Ung Thư Đường Mật Ngoài Gan

--- Bài mới hơn ---

  • Ung Thư Đường Mật Ngoài Gan (Phần 1)
  • Cách Điều Trị Ung Thư Đường Mật Giúp Bạn Chiến Thắng Số Phận
  • Về Bệnh Ung Thư Đường Mật Và Cách Nhận Biết
  • Triệu Chứng Ung Thư Đường Mật
  • Bệnh Ung Thư Đường Mật
  • Published on

    1. 1. NGOẠI KHOA LÂM SÀNG-2007 UNG THƯ ĐƯỜNG MẬT NGOÀI GAN1-Đại cương:Ung thư đường mật là bệnh lý ác tính hiếm gặp, chiếm khoảng 2% tổng số các trườnghợp ung thư. Tuy nhiên, ung thư đường mật là bệnh lý ác tính phổ biến thứ nhì của ganmật, chỉ đứng sau ung thư tế bào gan.90% ung thư đường mật nguyên phát là ung thư đường mật ngoài gan, trong đó 60-80%là ung thư ngã ba ống gan (khối u Klatskin), 25% là ung thư đoạn cuối ống mật chủ (baogồm ung thư bóng Vater).Nam giới và nữ giới có nguy cơ bị ung thư đường mật ngang nhau. Độ tuổi càng cao,nguy cơ bị ung thư đường mật càng lớn.90% ung thư đường mật là ung thư ống tuyến (ductal adenocarcinoma).Phân loại ung thư ngã ba ống gan theo Bismuth (hình 1): o Týp I: khối u giới hạn ở ống gan chung o Týp II: khối u xân lấn vào ngã ba ống gan o Týp IIIa và IIIb: khối u xân lấn vào ống gan phải hay ống gan trái đoạn trong gan o Týp IV: khối u xân lấn vào ống gan phải và ống gan trái đoạn trong gan Hình 1- Phân loại ung thư ngã ba ống gan theo Bismuth 200
    2. 2. NGOẠI KHOA LÂM SÀNG-2007Các trường hợp bệnh lý gây viêm hay kích thích đường mật kéo dài được xem là nguyênnhân của ung thư đường mật. BN bị viêm đường mật xơ hoá nguyên phát, một bệnh lýviêm không rõ nguyên nhân của đường mật, có nguy cơ bị ung thư đường mật 40%. 25%BN bị nang đường mật bẩm sinh sẽ bị ung thư đường mật sau này. Nhiễm ký sinh trùngmãn tính ở đường mật (Clonorchis sinensis và Opisthorchis viverrini) cũng là yếu tốnguy cơ của ung thư đường mật (bảng 1).Viêm đường mật xơ hoá nguyên phátNang đường mật bẩm sinhNhiễm ký sinh trùng đường mậtSỏi túi mật, sỏi ganHoá chất: Thuốc cản quang Chất phóng xạ Chất sinh ung thư (arsenic, dioxin, nitrosamines, polychlorinated biphenyls)Thuốc (thuốc ngừa thai, methyldopa, isoniazid)Người mang mầm bệnh thương hàn mãn tính Bảng 1- Các yếu tố nguy cơ của ung thư đường mậtUng thư đường mật có đặc tính diễn tiến chậm, xâm lấn tại chỗ là chủ yếu. Ung thưđường mật cho di căn xa trong giai đoạn trễ của căn bệnh.Biểu hiện lâm sàng chủ yếu của ung thư đường mật là tắc mật. Tình trạng tắc mật kéo dàicuối cùng dẫn đến suy gan, suy dinh dưỡng, suy thận, rối loạn đông máu, viêm đườngmật và tử vongUng thư đường mật ở đoạn cuối ống mật chủ, được xếp vào nhóm ung thư vùng quanhbóng Vater. Ung thư vùng quanh bóng Vater là bệnh lý ác tính của các cấu trúc cáchbóng Vater trong phạm vi 1 cm. Có bốn bệnh lý ác tính ở vùng quanh bóng Vater, tươngứng với 4 loại tế bào biểu mô khác nhau: niêm mạc tá tràng, đường mật, ống tuỵ và bóngVater chính danh. Trong 4 loại ung thư của vùng quanh bóng Vater, ung thư bóng Vaterchính danh có tiên lượng tốt nhất. Chẩn đoán phân biệt ung thư bóng Vater chính danhvà các ung thư vùng quanh bóng Vater còn lại dựa vào xét nghiệm sinh học: thành phầnchất nhầy trong u bóng Vater là sialomucins, trong khi tế bào của các u vùng quanh bóngVater khác tiết mucins sulfat hoá.Các ung thư vùng quanh bóng Vater có chung một thái độ chẩn đoán và điều trị.Ung thư đường mật ngoài gan nằm ở một nhánh đường mật chính (ống gan phải hay ốnggan trái), tuy chiếm một tỉ lệ nhỏ trong ung thư đường mật ngoài gan, nhưng biểu hiệnlâm sàng lại tương đối khác biệt với ung thư đường mật ngoài gan ở các đoạn khác: vàngda diễn tiến chậm hơn, phần gan tương ứng với ống mật bị tắc đã bị xơ hoá và mất chứcnăng khi BN nhập viện.Ung thư đường mật ngoài gan đoạn 1/3 giữa ống mật chủ thực tế hiếm gặp. Nếu có, ungthư 1/3 giữa ống mật chủ thường là ung thư thứ phát, do sự xâm lấn trực tiếp từ ung thưtúi mật, hơn là ung thư nguyên phát tại đường mật.2-Chẩn đoán:2.1-Chẩn đoán lâm sàng:Vàng da do tắc mật xảy ra trong 100% các trường hợp (nếu tính luôn ung thư đường mậttrong gan, tỉ lệ này là hơn 90%). Đặc điểm của vàng da trong ung thư đường mật là: vàngda tắc mật hoàn toàn (da vàng sậm, ngứa, phân trắng như “cứt cò”), không đau, khôngkèm sốt. 201
    3. 4. NGOẠI KHOA LÂM SÀNG-2007 Hình 2- Ung thư đường mật rốn gan (týp II) trên MRCPTrên lâm sàng, các bệnh lý sau đây cần được chẩn đoán phân biệt với ung thư đường mậtngoài gan: o Ung thư đầu tuỵ o Ung thư tá tràng o Ung thư túi mật o Nang đường mật o Viêm đường mật xơ hoá nguyên phát o Hẹp đường mật do các nguyên nhân lành tính khác o U lành tính bóng Vater o Hoại tử bóng Vater o Viêm tuỵ mãn2.4-Thái độ chẩn đoán:Vàng da tắc mật hoàn toàn, không đau bụng và không sốt xảy ra ở BN lớn tuổi là tamchứng gợi ý có sự bế tắc đường mật ngoài gan do nguyên nhân ác tính.Nếu sờ thấy túi mật căng to khi thăm khám bụng, vị trí bế tắc nằm ở bên dưới ngả ba ốngtúi mật và đường mật.Do khối u có kích thước nhỏ, các phương tiện chẩn đoán hình ảnh có giá trị hạn chếtrong việc đánh giá tính chất của khối u. Vai trò chủ yếu của các phương tiện chẩn đoánhình ảnh là cho thấy hình ảnh của đường mật đoạn trên vị trí tắc (dãn to) và dưới vị trítắc (xẹp hay kích thước bình thường). PTC, ERCP và MRCP cho thấy hình ảnh đườngmật rõ nhất.ERCP còn có tác dụng sinh thiết nếu khối u ở vùng quanh bóng Vater.Với kết quả của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh, nếu kết hợp với CA 19-9 tăng cao,chẩn đoán ung thư đường mật ngoài gan là hầu như chắc chắn.Nếu CA 19-9 bình thường, BN vẫn có chỉ định phẫu thuật (giải áp đường mật), việc chẩnđoán xác định ung thư đường mật sẽ được thực hiện trong lúc mổ. 203
    4. 5. NGOẠI KHOA LÂM SÀNG-20072.3-Đánh giá giai đoạn (theo AJCC):Khối u: o T1: khối u còn giới hạn trong đường mật o T2: khối u xâm lấn ra ngoài đường mật o T3: khối u xâm lấn vào gan, túi mật, tuỵ, nhánh gan phải hay trái của tĩnh mạch cửa hay động mạch gan o T4: khối u xâm lấn vào dạ dày, đại tràng, tá tràng, thành bụng, thân chính của tĩnh mạch cửa hay động mạch gan chungDi căn hạch: o N0: không di căn hạch o N1: có di căn hạchDi căn xa: o M0: không di căn xa o M1: có di căn xaĐánh giá giai đoạn ung thư đường mật (theo AJCC) (bảng 2): Giai đoạn T N M IA 1 0 0 IB 2 0 0 IIA 3 0 0 IIB 1 1 0 2 1 0 3 1 0 III 4 Bất kỳ 0 IV Bất kỳ Bất kỳ 1 Bảng 2- Đánh giá giai đoạn ung thư đường mật (theo AJCC)3-Điều trị:3.1-Các phương pháp điều trị và chỉ định:Phẫu thuật là phương pháp điều trị duy nhất ung thư đường mật ngài gan. Hoá trị khôngcải thiện được tiên lượng sống.Phương pháp phẫu thuật phụ thuộc vào vị trí và giai đoạn tiến triển của khối u: o Ung thư ngã ba ống gan: Bismuth týp I và II: cắt khối u và nối hỗng tràng với hai ống gan. Bismuth týp III: cắt khối u kèm theo cắt gan phải hay gan trái. Bismuth týp IV: phẫu thuật giải áp đường mật: Phẫu thuật Longmire: cắt bỏ ½ ngoài thuỳ gan trái, bộc lộ ống gan phân thuỳ II và III, nối hỗng tràng vào mặt cắt gan còn lại (hình 3). Xẻ ống gan phân thuỳ III hay V, nối ống gan (phân thuỳ III hay V) với hỗng tràng (hình 4). 204
    5. 6. NGOẠI KHOA LÂM SÀNG-2007 o Ung thư đoạn cuối ống mật chủ: cắt đoạn cuối ống mật chủ-đầu tuỵ-tá tràng (phẫu thuật Whipple). Trường hợp khối u không cắt được: nối túi mật-hỗng tràng. Hình 3- Phẫu thuật Longmire. Hình 4- Các phương pháp phẫu thuật giải áp đối với ung thư ngã ba ống gan không cắt được (Bismuth type IV): A- phẫu thuật Longmire, B-nối ống gan phân thuỳ III-hỗng tràng, C- nối ống gan phân thuỳ V-hỗng tràngBN không có chỉ định phẫu thuật: giải áp đường mật bằng cách đặt stent xuyên quabướu. Việc đặt được thực hiện qua da (PTC) hay qua ERCP.Công việc chuẩn bị trước phẫu thuật có một số vấn đề cần chú ý: o Vấn đề giải áp đường mật: thường không được đặt ra trước mổ, trừ các trường hợp sau: BN bị viêm đường mật BN bị suy thận BN mắc các bệnh lý nội khoa, toàn trạng yếu, suy dinh dưỡng, suy giảm chức năng miễn dịch, không thể được phẫu thuật ngay BN được dự trù cắt bỏ một phần lớn gan kèm theo cắt khối u đường mật (Bismuth typ III). Phần gan còn chừa lại sẽ tái tạo nhanh hơn nếu không bị ứ mật. 205
    6. 8. NGOẠI KHOA LÂM SÀNG-2007Kẹp cắt ống mật chủ ngay tại vị trí sát với đầu tuỵ. Dùng kẹp kẹp đầu gần, nhấc ống mậtchủ lên. Kéo động mạch gan sang trái, kẹp cắt động mạch túi mật. “Lột trần” động mạchgan phải và trái lên tới vị trí trên vị trí cắt khối u tối thiểu 1 cm. Tiếp tục bóc tách tĩnhmạch cửa lên tới nơi phân đôi. 207
    7. 9. NGOẠI KHOA LÂM SÀNG-2007 Giới hạn cắt ở đầu gần khối u phụ thuộc vào mức độ an lan lên trên của khối u. Đối với khối u cách ngả ba ống gan tối thiểu 1 cm, vị trí cắt ở sát ngả ba ống gan. Trong trường hợp khối u đã xâm lấn tới ngả ba ống gan, hai ống gan được cắt ở gần sát các nhánh chính của nó. Hình bên trái mô tả kỹ thuật nối ống gan với hỗng tràng.Hình trên mô tả kỹ thuật “làm rộng” ống gan để cho việc nối với hỗng tràng được thựchiện dễ dàng hơn: a-xẻ dọc ống gan chung, b-nếu mép cắt ở bên dưới ngả ba ống túi mật,xẻ dọc vách chung giữa ống gan chung và ống túi mật, c-khâu nối mép sau của lổ của haiống gan để tạo thành một lổ rộng hơn.Một số phẫu thuật viên đặt một thông dẫn lưu miệng nối, đưa xuyên qua gan ra da,nhưng thủ thuật này không làm thay đổi tiên lượng của cuộc phẫu thuật.Khi khối u xâm lấn vào một trong hai ống gan đoạn trong gan, cắt gan phải hay cắt gantrái là các phương pháp phẫu thuật có thể được chọn lựa. 208
    8. 10. NGOẠI KHOA LÂM SÀNG-2007 209

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đừng Bỏ Qua Những Dấu Hiệu Cảnh Báo Sớm Ung Thư Đại Tràng
  • Dấu Hiệu Ung Thư Đại Tràng Di Căn Gan
  • Ung Thư Dạ Dày: Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Thuốc Chữa Và Cách Điều Trị Ung Thư Dạ Dày
  • Bệnh Nhân Sẽ Sống Lâu Hơn Với Thuốc Điều Trị Ung Thư Da Tận Gốc
  • Ung Thư Đường Mật Di Căn Gan

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề Tuần 3: Tiên Lượng Sống Lâu Dài Sau Cắt Ung Thư Ống Tuyến Tụy Có Di Căn Hạch Cạnh Động Mạch Chủ: Báo Cáo Một Trường Hợp Lâm Sàng, Phan Thị Thùy Dung
  • Tổng Quan Về Ung Thư Thanh Quản (Larynx Cancer)
  • 4 Điều Quan Trọng Nhất Cần Biết Về Ung Thư Di Căn
  • Hỏi Ung Thư Dạ Dày Di Căn Có Thể Chữa Khỏi Được Không?
  • Điều Trị Ung Thư Phổi Di Căn Não Có Cơ Hội Chữa Khỏi Bênh Không?
  • Ưng thư đường mật di căn là biểu hiện nổi bật nhất của ung thư đường mật giai đoạn cuối, khi ở giai đoạn này việc điều trị bệnh chỉ nhằm mục đích giảm đau đớn và khó chịu cho người bệnh, giúp cho người bệnh kéo dài thời gian sống, lạc quan và thoải mái hơn.

    Triệu chứng của ung thư đường mật di căn:

    – Khi ở giai đoạn cuối, ung thu đường mật đã di căn lên gan thì gan bao giờ cũng to ra và mềm hơn so với bờ tù; bạn có thể sờ thấy với mật độ mềm; gây ra cảm giác khó chịu, đau đớn khi ở ngay phần gan, phía bên phải của bụng. Ngoài ra, nếu bị ung thư ở khu trú của một ống gan thì gan sẽ to ra so với mật độ chắc có bờ sắc.

    – Da vàng và mắt vàng: đây là triệu chứng khá rõ rệt của ung thư đường mật di căn gan, càng về giai đoạn cuối nó càng biểu hiện được rõ sự trầm trọng hơn. Nguyên nhân chính ở đây là do tế bào ung thư đã dần xâm lấn, di căn tới hạch bạch huyết, gây ra tắc nghẽn ống đường mật, làm cản trở dịch gan tiết xuống đường ruột và chảy ngược vào màu xảy ra hiện tượng bị ngứa và vàng da.

    – Chán ăn, ăn không ngon, bị chướng bụng,…: do bị ảnh hưởng của gan suy giảm dẫn tới tình trạng sút cân nhanh chóng. Ngoài ra bệnh nhân còn luôn có cảm giác buồn nôn và nôn; buồn ngủ do gan bị hỏng chức năng lọc máu dẫn tới các chát độc tích tụ trong lão.

    Điều trị ung thư đường mật di căn gan:

    Việc lựa chọn phương thức điều trị ung thư đường mật di căn gan hoàn toàn phụ thuộc vào mức độ ung thư di căn cũng như tình trạng sức khỏe của người bệnh. Nhưng, nhìn chung về bệnh ung thư đường mật di căn gan hoàn toàn không còn đáp ứng được các phương thức điều trị, bởi vậy việc điều trị không thể chữa khỏi bệnh mà chỉ giúp kéo dài tuổi thọ và giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

    + Phẫu thuật loại bỏ khối u: đây là một trong những phương pháp mang lại hiệu quả và triệt để nhất đối với bệnh nhân ung thư đường mật. Nhưng theo các nghiên cứu cho biết thì chỉ có khoảng 10% trường hợp bệnh nhân có thể thực hiện được phương thức phẫu thuật tại thời điểm phát hiện ra bệnh, nghĩa là ở giai đoạn sớm.

    + Phẫu thuật ghép gan: phương pháp này được áp dụng cho trường hợp ung thư đường mật có trong gan hoặc trong rốn gan mà không thể lấy bỏ phần khối u. Phương pháp này luôn đòi hỏi chi phí cao, kỹ thuật cắt ghép khá phức tạp và đặc biệt thiếu nguồn hiến tạng. Để có thể phẫu thuật ghép gan cần có sự chuẩn bị tốt nhất cho người bệnh và rất khó để có thể áp dụng cho những người bệnh cao tuổi hoặc người có thể trạng yếu.

    Tiên lượng sống đối với bệnh nhân ung thư đường mật di căn gan:

    Tiên lượng sống của bệnh nhân ung thư đường mật di căn gan là khá thấp. Nếu không được điều trị, phần lớn bệnh nhân chỉ sống trong vòng 6 tháng. Nếu loại bỏ hoàn toàn khối u thì có khoảng 30-40% bệnh nhân được sống sót trong vòng 5 năm còn nếu không cắt bỏ toàn bộ khối u thì việc điều trị bệnh chỉ nhằm giảm nhẹ bệnh và có khoảng ½ bệnh nhân sẽ sống trong vòng 1 năm, ½ bệnh nhân sẽ có cơ hội sống được lâu hơn.

    Ngoài ra, với bệnh nhân ung thư đường mật di căn cần có một chế độ dinh dưỡng phù hợp, để tăng cường sức khỏe miễn dịch, hỗ trợ cho quá trình điều trị mang lại hiệu quả tốt hơn. Bên cạnh đó, trong giai đoạn này bệnh nhân sẽ luôn trầm cảm, thấy lo sợ, hoang mang. Bởi vậy, gia đình và bạn bè cần động viên để bênh nhân luôn an tâm và lạc quan sống tốt hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảnh Báo Ung Thư Đường Mật Di Căn Qua Gan
  • Chữa Trị Như Thế Nào Khi Ung Thư Tụy Di Căn Gan?
  • Dấu Hiệu Ung Thư Di Căn
  • Cách Chữa Trị Ung Thư Gan Di Căn Như Thế Nào Hiệu Quả?
  • Dùng Thuốc Nam Chữa Ung Thư Đại Tràng Di Căn Được Không?
  • Ung Thư Đường Mật Ngoài Gan (Phần 2)

    --- Bài mới hơn ---

  • “dấu Hiệu Vàng” Cảnh Báo Sớm Nhất Căn Bệnh Ung Thư Đại Trực Tràng”
  • Tổng Quan Các Rối Loạn Nội Tiết
  • Liệu Pháp Nội Tiết Mới Trong Điều Trị Ung Thư Vú
  • Giảm Đau Hiệu Quả Cho Bệnh Nhân Ung Thư Đại Tràng Giai Đoạn Cuối
  • Sarcoma Là Gì? Các Loại, Điều Trị Và Cần Biết
  • 5.1. Lâm sàng.

    Bệnh cảnh ung thư đường mật thường gặp 3 trường hợp chủ yếu: Phát hiện tình cờ – Giai đoạn triệu chứng điển hình – Giai đoạn muộn

    Phát hiện tình cờ

    Trong giai đoạn này thường không có triệu chứng rõ ràng, bệnh cảnh phát hiện khi bệnh nhân tình cờ đi khám phát hiện bệnh. Có thể gặp triệu chứng đau dưới sườn phải.

    Giai đoạn triệu chứng điển hình

    a. Triệu chứng cơ năng

    • Đau bụng vùng HSP có trên 30-50% bệnh nhân.
    • Các triệu chứng khác như ngứa do nhiễm độc muối mật thường gặp ở những trường hợp da vàng sẫm.
    • Gầy sút cân.

    b. Triệu chứng thực thể

    • Vàng da là triệu chứng phổ biến nhất.
    • Đặc điểm của vàng da trong ung thư đường mật là: xuất hiện từ từ tăng dần vàng da tắc mật hoàn toàn (da vàng sậm, ngứa, phân trắng như “cứt cò”), không đau, không kèm sốt. Trường hợp thể polyp có thể gây ra vàng da từng đợt do mảnh u vỡ ra gây tắc nghẽn.
    • Gan to. Gan thường to mềm với bờ tù. Gan to, mật độ chắc, bờ sắc là biểu hiện của xơ gan do tắc mật, gặp trong ung thư khu trú ở một ống gan.
    • BN bị ung thư đoạn cuối ống mật chủ sẽ có túi mật căng to (dấu hiệu Courvoisier).
    • Sốt có thể gặp khi có nhiễm trùng đường mật xảy ra

    Giai đoạn muộn

    Trong giai đoạn muộn ngoài các triệu chứng cơ năng thực thể như giai đoạn triệu chứng điển hình còn có các triệu chứng như phù, bụng chướng ascite, hạch di căn.

    Vì vậy đứng trước một tình trạng vàng da thì cần nghĩ đến nguyên nhân là ung thư đặc biệt là ung thư đường mật. Tóm lại vẫn nên đi kiểm tra sức khỏe thường xuyên và định kỳ để phát hiện sớm các bệnh lý ung thư đặc biệt là ung thư đường mật.

    5.1.1. Hội chứng vàng da tắc mật

    Do sự phát triển của khối u đường mật làm cho hiện tượng tắc mật ngày càng tăng dần. Nhưng cũng tuỳ thuộc vào vị trí của khối u đường mật mà các biểu hiện của hội chứng tắc mật khác nhau. Thường gặp các triệu chứng sau:

    Toàn thân:

    • Vàng da: vàng da từ từ, tăng dần, liên tục
    • Gày sút: cũng là triệu chứng thường gặp.
    • Ngứa: do nhiễm độc muối mật, thường gặp khi có vàng da đậm
    • Phân bạc màu: Gặp khi có tắc mật hoàn toàn.

    Cơ năng:

    • Đau dưới sườn phải: là triệu chứng thường gặp, do hiện tượng tắc mật gây nên
    • Sốt: chỉ xuất hiện khi có nhiễm trùng đường mật kèm theo

    Thực thể:

    Tuy nhiên UTĐM ở Việt Nam còn có thể nhầm với sỏi mật nhất là những bệnh nhân có tiền sử sỏi mật hoặc đã được mổ sỏi mật.

    5.1.2. Các yếu tố nguy cơ trong UTĐM.

    Có nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến UTĐM trong đó có 3 yếu tố nguy cơ cao đối với UTĐM là bệnh giãn đường mật bẩm sinh, sỏi mật nhiễm trùng đường mật và viêm xơ chít đường mật nguyên phát . Theo các tác giả Đức tuổi trung bình của UTĐM là 54,2 ± 11,3 tuổi và thường gặp ở nam nhiều hơn nữ với tỷ lệ xấp xỉ 1,4. Các tác giả Nhật nghiên cứu về UTĐM vùng rốn gan thấy tuổi trung của UTĐM vùng rốn gan là 62,0 tuổi, còn tỷ lệ Nam/nữ khoảng 1,5 . CA 19 – 9 chỉ có ở những người mang kháng nguyên Levis dương tính (chiếm 93 – 95% dân số), còn lại một số rất ít (5 – 7%) thuộc nhóm Le (a-b-) thì không có kháng nguyên này. Ở Việt nam người có nhóm kháng nguyên Le(a-b-) là 16,18% . Một nghiên cứu khác của Hoàng Văn Sơn trên người Việt Nam có giá trị trung bình là 12,12 U/ml. trong đó 99,6% < 37 U/ml. Del Villano cũng đưa ra giá trị bình thường < 37 U/ml.

    Giới hạn tham chiếu: < 37 U/ml

    CA19-9 tăng cao trong bệnh lý UTĐM, ung thư tuỵ và các bệnh lý lành tính khác của gan mật. Vì vậy việc lựa chọn ngưỡng CA 19-9 rất quan trọng. Theo Benamouzig nếu lấy ngưỡng 37 U/lít thì dương tính đạt 83% còn nếu lấy ngưỡng 200U/lít thì dương tính chỉ đạt 65% . Thăm khám tốt nhất khi bệnh nhân nhịn đói để túi mật đủ căng, với đầu dò có tần số từ 3,5 – 7 MHz. SA có khả năng phát hiện các tổn thương của đường mật trong và ngoài gan, của túi mật và của mạch máu vào và ra khỏi hệ gan (hệ TMC, tĩnh mạch gan).

    Trong UTĐM, SA có thể cung cấp các thông tin về vị trí, kích thước, cấu trúc âm của khối u. Ngay cả khi không phát hiện được khối u thì SA cũng cung cấp về chẩn đoán quan trọng bằng cách xác định chính xác mức độ tắc nghẽn đường mật. SA còn có thể phát hiện huyết khối TMC, động mạch gan, di căn hạch và di căn các tạng. Đây là ưu điểm của SA so với nội soi hay chụp đường mật, giúp các nhà lâm sàng có một đánh giá đầy đủ hơn về bệnh để đưa ra phương pháp điều trị thích hợp. Ngoài ra SA còn có thể ứng dụng trong can thiệp như hướng dẫn làm các thủ thuật chụp đường mật hay dẫn lưu đường mật.

    Hình ảnh siêu âm của UTĐM:

    – UTĐM chính: SA có thể thấy khối u 21 – 47% trường hợp. Các khối đồng âm với nhu mô gan 65%, tăng âm 15% và giảm âm trong 21%, đầu trên có hình cong lõm (hình càng cua), cấu trúc âm này không kèm bóng cản. Thành đường mật có thể bị phá huỷ và khối u phát triển ra xung quanh .

    Siêu âm có thể đánh giá sự xâm lấn thành đường mật và nhu mô gan của tổn thương ung thư với tỷ lệ 44%.

    – Ung thư tế bào đường mật hay u các đường mật nhỏ trong gan: thường biểu hiện dưới dạng một khối giới hạn rõ, đồng nhất, chủ yếu tăng âm và đồng âm, hiếm gặp giảm âm, bờ khối có thể có nhiều thuỳ.

    Có thể thấy hình ảnh huyết khối TMC (độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 75-83% và 93-100% .

    Chụp đường mật qua da (Percutaneous transhepatic cholangiograms – PTC)

    Năm 1920, Burkhardt người đầu tiên sử dụng phương pháp tiêm chất cản quang qua thành bụng trước và túi mật để tìm nguyên nhân và và xác định vị trí tắc .

    Chụp đường mật qua da cho biết rõ hình ảnh đường mật, vị trí và giới hạn của khối u, để dự kiến kế hoạch mổ, nhằm tránh được những bất ngờ trong phẫu thuật. Tuy nhiên cần được chỉ định chặt chẽ trong tắc mật hoàn toàn trong UTĐM vì đây là phương pháp thăm dò có nhiều nguy cơ viêm phúc mạc mật và chẩy máu sau chụp . Độ nhậy và độ đặc hiệu đối với đánh giá tĩnh mạch cửa, động mạch gan và hạch lần lượt là 89% và 92%, 84% và 93%, 61% và 88% .

    – UTĐM trong gan: thường thấy một khối đồng hoặc tăng tỷ trọng tương đối đồng nhất trước khi tiêm thuốc cản quang, hiếm gặp tăng tỷ trọng (trong bệnh lý nhiễm ký sinh trùng), khối này thường kèm theo các nốt vệ tinh. Sau khi tiêm thuốc khối u ít ngấm thuốc cản quang, hình ảnh ngấm thuốc trong thì muộn gặp 25 – 55% trường hợp. Đây là dấu hiệu gợi ý chẩn đoán và phân biệt với ung thư tế bào gan. Hiếm gặp có giãn đường mật trong gan. Có thể thấy hình ảnh huyết khối TMC, ĐMG, xâm lấn hạch và hướng dẫn cho chọc sinh thiết u.

    *Chụp cộng hưởng từ hạt nhân

    Hình ảnh cộng hưởng từ dựa trên lý thuyết các phân tử trong tế bào và tổ chức khác nhau có tính chất từ tính khác nhau, khi đưa vào một từ trường cực mạnh chúng sẽ dao động và những dao động đó được ghi lại thành hình ảnh khác nhau của mỗi tổ chức, mỗi cơ quan khác nhau. MRI cho phép thăm dò bệnh lý vùng gan như: khối u, di căn gan, tĩnh mạch cửa, gan nhiễm mỡ, sỏi đường mật. Chống chỉ định trong những trường hợp bệnh nhân mang máy tạo nhịp tim, mang nguyên liệu kết hợp xương bằng kim loại trong người .

    *Chụp đường mật trong mổ.

    Phương pháp này được thực hiện lần đầu tiên bởi Mirizzi vào năm 1932. Ban đầu sử dụng chất cản quang trong dầu nên kết quả còn hạn chế, sau này sử dụng chất cản quang tan trong nước đã mang lại kết quả tốt, phương pháp này nhanh chóng được áp dụng rộng rãi trong mổ mật. Chụp đường mật trong mổ cho biết hình ảnh cây đường mật, vị trí và giới hạn của u đường mật.

    *Nội soi đường mật trong mổ.

    Từ năm 1923, Baker đã sử dụng phương pháp nội soi đường mật trong mổ bằng ống soi khí quản. Năm 1941, Iven M.C soi bằng ống kính quang học, đến năm 1955 Wildegans mới hoàn chỉnh soi ống mật trong mổ bằng ống soi cứng và đã ghi lại được một số hình ảnh tổn thương của đường mật, trong đó 62% là sỏi mật, 20% do ung thư, 3% do chít hẹp. Năm 1965, D.Shore mới sử dụng ống soi mềm để soi đường mật.

    Phương pháp soi đường mật cho phép chẩn đoán chính xác chít hẹp bóng Vater mà các phương pháp chụp mật khác ít phát hiện được.

    Ở bệnh viện Việt Đức với ống nội soi mềm đường mật đã được sử dụng bởi Đỗ Kim Sơn, Tôn Thất Bách, Đoàn Thanh Tùng. Cho thấy chẩn đoán nội soi đảm bảo chắc chắn ống tới phân thuỳ và một số hạ phân thuỳ theo trục của đường mật. Chẩn đoán chảy máu đường mật xác định được ở mức hạ phân thuỳ và khả năng cầm máu của kỹ thuật thắt động mạch gan.

    Có rất nhiều phân loại khác nhau về ung thư đường mật rốn gan nhưng hiện nay phân loại dựa theo Bismusth – Corlette được sử dụng nhiều nhất. Phân loại này cho biết vị trí khối u với đường mật và khả năng cắt bỏ nhưng lại không cho biết xâm lấn mạch máu, di căn và khả năng tiên lượng bệnh.

    5.3.1. Ung thư đường mật vùng rốn gan thường được phân loại theo Bismusth – Corlette, dựa vào phân loại có các chỉ định điều trị.

    • Týp I: khối u giới hạn ở ống gan chung
    • Týp II: khối u xân lấn vào ngã ba ống gan.
    • Týp IIIa: khối u xân lấn vào ống gan phải đoạn trong gan
    • Týp IIIb: khối u xân lấn vào ống gan trái đoạn trong gan.
    • Týp IV: khối u xân lấn vào ống gan phải và ống gan trái đoạn trong gan.

    5.3.2. Phân loại của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (AJCC) lần thứ 7 cho UTDM ngoài gan xa dựa trên phân độ TNM. UTDM ngoài gan xa được xác định là ung thư OMC từ chỗ đổ vào của ống túi mật đến bóng Vater[37]

    * Khối u nguyên phát (Tumor)

    • Tx: Không thể đánh giá được khối u nguyên phát
    • T0: Không có bằng chứng của khối u nguyên phát
    • Tis: Ung thư tại chỗ
    • T1: khối u còn giới hạn trong đường mật về mặt mô bệnh học
    • T2: khối u xâm lấn ra ngoài thành ống mật
    • T3: khối u xâm lấn vào túi mật, tuỵ, tá tràng hoặc các tạng lân cận khác nhưng chưa xâm lấn ĐM thân tạng hoặc ĐM mạc treo tràng trên.
    • T4: khối u xâm lấn ĐM thân tạng hoặc DDM mạc treo tràng trên.

    * Di căn hạch (N)

    • Nx: không đánh giá được hạch vùng.
    • N0: không di căn hạch
    • N1: có di căn hạch

    Đánh giá giai đoạn ung thư đường mật (theo AJCC) TÀI LIỆU THAM KHẢO

    2. Khan S.A., Tavolari S., and Brandi G. (2019). Cholangiocarcinoma: Epidemiology and risk factors. Liver Int Off J Int Assoc Study Liver, 39 Suppl 1, 19-31.

    4. Trịnh Hồng Sơn (2014), Những biến đổi giải phẫu gan, ứng dụng phẫu thuật, Nhà xuất bản Y học.

    5. Nguyễn Văn Huy (2016), Giải phẫu người, Nhà xuất bản Y học.

    6. Trịnh Bình (2007), Mô phôi học, Nhà xuất bản Y học.

    16. Liang B., Zhong L., He Q., et al. (2015). Diagnostic Accuracy of Serum CA19-9 in Patients with Cholangiocarcinoma: A Systematic Review and Meta-Analysis. Med Sci Monit Int Med J Exp Clin Res, 21, 3555-3563.

    21. Young M. and Mehta D. (2020). Percutaneous Transhepatic Cholangiogram. StatPearls. StatPearls Publishing, Treasure Island (FL).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ung Thư Nhau Thai (Choriocarcinoma) Và Những Điều Cần Biết
  • Rụng Tóc Ở Bệnh Nhân Ung Thư Và Một Số Giải Pháp
  • Tại Sao Người Bệnh Ung Thư Thường Gặp Phải Vấn Đề Rụng Tóc Trong Quá Trình Hóa Trị
  • Bàn Luận Về Bệnh U Nhày Ruột Thừa (Mucocele Of The Appendix)
  • Lưu Ý Về Bệnh Ung Thư Ruột Non Từ B.s Trường Dược Sài Gòn
  • Ung Thư Đường Mật Ngoài Gan (Phần 1)

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Điều Trị Ung Thư Đường Mật Giúp Bạn Chiến Thắng Số Phận
  • Về Bệnh Ung Thư Đường Mật Và Cách Nhận Biết
  • Triệu Chứng Ung Thư Đường Mật
  • Bệnh Ung Thư Đường Mật
  • Tổng Quan Về Ung Thư Đường Mật (Cholangiocarcinoma)
  • Ung thư gan nguyên phát (primary liver cancer) phần lớn là ung thư tế bào gan (hepatocellular carcinoma – HCC) hoặc ung thư đường mật (cholangio carcinoma), ngoài ra còn bao gồm u GIST gan, lymphoma.

    Trong phạm vi bài viết này chúng tôi đề cập đến ung thư đường mật ngoài gan (extra-hepatic cholangiocarcinoma) bao gồm ung thư ngã ba đường mật ( U Klatskin) và ung thư phần thấp ống mật chủ. Ung thư đường mật ngoài gan đoạn 1/3 giữa ống mật chủ thực tế hiếm gặp, thường là ung thư thứ phát do sự xâm lấn từ ung thư túi mật hơn là ung thư nguyên phát tại đường mật.

    2. ĐỊNH NGHĨA

    Ung thư đường mật ngoài gan là ung thư có nguồn gốc từ biểu mô đường mật và gặp ở bất kì vị trí nào của đường mật ngoài gan, được chia thành ung thư ngã ba đường mật (u Klaskin) và ung thư phần thấp ống mật chủ. U Klaskin bao gồm những u nằm trong phạm vi 2cm từ chỗ phân nhánh của ống gan chung .

    Tỷ lệ hàng năm của ung thư ống mật tại Hoa Kỳ khoảng 1 trường hợp trên 100.000 người .

    Cấu tạo mô học của đường mật là biểu mô vuông đơn, không có tế bào nội mô, 90% ung thư đường mật là ung thư ống tuyến

    • Type I: u chưa xâm lấn vào ngã ba.
    • Type II: u xâm lấn vào ngã ba.
    • Type III: u xâm lấn vào ngã ba lan về gan phải (IIIA) hoặc gan trái (IIIB)
    • Type IV: u lan cả hai hợp lưu đường mật trong gan hai bên.

    Các tác giả Mỹ chia UTĐM ngoài gan (ECC) làm hai loại chính là:

    • UTĐM ở rốn gan (u Klastkin)
    • UTĐM ở phần thấp OMC

    Đối với khối u đường mật chính, đặc trưng của các khối u này là xâm lấn thành đường mật làm cho thành đường mật dầy, hẹp và cứng. U phát triển lên cao, xuống thấp, xâm lấn ra ngoài thành đường mật.

    * Về mức độ xâm lấn thành đường mật và di căn của hạch: De Groen PC, Goiries GJ và cộng sự chia 5 giai đoạn . Người ta gọi là các u tuyến khi trong mô có sự hiển diện của các tuyến này (bình thường tuyến chỉ nằm ở lớp niêm mạc), đồng thời các tế bào tuyến có hình ảnh tế bào ung thư (nhân lớn, kiềm tính, mất bào tương, nhiều lớp tế bào…). Khi các đặc trưng mô học của ung thư rõ ràng, số lượng tiêu bản đủ thì việc chẩn đoán mô học thường dễ dàng. Trái lại có thể rất khó xác định giữa ung thư với hình ảnh viêm đường mật hay giữa ung thư với loạn sản, quá sản. Trong viêm xơ đường mật mô liên kết của hệ thống đệm dày, xơ hoá cũng cho hình ảnh tương tự mô ung thư, lúc này những ống tuyến nằm sâu trong thành đường mật vì thế khó phân biệt với ung thư biệt hoá cao.

    Bên cạnh các ung thư tuyến biệt hoá (ống, nhú, vách) hay tế bào tự do tuỳ theo vị trí phân bố của tế bào này, còn có các dạng khác. Tất cả chúng đều là ung thư biểu mô [9]:

    • Ung thư biểu mô tuyến (Adenocarcinoma) chiếm hơn 90%.
    • Ung thư dạng biểu bì (Epidermoide).
    • Ung thư nhầy dạng biểu bì (Mucoepidermoide)
    • Ung thư cơ trơn (Leiomyosarcom).
    • Ung thư biểu mô tuyến dạng nang (Cystadenocarcinoma)
    • Ung thư tế bào hạt (Granular Cell).
    • Ung thư tế bào vảy (Squamous).

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Esnaola N.F., Meyer J.E., Karachristos A., et al. (2016). Evaluation and management of intrahepatic and extrahepatic cholangiocarcinoma. Cancer, 122( 9), 1349-1369.

    2. Khan S.A., Tavolari S., and Brandi G. (2019). Cholangiocarcinoma: Epidemiology and risk factors. Liver Int Off J Int Assoc Study Liver, 39 Suppl 1, 19-31.

    3. Allen P.J., Reiner A.S., Gonen M., et al. (2008). Extrahepatic cholangiocarcinoma: a comparison of patients with resected proximal and distal lesions. HPB, 10( 5), 341-346.

    4. Trịnh Hồng Sơn (2014), Những biến đổi giải phẫu gan, ứng dụng phẫu thuật, Nhà xuất bản Y học.

    5. Nguyễn Văn Huy (2016), Giải phẫu người, Nhà xuất bản Y học.

    6. Trịnh Bình (2007), Mô phôi học, Nhà xuất bản Y học.

    7. Soares K.C., Kamel I., Cosgrove D.P., et al. (2014). Hilar cholangiocarcinoma: diagnosis, treatment options, and management. Hepatobiliary Surg Nutr, 3( 1), 18-34.

    8. de Groen P.C., Gores G.J., LaRusso N.F., et al. (1999). Biliary tract cancers. N Engl J Med, 341( 18), 1368-1378.

    9. Esposito I. and Schirmacher P. (2008). Pathological aspects of cholangiocarcinoma. HPB, 10( 2), 83-86.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ung Thư Đường Mật Ngoài Gan
  • Đừng Bỏ Qua Những Dấu Hiệu Cảnh Báo Sớm Ung Thư Đại Tràng
  • Dấu Hiệu Ung Thư Đại Tràng Di Căn Gan
  • Ung Thư Dạ Dày: Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Thuốc Chữa Và Cách Điều Trị Ung Thư Dạ Dày
  • Ung Thư Đường Mật Ngoài Gan (Phần 1) – Ung Thư Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Tác Dụng Của Mật Ong Và Gừng Trong Chữa Ung Thư
  • Người Đàn Ông Tự Chữa Ung Thư Cho Mình Trước Sự Kinh Ngạc Của Bác Sĩ
  • Bất Ngờ Sự Thật Với Tinh Bột Nghệ Ngăn Ngừa Và Hộ Trợ Điều Trị Bệnh Ung Thư, Bệnh Gan
  • Tam Thất Và Người Bệnh Ung Thư
  • Cách Dùng Tam Thất Bắc Điều Trị Ung Thư?
  • 1. ĐẠI CƯƠNG

    Ung thư gan nguyên phát

    (primary liver cancer) phần lớn là ung thư tế bào gan (hepatocellular carcinoma

    – HCC) hoặc ung thư đường mật (cholangio carcinoma), ngoài ra còn bao gồm u

    GIST gan, lymphoma.

    Trong phạm vi bài viết này chúng tôi đề cập đến ung thư đường mật ngoài gan (extra-hepatic cholangiocarcinoma) bao gồm ung thư ngã ba đường mật ( U Klatskin) và ung thư phần thấp ống mật chủ. Ung thư đường mật ngoài gan đoạn 1/3 giữa ống mật chủ thực tế hiếm gặp, thường là ung thư thứ phát do sự xâm lấn từ ung thư túi mật hơn là ung thư nguyên phát tại đường mật.

    2. ĐỊNH NGHĨA

    Ung thư đường mật ngoài gan

    là ung thư có nguồn gốc từ biểu mô đường mật và gặp ở bất kì vị trí nào của đường

    mật ngoài gan, được chia thành ung thư ngã ba đường mật (u Klaskin)  và ung thư phần thấp ống mật chủ. U Klaskin

    bao gồm những u nằm trong phạm vi 2cm từ chỗ phân nhánh của ống gan chung .

    Tỷ lệ hàng năm của ung thư ống mật tại Hoa Kỳ khoảng 1 trường hợp trên 100.000 người .

    Cấu tạo mô học của đường mật là biểu mô vuông đơn, không có tế bào nội mô,  90% ung thư đường mật là ung thư ống tuyến  

    • Type

      I:   u chưa xâm lấn vào ngã ba.

    • Type

      II:  u xâm lấn vào ngã ba.

    • Type III: u xâm lấn vào ngã ba lan về gan phải (IIIA)

      hoặc gan trái (IIIB)

    • Type

      IV: u lan cả hai hợp lưu đường mật trong gan hai bên.

    Các tác giả Mỹ chia

    UTĐM ngoài gan (ECC) làm hai loại chính là:

    • UTĐM ở rốn gan (u Klastkin)
    • UTĐM ở phần thấp OMC

    Đối với khối u đường mật chính, đặc trưng của các khối u này là xâm lấn thành đường mật làm cho thành đường mật dầy, hẹp và cứng. U phát triển lên cao, xuống thấp, xâm lấn ra ngoài thành đường mật.

    * Về mức độ xâm lấn thành đường mật và di căn của hạch: De Groen PC, Goiries GJ và cộng sự chia 5 giai đoạn . Người ta gọi là các u tuyến khi trong mô có sự hiển diện của các tuyến này (bình thường tuyến chỉ nằm ở lớp niêm mạc), đồng thời các tế bào tuyến có hình ảnh  tế bào ung thư (nhân lớn, kiềm tính, mất bào tương, nhiều lớp tế bào…). Khi các đặc trưng mô học của ung thư rõ ràng, số lượng tiêu bản đủ thì việc chẩn đoán mô học thường dễ dàng. Trái lại có thể rất khó xác định giữa ung thư với hình ảnh viêm đường mật hay giữa ung thư với loạn sản, quá sản. Trong viêm xơ đường mật mô liên kết của hệ thống đệm dày, xơ hoá cũng cho hình ảnh tương tự mô ung thư, lúc này những ống tuyến nằm sâu trong thành đường mật vì thế khó phân biệt với ung thư biệt hoá cao.

    Bên cạnh các ung thư tuyến biệt hoá (ống, nhú, vách) hay tế bào tự do tuỳ theo vị trí phân bố của tế bào này, còn có các dạng khác. Tất cả chúng đều là ung thư biểu mô [9]:

    • Ung thư biểu mô tuyến (Adenocarcinoma) chiếm hơn 90%.
    • Ung thư dạng biểu bì (Epidermoide).
    • Ung thư nhầy dạng biểu bì (Mucoepidermoide)
    • Ung thư cơ trơn (Leiomyosarcom).
    • Ung thư biểu mô tuyến dạng nang (Cystadenocarcinoma)
    • Ung thư tế bào hạt (Granular Cell).
    • Ung thư tế bào vảy (Squamous).

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1.       Esnaola N.F., Meyer J.E., Karachristos

    A., et al. (2016). Evaluation and management of intrahepatic and extrahepatic

    cholangiocarcinoma. Cancer, 122(9), 1349–1369.

    2.       Khan S.A., Tavolari S., and Brandi G.

    (2019). Cholangiocarcinoma: Epidemiology and risk factors. Liver Int Off J

    Int Assoc Study Liver, 39 Suppl 1, 19–31.

    3.       Allen P.J., Reiner A.S., Gonen M., et al.

    (2008). Extrahepatic cholangiocarcinoma: a comparison of patients with resected

    proximal and distal lesions. HPB, 10(5), 341–346.

    4.       Trịnh Hồng Sơn (2014), Những biến đổi

    giải phẫu gan, ứng dụng phẫu thuật, Nhà xuất bản Y học.

    5.       Nguyễn Văn Huy (2016), Giải phẫu người,

    Nhà xuất bản Y học.

    6.       Trịnh Bình (2007), Mô phôi học,

    Nhà xuất bản Y học.

    7.       Soares K.C., Kamel I., Cosgrove D.P., et

    al. (2014). Hilar cholangiocarcinoma: diagnosis, treatment options, and

    management. Hepatobiliary Surg Nutr, 3(1), 18–34.

    8.       de Groen P.C., Gores G.J., LaRusso N.F.,

    et al. (1999). Biliary tract cancers. N Engl J Med, 341(18),

    1368–1378.

    9.       Esposito I. and Schirmacher P. (2008).

    Pathological aspects of cholangiocarcinoma. HPB, 10(2),

    83–86.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Bệnh Về Gan Thường Gặp Ở Người Cao Tuổi
  • Chuyên Gia Về Xạ Trị Proton Ung Thư
  • “làng Ung Thư” Khát Nước Sạch
  • 12 Dấu Hiệu Ung Thư Đàn Ông Dễ Bỏ Qua
  • 7 Bệnh Ung Thư Thường Gặp Ở Nam Giới
  • Ung Thư Đường Mật Ngoài Gan (Phần 2) – Ung Thư Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Ung Thư Đại Tràng Di Căn Gan – Đừng Vội Đầu Hàng
  • Carcinoma, Sarcoma, Myeloma, Lymphoma Và Leukemia – Là Những Loại Ung Thư Gì?
  • Trung Tâm Ung Thư Parkway Vietnam
  • Samsung Xin Lỗi, Bồi Thường 133 Ngàn Usd Cho Mỗi Công Nhân Bị Ung Thư
  • Sốt Ác Tính – Phát Hiện Ung Thư Khi Bệnh Nhân Bị Sốt (Phần 1)
  • 5. Các phương pháp chẩn đoán UTĐM.

    5.1. Lâm sàng.

    Bệnh cảnh ung thư đường mật thường gặp 3 trường hợp chủ yếu: Phát hiện tình cờ –  Giai đoạn triệu chứng điển hình – Giai đoạn muộn

    Phát hiện tình cờ

    Trong giai đoạn này thường không có triệu chứng rõ ràng, bệnh cảnh phát hiện khi bệnh nhân tình cờ đi khám phát hiện bệnh. Có thể gặp triệu chứng đau dưới sườn phải.

    Giai đoạn triệu chứng điển hình

    a.       Triệu chứng cơ năng

    • Đau bụng vùng HSP có trên 30-50% bệnh nhân.
    • Các triệu chứng khác như ngứa do nhiễm độc muối mật thường gặp ở những trường hợp da vàng sẫm.
    • Gầy sút cân.

    b.       Triệu chứng thực thể

    • Vàng da là triệu chứng phổ biến nhất.
    • Đặc điểm của vàng da trong ung thư đường mật là: xuất hiện từ từ tăng dần vàng da tắc mật hoàn toàn (da vàng sậm, ngứa, phân trắng như “cứt cò”), không đau, không kèm sốt. Trường hợp thể polyp có thể gây ra vàng da từng đợt do mảnh u vỡ ra gây tắc nghẽn.
    • Gan to. Gan thường to mềm với bờ tù. Gan to, mật độ chắc, bờ sắc là biểu hiện của xơ gan do tắc mật, gặp trong ung thư khu trú ở một ống gan.
    • BN bị ung thư đoạn cuối ống mật chủ sẽ có túi mật căng to (dấu hiệu Courvoisier).
    • Sốt có thể gặp khi có nhiễm trùng đường mật xảy ra

    Giai đoạn muộn

    Trong giai đoạn muộn ngoài các triệu chứng cơ năng thực thể như giai đoạn triệu chứng điển hình còn có các triệu chứng như phù, bụng chướng ascite, hạch di căn.

    Vì vậy đứng trước một tình trạng vàng da thì cần nghĩ đến nguyên nhân là ung thư đặc biệt là ung thư đường mật. Tóm lại vẫn nên đi kiểm tra sức khỏe thường xuyên và định kỳ để phát hiện sớm các bệnh lý ung thư đặc biệt là ung thư đường mật.

    5.1.1. Hội chứng vàng da tắc mật

    Do sự phát triển của khối u đường mật làm cho hiện tượng tắc mật ngày càng tăng dần. Nhưng cũng tuỳ thuộc vào vị trí của khối u đường mật mà các biểu hiện của hội chứng tắc mật khác nhau. Thường gặp các triệu chứng sau:

    Toàn thân:

    • Vàng

      da: vàng da từ từ, tăng dần, liên tục

    • Gày

      sút: cũng là triệu chứng thường gặp.

    • Ngứa:

      do nhiễm độc muối mật, thường gặp khi có vàng da đậm

    • Phân

      bạc màu: Gặp khi có tắc mật hoàn toàn.

    Cơ năng:

    • Đau

      dưới sườn phải: là triệu chứng thường gặp, do hiện tượng tắc mật gây nên

    • Sốt:

      chỉ xuất hiện khi có nhiễm trùng đường mật kèm theo

    Thực thể:

    • Gan

      to

    • Túi

      mật to

    • Dịch

      ổ bụng

    • Khối

      u ổ bụng

    Tuy nhiên UTĐM ở Việt Nam còn có thể nhầm với sỏi mật nhất là những bệnh nhân có tiền sử sỏi mật hoặc đã được mổ sỏi mật.     

    5.1.2. Các yếu tố nguy cơ trong UTĐM.

    Có nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến UTĐM trong đó có 3 yếu tố

    nguy cơ cao đối với UTĐM là bệnh giãn đường mật bẩm sinh, sỏi mật nhiễm trùng

    đường mật và viêm xơ chít đường mật nguyên phát . Theo các tác giả Đức tuổi trung bình của UTĐM là 54,2 ± 11,3 tuổi và thường gặp ở nam nhiều hơn nữ với tỷ lệ xấp xỉ 1,4. Các tác giả Nhật nghiên cứu về UTĐM vùng rốn gan thấy tuổi trung của UTĐM vùng rốn gan là 62,0 tuổi, còn tỷ lệ Nam/nữ khoảng 1,5 . CA 19 – 9 chỉ có ở những người mang

    kháng nguyên Levis

    dương tính (chiếm 93 – 95% dân số), còn lại một số rất ít (5 – 7%)  thuộc nhóm Le (a-b-) thì không có kháng

    nguyên này. Ở Việt nam người có nhóm kháng nguyên Le(a-b-) là 16,18% . Một nghiên cứu khác của Hoàng Văn Sơn trên người Việt

    Nam có giá trị trung bình là 12,12 U/ml. trong đó 99,6% < 37 U/ml. Del

    Villano cũng đưa ra giá trị bình thường < 37 U/ml.

    Giới hạn tham chiếu: < 37 U/ml

    CA19-9 tăng cao trong bệnh lý UTĐM, ung thư tuỵ và các bệnh lý lành tính khác của gan mật. Vì vậy việc lựa chọn ngưỡng CA 19-9 rất quan trọng. Theo Benamouzig  nếu lấy ngưỡng 37 U/lít thì dương tính đạt 83% còn nếu lấy ngưỡng 200U/lít thì dương tính chỉ đạt 65% . Thăm khám tốt nhất khi bệnh nhân nhịn đói để túi mật đủ căng, với đầu dò có tần số từ 3,5 – 7 MHz. SA có khả năng phát hiện các tổn thương của đường mật trong và ngoài gan, của túi mật và của mạch máu vào và ra khỏi hệ gan (hệ TMC, tĩnh mạch gan).

    Trong UTĐM, SA có thể cung cấp các thông tin về vị trí, kích thước, cấu trúc âm của khối u. Ngay cả khi không phát hiện được khối u thì SA cũng cung cấp về chẩn đoán quan trọng bằng cách xác định chính xác mức độ tắc nghẽn đường mật. SA còn có thể phát hiện huyết khối TMC, động mạch gan, di căn hạch và di căn các tạng. Đây là ưu điểm của SA so với nội soi hay chụp đường mật, giúp các nhà lâm sàng có một đánh giá đầy đủ hơn về bệnh để đưa ra phương pháp điều trị thích hợp. Ngoài ra SA còn có thể ứng dụng trong can thiệp như hướng dẫn làm các thủ thuật chụp đường mật hay dẫn lưu đường mật.

              Hình ảnh siêu âm của UTĐM:

              – UTĐM chính: SA có thể thấy khối u 21 – 47% trường hợp. Các khối đồng âm với nhu mô gan 65%, tăng âm 15% và giảm âm trong 21%, đầu trên có hình cong lõm (hình càng cua), cấu trúc âm này không kèm bóng cản. Thành đường mật có thể bị phá huỷ và khối u phát triển ra xung quanh .

    Siêu âm có thể đánh giá sự xâm lấn thành đường mật và nhu mô gan của tổn thương ung thư với tỷ lệ 44%.

    – Ung thư tế bào đường mật hay u các đường mật nhỏ trong gan: thường biểu hiện dưới dạng một khối giới hạn rõ, đồng nhất, chủ yếu tăng âm và đồng âm, hiếm gặp giảm âm, bờ khối có thể có nhiều thuỳ.

    Có thể thấy hình ảnh huyết khối TMC (độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 75-83% và 93-100% .

    * Chụp đường mật qua da (Percutaneous transhepatic cholangiograms – PTC)

    Năm 1920, Burkhardt người đầu tiên sử dụng phương pháp

    tiêm chất cản quang qua thành bụng trước và túi mật để tìm nguyên nhân và và

    xác định vị trí tắc .

    Chụp đường mật qua da cho biết rõ hình ảnh đường mật, vị trí và giới hạn của khối u, để dự kiến kế hoạch mổ, nhằm tránh được những bất ngờ trong phẫu thuật. Tuy nhiên cần được chỉ định chặt chẽ trong tắc mật hoàn toàn trong UTĐM vì đây là phương pháp thăm dò có nhiều nguy cơ viêm phúc mạc mật và chẩy máu sau chụp . Độ nhậy và độ đặc hiệu đối với đánh giá tĩnh mạch cửa,

    động mạch gan và hạch lần lượt là 89% và 92%, 84% và 93%, 61% và 88% .

    – UTĐM trong gan: thường thấy một khối đồng hoặc tăng tỷ trọng tương đối đồng nhất trước khi tiêm thuốc cản quang, hiếm gặp tăng tỷ trọng (trong bệnh lý nhiễm ký sinh trùng), khối này thường kèm theo các nốt vệ tinh. Sau khi tiêm thuốc khối u ít ngấm thuốc cản quang, hình ảnh ngấm thuốc trong thì muộn gặp 25 – 55% trường hợp. Đây là dấu hiệu gợi ý chẩn đoán và  phân biệt với ung thư tế bào gan. Hiếm gặp có giãn đường mật trong gan. Có thể thấy hình ảnh huyết khối TMC, ĐMG, xâm lấn hạch và hướng dẫn cho chọc sinh thiết u.

    *Chụp cộng hưởng từ hạt nhân

    Hình  ảnh cộng hưởng từ dựa trên lý thuyết các phân tử trong tế bào và tổ chức khác nhau có tính chất từ tính khác nhau, khi đưa vào một từ trường cực mạnh chúng sẽ dao động và những dao động đó được ghi lại thành hình ảnh khác nhau của mỗi tổ chức, mỗi cơ quan khác nhau. MRI cho phép thăm dò bệnh lý vùng gan như: khối u, di căn gan, tĩnh mạch cửa, gan nhiễm mỡ, sỏi đường mật. Chống chỉ định trong những trường hợp bệnh nhân mang máy tạo nhịp tim, mang nguyên liệu kết hợp xương bằng kim loại trong người .

    *Chụp đường mật trong mổ.

    Phương pháp này được thực hiện lần đầu tiên bởi Mirizzi vào năm 1932. Ban đầu sử dụng chất cản quang trong dầu nên kết quả còn hạn chế, sau này sử dụng chất cản quang tan trong nước đã mang lại kết quả tốt, phương pháp này nhanh chóng được áp dụng rộng rãi trong mổ mật. Chụp đường mật trong mổ cho biết hình ảnh cây đường mật, vị trí và giới hạn của u đường mật.

    *Nội soi đường mật trong mổ .

    Từ năm 1923, Baker đã sử dụng phương

    pháp nội soi đường mật trong mổ bằng ống soi khí quản. Năm 1941, Iven M.C soi

    bằng ống kính quang học, đến năm 1955 Wildegans 

    mới hoàn chỉnh soi ống mật trong mổ 

    bằng ống soi cứng và đã ghi lại được một số hình ảnh tổn thương của

    đường mật, trong đó 62% là sỏi mật, 20% do ung thư, 3% do chít hẹp. Năm 1965,

    D.Shore mới sử dụng ống soi mềm  để soi

    đường mật.

    Phương pháp soi đường mật cho phép

    chẩn đoán chính xác chít hẹp bóng Vater mà các phương pháp chụp mật khác ít

    phát hiện được.

    Ở bệnh viện Việt Đức với ống nội soi mềm đường mật đã được sử dụng bởi Đỗ Kim Sơn, Tôn Thất Bách, Đoàn Thanh Tùng. Cho thấy chẩn đoán nội soi đảm bảo chắc chắn ống tới phân thuỳ và một số hạ phân thuỳ theo trục của đường mật. Chẩn đoán chảy máu đường mật xác định được ở mức hạ phân thuỳ và khả năng cầm máu của kỹ thuật thắt động mạch gan.

    5.3. Chẩn đoán giai đoạn

    Việc chẩn đoán giai đoạn ung thư đường mật là rất quan trọng trước mổ. Nó

    Có rất nhiều phân loại khác nhau về ung thư đường mật rốn gan nhưng hiện nay phân loại dựa theo Bismusth – Corlette được sử dụng nhiều nhất. Phân loại này cho biết vị trí khối u với đường mật và khả năng cắt bỏ nhưng lại không cho biết xâm lấn mạch máu, di căn và khả năng tiên lượng bệnh.

    5.3.1. Ung thư đường mật vùng rốn gan thường được phân loại theo Bismusth – Corlette, dựa vào phân loại có các chỉ định điều trị.

    • Týp I: khối u giới hạn ở ống gan chung
    • Týp II: khối u xân lấn vào ngã ba ống gan.
    • Týp IIIa: khối u xân lấn vào ống gan phải đoạn trong gan
    • Týp IIIb: khối u xân lấn vào ống gan trái đoạn trong gan.
    • Týp IV: khối u xân lấn vào ống gan phải và ống gan trái đoạn trong gan.

     5.3.2. Phân loại của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (AJCC)  lần thứ 7 cho UTDM ngoài gan xa dựa trên phân độ TNM. UTDM ngoài gan xa được xác định là ung thư OMC từ chỗ đổ vào của ống túi mật đến bóng Vater[37]

    •        Khối u nguyên phát (Tumor)

    • Tx: Không thể đánh giá được khối u nguyên phát
    • T0: Không có bằng chứng của khối u nguyên phát
    • Tis: Ung thư tại chỗ
    • T1: khối u còn giới hạn trong đường mật về mặt mô bệnh học
    • T2: khối u xâm lấn ra ngoài thành ống mật
    • T3: khối u xâm lấn vào túi mật, tuỵ, tá tràng hoặc các tạng lân cận khác nhưng chưa xâm lấn ĐM thân tạng hoặc ĐM mạc treo tràng trên.
    • T4: khối u xâm lấn ĐM thân tạng hoặc DDM mạc treo tràng trên.

    •        Di căn hạch (N)

    • Nx: không đánh giá được hạch vùng.
    • N0: không di căn hạch
    • N1: có di căn hạch

    Đánh giá giai đoạn ung thư đường mật (theo AJCC)

    Giai đoạn

    Khối u (T)

    Hạch (N)

    Di căn (M)

    0

    Tis

    N0

    M0

    IA

    T1

    N0

    M0

    IB

    T2

    N0

    M0

    IIA

    T3

    N0

    M0

    IIB

    T2,3

    N1

    M0

    III

    T4

    Bất kỳ

    M0

    IV

    Bất kỳ

    Bất kỳ

    M1

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1.       Esnaola N.F., Meyer J.E., Karachristos

    A., et al. (2016). Evaluation and management of intrahepatic and extrahepatic

    cholangiocarcinoma. Cancer, 122(9), 1349–1369.

    2.       Khan S.A., Tavolari S., and Brandi G.

    (2019). Cholangiocarcinoma: Epidemiology and risk factors. Liver Int Off J

    Int Assoc Study Liver, 39 Suppl 1, 19–31.

    3.       Allen P.J., Reiner A.S., Gonen M., et al.

    (2008). Extrahepatic cholangiocarcinoma: a comparison of patients with resected

    proximal and distal lesions. HPB, 10(5), 341–346.

    4.       Trịnh Hồng Sơn (2014), Những biến đổi

    giải phẫu gan, ứng dụng phẫu thuật, Nhà xuất bản Y học.

    5.       Nguyễn Văn Huy (2016), Giải phẫu người,

    Nhà xuất bản Y học.

    6.       Trịnh Bình (2007), Mô phôi học,

    Nhà xuất bản Y học.

    7.       Soares K.C., Kamel I., Cosgrove D.P., et

    al. (2014). Hilar cholangiocarcinoma: diagnosis, treatment options, and

    management. Hepatobiliary Surg Nutr, 3(1), 18–34.

    8.       de Groen P.C., Gores G.J., LaRusso N.F.,

    et al. (1999). Biliary tract cancers. N Engl J Med, 341(18),

    1368–1378.

    9.       Esposito I. and Schirmacher P. (2008).

    Pathological aspects of cholangiocarcinoma. HPB, 10(2),

    83–86.

    10.     Kirstein M.M. and Vogel A. (2016).

    Epidemiology and Risk Factors of Cholangiocarcinoma. Visc Med, 32(6),

    395–400.

    11.     Khan A.S. and Dageforde L.A. (2019).

    Cholangiocarcinoma. Surg Clin North Am, 99(2), 315–335.

    12.     Chamberlain R.S. and Blumgart L.H. (2000).

    55–66.

    13.     Zhao J.-Z. and Wu B.-H. (1997). Clinical

    significance of CA19-9 in diagnosis of digestive tract tumors. World J

    Gastroenterol, 3(4), 253–254.

    14.     Yazawa S., Asao T., Izawa H., et al.

    (1988). The psence of CA19-9 in serum and saliva from Lewis blood-group

    negative cancer patients. Jpn J Cancer Res Gann, 79(4),

    538–543.

    15.     Pavai S. and Yap S.F. (2003). The clinical

    significance of elevated levels of serum CA 19-9. Med J Malaysia, 58(5),

    667–672.

    16.     Liang B., Zhong L., He Q., et al. (2015).

    Diagnostic Accuracy of Serum CA19-9 in Patients with Cholangiocarcinoma: A

    Systematic Review and Meta-Analysis. Med Sci Monit Int Med J Exp Clin Res,

    21, 3555–3563.

    17.     Madhusudhan K.S., Gamanagatti S., and Gupta

    A.K. (2015). Imaging and interventions in hilar cholangiocarcinoma: A review. World

    J Radiol, 7(2), 28–44.

    18.     Hann L.E., Greatrex K.V., Bach A.M., et al.

    (1997). Cholangiocarcinoma at the hepatic hilus: sonographic findings. AJR

    Am J Roentgenol, 168(4), 985–989.

    19.     Neumaier C.E., Bertolotto M., Perrone R.,

    et al. (1995). Staging of hilar cholangiocarcinoma with ultrasound. J Clin

    Ultrasound JCU, 23(3), 173–178.

    20.     Olthof S.-C., Othman A., Clasen S., et al.

    (2016). Imaging of Cholangiocarcinoma. Visc Med, 32(6),

    402–410.

    21.     Young M. and Mehta D. (2020). Percutaneous

    Transhepatic Cholangiogram. StatPearls. StatPearls Publishing, Treasure

    Island (FL).

    22.     Spârchez Z. (2004). Echoguided percutaneous

    biliary drainage. Indications, performances, complications. Romanian J

    Gastroenterol, 13(2), 139–146.

    23.     Ruys A.T., Van Beem B.E., Engelbrecht

    M.R.W., et al. (2012). Radiological staging in patients with hilar

    cholangiocarcinoma: a systematic review and meta-analysis. Br J Radiol, 85(1017),

    1255–1262.

    24.     Lee M.G., Lee H.J., Kim M.H., et al.

    (1997). Extrahepatic biliary diseases: 3D MR cholangiopancreatography compared

    with endoscopic retrograde cholangiopancreatography. Radiology, 202(3),

    663–669.

    25.     Phelip J.-M., Vendrely V., Rostain F., et

    biliary tract cancer: Fédération Francophone de Cancérologie Digestive 9902

    phase II randomised study. Eur J Cancer Oxf Engl 1990, 50(17),

    2975–2982.

    26.     Fuller C.D., Dang N.D., Wang S.J., et al.

    (2009). Image-guided intensity-modulated radiotherapy (IG-IMRT) for biliary

    adenocarcinomas: Initial clinical results. Radiother Oncol J Eur Soc Ther

    Radiol Oncol, 92(2), 249–254.

    27.     Glimelius B., Hoffman K., Sjödén P.O., et

    pancreatic and biliary cancer. Ann Oncol Off J Eur Soc Med Oncol, 7(6),

    593–600.

    28.     Sharma A., Dwary A.D., Mohanti B.K., et al.

    (2010). Best supportive care compared with chemotherapy for unresectable gall

    bladder cancer: a randomized controlled study. J Clin Oncol Off J Am Soc

    Clin Oncol, 28(30), 4581–4586.

    29.     Valle J., Wasan H., Palmer D.H., et al.

    (2010). Cisplatin plus gemcitabine versus gemcitabine for biliary tract cancer.

    N Engl J Med, 362(14), 1273–1281.

    30.     Okusaka T., Nakachi K., Fukutomi A., et al.

    (2010). Gemcitabine alone or in combination with cisplatin in patients with

    biliary tract cancer: a comparative multicentre study in Japan. Br J Cancer,

    103(4), 469–474.

    31.     Valle J.W., Furuse J., Jitlal M., et al.

    meta-analysis of two randomised trials. Ann Oncol Off J Eur Soc Med Oncol,

    25(2), 391–398.

    32.     Lamarca A., Hubner R.A., David Ryder W., et

    review. Ann Oncol Off J Eur Soc Med Oncol, 25(12),

    2328–2338.

    33.     Gruenberger B., Schueller J., Heubrandtner

    U., et al. (2010). Cetuximab, gemcitabine, and oxaliplatin in patients with

    Oncol, 11(12), 1142–1148.

    34.     Malka D., Cervera P., Foulon S., et al.

    biliary-tract cancer (BINGO): a randomised, open-label, non-comparative phase 2

    trial. Lancet Oncol, 15(8), 819–828.

    35.     Moehler M., Maderer A., Schimanski C., et

    biliary tract cancer: a double-blind placebo-controlled multicentre phase II

    AIO study with biomarker and serum programme. Eur J Cancer Oxf Engl 1990,

    50(18), 3125–3135.

    36.     Valle J.W., Wasan H., Lopes A., et al.

    (2015). Cediranib or placebo in combination with cisplatin and gemcitabine

    randomised phase 2 trial. Lancet Oncol, 16(8), 967–978.

    37.     Houghton

    E. (2019). Complex percutaneous biliary procedures: Review and contributions of

    a high volume team. Int J Gastrointest Interv, 8(1),

    10–19.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chửa Trứng Và Ung Thư Nhau Thai
  • Tại Sao Hóa Trị Ung Thư Lại Gây Rụng Tóc?
  • Ung Thư Ruột Già Cần Biết 9 Điều Sau Đây
  • Ung Thư Dây Thanh Giai Đoạn Sớm: Hướng Điều Trị Và Tiên Lượng
  • Những Điều Cần Biết Về Ung Thư Phần Mềm
  • Ut Đường Mật Trong Gan – Phần 1 – Ung Thư Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Ung Thư Phổi Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Tìm Hiểu Về Ung Thư – Căn Bệnh “Quái
  • Ruột Kết Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Bệnh Ung Thư Phổi – Những Điều Cần Biết
  • ĐẶT VẤN ĐỀ

    Ung thư­ đư­ờng mật là những khối u ác tính xuất phát từ biểu mô của hệ thống đ­ường mật từ trong gan đến đ­ường mật ngoài gan và đ­ường mật phụ.

    Theo vị trí giải phẫu ung thư­ đ­ường mật đư­ợc chia thành 3 nhóm: Ung thư­ túi mật, ung thư­ đ­ường mật và ung th­ư bóng Vater. Ung thư­ đ­ường mật lại đư­ợc chia thành: Ung thư­ đư­ờng mật trong gan, ung thư­ đư­ờng mật vùng rốn gan (U Klatskin) và ung thư­ phần thấp ống mật chủ. Về mặt giải phẫu thì ống gan phải và trái là thuộc đường mật ngoài gan do vậy các khối u vùng rốn gan (u Klatskin) được xếp vào ung thư đường mật ngoài gan , , .

    Bài viết này chúng tôi xin được điểm lại một số nét chính về dịch tễ học, triệu chứng, chẩn đoán cũng như điều trị của loại ung thư này.

    DỊCH TỄ HỌC – Bệnh nguyên và bệnh sinh

    Ung thư đường mật trong gan có nguồn gốc từ quá trình viêm nhiễm mạn tính đường mật trong gan làm tổn thương đường mật gây quá sản biểu mô đường mật, nguồn gốc xuất hiện ung thư. Các nguyên nhân thường gặp của UTĐMTG gồm: viêm chít đường mật nguyên phát, bệnh đường mật bẩm sinh, sỏi trong gan, sán lá gan . Theo nghiên cứu của các tác giả Âu-Mỹ thì nguyên nhân thường gặp là do bệnh đường mật, ngược lại với nghiên cứu của các tác giả châu Á thì phần lớn do nhiễm trùng.

    PHÂN LOẠI UNG THƯ ĐƯỜNG MẬT TRONG GAN

    Phân loại theo giải phẫu bệnh

    Đại thể

    Có nhiều cách phân loại UTĐMTG dựa theo hình thái học và các thương tổn trong mổ

    – Theo

    Eggel, cũng giống như ung thư biểu mô tế bào gan (Hepato Carcinoma

    Cellulaire-HCC) thì UTĐMTG cũng được chia làm 3 thể: thể nốt, thể khối và thể

    lan tỏa

    Weinbren và Mutum chia UTĐM thành 3 thể: thể nốt, thể xơ và thể nhú.

    – Hiệp

    hội ung thư gan Nhật Bản, năm 1997 đã phân 3 loại thương tổn trong ung thư

    đường mật trong gan dựa trên đặc điểm phát triển của khối u: thể u, thể thâm nhiễm quanh đường mật, thể trong

    lòng đường mật 

    • Ung thư biểu mô tuyến (Adenocarcinoma) chiếm hơn 90%.
    • Ung thư dạng biểu bì (Epidermoide).
    • Ung thư nhầy dạng biểu bì chế nhầy (Mucoepidermoide).
    • Ung thư cơ trơn (Leiomyosarcom).
    • Ung thư biểu mô tuyến dạng nang (Cystadenocarcinoma).
    • Ung thư tế bào hạt (Granular Cell).
    • Ung thư tế bào vảy (Squamous).
    • Ung thư biểu mô tuyến nhú.
    • Thể hỗn hợp giữa UTĐM và ung thư tế bào gan( Hepato Cholangio Carcinoma)

    Xâm lấn của các u này thường khu trú tại vùng, di căn ngoài gan rất hiếm, xâm lấn tại chỗ theo mạch máu, ống mật. Đối với xâm lấn vùng nổi trội và xâm lấn hạch (cuống gan). Xâm lấn tạng theo đường kế cận khá hiếm.

    Phân loại theo giai đoạn bệnh

    Phân loại theo giai đoạn bệnh UTĐMTG trên thế giới

    hiện nay chủ yếu dựa theo phân loại của hiệp hội ung thư Hoa Kỳ (AJCC=American

    Joint Committee on Cancer) . Đa số bệnh nhân đến khám

    bệnh có biểu hiện đau tức hạ sườn phải, gầy sút, hoặc trong bệnh cảnh của tắc

    mật, nhiễm trùng đường mật do sỏi mật. Có khi bệnh nhân đến khám có biểu hiện của

    hội chứng vàng da tắc mật tăng dần trong trường hợp này thường bệnh đã ở giai

    đoạn muộn, khả năng phẫu thuật triệt căn là không cao .

    Hội chứng vàng da tắc mật:

    • Trong UTĐMTG vàng da thường ở giai đoạn muộn, khi khối u to chèn ép vào đường mật ngoài gan hoặc có khi là hạch rốn gan to chèn ép vào cuống gan hoặc ống mật chủ, đặc điểm của vàng da trong UTĐMTG là vàng da tăng dần, kèm theo vàng da  bệnh nhân có ngứa. Có nhiều trường hợp UTĐMTG nằm trong bệnh cảnh vàng da do sỏi mật và nhiễm trùng đường mật với các biểu hiện của đau hạ sườn phải, sốt , vàng da.
    • Ngứa: thường gặp trong vàng da đậm, do ảnh hưởng của sắc tố mật.
    • Phân bạc mầu: khi tắc mật hoàn toàn.
    • Nước tiểu sẫm màu.

    Đau hạ sườn phải: bệnh nhân thường đau tức âm ỉ, ít khi đau dữ dội.

    Sốt : thường sốt nhẹ ,  sốt cao khi có nhiễm trùng đường mật kèm theo thường sốt nóng sốt rét

    Hội chứng suy giảm chức năng gan: với các biểu hiện như xuất hiện sao mạch, bụng có dịch cổ trướng, xuất huyết dưới da….

    Biểu hiện toàn thân:vàng da, gầy sút .. là những dấu hiệu khi ung thư ở giai đoạn muộn.

    Triệu chứng thực thể:

    • Gan to: Có thể gặp ở gan phải, gan trái hoặc gan to toàn bộ
    • Túi mật to: ít gặp, túi mật to khi u gây chèn ép vào cuống gan và chỗ đổ của ống cổ túi mật, có thể gặp trong trường hợp hạch rốn gan to chèn ép vào ống mật chủ
    • Dịch cổ trướng, tuần hoàn bàng hệ: khi u đã di căn phúc mạc . Bên cạnh đó giai đoạn muộn có thể gặp các biến chứng như hội chứng Budd – Chiari do xâm lấn tĩnh mạch trên gan hoặc di căn hạch gây chèn ép .

      – Kháng nguyên CA 19-9 tăng cao, nhưng không chỉ tăng trong ung thư đường mật mà còn có thể tăng trong các trường hợp tắc mật lành tính. Chất chỉ điểm khối u không chỉ được sử dụng để phát hiện ung thư trên những bệnh nhân viêm xơ hoá đường mật mạn tính vì độ nhạy 89% và độ đặc hiệu 86% mà còn được sử dụng để theo dõi và phát hiện ung thư tái phát sau mổ .

      – Các xét nghiệm khác:

      • Lấy mẫu qua da bởi kim hút tế bào có khẩu kính nhỏ hoặc kim sinh thiết có khẩu kính lớn.
      • Qua ống soi lấy dịch mật hoặc dịch tụy để phân tích tế bào và tìm trứng sán và sán.
      • Phương pháp lấy nội mạc bao gồm: chải mô, kìm bấm sinh thiết, rửa nòng.
      • Tìm trứng sán và sán trong phân và hiệu giá kháng thể của phản ứng Elisa khi nghi ngờ có sán trong đường mật.

      Chẩn đoán hình ảnh

      Siêu âm: Trong ung thư

      đường mật, siêu âm có thể cung cấp các thông tin về vị trí, kích thước, cấu

      trúc âm của khối u . Ngoài ra

      siêu âm còn hướng dẫn các thày thuốc lâm sàng tiến hành các thủ thuật như: chụp

      đường mật hay dẫn lưu đường mật qua da, siêu âm trong mổ xác định vị trí u,

      biến trong mổ.

      SA có thể thấy khối u chiếm tỷ lệ 21 – 47% các trường hợp. Hình ảnh các khối đồng âm với nhu mô gan chiếm 44 – 65%, tăng âm chiếm 33 – 35%, đầu trên có hình cong lõm (hình càng cua), cấu trúc âm này không kèm bóng cản , , [18].

      TÀI LIỆU THAM KHẢO

      1.       Chen M.F. (1999).

            Peripheral

      cholangiocarcinoma (cholangiocellular carcinoma): clinical features, diagnosis

      and treatment. J Gastroenterol Hepatol, 14(12), 1144–1149.

      2.       Ohtsuka

      M., Ito H., Kimura F., et al. (2002).

            Results of surgical treatment for intrahepatic cholangiocarcinoma and clinicopathological factors influencing survival. Br J Surg, 89(12), 1525–1531.

      3.       Fulcher

      A.S. and Sterling R.K. (2002).

            Hepatic

      neoplasms: computed tomography and magnetic resonance features. J Clin

      Gastroenterol, 34(4), 463–471.

      4.       Lim J.H.

      (2004).

            Cholangiocarcinoma:

      538–539.

      5.       Zimmermann

      A. (2017).

            Intrahepatic

      Cholangiocarcinomas (ICCs). Tumors and Tumor-Like Lesions of the

      Hepatobiliary Tract: General and Surgical Pathology. Springer International

      Publishing, Cham, 549–586.

      6.       Kim

      H.J., Kim J.S., Joo M.K., et al. (2015).

           Hepatolithiasis and intrahepatic

      cholangiocarcinoma: A review. World J Gastroenterol, 21(48),

      13418–13431.

      7.       Yang J.

      and Yan L.-N. (2008).

            Current

      status of intrahepatic cholangiocarcinoma. World J Gastroenterol WJG, 14(41),

      6289–6297.

      8.       Chu

      K.-M., Lai E.C.S., Al-Hadeedi S., et al. (1997).

            Intrahepatic

      Cholangiocarcinoma. World J Surg, 21(3), 301–306.

      9.       Huang

      J.L., Biehl T.R., Lee F.T., et al. (2004).

            Outcomes

      after resection of cholangiocellular carcinoma. Am J Surg, 187(5),

      612–617.

      10.     Dialogues

      L. Les Cancers des voies biliaires extra-hépatique… – Congrès

      français de chirurgie – Masson: 10-125.

      11.     Yamamoto

      N., Shiraki K., Yamanaka Y., et al. (2004).

            Images of

      interest. Hepatobiliary and pancreatic: cholangiocarcinoma with chylous

      ascites. J Gastroenterol Hepatol, 19(12), 1417.

      12.     Chong

      R.W.W., Chung A.Y.F., Chew I.W.C., et al. (2006).

            Ruptured

      peripheral cholangiocarcinoma with hemoperitoneum. Dig Dis Sci, 51(5),

      874–876.

      13.     Kwon

      O.S., Jung D.W., Kim S.H., et al. (2007).

            Distant

      skeletal muscle metastasis from intrahepatic cholangiocarcinoma psenting as

      Budd-Chiari syndrome. World J Gastroenterol, 13(22),

      3141–3143.

      14.     Malaguarnera

      G., Giordano M., Paladina I., et al. (2011).

            Markers of

      bile duct tumors. World J Gastrointest Oncol, 3(4), 49–59.

      15.     Dorandeu

      A., Raoul J.L., Siriser F., et al. (1997).

            Carcinoma

      of the ampulla of Vater: prognostic factors after curative surgery: a series of

      45 cases. Gut, 40(3), 350–355.

      16.     Nakamura

      S., Suzuki S., Sakaguchi T., et al. (1996).

            Surgical

      treatment of patients with mixed hepatocellular carcinoma and cholangiocarcinoma.

      Cancer, 78(8), 1671–1676.

      17.     Bloom

      C.M., Langer B., and Wilson S.R. (1999).

            Role of US

      in the Detection, Characterization, and Staging of Cholangiocarcinoma. RadioGraphics,

      19(5), 1199–1218.

      18.     Wibulpolprasert

      B. and Dhiensiri T. (1992).

            Peripheral

      cholangiocarcinoma: sonographic evaluation. J Clin Ultrasound JCU, 20(5),

      303–314.

      19.     Lee N.W.,

      Wong K.P., Siu K.F., et al. (1984).

            Cholangiography

      in hepatocellular carcinoma with obstructive jaundice. Clin Radiol, 35(2),

      119–123.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Ung Thư Vú Và Những Điều Phụ Nữ Cần Biết! – Phòng Khám
    • Bệnh U Não Sống Được Bao Lâu?
    • Ung Thư Không Phải Là “Án Tử” Nếu Làm Điều Này Sớm Hơn
    • Ung Thư Vòm Họng Là Gì? Nguyên Nhân, Dấu Hiệu, Cách Khắc Phục
    • Tầm Soát, Chẩn Đoán Và Điều Trị

    Cảnh Báo Ung Thư Đường Mật Di Căn Qua Gan

    --- Bài mới hơn ---

  • Ung Thư Đường Mật Di Căn Gan
  • Chuyên Đề Tuần 3: Tiên Lượng Sống Lâu Dài Sau Cắt Ung Thư Ống Tuyến Tụy Có Di Căn Hạch Cạnh Động Mạch Chủ: Báo Cáo Một Trường Hợp Lâm Sàng, Phan Thị Thùy Dung
  • Tổng Quan Về Ung Thư Thanh Quản (Larynx Cancer)
  • 4 Điều Quan Trọng Nhất Cần Biết Về Ung Thư Di Căn
  • Hỏi Ung Thư Dạ Dày Di Căn Có Thể Chữa Khỏi Được Không?
  • Ung thư đường mật di căn qua gan là biểu hiện của bệnh ung thư đường mật đã ở giai đoạn cuối. Lúc này, mọi phương pháp điều trị gần như không mang lại hiệu quả. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của y học cùng sự giúp đỡ của các y bác sĩ sẽ giúp cho người bệnh giảm bớt những đau đớn, khó chịu, giúp kéo dài sự sống.

    Triệu chứng của bệnh ung thư đường mật di căn qua gan

    • Ung thư đường mật di căn qua gan sẽ khiến gan to, mềm với bờ tù. Nó khiến người bệnh cảm thấy khó chịu, đau đớn ở phần trên gan, phía bên phải bụng. Tuy nhiên, nếu ung thư di căn đến một ống gan thì gan sẽ to ra với mật độ chắc, có bờ sắc.
    • Vàng da, vàng mắt: khi các tế bào ung thư di căn qua gan sẽ gây cản trở dịch từ gan tiết ra, chảy ngược vào máu gây vàng da, vàng mắt, càng về giai đoạn cuối thì triệu chứng này càng được biểu hiện rõ hơn.
    • Hoạt động của gan bị suy giảm nghiêm trọng khiến người bệnh cảm thấy chướng bụng, chán ăn…
    • Chức năng gan bị ảnh hưởng khiến các chất độc trong cơ thể không được đào thải mà tích tụ lại khiến người bệnh mệt mỏi, buồn nôn…

    Điều trị ung thư đường mật di căn qua gan như thế nào?

    Tuy thuộc vào mức độ bệnh ung thư đường mật di căn sang gan cũng như sức khỏe của người bệnh mà có những phương pháp điều trị khác nhau. Tuy nhiên, bất kỳ một phương pháp điều trị nào cũng chỉ mang tính tam thời, nó không có tác dụng điều trị triệt để căn bệnh này mà chỉ giúp người bệnh giảm bớt đau đớn, kéo dài thêm thời gian sống.

    Một số phương pháp điều trị bệnh ung thư đường mật di căn qua gan phổ biến hiện nay

    1. Phẫu thuật cắt bỏ khối u

    Đây là phương pháp mang lại hiệu quả điều trị triệt để đối với bệnh nhân bị ung thư đường mật. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ được thực hiện khi bệnh ung thư đường mật đang ở giai đoạn sớm. Trường hợp khối u này có sự lan rộng, di căn đến gan thì thường không có khả năng phẫu thuật cắt bỏ.

    2. Phẫu thuật ghép gan

    Phương pháp này chỉ có thể áp dụng cho các trường hợp người bị ung thư đường mật trong gan hoặc rốn gan. Đây là phương pháp khá phức tạp và chi phí cao, thực hiện được hay không còn tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe người bệnh.

    3. Phương pháp hóa trị, xạ trị

    Phương pháp này mang tính hỗ trợ, được tiến hành khi tế bào ung thư đã di căn sang gan và không thể cắt bỏ. Tiến hành hóa trị trước khi phẫu thuật và xạ trị đối với ung thư ác tính, để biến phần gan bị cắt bỏ thu hẹp lại nhằm đảm bảo chức năng gan một cách tối đa.

    Bệnh ung thư đường mật di căn qua gan có thể sống được bao lâu?

    Nếu phát hiện muộn, khi bệnh ung thư đường mật đã di căn qua gan thì thời gian sống của người bệnh sẽ còn rất ngắn. Trường hợp người bệnh không được chữa trị hoặc không đồng ý chữa trị thì người bệnh chỉ có thể sống được khoảng 6 tháng.

    Tuy nhiên nếu phát hiện sớm và có thể cắt bỏ được khối u thì có khoảng 30-40% bệnh nhân sống được khoảng 5 năm. Trường hợp khối u không thể cắt bỏ được mà chỉ có thể điều trị bằng các phương pháp giảm nhẹ thì 50% bệnh nhân sống được khoảng 1 năm, số còn lại có thể sống được lâu hơn.

    Đặc biệt, nếu người bệnh có niềm tin, luôn để cho tinh thần được vui vẻ, thoải mái, kết hợp với chế độ chăm sóc khoa học, hợp lý sẽ hỗ trợ tích cực cho quá trình điều trị, giúp mang lại hiệu quả điều trị tốt hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chữa Trị Như Thế Nào Khi Ung Thư Tụy Di Căn Gan?
  • Dấu Hiệu Ung Thư Di Căn
  • Cách Chữa Trị Ung Thư Gan Di Căn Như Thế Nào Hiệu Quả?
  • Dùng Thuốc Nam Chữa Ung Thư Đại Tràng Di Căn Được Không?
  • Ung Thư Phổi Di Căn Lên Não Sống Được Bao Lâu: Câu Trả Lời Ở Chính Người Bệnh
  • Ung Thư Đường Mật (Ung Thư Ống Mật)

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Bài Thuốc Chữa Ung Thư Cứu Đời Cho Người Nghèo
  • Vàng Da Có Thể Là Một Dấu Hiệu Của Ung Thư Đường Mật
  • Chăm Sóc Bệnh Nhân Viêm Đường Mật Cấp
  • Người Đàn Ông Phát Hiện Ung Thư Đường Mật Từ 3 Dấu Hiệu Này
  • Các Bài Thuốc Chữa Kiết Lỵ Bằng Thuốc Nam Tốt Nhất
  • Ung thư đường mật là ung thư hình thành trong các ống mảnh (ống mật) mang dịch tiêu hóa mật. Các ống dẫn mật kết nối gan của bạn với túi mật và ruột non của bạn. Tình trạng này, còn được gọi là ung thư ống mật, là một dạng ung thư không phổ biến, chủ yếu xảy ra ở những người trên 50 tuổi, mặc dù nó có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi.

    Các bác sĩ chia ung thư đường mật thành nhiều loại khác nhau dựa trên vị trí ung thư xảy ra trong đường mật:

    Ung thư đường mật xa xảy ra ở phần của ống mật gần nhất với ruột non.

    Trong tây y ung thư đường mật là một loại u rất khó điều trị.

    Các dấu hiệu và triệu chứng của ung thư đường mật bao gồm:

    Vàng da và lòng trắng của mắt (vàng da)

    Da ngứa dữ dội

    Phân màu trắng

    Giảm cân ngoài ý muốn

    Hãy đi khám bác sĩ nếu bạn bị mệt mỏi dai dẳng, đau bụng, vàng da hoặc các dấu hiệu và triệu chứng khác khiến bạn khó chịu. Họ có thể giới thiệu bạn đến bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa (bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa).

    Ung thư đường mật xảy ra khi các tế bào trong đường mật phát triển những thay đổi (đột biến) trong DNA của chúng – nguyên liệu cung cấp hướng dẫn cho mọi quá trình hóa học trong cơ thể bạn. Đột biến DNA gây ra những thay đổi trong hướng dẫn. Một kết quả là các tế bào có thể bắt đầu phát triển ngoài tầm kiểm soát và cuối cùng hình thành một khối u – một khối tế bào ung thư. Không rõ nguyên nhân gây ra các đột biến gen dẫn đến ung thư.

    Các yếu tố có thể làm tăng nguy cơ ung thư đường mật bao gồm:

    Không có cách nào để ngăn ngừa ung thư biểu mô đường mật (ung thư ống mật). Nhưng bạn có thể giảm nguy cơ mắc bệnh nếu:

    Ví dụ, để giảm nguy cơ bị viêm gan (xơ gan), hãy uống rượu ở mức độ vừa phải, nếu có. Duy trì cân nặng hợp lý. Khi làm việc với hóa chất, hãy tuân theo các hướng dẫn an toàn trên thùng chứa.

    Nếu bác sĩ của bạn nghi ngờ ung thư đường mật, họ có thể yêu cầu bạn trải qua một hoặc nhiều xét nghiệm sau:

    Tuy nhiên, mức độ CA 19-9 trong máu cao không có nghĩa là bạn bị ung thư ống mật. Kết quả này cũng có thể xảy ra trong các bệnh ống mật khác, chẳng hạn như viêm và tắc nghẽn ống mật.

    Nếu khu vực nghi ngờ nằm ​​rất gần nơi ống mật kết nối với ruột non, bác sĩ có thể lấy mẫu sinh thiết trong quá trình ERCP. Nếu khu vực nghi ngờ nằm ​​trong hoặc gần gan, bác sĩ có thể lấy mẫu mô bằng cách đâm một cây kim dài qua da vào khu vực bị ảnh hưởng (chọc hút bằng kim nhỏ). Người đó có thể sử dụng xét nghiệm hình ảnh, chẳng hạn như siêu âm nội soi hoặc chụp CT, để hướng kim đến khu vực chính xác.

    Cách bác sĩ thu thập mẫu sinh thiết có thể ảnh hưởng đến các lựa chọn điều trị nào dành cho bạn sau này. Ví dụ, nếu ung thư ống mật của bạn được sinh thiết bằng cách chọc hút bằng kim nhỏ, bạn sẽ không đủ điều kiện để ghép gan. Đừng ngần ngại hỏi bác sĩ về kinh nghiệm chẩn đoán ung thư đường mật. Nếu bạn có bất kỳ nghi ngờ nào, hãy lấy ý kiến ​​thứ hai.

    Phương pháp điều trị ung thư đường mật (ung thư ống mật) có thể bao gồm:

    Bởi vì ung thư đường mật là một loại khối u rất khó điều trị, bạn đừng ngần ngại hỏi bác sĩ về kinh nghiệm điều trị bệnh. Nếu bạn có bất kỳ nghi ngờ nào, hãy lấy ý kiến ​​thứ hai.

    Thử nghiệm lâm sàng là các nghiên cứu để kiểm tra các phương pháp điều trị mới, chẳng hạn như liệu pháp toàn thân và các phương pháp phẫu thuật mới. Nếu phương pháp điều trị đang được nghiên cứu chứng minh là an toàn và hiệu quả hơn các phương pháp điều trị hiện tại, nó có thể trở thành tiêu chuẩn chăm sóc mới.

    Các thử nghiệm lâm sàng đối với ung thư đường mật có thể cho bạn cơ hội thử liệu pháp nhắm mục tiêu mới hoặc thuốc hóa trị.

    Các thử nghiệm lâm sàng không thể đảm bảo chữa khỏi bệnh và chúng có thể có các tác dụng phụ nghiêm trọng hoặc không mong muốn. Mặt khác, các thử nghiệm lâm sàng ung thư được giám sát chặt chẽ để đảm bảo chúng được tiến hành một cách an toàn nhất có thể. Họ cung cấp quyền truy cập vào các phương pháp điều trị mà nếu không sẽ có sẵn cho bạn.

    Nói chuyện với bác sĩ của bạn về những thử nghiệm lâm sàng có thể phù hợp với bạn.

    Chăm sóc giảm nhẹ là chăm sóc y tế chuyên biệt tập trung vào việc giảm đau và các triệu chứng khác của bệnh nghiêm trọng. Các chuyên gia chăm sóc giảm nhẹ làm việc với bạn, gia đình bạn và các bác sĩ khác của bạn để cung cấp thêm một lớp hỗ trợ bổ sung cho việc chăm sóc liên tục của bạn. Chăm sóc giảm nhẹ có thể được sử dụng khi đang điều trị tích cực, chẳng hạn như phẫu thuật.

    Khi chăm sóc giảm nhẹ được sử dụng cùng với các phương pháp điều trị thích hợp khác – thậm chí ngay sau khi bạn chẩn đoán – những người bị ung thư có thể cảm thấy tốt hơn và có thể sống lâu hơn.

    Chăm sóc giảm nhẹ được cung cấp bởi đội ngũ bác sĩ, y tá và các chuyên gia được đào tạo đặc biệt khác. Các đội này nhằm mục đích cải thiện chất lượng cuộc sống cho những người mắc bệnh ung thư và gia đình của họ. Chăm sóc giảm nhẹ không giống như chăm sóc cuối đời hoặc chăm sóc cuối đời.

    Tham khảo các biện pháp trị liệu ung thư tự nhiên trên blogogashop.com

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bật Mí Những Phương Pháp Phẫu Thuật Ung Thư Đường Mật
  • Các Loại Bệnh Ung Thư Đường Mật Thường Gặp
  • Triệu Chứng Và Phương Pháp Điều Trị Ung Thư Đường Mật Ngoài Gan
  • Phác Đồ Điều Trị Ung Thư Di Căn Xương
  • Ung Thư Di Căn Xương Và Những Điều Bạn Cần Biết Về Ung Thư Di Căn Xương
  • Bệnh Ung Thư Đường Mật

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Quan Về Ung Thư Đường Mật (Cholangiocarcinoma)
  • Ung Thư Đường Mật: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Điều Trị
  • Triệu Chứng Và Bài Thuốc Chữa Ung Thư Đường Mật
  • Bệnh Nhân Cần Lưu Ý Gì Sau Phẫu Thuật Ung Thư Đường Mật?
  • Các Phương Pháp Chẩn Đoán Ung Thư Đường Mật Phổ Biến Hiện Nay
  • Ung thư đường mật là ung thư hình thành trong hệ thống các ống dẫn đưa mật từ gan xuống ruột non. Người mắc bệnh thường có các triệu chứng như vàng mắt, vàng da, sút cân, mệt mỏi…

    1. Ung thư đường mật là gì

    2. Triệu chứng của ung thư đường mật

    3. Tác hạị của bệnh ung thư đường mật

    4. Nguyên nhân gây ra bệnh ung thư đường mật

    5. Điều trị bệnh ung thư đường mật

    6. Phòng chống bệnh ung thư đường mật

    7. Bác sĩ điều trị

    Ung thư ống mật là ung thư hình thành trong các ống mật có chứa chất dịch tiêu hóa. Đường mật nối gan với túi mật và ruột non. Tình trạng này, còn được gọi là ung thư ống mật, là một dạng ung thư phổ biến thường xuất hiện ở những người trên 50 tuổi, mặc dù nó có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi.

    Các triệu chứng thường gặp của bệnh ung thư đường mật đó là:

    Vàng da: Vàng da là triệu chứng dễ nhận biết nhất ở người ung thư đường mật. Nguyên nhân khiến cho người bệnh vàng da là hậu quả của tình trạng tắc nghẽn đường mật gây ra bởi khối u. Muối mật trào ngược từ trong đường mật vào các xoang gan, đi vào máu và lắng đọng ở da. Cùng với dấu hiệu vàng da thì người bệnh còn có một số biểu hiện bất thường như phân bạc mầu và nước tiểu sậm mầu (như nước vối).

    Ngứa: Ngứa thường kèm với vàng da nhưng nhiều trường hợp lại xuất hiện trước khi có vàng da. Mức độ ngứa thường tăng lên về đêm và hầu như không đáp ứng với các thuốc điều trị da liễu. Ngứa là do acid mật lắng đọng ở da, kích thích các thụ thể thần kinh cảm giác.

    Gầy sút cân: hầu hết những người mắc ung thư đường mật đều bị sút cân. Nguyên nhân do trình rối loạn tiêu hóa (chán ăn,ăn không tiêu, chướng bụng) vì không có dịch mật được bài xuất xuống ruột.

    Đau bụng vùng gan: Ở giai đoạn đầu thì bệnh nhân sẽ đau mơ hồ, lúc có lúc không. Một thời gian sau sẽ cảm thấy đau bụng nhiều hơn do các biến chứng của tắc mật.

    Gan to: Gan to là do hậu quả của tình trạng ứ mật. Khoảng 25% các trường hợp có thể sờ thấy bờ gan ở dưới bờ sườn với mật độ mềm.

    Khi cơ thể bạn gặp phải các triệu chứng như vàng da, vàng mắt, đau bụng ở gan, gầy sút cân thì tốt nhất bạn nên đến trung tâm y tế để được thăm khám và được bác sĩ chẩn đoán bệnh chính xác nhất.

    Bác sĩ tham vấn thông tin:

    ✍ Các bác sĩ Thần Kinh Hello Doctor

    유 Chat Bác sĩ trên Facebook

    Ung thư đường mật là một căn bệnh nguy hiểm. Trước hết, ung thư đường mật khiến cho người bệnh suy giảm về sức khỏe, sức đề kháng giảm dẫn đến việc dễ mắc những bệnh khác.

    Sau đó, ung thư đường mật ảnh hưởng đến gan, khiến cho người bệnh đau đớn, gặp vấn đề với ăn uống và tiêu hóa. Bệnh nếu không được phát hiện sớm và chữa trị kịp thời sẽ khiến cho tế bào ung thư di căn, đe dọa đến tính mạng người bệnh và trường hợp xấu nhất là tử vong.

    Một số nguyên nhân chính gây nên bệnh ung thư đường mật mà chúng ta có thể kể đến đó chính là do tình trạng béo phì, hút thuốc và uống rượu bia nhiều, di truyền, nhiễm kí sinh trùng.

    Rượu, bia là một trong những nguyên nhân gây ra ung thư đường mật

    Tuổi tác: bệnh không phổ biến ở người trẻ hoặc trung niên. Trên 60 % bệnh nhân được phát hiện từ 65 tuổi trở lên. Nếu bạn bắt đầu bước vào giai đoạn trung niên, bạn nên chú ý đến việc tầm soát các bệnh ung thư nguy hiểm, trong đó có ung thư đường mật.

    Béo phì: béo phì có thể làm tăng nguy cơ phát triển một số bệnh mạn tính và ung thư, bao gồm ung thư ống mật.

    Lịch sử gia đình: Mặc dù tiền sử gia đình có ung thư đường mật có thể làm tăng nguy cơ ung thư. Tuy nhiên bạn đừng lo lắng, theo bác sĩ hầu hết các trường hợp phát hiện ung thư ống mật đều không có mối quan hệ gia đình do đây là một căn bệnh hiếm gặp.

    Uống quá nhiều rượu bia: Trong rượu bia có cồn, chất kích thích ảnh hưởng đến men gan. Lạm dụng rượu là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng xơ gan, làm tăng nguy cơ ung thư gan và ung thư đường mật của một người.

    Hút thuốc: Hút thuốc lá không chỉ là nguyên nhân chính dẫn đến bệnh ung thư phổi mà cũng là một trong những nguyên nhân có thể làm tăng nguy cơ phát triển ung thư đường mật và các bệnh nguy hiểm khác.

    Tiếp xúc với hóa chất nguy hiểm: Những người tiếp xúc nhiều với các loại hóa chất độc hại thì nguy cơ mắc ung thư đường mật rất cao. Các chất hóa học độc hại như: dioxin, polyclorinated biphenyls (PCBs), nitrosamines, amiăng, radon và thorotrast…

    Bệnh gan hoặc mật ống: Một số bệnh của gan hoặc ống mật, như bệnh gan đa nang, viêm tụy (viêm tụy), hội chứng ruột kích thích, u túi mật (túi mật chứa bên ngoài gan với tế bào tiền ung thư)…có thể làm tăng nguy cơ ung thư ống mật.

    Nhiễm ký sinh trùng: Sán lá gan là một loại kí sinh trùng dưới nước có thể nhiễm vào ống mật cơ thể người và gây ung thư.

    Thử nghiệm hóa học máu: Các xét nghiệm hóa học máu đo mức bilirubin và phosphatase kiềm và kiểm tra chức năng gan khác. Nếu kết quả xét nghiệm của bạn cho thấy mức cao của các chất này trong máu, có thể chỉ ra rằng ống mật của bạn không hoạt động tốt.

    Sinh thiết: Các xét nghiệm khác có thể gợi ý rằng ung thư có mặt, nhưng chỉ thực hiện sinh thiết từ tế bào được lấy trực tiếp từ đường mật mới có thể chẩn đoán xác định được khối u lành tính hay ác tính.

    Siêu âm: Trong siêu âm, bác sĩ có thể nhìn thấy khối u thật sự. Để xem đường mật, bác sĩ có thể dùng siêu âm nội soi thay thế. Hình ảnh siêu âm sẽ cung cấp cho bác sĩ các thông tin về đường mật như vị trí, khối lượng, kích thước và mức độ tổn thương khối u gây ra.

    Chụp cộng hưởng từ (MRI): MRI sử dụng từ trường chứ không phải tia X để tạo ra hình ảnh chi tiết của cơ thể. MRI chuyên dùng cho ống mật được gọi là MRI phương pháp nội soi mật tụy ngược dòng giúp bác sĩ xác định khối u và các vị trí khối u đã lan rộng và tác động đến hệ bạch huyết và các cơ quan khác trong cơ thể.

    Phẫu thuật: Vị trí và độ nhạy của vùng đường mật thường làm cho ca phẫu thuật trở nên khó khăn. Hiệu quả của phẫu thuật có thể bị giới hạn bởi kích cỡ khối u và phần di căn. Các lựa chọn điều trị phẫu thuật phổ biến cho ung thư đường mật bao gồm:Phẫu thuật cắt bỏ ống mật, phẫu thuật một phần, thủ tục Whipple, ghép gan.

    Liệu pháp bức xạ: Xạ trị bằng tia X năng lượng cao hoặc các hạt khác để tiêu diệt các tế bào ung thư. Tuy nhiên phương pháp này ít khi được sử dụng trong quá trình điều trị ung thư đường mật. Nó thường được các bác sĩ sử dụng để kiểm soát các triệu chứng và đau khi bệnh tiến triển.

    Hóa trị: Hoá trị liệu là việc sử dụng thuốc để tiêu diệt các tế bào ung thư, thường là bằng cách ngăn chặn khả năng phát triển và phân chia của các tế bào ung thư. Nghiên cứu đã cho thấy hóa trị liệu có thể kéo dài cuộc sống của những bệnh nhân bị ung thư ống mật mà không thể thực hiện phẫu thuật.

    Khi thấy bản thân có các dấu hiệu của bệnh ung thư đường mật, bạn cần đến gặp bác sĩ để được thăm khám, chẩn đoán xác định bệnh và sớm đưa ra phương án điều trị. Bạn có thể liên hệ đặt khám với các bác sĩ của Hello Doctor theo số điện thoại 1900 1246 để được giúp đỡ, Hello Doctor luôn sẵn lòng được hỗ trợ cho bạn.

    • Tuyệt đối không hút thuốc lá, tránh xa môi trường có khói thuốc. Bởi khói thuốc có chứa rất nhiều chất độc hại, tàn phá sức khỏe con người một cách nghiêm trọng, là nguyên nhân không chỉ gây bệnh ung thư đường mật mà còn nhiều bệnh nguy hiểm khác.
    • Không lạm dụng đồ uống chứa cồn như rượu, bia cũng như chứa các chất kích thích.
    • Có chế độ ăn uống khoa học, đảm bảo khẩu phần ăn đầy đủ dinh dưỡng, vệ sinh, chú trọng bổ sung rau, củ, quả, …
    • Thường xuyên luyện tập thể dục thể thao để tăng cường sức khỏe miễn dịch, có khả năng chống lại mọi tác nhân gây bệnh. Có chế độ làm việc, sinh hoạt và học tập thật hợp lí.
    • Khi cơ thể mắc các bệnh như xơ gan, viêm gan, nhiễm ký sinh trùng, … thì cần phải điều trị triệt để tránh các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư đường mật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triệu Chứng Ung Thư Đường Mật
  • Về Bệnh Ung Thư Đường Mật Và Cách Nhận Biết
  • Cách Điều Trị Ung Thư Đường Mật Giúp Bạn Chiến Thắng Số Phận
  • Ung Thư Đường Mật Ngoài Gan (Phần 1)
  • Ung Thư Đường Mật Ngoài Gan
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100