Top 12 # Xem Nhiều Nhất Ung Thư Chết Như Thế Nào / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Thắc Mắc Y Học: Người Bệnh Ung Thư Chết Như Thế Nào? / 2023

Nhẹ nhàng đặt tay lên vai bệnh nhân, bác sĩ động viên rồi tiêm nhẹ một liều thuốc giảm đau. Có lẽ đây là cách duy nhất để giúp họ có được những ngày tháng cuối đời bình yên và thanh thản nhất.

Nhiều người đặt ra câu hỏi người bệnh ung thư chết như thế nào mà đau đớn thế? Nếu bạn quan tâm đến vấn đề này thì đừng bỏ lỡ bài viết sau.

1. Ung thư là loại vũ khí giết người ghê gớm nhất

Ung thư có lẽ là loại vũ khí giết người ghê gớm nhất của nhân loại. Nó ghê gớm hơn hàng loạt thứ vũ khí mà con người đã tạo ra. Cho dù là bom hạt nhân Hiroshima, Nagasaki cũng không hủy diệt con người ghê gớm đến vậy. Mỗi năm nó cướp đi tính mạng của hàng triệu người. Thế nhưng nhân loại vẫn chưa tìm ra cách chữa trị triệt để. Vậy bệnh ung thư là gì mà ghê gớm đến thế?

Như chúng ta đã biết cơ thể chúng ta được tạo ra từ hàng tỉ tế bào. Các tế bào liên tục “thay mới đổi cũ” và chết một cách trật tự. Thế nhưng, tế bào ung thư thì khác hoàn toàn. Chúng không chấp nhận cái chết theo quy luật tự nhiên mà tiếp tục phát triển thành các tế bào bất thường mới. Bạn có thể tưởng tượng ung thư là “tế bào zombie” của cơ thể.

Chúng bắt đầu sinh sôi nảy nở mất kiểm soát. Đồng thời tấn công vào các mô lân cận – Nơi có thể hình thành và phát triển các khối u mới. Ung thư sẽ “di căn” khắp cơ thể thông qua đường máu và bạch huyết. Người bệnh ung thư chết vì các khối u phát triển mạnh. Chúng phá hủy, chèn ép và làm tê liệt các cơ quan khiến cơ thể bệnh nhân đau đớn, suy kiệt.

2. Người bệnh ung thư chết như thế nào?

Người bệnh ung thư chết như thế nào là câu hỏi gây “ám ảnh” nhất. Vì sao vậy? Bởi ung thư không giống như những bệnh khác. Ung thư chết như thế nào ư? Người bệnh sẽ không chết ngay mà chết từ từ. Họ sẽ chịu sự tra tấn về cả thể xác lẫn tâm hồn. Mỗi ngày một chút, cho đến khi thân xác hao mòn, tinh thần bị “hút cạn” chút niềm tin cuối cùng.

🙁 Ung thư tra tấn người ta bằng những cơn đau “sống không bằng chết”

Trên thực tế 30 – 50% bệnh nhân đều phải chịu nhiều hơn một loại đau. Cứ 10 bệnh nhân ở giai đoạn tiến triển thì có 7 – 9 người bị cơn đau tra tấn ở mức độ khác nhau.

Bệnh nhân bị cơn đau hành hạ đến mức phải thốt lên “Có lẽ cái chết không đáng sợ mà đau đớn trong ung thư mới là đáng sợ nhất. Đau nhức lắm! Nhiều khi chỉ ước nhắm mắt lại là về thế giới bên kia cho rồi. Ung thư phá hủy toàn bộ cơ thể, gây suy kiệt sức khỏe, làm con người lâm vào cảnh phá sản. Nó phải phá hết tất cả rồi mới cho người ta chết”.

Bệnh nhân ung thư ăn không được, cố chợp mắt cũng không xong. Hễ chìm vào giấc ngủ được vài phút là cơn mộng mị ung thư lại tìm đến. Căn bệnh ấy dường như không tha con người ta ngay cả trong giấc mơ. Ung thư chết như thế nào bạn đã hình dung được rồi đấy.

Nhiều bệnh nhân không chịu được các cơn đau phải sử dụng đến Morphine để giảm đau. Tuy nhiên, sau khi tiêm vào cơn đau huyên giảm chứ không thể hết. Với bệnh nhân ung thư, Morphine là thứ dường như không thể thiếu để đối phó với ung thư. Nếu được chứng kiến sự đau đớn của bệnh nhân ung thư gây ra bạn mới có thể cảm nhận rõ nó khủng khiếp đến nhường nào.

🙁 Dấu hiệu của bệnh nhân ung thư sắp qua đời

Nội dung trên đã giúp bạn trả lời câu hỏi ung thư chết như thế nào rồi chứ? Nhưng chưa hết đâu, đau trong ung thư thôi chưa đủ! Trước khi về thế giới bên kia ung thư cũng tung ra những “chiêu” cuối cùng để hành hạ người bệnh.

– Ăn uống khó khăn: Bệnh nhân luôn thấy đắng miệng, khô miệng, họ không ăn uống được nhiều. Thậm chí, nhiều người không ăn được gì mặc dù cơ thể rất đói và mệt.

– Khó thở: Bệnh nhân ung thư thường xuyên rơi vào tình trạng khó thở. Triệu chứng này gặp ở hầu hết các loại bệnh ung thư.

– Tâm lý bệnh nhân ung thư thay đổi bất thường: Trước khi chết, bệnh nhân thường thay đổi về tâm lý. Các cơn đau khiến họ thường xuyên cáu kỉnh. Đồng thời, họ dễ vướng vào trầm cảm, không muốn nói chuyện với ai, luôn buồn bã, sợ hãi. Nhiều bệnh nhân còn bị mất ngủ triền miên đến hao mòn cả thể xác.

Điều Trị Ung Thư Như Thế Nào? / 2023

Điều trị ung thư có thể bằng phẫu thuật, phương pháp hóa trị, xạ trị, hay các phương pháp khác tùy thuộc vào vị trí và độ (grade) của khối u và tổng quan của người bệnh. Loại bỏ hoàn toàn khối u mà không làm tổn thương phần còn lại của cơ thể là mục tiêu điều trị. Đôi khi công việc này được thực hiện bằng phẫu thuật, nhưng khả năng xâm lấn ung thư đến các mô lân cận hay lan đến nơi xa ở mức độ vi thể thường hạn chế hiệu quả diều trị. Hiệu quả của hóa trị và xạ trị thì hạn chế bởi độc tính đối và gây tổn hại với các mô lành khác.

Bởi vì ung thư được xem như là tập hợp các bệnh lý, nên dường như chẳng bao giờ có một phác đồ điều trị ung thư đơn lẻ so với khả năng có một phác đồ điều trị duy nhất cho tất cả các bệnh lý nhiễm trùng.

Bên cạnh việc cắt bỏ khối u nguyên phát, phẫu thuật cần thiết cho phân loại giai đoạn, ví dụ như xác định độ lan tràn của bệnh, xem thử đã có di căn đến các hạch bạch huyết vùng hay chưa. Phân loại giai đoạn cho biết tiên lượng và nhu cầu điều trị bổ sung.

Đôi khi, phẫu thuật cần thiết cho kiểm soát triệu chứng, như chèn ép tủy sống hay tắc ruột. Đây được gọi là điều trị tạm thời.

Hóa trị liệu

Điều trị ung thưHóa trị liệu là điều trị ung thư bằng thuốc (“thuốc chống ung thư”) có khả năng tiêu diệt tế bào ung thư. Chúng can thiệp vào phân bào theo các cách khác nhau, ví dụ như sự sao chép DNA hay quá trình phân chia các nhiễm sắc thể mới được tạo thành. Hầu hết các dạng hóa trị đều nhắm vào các tế bào phân chia nhanh chóng và không đặc hiệu cho tế bào ung thư. Vì vậy, hóa trị có khả năng làm tổn thương các mô lành, nó cũng tiêu diệt các tế bào khỏe của cơ thể trong tủy xương và tế bào tiêu hóa trong ruột. Nó cũng làm hư hại các cơ quan khác như lá lách, thận, tim, phổi… đặc biệt là các mô có tần suất thay thế nhanh chóng (ví dụ như niêm mạc ruột). Những tế bào này thường tự sửa chữa sau khi hóa trị.

Vì một số thuốc hoạt động tốt khi phối hợp với nhau hơn là dùng đơn độc, nên hai hay nhiều thuốc thường được kết hợp cùng lúc với nhau. Đó được gọi là “hóa trị phối hợp”; hầu hết các phác đồ hóa trị ở dạng phối hợp. Ví dụ như tác dụng hỗ trợ thuốc ung thư của mật gấu ngựa

Xạ trị liệu

Xạ trị liệu (điều trị bằng tia X hay chiếu xạ) là sử dụng một dạng năng lượng (gọi là phóng xạ ion hoá) để diệt tế bào ung thư và làm teo nhỏ khối u. Xạ trị làm tổn thương hay hủy hoại các tế bào được điều trị (“mô đích”) bằng cách làm tổn thương vật chất di truyền của chúng, khiến chúng không thể phát triển và phân chia. Mặc dù xạ trị làm tổn thương cả tế bào ung thư và tế bào lành, hầu hết các tế bào lành có thể hồi phục và hoạt động bình thường. Mục tiêu của xạ trị là làm tổn thương càng nhiều tế bào ung thư trong khi giới hạn tổn thương đối với mô lành lân cận.

Xạ trị có thể được dùng để điều trị hầu hết các loại u đặc, gồm ung thư não, vú, cổ tử cung, thanh quản, tụy, tiền liệt tuyến, da, cột sống, dạ dày, tử cung hay các sarcoma mô mềm. Xạ trị cũng có thể được dùng trong leukemia và lymphoma (ung thư của tế bào tạo máu và hệ thống bạch huyết). Liều xạ trị cho mỗi vị trí tùy thuộc vào một số yếu tố như loại ung thư và có hay không khả năng mô hay cơ quan xung quanh bị tổn thương bởi xạ trị.

Ức chế nội tiết tố

Sự phát triển của hầu hết các mô, bao gồm ung thư, có thể được gia tăng hay bị ức chế bằng cách cung cấp hay ngăn chặn các loại hormone nào đó. Điều này cho phép một phương pháp bổ sung trong điều trị nhiều loại ung thư. Các ví dụ thông thường của khối u nhạy cảm với hormone là một số loại ung thư vú, tiền liệt tuyến, và tuyến giáp. Việc loại bỏ hay ức chế estrogen (đối với ung thư vú), testosterone (ung thư tiền liệt tuyến), hay TSH (ung thư tuyến giáp) là phương pháp điều trị bổ sung quan trọng.

Kiểm soát triệu chứng Mặc dù kiểm soát triệu chứng không là cách điều trị trực tiếp lên ung thư, nó vẫn được xem là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng sống của bệnh nhân, và giữ vai trò quan trọng trong quyết định áp dụng các điều trị khác trên bệnh nhân. Mặc dù mọi thầy thuốc thực hành đều có thể điều trị kiểm soát đau, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, xuất huyết và các vấn đề thường gặp khác ở bệnh nhân ung thư, chuyên khoa săn sóc tạm thời (palliative care) đã xuất hiện để đáp ứng nhu cầu kiểm soát triệu chứng ở nhóm bệnh nhân này.

Hiện nay để điều trị ung thư hiệu quả hơn, các thử nhiện điều trị mới đang được tiến hành trên các bệnh nhân ung thư. Hi vọng sẽ tìm được phương pháp hiệu quả nhất nhưng ít gây tổn hại đến cơ thể của người bệnh nhất. Nhưng phòng ngừa ung thư là các biện pháp tích cực nhằm đề phòng, ngăn chặn và cũng là yếu tố để giải đáp cho câu hỏi điều trị ung thư như thế nào?

Chữa Ung Thư Gan Như Thế Nào? / 2023

Tôi là nam giới, 52 tuổi, trước đây tôi bị viêm gan siêu vi B. Tháng 4-2009 tôi có đi khám bệnh, siêu âm tổng quát. Các bộ phận khác bình thường nhưng gan phải có 1 khối u echo kém d# 11mm x 9mm, bên trong có nhiều cấu trúc echo kém hơn (khả năng hoại tử trong u).

Cấu trúc phần gan còn lại thô, bờ không đều, góc tù, dày vùng gan quanh túi mật. Gan trái cao 97mm, gan phải cao 165mm. Kết luận: u tăng sinh kích thước/xơ gan, lách to. Bác sĩ nói khối u của tôi là K và đề nghị nhập viện để được chữa trị kịp thời.

Bây giờ tôi nên ăn uống như thế nào? Mật gấu có tác dụng gì trong việc chữa bệnh u gan của tôi không?

Chắc anh cũng nghe viêm gan siêu vi B có thể dẫn tới xơ gan và ung thư gan hoặc cả hai song hành với nhau cùng lúc.

Trên 80% ung thư gan là ung thư tế bào gan nguyên phát, ung thư này xảy ra ở nam gấp đôi nữ và thường gặp ở tuổi trên 50. Ung thư tế bào gan nguyên phát (HCC) bắt đầu xảy ra từ tế bào gan. Người ta chưa biết chính xác nguyên nhân HCC nhưng viêm gan do siêu vi mãn tính, xơ gan là yếu tố nguy cơ. Xơ gan chiếm 80% trường hợp ung thư tế bào gan nguyên phát, còn ung thư gan thứ phát là do tế bào ung thư từ nơi khác di căn đến.

Hút thuốc lá cũng là nguyên nhân dẫn đến ung thư gan.

Anh hỏi “gan trái cao 97mm, gan phải cao 165mm có ý nghĩa gì?”: Gan phải có khối u nghi ngờ là ung thư nên vùng chứa khối u to ra đẩy gan phải cao hơn gan trái. Các nhà chuyên môn nói rằng ung thư là các tế bào quá sản (sinh trưởng nhanh) và dị sản (hình dáng nhân tế bào không bình thường nữa). Gan phải của anh đã to ra khá rõ, tất nhiên trên một người nhiễm siêu vi B thì tiến triển sẽ là tế bào gan bị hoại tử (xét nghiệm thấy men gan tăng cao) rồi tổ chức xơ phát triển chèn ép các tế bào lành. Sự phát triển mất cân bằng ấy gây biến đổi và sinh ra ung thư.

Ung thư thường rất ít triệu chứng. Có thể anh thấy người nóng, chán nản, không muốn ăn, ăn gì cũng mệt và hay mất ngủ. Khi thấy biến động ở da như da có màu hanh vàng như rơm phơi nắng (gọi là vàng rơm) thì đã là giai đoạn muộn.

Hiện chữa ung thư gan chưa di căn có thể dùng các phương pháp:

Diệt tại chỗ: phương pháp điều trị này áp dụng cho các khối u có đường kính dưới 5cm. Hai phương pháp hay được thực hiện nhất là tiêm cồn tuyệt đối và axit acetic qua da vào khối u. Cồn và axit sẽ phá hủy các tế bào ung thư. Nhóm kỹ thuật này thường được tiến hành tại khoa chẩn đoán hình ảnh, sử dụng siêu âm dẫn đường cho kim đi trực tiếp vào khối u. Trong trường hợp khối u tái phát có thể tiếp tục điều trị như vậy nhiều lần.

Diệt bằng tia laser hoặc đốt nhiệt sóng cao tần

Phương pháp điều trị này sử dụng tia laser hoặc máy sinh dòng điện để phá hủy các tế bào ung thư. Một chiếc kim được cắm qua da vào trung tâm khối u (bệnh nhân được gây tê tại chỗ). Ánh sáng tia laser hoặc sóng cao tần được truyền qua kim vào khối u, làm nóng tế bào ung thư và tiêu diệt chúng.

Hóa trị liệu pháp là phương pháp điều trị sử dụng các thuốc chống ung thư để diệt tế bào khối u, được áp dụng cho các trường hợp không còn khả năng phẫu thuật cắt u.

Thuốc chống ung thư thường được tiêm tĩnh mạch hoặc bơm trực tiếp vào động mạch gan nuôi khối u.

Tắc mạch hóa dầu: phương pháp điều trị này sử dụng hỗn hợp hóa chất chống ung thư trộn đều với một chất dầu gọi là lipiodol. Kỹ thuật điều trị thực hiện dưới dạng gây tê tại chỗ, hỗn hợp hóa chất tắc mạch được bơm vào gan bằng ống thông qua động mạch gan (mạch máu chính nuôi u gan). Người ta thấy rằng cho thêm lipiodol vào hóa chất sẽ làm hoá chất được giữ lại trong khối u lâu hơn, làm tăng hiệu quả điều trị. Kỹ thuật điều trị này được thực hiện tại phòng X-quang, cần nằm lưu tại bệnh viện 24-48 giờ và có thể làm lại một số lần.

Còn tác dụng chữa ung thư của mật gấu? Theo đông y, mật gấu vị đắng, tính hàn, vào 3 kinh tâm, can và vị có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, ác thương, chữa đau răng, viêm mắt, hoàng đản, lỵ, hồi hộp, chân tay co quắp, đau dạ dày, giúp tiêu hóa, làm tan sỏi mật, mau hồi phục nếu gãy xương.

Đặc biệt mật gấu ngựa có tác dụng chữa bệnh xơ gan, do có chứa axit ursodeoxycholic (UDC) chiếm 20% trọng lượng của mật. Đây là điểm khác với gấu chó, chúng chỉ có axit chenodeoxychgolic (CDC) mà thôi.

Theo các kết quả nghiên cứu gần đây, mật gấu ngựa còn có tác dụng góp phần điều trị ung thư do nó làm cho các thuốc chữa ung thư đi vào tiêu diệt tế bào ung thư dễ dàng hơn. Như vậy nếu bạn uống mật gấu cùng với các biện pháp của y học hiện đại thì cũng có tác dụng hỗ trợ. Chưa có tài liệu nào cho thấy mật gấu là thuốc chữa ung thư.

Thông thường nếu con gấu ngựa khỏe mạnh, không bệnh tật, sau khi lấy mật có thể pha vào nước sôi, rượu hay mật ong uống trực tiếp rất tốt. Một lít mật ong pha 10ml mật gấu ngựa (lấy 6 tháng một lần mới hiệu quả), mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 10ml.

nếu uống để chống lão hóa, phòng ung thư thì tốt chứ khi đã bị ung thư thì linh chi cũng không thể là thần dược được.

Bác sĩ đề nghị nhập viện thì bạn nên tuân thủ bởi hiện nay những phần gan xơ đã làm nghẹt hệ tuần hoàn gan – lách và làm lách to ra. Tùy tình trạng mà bác sĩ sẽ lựa chọn phương pháp. Ung thư càng để lâu càng có hại.

Hóa Chất (Hóa Trị) Tiêu Diệt Thế Nào Ung Thư Như Thế Nào? / 2023

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Bác sĩ Nông Ngọc Sơn – Bác sĩ hóa trị và điều trị giảm nhẹ – Trung tâm Ung bướu – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park.

Hóa trị là một trong những phương pháp điều trị ung thư phổ biến nhất. Nhưng ít ai biết cách hóa trị hoạt động và tiêu diệt ung thư như thế nào?

1. Hóa trị là gì?

Hóa trị là một trong những phương pháp điều trị ung thư phổ biến nhất, đây là cách điều trị ung thư sử dụng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư. Hóa trị sử dụng một số loại thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư, ngăn chặn chúng phát triển và di căn sang các bộ phận khác trên cơ thể người bệnh.

Hóa trị được sử dụng bằng cách tiêm truyền hoặc thuốc uống. Bệnh nhân ung thư thường được tiêm truyền thuốc thông qua ven (tĩnh mạch) tại phòng khám ngoại trú hoặc trong bệnh viện. Các loại thuốc hóa trị dạng uống thường được phát để bệnh nhân có thể tự uống tại nhà.

Thuốc hóa trị thường được sử dụng trong 1 ngày và nghỉ 2 đến 3 tuần để giữ được sức khỏe và giúp các tế bào lành có thời gian hồi phục. Tuy nhiên, cách sử dụng thuốc phụ thuộc vào loại ung thư bạn mắc phải và mức độ nghiêm trọng của bệnh.

Tại sao cần đến hóa trị đã sau khi mổ cắt bỏ đi khối bướu? Thực tế, ngay cả sau khi phẫu thuật để cắt bỏ một khối u, cơ thể vẫn có thể còn sót lại các tế bào ung thư. Những tế bào này như hạt giống, có thể phát triển khối u mới hoặc di căn đến các bộ phận khác trong cơ thể. Thuốc hóa trị giúp tiêu diệt, thu nhỏ hoặc kiểm soát các tế bào đó.

Trường hợp ung thư đã lan tràn ở giai đoạn muộn, hóa trị giúp giảm nhỏ khối bướu, làm giảm đau, giảm khó thở và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh. Một số trường hợp không thể mổ cắt bỏ được, nhưng sau hóa trị giúp thu nhỏ khối u thì có thể phẫu thuật được thuận lợi.

2. Hóa trị hoạt động như thế nào?

Có nhiều thuốc hóa trị với các tác động khác nhau như:

Tiêu diệt cả tế bào ung thư và tế bào lành

Chỉ kiềm chế các tế bào ung thư

Ngăn cản việc hình thành mạch máu đi tới nuôi khối bướu

Tấn công các gen để các tế bào ung thư tự chết

Hóa trị thường tác động vào các tế bào đang sinh sôi nhanh chóng vì đây là điểm đặc trưng của tế bào ung thư. Không giống như phóng xạ hoặc phẫu thuật chỉ tác động vào một vùng trên cơ thể, hóa trị có thể theo máu đến tác động trên khắp cơ thể. Vì thế nó có thể ảnh hưởng đến một số tế bào khỏe mạnh phát triển nhanh như: tế bào da, tóc, ruột và tủy xương. Do đó gây nên những tác dụng phụ ở da, rụng tóc, tiêu chảy, và giảm tạo máu ở xương.

Tùy thuộc vào loại ung thư và tình trạng của bệnh, mà hóa trị có những tác dụng khác nhau:

Chữa khỏi bệnh: Trong một số trường hợp, việc điều trị có thể tiêu diệt hết các tế bào ung thư. Thường áp dụng trong các loại ung thư máu.

Kiểm soát bệnh ổn định: Trong đa số trường hợp, hóa trị chỉ có thể ngăn ung thư lan sang các bộ phận khác trong cơ thể hoặc làm chậm sự phát triển của khối ung thư.

Trong một số trường hợp giai đoạn muộn, hóa trị chỉ giúp giảm nhẹ triệu chứng đau hoặc chèn ép do ung thư gây ra. Những khối u này thường tiếp tục phát triển trở lại.

Hóa trị đôi thường được sử dụng kết hợp với: phẫu thuật, xạ trị, liệu pháp sinh học. Điều này gọi là phối hợp đa mô thức, giúp tăng cơ hội trị khỏi bệnh và khắc phục các yếu điểm của riêng từng phương pháp. Hóa trị có thể được sử dụng để:

Thu nhỏ khối u trước khi xạ trị hoặc phẫu thuật – được gọi là hóa trị tân hỗ trợ

Tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại sau phẫu thuật hoặc xạ trị – được gọi là hóa trị bổ trợ

Làm cho các liệu pháp khác (sinh học hoặc phóng xạ) hiệu quả hơn

Kiểm soát các tế bào ung thư tái phát hoặc lan sang các bộ phận khác trong cơ thể bạn

Thời gian người bệnh sử dụng hóa trị phụ thuộc vào loại ung thư, tình trạng bệnh và mục tiêu điều trị như: chữa khỏi bệnh, kiểm soát bệnh hoặc chỉ giúp giảm đau.

Có rất nhiều loại thuốc hóa trị được chia thành các nhóm thuốc dựa trên cách thuốc đó tác động. Mỗi nhóm thuốc phá hủy hoặc thu nhỏ tế bào ung thư theo một cách khác nhau.

Một số loại thuốc làm hỏng DNA của các tế bào ung thư để ngăn chúng tạo ra nhiều bản sao. Chúng được gọi là các tác nhân kiềm hóa, đây là loại hóa trị lâu đời nhất. Thuốc hóa trị này điều trị nhiều loại ung thư khác nhau, chẳng hạn như bệnh bạch cầu, ung thư hạch, bệnh Hodgkin, đa u tủy và sarcoma, ung thư vú, phổi và buồng trứng. Một số ví dụ về các tác nhân kiềm hóa là cyclophosphamide, melphalan và temozolomide. Tuy nhiên, trong quá trình tiêu diệt các tế bào xấu, nó cũng có thể tổn thương tủy xương của người bệnh, điều này có thể gây ra bệnh bạch cầu nhiều năm sau đó. Để giảm nguy cơ này, bác sĩ sẽ chỉ định dùng thuốc với liều lượng nhỏ. Một loại tác nhân kiềm hóa, thuốc platin như carboplatin, cisplatin hoặc oxaliplatin, có nguy cơ gây bệnh bạch cầu thấp hơn.

Một loại thuốc hóa học can thiệp vào quá trình trao đổi chất bình thường của tế bào, khiến chúng ngừng phát triển. Những loại thuốc này được gọi là thuốc chống chuyển hóa, các bác sĩ thường sử dụng để điều trị bệnh bạch cầu, ung thư ở vú, buồng trứng và ruột. Các loại thuốc trong nhóm này bao gồm 5-fluorouracil, 6-mercaptopurine, cytarabine, gemcitabine và methotrexate, trong số nhiều loại khác.

Hóa trị liệu anthracycline tấn công các enzyme bên trong tế bào ung thư. Chúng có hiệu quả cho nhiều loại ung thư. Một số loại thuốc này là Actinomycin-D, bleomycin, daunorubicin và doxorubicin. Tuy nhiên, khi sử dụng liều cao kháng sinh chống khối u, hóa trị liệu anthracycline có thể làm tổn thương tim hoặc phổi của bạn. Vì vậy, bác sĩ sẽ chỉ định dùng trong một thời gian ngắn và luôn ghi lại tổng liều thuốc đã từng sử dụng.

Các loại thuốc là chất ức chế phân bào ngăn chặn các tế bào ung thư tạo ra nhiều bản sao của chính chúng. Nó có tác dụng ngăn cơ thể người bệnh tạo ra các protein mà tế bào ung thư cần phát triển.

Một loại thuốc khác gọi là chất ức chế men topoisomerase, cũng tấn công các enzyme giúp các tế bào ung thư phân chia và phát triển. Các loại thuốc này điều trị một số loại bệnh bạch cầu và ung thư phổi, buồng trứng và ruột. Nhóm thuốc này bao gồm etoposide, irinotecan, teniposide và topotecan. Tuy nhiên, một số trong các loại thuốc này làm tăng tỷ lệ mắc bệnh ung thư thứ hai vài năm sau đó.

Steroid là thuốc hoạt động giống như nội tiết tố của cơ thể, nó rất hữu ích trong việc điều trị nhiều loại ung thư và giúp người bệnh không bị buồn nôn sau mỗi đợt hóa trị. Bên cạnh đó, steroid cũng có thể ngăn ngừa phản ứng dị ứng với một số loại thuốc hóa trị. Một số thuốc steroid mà bác sĩ thường chỉ định là methylprednisolone và dexamethasone

Hiện nay, trong quá trình điều trị ung thư, bác sĩ có thể khuyên bệnh nhân sử dụng hóa trị kết hợp với các liệu pháp toàn thân khác như liệu pháp trúng đích, liệu pháp nội tiết, hay liệu pháp miễn dịch. Bởi, hóa trị tuy là một phương pháp điều trị ung thư phổ biến, nhưng nó lại đem lại nhiều tác dụng phụ. Các loại thuốc chống ung thư mới hiện nay trong liệu pháp trúng đích, và liệu pháp miễn dịch tấn công chọn lọc các tế bào ung thư và ít ảnh hưởng lên các tế bào khỏe mạnh. Điều đó có nghĩa là chúng gây ra tác dụng phụ nhẹ hơn.

3. Cách hóa trị đi vào cơ thể để điều trị ung thư

Qua đường tiêm: Các loại thuốc được tiêm trực tiếp vào cơ bắp ở hông, đùi hoặc cánh tay của bạn; hoặc tiêm vào dưới da bụng, da đùi.

Qua động mạch (IA): Các loại thuốc đi trực tiếp vào động mạch đang nuôi dưỡng khối ung thư, thông qua một kim, hoặc một ống thông mỏng.

Qua màng bụng (IP): Thuốc được đưa đến khoang màng bụng, nơi chứa các cơ quan như gan, ruột, dạ dày và buồng trứng của bạn. Biện pháp này được thực hiện trong khi phẫu thuật hoặc qua một ống thông xuyên qua da bụng.

Qua tĩnh mạch (IV): Hóa trị truyền vào tĩnh mạch ở cánh tay, hoặc qua buồng tiêm đặt dưới da vào tĩnh mạch chủ ở ngực.

Bôi kem: thuốc ở dạng kem được thao lên da.

Đường uống: Bạn nuốt một viên thuốc hoặc chất lỏng có thuốc.

Hóa trị qua đường truyền tĩnh mạch (IV) như thế nào?

Kim: Thuốc có thể được bơm qua một cây kim mỏng đặt vào trong tĩnh mạch cánh tay của bạn.

Ống thông tĩnh mạch: Đây là một ống mềm, mỏng. Bác sĩ đặt một đầu vào một tĩnh mạch lớn, thường ở vùng ngực của bệnh nhân. Đầu kia ở bên ngoài cơ thể và được sử dụng để truyền thuốc hóa trị, hoặc lấy máu làm xét nghiệm. Ống thông này thường giữ lại khi về nhà để các đợt hóa trị sau sử dụng lại. Người bệnh nên lưu ý theo dõi các dấu hiệu nhiễm trùng ở da xung quanh ống thông.

Buồng tiêm dưới da: Buồng tiêm được bác sĩ cấy vào dưới da. Khi lấy máu làm xét nghiệm hoặc truyền thuốc, điều dưỡng sẽ cắm 1 cây kim chuyên dụng xuyên qua da vào buồng tiêm một cách dễ dàng và nhanh chóng. Buồng tiêm thường được cấy cho những bệnh nhân có ven (tĩnh mạch) ở cánh tay khó đặt kim, hoặc ven bị chai lặn đi sau khi hóa trị. Một buồng tiêm sau khi đặt có thể sử dụng tiêm truyền hàng ngàn lần, hoặc kéo dài 2,3 năm giúp giảm đau và an toàn cho bệnh nhân khi phải lấy ven, lấy máu nhiều lần.

Bác sĩ Nông Ngọc Sơn có kinh nghiệm nhiều năm trực tiếp điều trị bệnh nhân ung thư, đặc biệt là lĩnh vực hóa trị, các ung thư giai đoạn trễ đã di căn, và bệnh nhân giai đoạn cuối đời.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Bài viết tham khảo nguồn: chúng tôi XEM THÊM: