hiện một đường rạch ở phần trên của miệng (hàm ếch) để đi vào vùng vòm họng.

Phòng ngừa

Không có cách nào chắc chắn để phòng ngừa ung thư biểu mô vòm họng. Tuy nhiên, bạn có thể áp dụng những bước để làm giảm nguy cơ mắc bệnh. Ví dụ, cắt giảm lượng thực phẩm ướp muối hoặc thịt bảo quản bạn ăn hoặc tránh tất cả các loại thức ăn này.

Tuy nhiên, không bao giờ thoát khỏi nguy cơ này, điều đó chứng tỏ rằng những yếu tố nguy cơ chưa biết hoặc không thể kiểm soát được có thể có vai trò trong phát sinh ung thư biểu mô vòm họng.

Ung Thư Biểu Mô Tuyến Vú

Bệnh nhân L.T.U, 72 tuổi, không lập gia đình. Cách đây khoảng gần 5 tháng, bệnh nhân cảm thấy đau tức nhẹ vùng vú trái. Sau khi khi kiểm tra bằng tay, bệnh nhân sờ thấy khối u ở vùng vú trái, ấn đau.

Bệnh nhân L.T.U, 72 tuổi, không lập gia đình. Cách đây khoảng gần 5 tháng, bệnh nhân cảm thấy đau tức nhẹ vùng vú trái. Sau khi khi kiểm tra bằng tay, bệnh nhân sờ thấy khối u ở vùng vú trái, ấn đau.

Bệnh nhân L.T.U đã tới khám tại Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC, kết quả cho thấy:

* Khám vú, bác sỹ Dương Ngọc Vân kết luận:

+ Vú phải : bình thường, không thấy u.

+ Vú trái: có khối u ở ¼ trên ngoài vú trái, kích thước khoảng 2.5cm, mật độ chắc, không di động, ấn đau, không chảy dịch núm vú, không có biến dạng co kéo núm vú.

+ Chưa phát hiện hạch nách, hạch thượng đòn.

+ Tiền sử gia đình: Mẹ ruột và em gái không mắc bệnh tương tự.

v Siêu âm tuyến vú: Theo dõi ung thư vú (T).

v Kết quả xét nghiệm tế bào học tuyến vú (T) do chuyên gia giải phẫu bệnh PGS TS Tạ Văn Tờ kết luận: Ung thư biểu mô tuyến vú.

Hình ảnh: Đám tế bào ung thư trên tiêu bản tế bào học tuyến vú của bênh nhân L.T.U

Bệnh nhân L.T.U đã được: phẫu thuật cắt bỏ vú trái; nạo vét hạch lympho vùng nách; làm xét nghiệm mô học trên mẫu tuyến vú được phẫu thuật. Sau khi có kết quả mô bệnh học này, bác sĩ sẽ đánh giá chính xác giai đoạn bệnh; mức độ xâm lấn để từ đó chọn phương pháp điều trị thích hợp (hóa trị, xạ trị, liệu pháp toàn thân hay kết hợp các phương pháp trên).

Bệnh nhân L.T.U không phải là trường hợp hiếm mắc ung thư vú hiện nay, theo chúng tôi Hoàng Công Đắc Chuyên khoa Ung bướu Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC thì ung thư vú là 1 trong 5 loại ung thư có tỷ lệ tử vong cao nhất hiện nay.

Ung thư tuyến vú là gi?

Ung thư vú là một bệnh lý ác tính xuất hiện trong các tế bào ở mô của vú. Những tế bào này thường phát sinh từ các ống dẫn hoặc tiểu thùy ở vú, sau đó có thể lây lan trong các mô hoặc cơ quan, các bộ phận khác của cơ thể.

Hiện nay, ung thư vú là một trong những loại ung thư hay gặp và chiếm tỷ lệ tử vong hàng đầu trong số các bệnh ung thư khác của nữ giới ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Các triệu chứng thường gặp:

Triệu chứng thường gặp của ung thư vú là một khối u có thể sờ nắn được bằng tay, có kích thước khoảng từ 1cm trở lên và không đau. Tuy nhiên, cần lưu ý một vài dấu hiệu bất thường khác để phát hiện ung thư vú như:

v Tuyến vú xuất hiện khối u với đặc điểm: kích thước khoảng từ 1cm trở lên, không đau, chắc hoặc cứng, ít di động.

v Tiết dịch núm vú, nhất là khi có lẫn máu hoặc có màu hơi đen;

v Tổn thương dạng chàm khiến núm vú trở nên đỏ, đóng vảy hoặc loét, khuyết;

v Núm vú bị thụt vào trong;

v Xuất hiện vết lõm hoặc nếp nhăn kéo lõm bề mặt của tuyến vú;

v Tổn thương dạng “da cam” của tuyến vú.

Các thăm dò cận lâm sàng:

v Siêu âm tuyến vú

v Chụp mamo tuyến vú

v Chụp CT tuyến vú

v Xét nghiệm: CEA, CA 153, chọc hút kim nhỏ hoặc xét nghiệm mô bệnh học khối u (là tiêu chuẩn vàng)

Các yếu tố nguy cơ hay gặp ở bệnh nhân ung thư vú

v Phụ nữ lớn tuổi;

v Tiền sử gia đình : Phụ nữ có mẹ, chị, em gái hoặc con gái mắc bệnh ung thư vú;

v Chế độ dinh dưỡng không hợp lý dùng nhiều chất béo, rượu, bia;

v Có kinh trước tuổi 12, mãn kinh muộn sau tuổi 55;

v Dùng thuốc tránh thai, dùng estrogen thay thế;

v Có con muộn, không sinh con, không cho con bú.

Tầm soát ung thư vú:

– Tự kiểm tra cơ thể của bản thân: Đều đặn mỗi tháng một lần, vào thời điểm vừa chấm dứt kỳ kinh nguyệt (hoặc một ngày cố định trong tháng đối với phụ nữ đã mãn kinh), tự sờ nắn vú kiểm tra hình dáng, màu sắc, phát hiện những u, cục bất thường của vùng ngực. Khi thấy các dấu hiệu bất thường cần được khám ngay tại các cơ sở y tế có uy tín.

– Kiểm tra sức khỏe định kỳ: Khám lâm sàng tuyến vú, siêu âm…

1, CEA, CA 15-3

2, Hạch đồ tuyến vú

3, Sinh thiết khối u vú làm mô bệnh học

4, Siêu âm, chụp CT