Ung Thư Giáp

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Ung Thư Giáp xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 20/01/2021 trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Ung Thư Giáp để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 5.346 lượt xem.

Có 217 tin bài trong chủ đề【Ung Thư Giáp】

【#1】Ung Thư Giáp Dễ Chữa Khỏi Nếu Được Phát Hiện Sớm

Một lần kiểm tra sức khỏe, chị Hà tình cờ được phát hiện có nhân giáp kích thước gần 1 cm qua siêu âm. Sau xét nghiệm, bác sĩ kết luận chị bị ung thư giáp. Bệnh nhân được phẫu thuật cắt thùy giáp và điều trị nội tiết hơn một năm nay tại BV Ung bướu TP HCM, và có thể khỏi hẳn.

Theo ghi nhận của Bệnh viện Ung bướu TP HCM, ung thư giáp được xếp thứ tám trong mười loại ung thư thường gặp ở phụ nữ và đứng thứ 14 trong các loại ung thư tính chung cả hai giới. Ở cơ sở này, các trường hợp u tuyến giáp chiếm gần 50% số ca mổ.

Bác sĩ Bùi Xuân Trường, Phó khoa Ngoại 5 cho biết, ung thư giáp chiếm tới 90% số ca ung thư nội tiết. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, từ trẻ tới người già, nhất là những người có tiền căn nhiễm xạ (sau xạ trị vùng cổ chẳng hạn). Khoảng một nửa số ca u giáp ở trẻ em là ung thư. Về giới tính, bệnh nổi trội ở phụ nữ hơn nam giới.

Ung thư giáp có biểu hiện khác nhau ở từng trường hợp, lộ diện hoặc giấu mặt. Vì vậy, bệnh có thể được chẩn đoán dễ dàng hoặc rất khó khăn. Ung thư có thể biểu hiện dưới dạng hạt giáp, có hoặc không triệu chứng xâm lấn tại chỗ, di căn hạch, di căn xa… Cũng có trường hợp bệnh xâm lấn vào thần kinh hồi thanh quản hoặc ăn sâu vào khí quản, thực quản gây khàn tiếng, khó thở, khó nuốt và ho ra máu.

Theo bác sĩ Trần Văn Thiệp, Trưởng khoa Ngoại 3, ung thư giáp có 4 dạng chính với những diễn tiến rất khác biệt. Carcinôm (ung thư biểu mô) dạng nhú chiếm đa số, khoảng 80%- 85%, thường xảy ra ở trẻ em và người trẻ tuổi. Bệnh thường di căn hạch bạch huyết ở vùng cổ, ít di căn xa theo đường máu. Còn carcinôm dạng nang chiếm 10%-15%, thường thấy ở người trung niên, hay di căn xa đến các xương dẹt và phổi, hiếm khi di căn hạch. Carcinôm dạng tủy có tỷ lệ khoảng 5%, là dạng ung thư giáp đa ổ và di căn hạch mạnh, có thể mang tính gia đình. Số còn lại là carcinôm không biệt hóa, thường xảy ra ở bệnh nhân lớn tuổi. Dạng này xâm lấn tại chỗ và di căn mạnh theo cả đường hạch bạch huyết lẫn đường máu, thường tiến triển nhanh và có tiên lượng rất xấu.

Bác sĩ Bùi Xuân Trường cho biết, hiện có rất nhiều phương tiện chẩn đoán ung thư giáp hữu hiệu. Siêu âm có khả năng phát hiện sớm những tổn thương rất nhỏ chừng một vài milimét. Trong trường hợp u quá nhỏ, không sờ thấy, siêu âm còn giúp hướng dẫn mũi kim khi thực hiện chọc hút tế bào bằng kim nhỏ hoặc giúp chọn lọc điểm nào nên chọc trong trường hợp bướu giáp đa hạt. Bệnh còn được chẩn đoán bằng nhiều phương pháp khác như xét nghiệm hình ảnh, sinh hóa, giải phẫu bệnh…

Phẫu thuật có vai trò chủ yếu trong điều trị ung thư giáp. Tùy thuộc mức độ lan rộng và những đặc điểm khác của u như kích thước, loại vi thể, tính xâm lấn, tính đa ổ…, bác sĩ sẽ xác định quy mô phẫu thuật. Thông thường là cắt giáp gần toàn phần hoặc toàn phần, có thể kèm theo nạo hạch cổ cùng bên u hoặc hai bên. Nếu u xâm lấn vào các cấu trúc kế cận như thực quản, khí quản…, bác sĩ có thể tiến hành cắt giáp rộng, hy sinh một phần khí quản, thực quản. Sau đó, bệnh nhân sẽ được tái tạo phần khuyết hổng của khí, thực quản với mục đích vừa điều trị triệt để, vừa vẫn giữ được đường ăn, đường thở và tiếng nói. Sau phẫu thuật, bệnh nhân có thể được điều trị tiếp bằng đồng vị phóng xạ, nội tiết…

Nếu được phát hiện sớm, ung thư giáp có khả năng chữa khỏi khá cao. Tuy nhiên, vì bệnh phát triển chậm, khá âm thầm, ngoài sự hiện diện của khối u ra thì ít có triệu chứng khó chịu, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống nên nhiều người đến gặp bác sĩ khi bệnh đã ở giai đoạn muộn. Mặt khác, không ít người tự điều trị theo những cách phản khoa học như đắp thuốc, đắp lá, cắt chích lể hoặc dùng ngải đốt lên vùng u… Khi họ đến bệnh viện, trên cổ đã chằng chịt nhiều sẹo xấu, hoặc khối u sau thời gian dài bị “chọc phá” đã trở nên lở loét, xâm lấn rộng mô mềm vùng cổ…

Một số trường hợp phát hiện bệnh muộn do bác sĩ không tận dụng hết những phương tiện sẵn có để chẩn đoán chính xác, từ đó không can thiệp đúng mức. Đã có không ít bệnh nhân được mổ “lấy u”, “bóc bướu” ở những cơ sở y tế khác, khi bệnh tái phát và được chẩn đoán là ung thư mới chuyển đến Bệnh viện Ung bướu để mổ lại. Việc chẩn đoán và điều trị sai vừa gieo rắc tế bào ung thư vừa gây khó khăn cho những lần mổ sau vì dễ xảy ra tai biến. Và như thế, vô tình bệnh nhân đã bị mất cơ hội can thiệp đúng mức ngay từ lần mổ đầu tiên.

(Theo Người Lao Động)


【#2】Ung Thư Giáp Trạng: Chẩn Đoán Và Điều Trị

Tuyến giáp to ra không đau.

Các xét nghiệm chức năng tuyến giáp thường bình thường.

Có thể có tiền sử tia xạ vùng đầu và cổ.

Chọc hút tuyến giáp có kết quả dương tính.

Nhận định chung

Tỷ lệ mắc ung thư giáp trạng (loại biệt hóa) dạng nang tuyến và dạng nhú tăng theo tuổi. Tỷ lệ giữa nữ: nam là 3: 1. Ung thư giáp trạng phát triển trên lâm sàng chiếm ít hơn 1% các loại ung thư nhưng ở dạng carcinoma nhỏ (microcarcinoma) thì có thể lên tới 35% các trường hợp mổ tử thi tuyến giáp ở người lớn. Hầu hết các ung thư tuyến giáp biệt hóa (dạng nhú hoặc dạng nang tuyến) tiết thyroglobulin, vì vậy có thể coi nó là mốc khối u dùng để theo dõi sau khi mổ cắt tuyến giáp toàn bộ.

Ung thư tuyến giáp dạng nhú là hay gặp nhất. Ung thư dạng nhú đơn thuần hoặc hỗn hợp nhú nang tuyến chiếm khoảng 76% các trường hợp ung thư tuyến giáp. Ung thư thường thể hiện là một nhân đơn độc nhưng cũng có thể xuất hiện trên bướu đa nhân. Các bệnh nhân có tiền sử điều trị tia xạ ngoài ở vùng đầu hoặc cổ từ thời thơ âu thì tăng nguy cơ bị bệnh suốt đời. Tương tự, tuổi ấu thơ mà phơi nhiễm với iod đồng vị phóng xạ trong bụi hạt nhân (ví dụ sau thảm họa Chernobyl) mang nguy cơ cao bị ung thư nhú giáp trạng phát triển trong những năm sau này. Bệnh cũng có thể mang tính gia đình (3%) hoặc kết hợp với bệnh Cowden hoặc polyp tuyến ở đại tràng (adenomatous polyposis coli).

Nói chung, ung thư nhú giáp trạng là ung thư xâm lấn ít nhất. Dù sao thì khối u này cũng lan theo đường bạch huyết trong tuyến tạo thành đa ổ trong 60% các trường hợp vả bao gồm cả hai thùy trong 30% các trường hợp. Nó xâm lấn các hạch bạch huyết tại chỗ và trong vùng, đôi khi di căn phổi. Ghi xạ hình giáp với iod phóng xạ thường thấy ung thư nhú là nhân tương đối lạnh; dù sao thì phần lớn ung thư loại này đều bắt một chút iod, nên sau khi phẫu thuật cắt tuyến giáp toàn bộ, người ta có thể dùng iod để có thể phát hiện di căn và có thể điều trị. Hình ảnh mô bệnh học u nhú đặc trưng có nguy cơ tái phát cao hơn: loại tế bào cao, tế bào hình trụ và xơ hóa lan tỏa.

Ung thư nhú mạn tính đôi khi có thể trải qua thoái biến thành một ung thư xâm lấn.

Ung thư dạng nang tuyến chiếm khoảng 16% bệnh lý ác tính của tuyến giáp và nhìn chung là xâm lấn hơn ung thư nhú. Hiếm khi ung thư nàng tuyến bài tiết thyroxin đủ để gây ra nhiễm độc giáp trừ khi kích thước khối u đủ lớn. Di căn thường thấy ở các hạch cổ, xương và phổi. Phần lớn các ung thư nang tuyến đều háo bắt iod nên sau khi đã phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp toàn bộ thì sử dụng 131 I để chẩn đoán di căn và điều trị. Hình ảnh mô bệnh học nang tuyến đặc trưng có nguy cơ cao di căn và tái phát: tế bầo ít biệt hóa và tế bào Hiirthle biến đổi (là tế bào ung thư). Gác biến đổi muộn hiếm khi bắt iod phóng xạ.

Ung thư tủy giáp chiếm khoảng 4% các ung thư tuyến giáp: Khoảng 1/ 3 là tự phát, 1/3 mang tính gia đình và 1/3 kết hợp với ung thư đa tuyến nội tiết (MEN) typ 2. Vì vậy, phát hiện ung thư tủy giáp thì nên theo dõi, khám cả gia đình. Ung thư tủy giáp phát sinh từ các tế bào giáp cạnh nang tuyến mà các tế bào này có thể bài tiết calcitonin, prostaglandin, serotonin, ACTH, CRH và các peptid khác. Các peptid này, có thể gây ra các triệu chứng và được sử dụng như là chất đánh dấu (marker) khối u. Các di căn sớm tại chỗ thường có, và thường di căn tới các cơ lân cận, tới khí quản, tới các hạch tại chỗ và hạch vùng trung thất. Cuối cùng, di căn muộn có thể thấy ở xương, phổi, thượng thận hoặc gan. Khối u này không bắt iod.

Ung thư giáp trạng không biệt hóa chiếm khoảng 1% các ung thư giáp. Ung thư này thường xuất hiện ở nhưng bệnh nhân lớn tuổi với khối u to lên nhanh chóng trên bướu đa nhân. Nó là ung thư tuyến giáp xâm lấn nhiều nhất, di căn sớm tới các hạch lần cận và tới các vị trí ở xa khác. Triệu chứng chèn ép tại chỗ bao gồm nuốt nghẹn và liệt dây thanh âm. Khối u này không bắt iod.

Cầc ung thư loại khác chiếm khoảng 3% ung thư giáp trạng, u lympho của tuyến giáp thường gặp ở phụ nữ nhiều hơn nam giới. Thường biểu hiện là khối to lên nhanh chóng, rất đau và phát sinh trên bướu đa nhân hoặc bửớu giáp to lan tỏa do các bệnh viêm tuyến giáp tự miễn. Do vậy có thể nhầm lẫn về mặt vi thể. Khoảng 20% các trường hợp cò kèm theo suy giáp, u lympho tuyến giáp cũng được coi là một phần của u lympho toàn thân được điều trị bằng hóa chất. Phẫu thuật cắt tuyến giáp hiếm khi được thực hiện; u lympho có thể là di căn của các ung thư bao gồm: từ tuyến giáp, đặc biệt là từ phế quản, từ vú, từ ung thư thận và u hắc tố ác tính.

Các triệu chứng và dấu hiệu

Dấu hiệu chủ yếu của ung thư giáp trạng là nhân thuộc tuyến giáp sờ thấy được, chắc và không căng. Hạch vùng cổ trước có thể to ra. Ung thư giáp biệt hóa di căn đôi khi có thể tiết lượng hormon giáp đủ để gây nhiễm độc giáp.

Ung thư tủy giáp thường gây ra cơn bốc hoả và ỉa chảy (30%), mệt mỏi và các triệu chứng khác; khoảng 5% phát triển hội chứng Cushing do sự bài tiết ACTH hoặc CRH. Những khối u không biệt hóa hoặc khối u tồn tại từ lâu có thể gây chèn ép các mô lân cận làm liệt dây thần kinh quặt ngược thanh quản hoặc nhân của nó dính chặt vào các cấu trúc xung quanh.

Dấu hiệu cận lâm sàng

Các xét nghiệm chức năng giáp trạng nói chung bình thường trừ khi có kèm theo viêm tuyến giáp. Ung thư nang có thể tiết thyroxin đủ để ức chế TSH và gây ra nhiễm độc giáp trên lâm sàng.

Thyroglobulin huyết thanh cao trong hầu hết các trường hợp ung thư dạng nhú và dạng nang có di căn, đây là một mốc có ích dùng để phát hiện sự tái phát hoặc di căn. Dù sao cần phải đánh giá cẩn thận vì những lý do sau: (1) Kháng thể kháng thyroglobulin lưu hành có thể làm sai lạc xét nghiệm định lượng thyroglobulin. (2) Nồng độ thyroglobulin có thể tăng trong viêm tuyến giáp làm cho nhầm lẫn mà bệnh viêm tuyến giáp thường có song hành với ung thư. (3) Việc định lượng thyroglobulin đôi khi báo sai là vẫn tiếp tục có thyroglobulin sau phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp toàn bộ và cắt bỏ khối u, làm cho lo lắng quá mức là có thể đã có di căn. Do vậy, khi nồng độ thyroglobulin không phù hợp thì nên làm lại xét nghiệm ở phòng xét nghiệm khác.

Nồng độ calcitonin huyết thanh thường tăng trong ung thư tủy giáp, đây cũng là một mốc để phát hiện di căn. Ngoài ra, calcitonin huyết thanh có thể tăng trong nhiều tình huống khác như là viêm tuyến giáp, có thai, tăng calci máu, tăng nitơ máu và các bệnh ác tính khác như là u tủy thượng thận, các loại ung thư, ung thư phổi, ung thư tụy, ung thư vú và ung thư đại tràng.

Nồng độ kháng nguyên bào thai (CEA) huyết thanh thường tăng trọng ung thư tủy giáp và là mốc có ích thứ 2, nhưng dù sao nó cũng không đặc hiệu cho ung thư này. Định lượng calcitonin và CEA nên làm trước khị phẫu thuật ung thư tủy giáp và sau phẫu thuật nên xét nghiệm định kỳ theo dõi.

Nồng độ calcitonin cao ở các bệnh nhân mà u còn tồn tại, tuy nhiên ở một số bệnh nhân đã điều trị khỏi nồng độ calcitonin có thể vẫn cao. Do đó nồng độ calcitonin hoặc CEA đang tăng dần lên là chỉ định tốt nhất tìm sự tái phát.

Vì 2/3 các trường hợp ung thư tủy giáp mang tính gia đình hoặc thuộc MEN typ 2 nên các anh chị em và con cái của bệnh nhân được khuyên thử nghiệm về gen để phát hiện gen đột biến tiền ung thư RET.

Chẩn đoán hình ảnh

Siêu âm ở vùng cổ có ích trong việc xác định vị trí, kích thước của khối ung thư và tìm di căn ở vùng cổ. Di căn xương và mô mềm mà bắt iod phóng xạ có thể thấy được trên xạ hình với iod phóng xạ. Chụp X quang thường hoặc chụp cắt lớp lồng ngực có thể thấy hình ảnh di căn; ung thư tủy giáp thì hạch và gan có thể calci hóa, còn di căn phổi ít thấy; các di căn ung thư có thể được phát hiện qua chụp cắt lớp phát xạ positron (PET).

Chẩn đoán phân biệt

Các ung thư thần kinh nội tiết có thể di căn tới tuyến giáp và bị nhầm với ung thư tủy giáp.

Biến chứng thay đổi tùy loại ung thư. Ung thư giáp biệt hóa có thể di căn tại chỗ và di căn xa. 1/3 các trường hợp ung thư tủy giáp có thể tiết serotonin và prostaglandin gây ra cơn bốc hỏa, ỉa chảy. Có thể có biến chứng do các bệnh kết hợp như u tủy thượng thận hoặc cường cận giáp. Biến chứng của phẫu thuật vùng cổ triệt để thường bao gồm suy cận giáp vĩnh viễn, ít gặp hơn là liệt dây thanh âm; suy giáp vĩnh viễn là tất yếu và luôn cần được điều trị thích hợp.

Bảng. Một số đặc điểm của ung thư tuyến giáp

Phẫu thuật cắt bỏ là phương thức điều trị được lựa chọn đối với các ung thư giáp trạng. Siêu âm vùng cổ có ích lợi cho cả trước khi mổ và theo dõi sau này. Người phẫu thuật viên kỹ năng cao có thể thực hiện mổ cắt tuyến giáp gần toàn bộ mà tỷ lệ xảy ra các biến chứng nặng (suy cận giáp, tổn thương dây thần kinh quặt ngược thanh quản) thấp hơn 1%. Các tác giả khác báo cáo tới 11% xảy ra suy cận giáp vĩnh viễn sau mổ cắt tuyến giáp toàn bộ.

Sau mổ cắt tuyến giáp, bệnh nhân phải được nằm viện điều trị nội trú theo dõi cho tới khi xác định được rằng họ thực sự an toàn, cần ít nhất một đêm nằm viện để theo dõi chảy máu muộn, thông khí và cơn co giật (tetany). Phẫu thuật cắt tuyến giáp ngoại trú là rất nguy hiểm và không nên làm.

Tỉ lệ suy cận giáp có thể giảm đi nếu tuyến cận giáp vô tình đã bị cắt bỏ được cấy ghép ngay lập tức vào các cơ vùng cổ. Thuận lợi của phẫu thuật cắt tuyến giáp gần toàn bộ trong trường hợp ung thư giáp biệt hóa là các ổ ung thư có nhiều khả năng được cắt bỏ hết và nhu mô giáp bình thường còn lại bắt 131 I muộn hơn so với tổ chức ung thư khi ghi xạ hình hoặc khi điều trị bằng iod phóng xạ. Phẫu thuật cắt tuyến giáp bán phần là chấp nhận được với các bệnh nhân tuổi dưới 45 và có một khối u đơn thuần với kích thước nhỏ < 1 cm. Ung thư giảp biệt hóa thì tránh cắt các cơ vùng cổ. Sau phẫu thuật, sử dụng ngay lập tức thyroxin với liều 0,05 – 0,1 mg/ngày. Liều này được điều chỉnh để giữ nồng độ TSH huyết thanh luôn ở tình trạng ức chế nhẹ trong thời gian dài theo dõi ung thư giáp trạng biệt hóa.

Dùng 131 I điều trị với liều trên 100 mCi có thể gây ra viêm tuyến nước bọt, viêm dạ dày và tinh dịch ít nhất thời. Tổng liều trên 500 mCi có thể gây vô sinh, giảm các tế bào máu (4%) và bệnh bạch hầu (0,3% ).

Ổ di căn ở xương có thể được điều trị bằng tia xạ ngoài. Di căn não thường không đáp ứng với 131 I và phẫu thuật cắt bỏ là tốt nhất hoặc điều trị bằng tia xạ gamma.

Hình ảnh dương tính giả với 131I trên xạ bình thường gặp là tổ chức tuyến giáp còn lại là bình thường, ngoài ra cũng có báo cáo với các túi thừa Zenker, u nang buồng trứng, nang màng phổi, màng tim, dạ dày căng và tất cả tổ chức bài tiết chứa 131 I.

Hình ảnh âm tính giả thường gặp trong các di căn sớm của các ung thư giáp biệt hóa nhưng cũng gặp bệnh giai đoạn bệnh quá phát hơn, khoảng 14% các trường hợp di căn xương.

Bệnh nhân bị ung thư giáp biệt hóa được theo dõi trên lâm sàng bằng sờ nắn vùng cổ, khám thực thể toàn thân. X quang ngực và tìm dấu hiệu nhiễm độc giáp, để có thể chỉ ra các ổ di căn có chức năng của tuyến giáp. Làm xạ hình lần 1 sau phẫu thuật khoảng 6 – 12 tháng sau thì bệnh nhân thường được làm xạ hình toàn thân khác với 131 I và định lượng thyroglobulin trong khi suy giáp, giai đoạn này thyroglobulin có độ nhạy tới 95% cho di căn. Thyroglobulin huyết thanh ở bệnh nhân đang điều trị thyroxin có độ nhạy thấp hơn (62%).

Ghi xạ hình với thallium – 201 ( 201TI) có thể có ích trong việc phát hiện di căn do ung thư giáp biệt hóa trong trường hợp xạ hình với 131 I là bình thường nhưng lượng thyroblubulin huyết thanh tăng. MRI hoặc siêu âm có ích lợi trong chẩn đoán phân biệt khối u tuyến giáp tái phát với những thay đổi sau phẫu thuật.

Bệnh nhân bị ung thư nhú phải có ít nhất 2 lần ghi xạ hình âm tính liên tục thì mới được thừa nhận là bệnh thuyên giảm. Xạ hình thêm nứa có thể cần thiết đối với các bệnh nhân bị ung thư dạng nang xâm lấn hơn, có di căn trước đó, tăng thyroglobulin huyết thanh hoặc có bằng chứng khác về di căn. Bệnh nhân bị ung thư giáp không biệt hóa được điều trị bằng cắt bỏ và tia xạ tại chỗ. Ung thư lympho giáp được điều trị tốt nhất với tia xạ ngoài; hoá trị liệu được phối hợp đối với u lympho lan rộng.

Bệnh nhân bị ung thư giáp không biệt hóa và ung thư tủy giáp được điều trị ngoại khoa, các khối u này không bắt 131 I.

Bảng. Các giai đoạn bệnh của khối u hạch di căn và tỷ lệ sống sót ở người lớn bị ung thư giáp biệt hóa (dạng nhú và nang) được điều trị thích họp dựa vào tuổi bệnh nhân, kích thước khối u tiên phát và sự xâm lấn tại chỗ của khối u (T), tổn thương hạch Lympho (N), và di căn xa (M)

Ung thư tủy giáp có tiên lượng thay đổi. Bệnh nhân bị ung thư tủy giáp tự phát thường vào thời điểm được chẩn đoán đã có hạch lympho, trong khi hàng năm sau cũng không có các di căn xa thì tỷ lệ sống 5 năm sau là 82%, sau 10 năm là 69%. Các trường hợp bệnh mang tính gia đình hoặc kết hợp với MEN typ 2a có khuynh hướng xâm lấn ít hơn, tỷ lệ sống sau 10 năm cao hơn, một phần là do phát hiện sớm hơn. Phụ nữ bị ung thư tủy giáp thì người dưới 40 tuổi có tiên lượng tốt hơn. Tỷ lệ chết tăng cao gấp 4,5 lẩn khi nhu mô khối u tiên phát hoặc di căn bắt màu mạnh do kháng nguyên đơn bào tủy M-1. Trái lại các khối u mà bắt màu immunoperoxidase mạnh do calcitonin thì đời sống kéo dài, thậm chí ngay cả khi có di căn.

Ung thư giáp không biệt hóa thì tỷ lệ sống sau 1 năm là khoảng 10%, sau 5 năm là khoảng 5%. Bệnh nhân có khối u hoàn toàn định khu trên MRI thì tiên lượng tốt hơn.

U lympho không Hodgkin của tuyến giáp có tiên lượng rất tốt khi được điều trị bằng tia xạ và hóa trị liệu. Bệnh nhân có u lympho định khu thì tỷ lệ sống sau 5 năm là gần 100%. ở người có cả tổn thương ngoài tuyến giáp thì tỷ lệ sống sau 5 năm là 63%. Dù sao, tiên lượng tốt hơn ở các bệnh nhân bị bệnh màng nhầy kết hợp.

Bệnh nhân mà có triệu chứng thở rít, đau và liệt dây thanh quản hoặc có xâm lấn trung thất thì khuynh hướng tiến triển xấu hơn.


【#3】Mách Bạn Cách Điều Trị Ung Thư Tuyến Giáp Theo Chuẩn Quốc Tế

1. Mục tiêu, nguyên tắc điều trị ung thư tuyến giáp

Tuyến giáp là tuyến nội tiết lớn nhất của cơ thể, đảm nhiệm nhiều vai trò quan trọng trong cơ thể, tiết ra 2 loại hormon giáp trạng Thyroxine (T4) và hormone tri-iodo-thyronine (T3). Tuyến giáp bắt giữ và cô đặc Iod từ huyết tương theo cơ chế vận chuyển tích cực. Trong tuyến giáp, iod được hữu cơ hóa và tổng hợp thành thyroxin nhờ khuôn thyroglobin.

Bệnh nhân ung thư tuyến giáp nếu được phát hiện sớm thường có tiên lượng tốt, bệnh nhân thường được dễ dàng điều trị thành công, cơ hội khỏi bệnh là cực kỳ cao có thể lên tới gần 100%. Việc điều trị ung thư tuyến giáp thường theo nguyên tắc như sau:

  • Phẫu thuật vẫn là phương pháp điều trị chính cho tất cả các loại khối u tuyến giáp.
  • Liệu pháp I 131 được chỉ định trong những trường hợp bênh nhân lớn tuổi (trên 45 tuổi) mắc ung thư tuyến giáp thể biệt hóa, bướu có kích thước lớn (trên 4 cm) hoặc di căn xa.
  • Xạ trị hoặc hóa trị áp dụng cho những bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể kém biệt hóa hoặc không biệt hóa.

Điều trị ung thư tuyến giáp hiện nay đã có rất nhiều tiến bộ

2. Các phương pháp chữa ung thư tuyến giáp

2.1. Phẫu thuật ung thư tuyến giáp

Phẫu thuật ung thư tuyến giáp có lẽ là phương pháp điều trị không thể thiếu được trong hầu hết các bệnh ung thư. Đối với ung thư tuyến giáp, các hình thức phẫu thuật có thể là:

Cắt thùy tuyến giáp

Phẫu thuật cắt thùy tuyến giáp là một hoạt động loại bỏ thùy chứa ung thư, thường cùng với isthmus (mảnh nhỏ của tuyến đóng vai trò là cầu nối giữa thùy trái và thùy phải).

Đôi khi nó được sử dụng để điều trị ung thư tuyến giáp biệt hóa (nhú hoặc nang) nhỏ và không có dấu hiệu lan rộng ra ngoài tuyến giáp.

Hoặc cũng có thể được sử dụng để chẩn đoán ung thư tuyến giáp nếu kết quả sinh thiết FNA không có cung cấp chẩn đoán rõ ràng.

Lợi thế của phẫu thuật này là một số bệnh nhân có thể không cần phải uống thuốc nội tiết tố tuyến giáp vì nó để lại một phần của tuyến sau.

Nhưng có một số tuyến giáp còn lại có thể can thiệp vào một số xét nghiệm tìm kiếm sự tái phát ung thư sau khi điều trị, chẳng hạn như quét radioiodine và xét nghiệm máu thyroglobulin.

Cắt tuyến giáp

Cắt tuyến giáp là phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp. Đây là phẫu thuật phổ biến nhất cho ung thư tuyến giáp. Như với phẫu thuật cắt thùy, điều này thường được thực hiện thông qua một vết mổ dài vài inch ở phía trước cổ.

Bạn sẽ có một vết sẹo nhỏ ở phía trước cổ sau khi phẫu thuật, nhưng điều này sẽ trở nên ít chú ý hơn theo thời gian.

Nếu toàn bộ tuyến giáp bị cắt bỏ, nó được gọi là cắt tuyến giáp toàn bộ. Đôi khi bác sĩ phẫu thuật có thể không thể loại bỏ toàn bộ tuyến giáp. Nếu gần như tất cả các tuyến được loại bỏ, nó được gọi là cắt tuyến giáp gần như toàn bộ.

Sau khi phẫu thuật cắt tuyến giáp gần hoặc toàn bộ, bạn sẽ cần uống thuốc nội tiết tố tuyến giáp (levothyroxin) hàng ngày.

Nhưng một lợi thế của phẫu thuật này so với phẫu thuật cắt thùy là bác sĩ của bạn sẽ có thể kiểm tra sự tái phát (ung thư trở lại) sau đó bằng cách sử dụng quét radioiodine và xét nghiệm máu thyroglobulin.

Loại bỏ hạch bạch huyết

Nếu ung thư đã di căn đến các hạch bạch huyết gần đó ở cổ, chúng sẽ được loại bỏ đồng thời phẫu thuật được thực hiện trên tuyến giáp. Điều này đặc biệt quan trọng để điều trị ung thư tuyến giáp tủy và ung thư anaplastic (khi phẫu thuật là một lựa chọn).

Đối với ung thư nhú hoặc nang trong đó chỉ có 1 hoặc 2 hạch bạch huyết được cho là có chứa ung thư, các hạch to có thể được loại bỏ và bất kỳ tế bào ung thư nhỏ nào có thể còn lại sau đó được điều trị bằng iốt phóng xạ.

Rủi ro và tác dụng phụ của phẫu thuật tuyến giáp

Khàn giọng tạm thời hoặc vĩnh viễn hoặc mất giọng. Điều này có thể xảy ra nếu thanh quản (hộp giọng nói) hoặc khí quản bị kích thích bởi ống thở được sử dụng trong khi phẫu thuật.

Điều này cũng có thể xảy ra nếu các dây thần kinh đến thanh quản (hoặc dây thanh âm) bị tổn thương trong quá trình phẫu thuật. Bác sĩ nên kiểm tra dây thanh âm của bạn trước khi phẫu thuật để xem chúng có di chuyển bình thường không.

Tổn thương tuyến cận giáp (tuyến nhỏ phía sau tuyến giáp giúp điều chỉnh nồng độ canxi). Điều này có thể dẫn đến mức canxi trong máu thấp, gây co thắt cơ và cảm giác tê và ngứa ran.

Chảy máu quá mức hoặc hình thành cục máu đông lớn ở cổ (gọi là khối máu tụ).

2.2. Xạ trị điều trị ung thư tuyến giáp bằng I – 131

Tuyến giáp hấp thụ gần như tất cả iốt trong cơ thể. Do đó, iốt phóng xạ (RAI, còn được gọi là I-131) có thể được sử dụng để điều trị ung thư tuyến giáp và ít gây ảnh hưởng đến phần còn lại của cơ thể bạn.

Liệu pháp iốt phóng xạ giúp mọi người sống lâu hơn nếu họ bị ung thư tuyến giáp dạng nhú hoặc nang (ung thư tuyến giáp biệt hóa) đã lan đến cổ hoặc các bộ phận cơ thể khác.

Để liệu pháp RAI có hiệu quả nhất, cơ thể của bạn cần có lượng hormone kích thích tuyến giáp cao (TSH hoặc thyrotropin) trong máu. Hormone có vai trò làm cho mô tuyến giáp (và tế bào ung thư) hấp thụ iốt phóng xạ.

  • Ngừng dùng thuốc nội tiết tố tuyến giáp trong vài tuần. Điều này gây ra nồng độ hormone tuyến giáp rất thấp (suy giáp), khiến tuyến yên tiết ra nhiều TSH.
  • Tiêm thyrotropin (Thyrogen) có thể khiến cho hormone tuyến giáp bị giữ lại trong một thời gian dài không cần thiết. Thuốc này được dùng hàng ngày trong 2 ngày, tiếp theo là RAI vào ngày thứ 3.

Nếu tuyến giáp của bạn đã được cắt bỏ, có một số cách để tăng mức TSH trước khi được điều trị bằng RAI:

Hầu hết các bác sĩ cũng khuyên bạn nên tuân theo chế độ ăn ít iốt trong 1 hoặc 2 tuần trước khi điều trị.

2.3. Hóa trị ung thư tuyến giáp

Hóa trị ít có tác dụng trong điều trị hầu hết các loại ung thư tuyến giáp và thường chỉ được áp dụng trong một số trường hợp.

Phương pháp này thường được kết hợp với xạ trị chùm tia bên ngoài cho bệnh ung thư tuyến giáp anaplastic và đôi khi được sử dụng cho các bệnh ung thư tiến triển khác không còn đáp ứng với các phương pháp điều trị khác.

Các loại thuốc hóa trị được sử dụng phổ biến nhất để điều trị chủ yếu là ung thư tuyến giáp tủy và ung thư tuyến giáp anaplastic.

2.4. Liệu pháp hormon tuyến giáp

Nếu tuyến giáp của bạn đã được cắt bỏ, cơ thể bạn không còn có thể tạo ra hormone tuyến giáp cần thiết. Khi đó, bạn sẽ cần uống thuốc hormone tuyến giáp (levothyroxin) để thay thế hormone tự nhiên và giúp duy trì sự trao đổi chất bình thường và có thể làm giảm nguy cơ ung thư trở lại.

Chức năng tuyến giáp bình thường được điều hòa bởi tuyến yên. Tuyến yên tạo ra một loại hormone gọi là TSH khiến tuyến giáp sản xuất hormone cho cơ thể. TSH cũng thúc đẩy sự phát triển của tuyến giáp và có thể là các tế bào ung thư tuyến giáp.

Các bác sĩ cho rằng bằng cách cho liều thuốc hormone tuyến giáp cao thì làm giảm nồng độ TSH. Điều này có thể làm chậm sự phát triển của bất kỳ tế bào ung thư và làm giảm nguy cơ một số bệnh ung thư tuyến giáp quay trở lại.

3. Điều trị ung thư tuyến giáp theo từng loại và từng giai đoạn

3.1. Ung thư tuyến giáp thể nhú và thể nang

Hầu hết các bệnh ung thư được điều trị bằng cách cắt bỏ tuyến giáp (cắt tuyến giáp), mặc dù các khối u nhỏ không lan ra ngoài tuyến giáp có thể được điều trị bằng cách chỉ cần cắt bỏ bên cạnh tuyến giáp có chứa khối u (cắt thùy).

Ngay cả khi các hạch bạch huyết không được mở rộng, một số bác sĩ khuyên nên cắt bỏ khoang cổ trung tâm (phẫu thuật cắt bỏ các hạch bạch huyết bên cạnh tuyến giáp) cùng với cắt bỏ tuyến giáp. Mặc dù hoạt động này chưa được chứng minh là cải thiện khả năng sống sót của bệnh ung thư, nhưng nó có thể làm giảm nguy cơ ung thư quay trở lại ở vùng cổ.

Các loại thuốc điều trị nhắm mục tiêu sorafenib (Nexavar) và lenvatinib (Lenvima) có thể được thử nếu ung thư đã lan đến một số nơi.

3.2. Ung thư tuyến giáp thể tủy

Hầu hết các bác sĩ khuyên rằng bệnh nhân được chẩn đoán mắc ung thư tuyến giáp tủy (MTC) nên được kiểm tra các khối u khác, chẳng hạn như pheochromocytoma và u tuyến cận giáp.

Sàng lọc phát hiện pheochromocytoma đặc biệt quan trọng, bởi vì gây mê và phẫu thuật có thể cực kỳ nguy hiểm khi những khối u này xuất hiện.

Nếu các bác sĩ phẫu thuật và bác sĩ gây mê biết về các khối u như vậy trước, họ có thể điều trị cho bệnh nhân bằng thuốc trước để phẫu thuật an toàn

Giai đoạn I và II

Cắt tuyến giáp toàn bộ là phương pháp điều trị chính cho MTC và thường chữa khỏi bệnh nhân MTC giai đoạn I hoặc giai đoạn II. Các hạch bạch huyết gần đó thường được loại bỏ là tốt. Bởi vì tuyến giáp được loại bỏ, liệu pháp hormone tuyến giáp là cần thiết sau phẫu thuật.

Đối với MTC, liệu pháp hormon tuyến giáp có nghĩa là cung cấp đủ hormone để giữ cho bệnh nhân khỏe mạnh, nhưng nó không làm giảm nguy cơ ung thư sẽ quay trở lại. Bởi vì các tế bào MTC không hấp thụ iốt phóng xạ, không có vai trò nào đối với liệu pháp iốt phóng xạ trong điều trị MTC.

Giai đoạn III và IV

Phẫu thuật giống như giai đoạn I và II (thường là sau khi sàng lọc hội chứng MEN 2 và pheochromocytoma). Liệu pháp hormon tuyến giáp được đưa ra sau đó.

Khi khối u lan rộng và xâm lấn nhiều mô gần đó hoặc không thể loại bỏ hoàn toàn, liệu pháp xạ trị chùm tia bên ngoài có thể được đưa ra sau phẫu thuật để cố gắng giảm nguy cơ tái phát ở cổ.

Đối với các bệnh ung thư đã lan đến các bộ phận xa của cơ thể, phẫu thuật, xạ trị hoặc các phương pháp điều trị tương tự có thể được sử dụng nếu có thể.

Nếu những phương pháp điều trị này có thể được sử dụng, vandetanib (Capba), cabozantinib (Cometriq) hoặc các loại thuốc nhắm mục tiêu khác có thể được thử.

3.3. Ung thư tuyến giáp thể kém biệt hóa

Điều trị iốt phóng xạ không được sử dụng vì nó không đem lại hiệu quả cao đối với bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể kém biệt hóa.

Liệu pháp xạ trị chùm tia ngoài có thể được sử dụng một mình hoặc kết hợp với hóa trị liệu

Đối với các bệnh ung thư đã lan rộng, hóa trị liệu đơn thuần có thể được sử dụng. Nếu các tế bào ung thư có những thay đổi nhất định trong gen BRAF hoặc NTRK, điều trị bằng thuốc nhắm mục tiêu dabrafenib (Tafinlar) và trametinib (Mekinist) hoặc larotrectinib (Vitrakvi) là những lựa chọn khác.

4. Các biện pháp kiểm soát, nâng cao hiệu quả điều trị ung thư tuyến giáp

– Bạn biết không, tâm lý và ý chí quyết tâm điều trị ung thư tuyến giáp có thể giúp vượt qua tất cả những khó khăn mà bạn đang phải đối mặt. Vì vậy, thường xuyên đọc sách báo nuôi dưỡng ý chí tinh thần là cách rất tốt để nâng cao hiệu quả điều trị.

– Để tăng cường hệ miễn dịch, giảm tác dụng phụ trong điều trị ung thư, bạn nên sử dụng các sản phẩm hỗ trợ điều trị ung thư tuyến giáp chẳng hạn như King Fucoidan & Agaricus.

Sản phẩm King Fucoidan & Agaricus hỗ trợ điều trị ung thư

Sản phẩm King Fucoidan đến từ Nhật Bản là sự kết hợp hoàn chỉnh giữa Fucoidan được chiết xuất từ 100% tảo nâu Mozuku và Bột nghiền từ Nấm Agaricus rất giàu các vitamin, chứa hàm lượng lớn Beta 1.3 Glucan và Beta 1.6 Glucan – các chất oxy hóa chống ung thư cực mạnh.

  • Giúp ngăn chặn sự tiến triển của tế bào u bướu, tốt cho người đang trong quá trình hóa – xạ trị.
  • Hỗ trợ miễn dịch, tăng cường khả năng kháng và trung hòa gốc tự do
  • Hỗ trợ bảo vệ gan, hệ miễn dịch, tăng cường sức đề kháng và chống lão hóa.

Sự kết hợp giữa hoạt chất fucoidan và beta- glucan trong sản phẩm cho tác dụng hỗ trợ điều trị ung thư hiệp đồng. Cơ chế tác động của King Fucoidan & Agaricus lên tế bào ung thư như sau:

Để được tư vấn về sản phẩm và cách mua hàng, mời bạn gọi điện tới tổng đài miễn cước , hoặc số số ngoài giờ hành chính 02439963961 để được hướng dẫn cụ thể.

Với khách hàng khu vực miền Nam vui lòng liên hệ liên hệ tổng đài 02839316468 được tư vấn và mua hàng trực tiếp từ nhà nhập khẩu chính thức sản phẩm.


【#4】Cách Nhận Biết Ung Thư Tuyến Giáp Di Căn

Là tình trạng phát triển của các tế bào ác tính trong mô tuyến giáp . Nó có thể xâm nhập và phá hủy các mô và các cơ quan ở gần. Đồng thời các tế bào ung thư có thể tách khỏi nhân u ác tính để xâm nhập vào dòng máu và hệ thống bạch mạch. Đây là cơ chế để ung thư tuyến giáp lan rộng để tạo thành k hối u mới trong các cơ quan khác. Giai đoạn này được gọi là ung thư tuyến giáp di căn.

Dấu hiệu ung thư tuyến giáp di căn theo vị trí

Hầu hết đều có triệu chứng đặc thù của bệnh mà tế bào ung thư xâm lấn cơ quan đó. Ung thư tuyến giáp có thể di căn lần lượt đến các bộ phận từ gần đến xa nhưng cũng có thể di căn sang bất cứ bộ phận nào.

Ung thư tuyến giáp di căn hạch cổ hay còn gọi là ung thư tuyến giáp xâm lấn. Các dấu hiệu thường gặp: xuất hiện hạch hoặc các nốt rộp ngay cổ, đau rát cổ, đau khi ăn uống, bị khàn giọng, mất tiếng do khối hạch chèn ép lên dây thanh quản, sưng hạch bạch huyết… Khi ung thư tuyến giáp di căn hạch không được điều trị nhằm ngăn cản sự lây lan của các tế bào ung thư thì chúng sẽ tiếp tục ngấm vào máu và di chuyển tới các bộ phận khác lân cận như xương, gan, phổi…

Ung thư tuyến giáp di căn gan, người bệnh sẽ có dấu hiệu vàng da, vàng ở lòng trắng mắt. Tùy vào mức độ di căn, các biểu hiện sẽ càng rõ rệt hơn. Ban đầu sẽ là vàng da, vàng mắt, sau đó là nổi mẩn ngứa khắp người và bụng bắt đầu sưng to.

Dấu hiệu nhận biết ung thư tuyến giáp đã di căn đến phổi ta dựa vào các triệu chứng đặc thù của hệ hô hấp. Người bệnh khó thở, ho nhiều và thậm chí là ho ra máu kết hợp với tràn dịch màng phổi.

Đây là tình trạng khá nghiêm trọng. Khi ung thư tuyến giáp di căn lên não, người bệnh sẽ có triệu chứng đau đầu nhiều, không ngủ được, trí nhớ suy giảm, toàn bộ hệ thần kinh trung ương đều bị ảnh hưởng…

Hầu hết các loại ung thư đều có khả năng di căn vào xương với những dấu hiệu như đau mỏi, đau nhức bên trong xương, xương dễ gãy….

Tiên lượng ung thư tuyến giáp

Trở lại câu hỏi ung thư tuyến giáp di căn sống được bao lâu hay ung thư tuyến giáp di căn có chữa được không thì tỷ lệ sống còn của bệnh phụ thuộc rất lớn vào giai đoạn ung thư, mức độ ác tính của tế bào bướu và tuổi tác của người bệnh. Ung thư nếu được phát hiện sớm và cơ thể đáp ứng tốt với điều trị thì hoàn toàn có thể chữa được, tỷ lệ sống cao. Nhưng ngược lại, nếu bệnh phát hiện ở giai đoạn muộn khi các tế bào ung thư đã di căn tới các bộ phận khác trên cơ thể thì việc điều trị cho bệnh nhân sẽ gặp nhiều khó khăn và tiên lượng xấu.

Tuy vậy, vẫ n có hy vọng cho bệnh nhân ung thư tuyến giáp. Mặc dù phát hiện ở giai đoạn muộn, người bệnh vẫn có khả năng điều trị thành công. Không có một con số chính xác về thời gian sống sau khi phát hiện bệnh của bệnh nhân ung thư tuyến giáp di căn bởi nó còn phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe và mức độ di căn của tế bào ung thư. Ở giai đoạn cuối, tỉ lệ sống 5 năm của bệnh nhân nếu chữa thành công là khoảng 28% – 51%. Tuy nhiên phải nhấn mạnh rằng quá trình điều trị cho bệnh nhân giai đoạn cuối thường khó khăn, cơ hội chữa khỏi vẫn không thực sự cao. Do đó hãy tầm soát ung thư định kỳ để theo dõi tình trạng sức khỏe.


【#5】Ung Thư Tuyến Giáp Có Tái Phát Không?

Bệnh ung thư nào cũng có nguy cơ tái phát nhất định. Mục tiêu điều trị cho bệnh nhân ung thư giai đoạn đầu thường là loại bỏ khối u và chữa khỏi bệnh. Tuy vậy, trong nhiều trường hợp, các tế bào ung thư đã thông qua mạch máu, hạch bạch huyết di căn ra ngoài song không được loại bỏ hoàn toàn trong đợt điều trị ban đầu, sức đề kháng người bệnh còn yếu. Do vậy mà dẫn tới tái phát ung thư.

Riêng với ung thư tuyến giáp, bệnh nhân cũng có nguy cơ tái phát. Trong nhiều trường hợp, tổ chức khối u xâm lấn vào mạch máu, thần kinh, đường thở… không cho phép bác sĩ cắt triệt để nhu mô tuyến giáp. Hơn nữa điều trị bằng phẫu thuật cắt giáp đơn thuần không giải quyết được các trường hợp ung thư tuyến giáp đã có di căn xa vào phổi, xương, não.

Các dấu hiệu khi ung thư tuyến giáp tái phát

– Đau ở cổ, cảm giác đau có thể lan lên tai gây khó nuốt, khó thở, ho, giọng nói bị khàn

– Khối u: các khối u này có thể di động theo nhịp nuốt, nằm ở tuyến giáp hoặc trong các hạch bạch huyết. Khối u dễ được nhận dạng bởi tuyến này rất gần với da.

– Cổ sưng: kích thước sưng mỗi bệnh nhân có sự khác nhau

Ngăn ngừa ung thư tuyến giáp tái phát thế nào?

Để ngăn ngừa ung thư tuyến giáp tái phát, việc đầu tiên cần làm là trong quá trình điều trị, các bác sĩ cần loại bỏ một phần hoặc toàn bộ tuyến giáp, các tế bào bị tác động và các hạch bạch huyết.

Đặc biệt, với bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa di căn hạch, cần phẫu thuật cắt tuyến giáp toàn bộ và vét hạch cổ. Sau phẫu thuật, việc điều trị bằng iod 131 là yêu cầu cần thiết và hết sức quan trọng nhằm giảm nguy cơ tái phát tại chỗ.

Sau khi kết thúc điều trị, người bệnh nên đi tái khám bệnh 3-6 tháng 1 lần tại các cơ sở chuyên khoa. Bệnh nhân sẽ được chỉ định X-quang, xạ hình phát hiện di căn, định lượng hormon tuyến giáp để có thể theo dõi được diễn tiến của bệnh và điều trị kịp thời.

Về chế độ ăn uống, bệnh nhân từng bị ung thư tuyến giáp cần cố gắng ăn đầy đủ chất dinh dưỡng và ăn đúng bữa. Người bệnh có thể ăn uống theo sở thích nhưng cần phải ăn uống vệ sinh và chọn thực phẩm giàu canxi.

* Mời quý độc giả theo dõi các chương trình đã phát sóng của Đài Truyền hình Việt Nam trên TV Online!

Ngoài ra, cần tránh thức ăn cay, nóng, dầu mỡ và những chất kích thích tim mạch như rượu, bia, cà phê… Trong một số trường hợp bệnh nhân bị hạ canxi máu sau khi mổ tuyến giáp, bệnh nhân nên trao đổi với bác sĩ đang theo dõi về tình trạng này.


【#6】Ung Thư Tuyến Giáp Thể Nhú Sống Được Bao Lâu? Tiên Lượng Tỷ Lệ Sống

1.1. Tỷ lệ sống tương đối 5 năm là gì?

Tỷ lệ sống tương đối 5 năm so sáɴh những người có cùng loại và giai đoạn ᴜɴɢ ᴛʜư ở tuyến giáp với những người trong dân số nói cʜᴜɴɢ. Ví dụ, nếu tỷ lệ sống tương đối 5 năm đối với một giai đoạn cụ thể là 90%, điều đó có nghĩa là trung bình những người mắc ʙệɴʜ ᴜɴɢ ᴛʜư đó có khả năng mắc ᴜɴɢ ᴛʜư chiếm khoảng 90% và sống ít nhất 5 năm sau khi được chẩn đoáɴ. Vì vậy khi có dấu hiệu của ʙệɴʜ bạn nên tiến hành khám chuyên khoa tổng quát cụ thể để có được kết quả chẩn đoáɴ chính xáᴄ và đưa ra pʜương pháp điều trị hiệu quả.

Tỷ lệ sống 5 năm là gì? (Nguồn: medicalnewstoday.com)

1.2. Con số ước tính đó đến từ đâu

Hiệp hội ᴜɴɢ ᴛʜư Hoa Kỳ đã dựa vào thông tin từ cơ sở dữ liệu SEER, được duy trì bởi Viện ᴜɴɢ ᴛʜư Quốc gia (NCI), để cung ᴄấᴘ số liệu thống kê sống sót cho cáᴄ loại ᴜɴɢ ᴛʜư kháᴄ nhau.

Cơ sở dữ liệu SEER theo dõi chỉ số sống tương đối 5 năm đối với ʙệɴʜ ᴜɴɢ ᴛʜư ở tuyến giáp ở Hoa Kỳ, dựa trên mức độ ᴜɴɢ ᴛʜư đã lan rộng. Tuy nhiên, cơ sở dữ liệu SEER không nhóm ᴜɴɢ ᴛʜư theo cáᴄ giai đoạn AJCC TNM mà thay vào đó, nhóm ᴜɴɢ ᴛʜư thành cáᴄ giai đoạn cục bộ, khu vực và xa.

1.3. ᴜɴɢ ᴛʜư tuyến giáp thể nhú sống được bao lâu

ᴜɴɢ ᴛʜư tuyến giáp dạng nhú sống được bao lâu là câu hỏi mà nhiều người đang quan tâm. Đây là dạng ᴜɴɢ ᴛʜư có xu ʜướng phát triển chậm, có thể điều trị thành công và hiếm khi ɢâʏ ra ᴛử ᴠoɴɢ.

Mắc ʙệɴʜ ᴜɴɢ ᴛʜư về tuyến giáp sống bao lâu? (Nguồn: endocrineweb.com)

Mặc dù vậy thì việc xéᴛ nghiệm chức năng tuyến giáp công nghệ mới vẫn nên được tiến hành nhanh chóng. Bên cạnh đó trong quá trình điều trị ʙệɴʜ nhân nên kết hợp cáᴄ loại thực phẩm dinh dưỡng tốt cho sức khỏe để việc chữa ʙệɴʜ được hiệu quả hơn. Đồng thời, người ʙệɴʜ cũng không nên ăn cáᴄ loại thực phẩm kiêng khi mắc ʙệɴʜ ᴜɴɢ ᴛʜư tuyến giáp để việc chữa ʙệɴʜ được hiệu quả hơn.

2. Tỷ lệ sống sót khi mắc ʙệɴʜ

Mức độ tỷ lệ, khả năng sống khi mắc ʙệɴʜ tuyến giáp là kháᴄ nhau (Nguồn: mskcc.org)

xéᴛ nghiệm tầm soát ᴜɴɢ ᴛʜư tuyến giáp hiệu quả nên được thực hiện để nhanh chóng xáᴄ định cáᴄ dạng ᴜɴɢ ᴛʜư để có pʜương pháp chữa trị nâng cao tỷ lệ khả năng sống khi mắc ʙệɴʜ. Đối với cáᴄ dạng thể nang hoặc tủy thì khả năng sống là kháᴄ nhau. Trong đó, ᴜɴɢ ᴛʜư ở tuyến giáp dạng tủy được đáɴʜ giá là có những chuyển biến phức tạp và khó điều trị hơn.

Vì vậy để thúc đẩy khả năng khỏi ʙệɴʜ cao hơn cần xây dựng chế độ cáᴄ món ăn dinh dưỡng tốt, khoa học cho người mắc ʙệɴʜ tuyến giáp.


【#7】Thuốc Nexavar 200Mg Sorafenib Điều Trị Ung Thư Gan, Thận, Tuyến Giáp

Nhà Thuốc LP chia sẻ thông tin về Nexavar 200mg Sorafenib điều trị và ngăn ngừa sự phát triển của một số loại ung thư gan, thận và tuyến giáp. Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, bệnh nhân sử dụng Nexavar phải có chỉ định của bác sĩ.

Thông tin cơ bản Nexavar 200mg Sorafenib

Nexavar là một loại thuốc theo toa thương hiệu được sử dụng để điều trị một số loại ung thư gan, thận và tuyến giáp ở người lớn.

Nexavar có thể can thiệp vào 2 con đường truyền tín hiệu trong tế bào ung thư và mạch máu khối u:

  • Ức chế tín hiệu tế bào khối u, giảm sự phát triển và phân chia tế bào ung thư
  • Có thể làm giảm sự hình thành các mạch máu mới cung cấp oxy và chất dinh dưỡng cần thiết cho các tế bào ung thư để tiếp tục phát triển

Bằng cách làm chậm sự phát triển của khối u và giảm lượng máu cung cấp cho khối u, Nexavar có thể ngăn chặn sự phát triển và lây lan của ung thư. Những con đường này cũng có thể quan trọng đối với các tế bào bình thường, vì vậy các liệu pháp như Nexavar cũng có thể ảnh hưởng đến một số tế bào bình thường.

Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC)

HCC là loại ung thư gan phổ biến nhất . Nexavar 200mg sorafenib được sử dụng ở những người bị HCC mà khối u không thể được phẫu thuật cắt bỏ.

Ung thư tế bào thận tiên tiến (RCC)

RCC là loại ung thư thận phổ biến nhất .

Ung thư biểu mô tuyến giáp biệt hóa (DTC)

DTC là loại ung thư tuyến giáp phổ biến nhất . Nó thường được điều trị bằng iốt phóng xạ . Nexavar được sử dụng để điều trị DTC quay trở lại hoặc lây lan sau khi được điều trị. Nó được sử dụng khi ung thư đang trở nên tồi tệ hơn và iốt phóng xạ không còn hoạt động nữa.

  • Bị dị ứng với bất kỳ thành phần nào khác trong Nexavar.
  • Bị ung thư phổi tế bào vảy và nhận carboplatin và paclitaxel.
  • Nexavar không được khuyến cáo sử dụng cho bệnh nhân dưới 18 tuổi.
  • Không nên sử dụng Nexavar cho phụ nữ đang mang thai hoặc cho con bú.

Liều thông thường của thuốc Nexavar là: 400 mg (2 viên) hai lần một ngày (tổng 4 viên một ngày).

  • Nexavar thường được dùng 2 lần mỗi ngày.
  • Sử dụng thuốc chính xác theo chỉ định của bác sĩ.
  • Dùng Nexavar khi bụng đói. Sử dụng ít nhất 1 giờ trước hoặc 2 giờ sau bữa ăn.
  • Không nghiền nát, nhai hoặc phá vỡ một viên thuốc này. Nuốt toàn bộ với nước.
  • Uống thuốc cùng một lúc mỗi ngày sẽ có hiệu quả tốt nhất.

Chú ý thận trọng trước khi dùng Nexavar

  • Hãy cho bác sĩ của bạn nếu bạn bị dị ứng với bất kỳ loại thuốc, thực phẩm, chất bảo quản hoặc thuốc nhuộm khác.
  • Hãy cho bác sĩ của bạn nếu bạn đang mang thai hoặc cho con bú. Phụ nữ nên tránh mang thai trong khi điều trị bằng thuốc này.
  • Bạn nên nói chuyện với bác sĩ ngay nếu bạn nghĩ rằng bạn đang mang thai vì Nexavar có thể gây hại cho thai nhi. Cả nam giới và phụ nữ nên sử dụng các biện pháp kiểm soát sinh sản hiệu quả.
  • Thuốc này không được khuyến cáo sử dụng trong khi cho con bú vì nó có thể gây hại cho em bé.
  • Không đưa thuốc này cho trẻ em hoặc thanh thiếu niên đang phát triển.

Hãy cho bác sĩ của bạn nếu bạn:

    Thuốc có thể gây phát ban và phản ứng da, đặc biệt là ở tay và chân. Chúng thường có thể được điều trị bởi bác sĩ của bạn. Nếu không, việc điều trị Nexavar của bạn có thể bị gián đoạn hoặc dừng hoàn toàn.
    Nexavar có thể làm tăng huyết áp, và bác sĩ thường sẽ theo dõi huyết áp của bạn và có thể cho bạn thuốc để điều trị huyết áp cao.
    Điều trị bằng thuốc sorafenib có thể dẫn đến nguy cơ chảy máu cao hơn. Nếu bạn đang dùng warfarin, loại máu này để ngăn ngừa cục máu đông, có thể có nguy cơ chảy máu cao hơn.
    Thuốc này có thể ảnh hưởng đến cách vết thương của bạn lành. Bạn thường sẽ được đưa ra khỏi Nexavar nếu bạn đang có một hoạt động. Bác sĩ sẽ quyết định khi nào bắt đầu với thuốc này một lần nữa.
    Bác sĩ của bạn có thể quyết định ngừng điều trị hoặc ngừng hoàn toàn.
    Thuốc này có thể ảnh hưởng đến nhịp tim của bạn.
    Bạn có thể gặp tác dụng phụ nghiêm trọng hơn khi dùng thuốc này.

Nếu bạn chưa nói với bác sĩ hoặc dược sĩ của bạn về bất kỳ điều nào ở trên, hãy nói với họ trước khi bạn bắt đầu dùng thuốc này. Bạn có thể cần điều trị thêm hoặc bác sĩ có thể quyết định thay đổi liều Nexavar hoặc ngừng điều trị hoàn toàn.

Chú ý thận trọng trong khi dùng Nexavar

  • Nếu bạn sắp bắt đầu dùng bất kỳ loại thuốc mới nào, hãy nhắc nhở bác sĩ và dược sĩ rằng bạn đang dùng sorafenib.
  • Dùng thuốc chính xác như đã nói với bác sĩ của bạn.
  • Nói với tất cả các bác sĩ, nha sĩ và dược sĩ đang điều trị cho bạn rằng bạn đang dùng thuốc này.
  • Hãy cho bác sĩ của bạn nếu bạn đang dùng thuốc để làm loãng máu của bạn như warfarin.
  • Hãy cho bác sĩ của bạn nếu bạn cần phải có một thủ tục phẫu thuật hoặc nha khoa.
  • Người ta không biết liệu thuốc sorafenib sẽ ảnh hưởng đến khả năng lái xe hay vận hành máy móc của bạn, nhưng nếu bạn cảm thấy nhẹ đầu hãy dừng hoạt động và hỏi ý kiến ​​bác sĩ.
  • Không dùng thuốc này để điều trị bất kỳ khiếu nại nào khác trừ khi bác sĩ nói với bạn.
  • Không đưa thuốc này cho bất kỳ ai khác, ngay cả khi các triệu chứng của họ có vẻ giống với bạn.
  • Đừng ngừng dùng thuốc hoặc giảm liều mà không kiểm tra với bác sĩ. Nếu bạn ngừng dùng thuốc đột ngột, tình trạng của bạn có thể xấu đi hoặc bạn có thể có tác dụng phụ không mong muốn.
  • Máu trong nước tiểu hoặc phân của bạn, ho ra máu hoặc nôn mửa trông giống như bã cà phê
  • Kinh nguyệt nặng, dễ bầm tím, chảy máu bất thường hoặc bất kỳ chảy máu nào sẽ không dừng lại
  • Da nhợt nhạt, cảm thấy đầu óc nhẹ, nhịp tim nhanh, khó tập trung
  • Ho khan, khò khè
  • Đau ngực và chóng mặt nghiêm trọng, ngất xỉu, đổ mồ hôi, sưng, tăng cân nhanh, cảm thấy khó thở (ngay cả khi gắng sức nhẹ)
  • Phát ban, phồng rộp, rỉ nước, hoặc đau dữ dội ở lòng bàn tay hoặc lòng bàn chân
  • Đau dạ dày trên, ngứa, chán ăn, nước tiểu sẫm màu, phân màu đất sét, vàng da (vàng da hoặc mắt)
  • Giảm cân đột ngột, tăng sự thèm ăn, khó ngủ, tăng nhu động ruột, cảm thấy nóng, cảm thấy lo lắng hoặc lo lắng, sưng ở cổ (bướu cổ)
  • Huyết áp cao nguy hiểm (nhức đầu dữ dội, mờ mắt, ù tai, nhầm lẫn, nhịp tim không đều, co giật)
  • Phản ứng da nghiêm trọng – sốt, đau họng, sưng ở mặt hoặc lưỡi, nóng rát ở mắt, đau da, sau đó là phát ban da đỏ hoặc tím lan rộng (đặc biệt là ở mặt hoặc trên cơ thể) và gây phồng rộp và bong tróc.

Đây không phải là một danh sách đầy đủ các tác dụng phụ và những người khác có thể xảy ra. Gọi cho bác sĩ để được tư vấn y tế về tác dụng phụ.

  • Độc tính da liễu: Phản ứng da tay và phát ban đại diện cho các phản ứng có hại của thuốc phổ biến nhất với Nexavar thường xuất hiện trong sáu tuần đầu điều trị.
  • Tăng huyết áp: Thuốc này nên được sử dụng thận trọng do tăng nguy cơ tăng huyết áp.
  • Hạ đường huyết: sorafenib nên được sử dụng thận trọng do tăng nguy cơ hạ đường huyết.
  • Bệnh tim: Thuốc nên được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân mắc bệnh tim do tăng nguy cơ giảm lưu lượng máu đến tim hoặc đau tim.
  • Bệnh phổi: Thuốc này nên được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân có tiền sử viêm phổi kẽ hoặc xơ phổi hoặc những bệnh nhân có biểu hiện cấp tính của các triệu chứng phổi mới hoặc tiến triển không rõ nguyên nhân, chẩn đoán do tăng nguy cơ chẩn đoán nhiễm độc phổi.
  • Khó chữa lành vết thương: Nếu bạn cần phải, hãy nói với bác sĩ của bạn rằng bạn đang dùng thuốc này.
  • Thay đổi nồng độ hormone tuyến giáp: Nếu bạn bị ung thư tuyến giáp biệt hóa, có thể có những thay đổi về nồng độ hormone tuyến giáp trong quá trình điều trị bằng thuốc sorafenib.
  • QT kéo dài: Kéo dài QT có thể gây ra nhịp tim không đều có thể đe dọa tính mạng.
  • Thủng đường tiêu hóa: sử dụng thuốc này trong quá trình điều trị ung thư có thể gây thủng đường tiêu hóa.

Một số loại thuốc có thể ảnh hưởng đến thuốc sorafenib và gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng, bao gồm:

  • Rifampicin, Neomycin hoặc các loại thuốc khác được sử dụng để điều trị nhiễm trùng ( kháng sinh )
  • St John’s wort: một loại thảo dược trị trầm cảm
  • Phenytoin, carbamazepine hoặc phenobarbital: thuốc điều trị bệnh động kinh và các điều kiện khác
  • Dexamethasone: một corticosteroid được sử dụng cho các điều kiện khác nhau
  • Warfarin hoặc phenprocoumon: thuốc chống đông máu được sử dụng để ngăn ngừa cục máu đông
  • Doxorubicin, capecitabine, docetaxel, paclitaxel và irinotecan: là những phương pháp điều trị ung thư khác
  • Digoxin: một điều trị cho suy tim nhẹ đến trung bình

Sự hấp thu của thuốc này bị giảm khi có thức ăn. Không nên dùng với thức ăn.

  • Không bảo quản thuốc này trên 25 ° C.
  • Giữ thuốc trong hộp chứa ban đầu để tránh ánh sáng trực tiếp.
  • Giữ thuốc tránh xa tầm với của trẻ em và thú nuôi.

***Chú ý: Thông tin bài viết về Nexavar 200mg Sorafenib với mục đích chia sẻ kiến thức mang tính chất tham khảo, người bệnh không được tự ý sử dụng thuốc, mọi thông tin sử dụng thuốc phải theo chỉ định bác sỹ chuyên môn.

TS. BS Lucy Trinh là bác sĩ chuyên khoa ung bứu. Hiện đang công tác và làm việc tại bệnh viện ung bứu ; bác sĩ tư vấn tại nhathuoclp.com

Trường Y:

Tốt nghiệp Trường Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh năm 2012

Bằng cấp chuyên môn:

Thạc sĩ y khoa tại trường Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh năm 2021

Bác sĩ Lucy Trinh đã tiếp xúc với hàng ngàn bệnh nhân ung thư và nghiên cứu chuyên sâu về ung thư, với kiến thức thực tế về điều trị ung thư

Chia sẻ kiến thức về thuốc điều trị ung thư và điều trị ung thư theo từng giai đoạn.

NhaThuocLP.com được nhiều bác sĩ, phòng khám, bệnh viện và hàng ngàn bệnh nhân tin tưởng.


【#8】Dấu Hiệu Và Các Giai Đoạn Bệnh Ung Thư Tuyến Giáp

– Xuất hiện khối u

Khối u ở cổ, to dần và di chuyển khi nuốt là dấu hiệu nhận biết ung thư tuyến giáp đầu tiên mà người bệnh có thể tự thấy khi chạm tay hoặc soi qua gương.

Tuy nhiên, ở giai đoạn nặng, các khối u này phát triển với kích thước lớn hơn gây ảnh hưởng đến bộ phận xung quanh và có thể gây chảy máu, bội nhiễm.

Tùy vào mức độ của bệnh mà nuốt khó đôi khi kèm đau khi nuốt biểu hiện của bệnh ung thư tuyến giáp hoàn toàn khác nhau.

Khó nói, khó thở xuất hiện khi ung thư tuyến giáp đã chuyển sang giai đoạn nặng. Tình trạng này xuất hiện do tế bào ung thư phát triển lớn gây chèn ép lên khí quản.

Đây cũng là triệu chứng của ung thư tuyến giáp phổ biến nhất. Đôi khi người bệnh có cảm giác đau góc hàm hoặc 2 bên mang tai.

– Cảm giác khó chịu, đau tức vùng cổ

Là một trong những triệu chứng của ung thư tuyến giáp. Hiện tượng này xuất hiện khi các khối u gây chèn ép và kích thích các dây thần kinh tại cổ. Biểu hiện này càng rõ rệt và đau tức khi các khối u phát triển với kích thước càng lớn.

– Giọng nói thay đổi

Giọng nói thay đổi khi khối u phát triển và lan rộng làm tổn thương các dây thần kinh thanh quản. Biểu hiện này ít khi xảy ra.

Các giai đoạn của ung thư tuyến giáp

Giai đoạn này là giai đoạn đầu của ung thư tuyến giáp và cực kì khó phát hiện. Ung thư tuyến giáp tuy là một căn bệnh có cơ hội điều trị cao, tuy nhiên nếu là phát hiện ở giai đoạn này thì mới có hiệu quả cao nhất. Ở giai đoạn này, ung thư tuyến giáp có kích thước nhỏ hơn 2cm, hình thành bên trong tuyến giáp và chưa phát triển ra bên ngoài tuyến giáp. Ở giai đoạn này, khối u chưa có tình trạng lây lan ra các hạch bạch huyết hay các bộ phận gần đó.

Ung thư tuyến giáp ở giai đoạn 2 đôi lúc còn gây nhiều nhầm lẫn cho bệnh nhân với những triệu chứng như bắt đầu thấy cổ họng có gì đó khá vướng, nuốt có cảm giác đau. Lúc này, khi ở giai đoạn 2 khối u phát triển khoảng 2 đến 4 cm. Giai đoạn này, tế bào ung thư chưa lây lan ra đến hạch bạch huyết hay các bộ phận khác trong cơ thể. Ở ung thư tuyến giáp thể tủy, các khối u chính lớn hơn 4cm và đang bắt đầu phát triển ra bên ngoài tuyến giáp.

Ở giai đoạn này ghi nhận các trường hợp như sau: Các khối u đã phát triển lớn từ 4cm trở lên, phát triển ra bên ngoài tuyến giáp và chưa lây lan đến các hạch bạch huyết. Và có trường hợp khối u với nhiều kích thước khác nhau và bắt đầu lan đến các hạch bạch huyết ở cổ. Bệnh nhân ở giai đoạn 3 vẫn có tiên lượng tốt nhưng cần tích cực điều trị mới có cơ hội chữa khỏi. Giai đoạn này, bệnh nhân bị những cơn đau hành hạ, khối ung thư chưa di căn nên bệnh nhân không có nhiều triệu chứng đau của các bộ phận khác.

Ung thư tuyến giáp giai đoạn 4 có nhiều trường hợp xảy ra ở mỗi bệnh nhân, chứ không hẳn là tất cả những người mắc ung thư tuyến giáp đều có các định hình diễn biến bệnh như nhau. Tuy nhiên, ung thư sẽ diễn biến lần lượt, các khối ung thư phát triển lan ra ngoài tuyến giáp, đến các hạch bạch huyết ở cổ và ngực. Có trường hợp các khối u nguyên phát đã phát triển thành xương sống hoặc vào gần các mạch máu lớn trong cơ thể. Cuối cùng các khối ung thư di căn, lây lan, hình thành đến các cơ quan khác bất kì trên cơ thể, điển hình là xương, phổi…vv.. Giai đoạn này cũng là giai đoạn học búa nhất cho các bác sĩ điều trị.

Nếu ung thư tuyến giáp không được phát hiện và điều trị sớm sẽ dễ dàng di căn tới những vị trí nguy hiểm hơn như: phổi, xương, các hạch bạch huyết,.. đe dọa trực tiếp đến tính mạng của người bệnh. Đừng chủ quan tới những thay đổi trên cơ thể đặc biệt là vùng cổ, bởi nó có thể là mầm mống và là dấu hiệu ung thư tuyến giáp. Người bệnh nên đến các cơ sở y tế uy tín để được thăm khám và phát hiện bệnh sớm nhất khi có những biểu hiện của ung thư tuyến giáp.


【#9】Bệnh Ung Thư Tuyến Giáp Di Căn Hạch Cổ Là Gì?

Ung thư tuyến giáp di căn hạch cổ là gì, dấu hiệu nhận biết và phương pháp điều trị ung thư tuyến giáp di căn hạch cổ.

Ung thư tuyến giáp rất dễ gây nên tình trạng di căn, đầu tiên là di căn hạch cổ và có thể di căn tới nhiều cơ quan khác của cơ thể do tế bào ung thư ngấm vào đường máu. Đây là biểu hiện nguy hiểm nhất của ung thư tuyến giáp, hay còn gọi là ung thư tuyến giáp di căn hạch cổ.

Ung thư tuyến giáp di căn hạch cổ là gì?

Ung thư tuyến giáp là loại khối u phát triển ở vùng tuyến giáp tại vùng cổ, sau khi các tế bào ung thư phát triển sẽ dẫn tới tình dạng di căn tạo hạch tại vùng cổ hay còn gọi là ung thư tuyến giáp di căn hạch cổ. Có thể dễ dàng phát hiện bằng biểu hiện cổ đau rát, khó chịu mỗi khi phải nuốt thức ăn, giọng bị khàn do dây thanh quản bị chèn ép.

Sự phát triển ung thư tuyến giáp di căn hạch cổ

Từ tế bào ung thư ban đầu, chúng sẽ nhanh chóng lây lan sang những vùng lân cận vùng cổ, tạo nên những hạch nhỏ, được gọi là di căn hạch cổ. Nếu tiếp tục để lâu dài, tế bào ung thư sẽ tiếp tục ngấm vào máu di chuyển tới các cơ quan khác của cơ thể như phổi, gan, xương,… hay còn gọi là ung thư di căn.

Ung thư tuyến giáp di căn có nguy hiểm hay không?

Nếu được hỏi ung thư tuyến giáp có nguy hiểm hay không, câu trả lời là có, để càng lâu, sự di căn càng nhiều và khó kiểm soát, đôi khi vượt qua tầm kiểm soát, không thể loại bỏ hết được các khối u trong cơ thể. Tuy nhiên nếu được phát hiện sớm, đặc biệt nếu mới ở giai đoạn ung thư tuyến giáp di căn hạch cổ, việc điều trị rất khả quan.

Điều trị ung thư tuyến giáp di căn hạch cổ bằng phương pháp nào

Việc điều trị ung thư tuyến giáp di căn hạch cổ hoàn toàn khả quan, và sẽ dễ dàng hơn nếu được phát hiện sớm và kiên trì điều trị. Hiện nay có hai phương pháp điều trị di căn hạch cổ đó là xạ trị bằng hóa chất, và phẫu thuật.

Điều trị bằng phương pháp phẫu thuật

Đây là phương pháp triệt để giúp loại bỏ hoàn toàn khối u tại vùng cổ, tuy nhiên nếu hạch quá nhiều sẽ không thể thực hiện phẫu thuật được. Chính vì thế đây là phương pháp được chỉ định khi hạch xuất hiện ít, và tùy vào thể trạng bệnh khi thăm khám bệnh nhân sẽ được bác sĩ tư vấn có nên sử dụng phương pháp điều trị này hay không.

Điều trị bằng xạ trị I – ốt

Đây là phương pháp an toàn, ít tác dụng phụ và đặc biệt có thể áp dụng khi hạch bị di căn vùng cổ nhiều. Do tế bào ung thư có tính bắt giữ I – ốt mạnh nên có thể dùng liều I – 131, có thể lặp lại không giới hạn cho tới khi tế bào ung thư bị tiêu diệt hoàn toàn. Cơ chế điều trị ung thư tuyến giáp di căn hạch cổ bằng I – 131 đó là tia phóng xạ do I – ốt phát ra sẽ giúp tiêu diệt các tế bào ung thư. Tuy nhiên bệnh nhân trong quá trình điều trị sẽ được cách li để đảm bảo phóng xạ không ảnh hưởng tới người bình thường không mắc bệnh.


【#10】Ung Thư Tuyến Giáp Ở Trẻ Em

Tuyến giáp là một tuyến hình dạng giống bươm bướm nằm ở cổ. Nó có 2 thùy nối ở giữa là một mảnh mô gọi là eo tuyến giáp.

Tuyến giáp tiết ra ba hormone (nội tiết tố) chính:

  • Thyroxine (T4), chứa iodine (i-ốt), cần cho sự phát triển và chuyển hóa.
  • Triiodothyroxine (T3), cũng là một chất chứa i-ốt và có chức năng tương tự như thyroxine.
  • Calcitonin, là chất làm giảm nồng độ của canxi trong máu và làm tăng nồng độ canxi trong xương.

Cả 3 hormone này có vai trò quan trọng trong sự phát triển của trẻ em.

Ung thư tuyến giáp là loại ung thư nội tiết thường gặp nhất và cũng là loại ung thư dạng đặc thường gặp thứ 3 ở trẻ em. Nó xảy ra ở trẻ nữ nhiều hơn ở trẻ nam, với tỉ lệ 4:1, và có đặc điểm tương tự như ung thư tuyến giáp ở người lớn. Phẫu thuật là điều trị thích hợp đối với dạng ung thư này.

Mặc dù thủ thuật thường không gây biến chứng, nguy cơ của phẫu thuật tuyến giáp bao gồm liệt dây thanh âmgiảm canxi máu.

Do đó, bạn nên tham khảo ý kiến của một bác sĩ tai mũi họng hoặc bác sĩ phẫu thuật đầu cổ, hay một chuyên gia về những vấn đề ở đầu và cổ.

Phân loại ung thư biểu mô tuyến giáp theo nguồn gốc tế bào

Thể ung thư này xảy ra ở những tế bào sản xuất hormone tuyến giáp có chứa iodine. Đây là dạng thường gặp nhất của ung thư tuyến giáp ở trẻ em và phát triển rất chậm. Thể ung thư này lan đến các hạch bạch huyết thông qua mạch bạch huyết ở cổ và đôi khi di căn xa hơn.

Thể này cũng phát triển ở những tế bào sản xuất hormone giáp có chứa iodine. Bệnh ảnh hưởng đến nhóm tuổi lớn hơn một tí và ít gặp ở trẻ em. Thể ung thư này thường lan ra cổ qua đường mạch máu, di căn đến những bộ phận khác của cơ thể, làm cho căn bệnh khó kiểm soát hơn.

Ung thư biểu mô không biệt hóa:

Đây là thể phát triển nhanh nhất với những tế bào bất thường tăng trưởng và lan đi rất nhanh, đặc biệt là ở vùng cổ. Thể ung thư này không được ghi nhận ở trẻ em.

Triệu chứng

Triệu chứng của ung thư tuyến giáp rất đa dạng. Con của bạn có thể có một cái bướu ở cổ, một hạch bạch huyết sưng dai dẳng, cảm giác căng tức ở vùng cổ, khó thở, khó nuốt, hay khàn tiếng.

Nếu có bất kì triệu chứng nào nói trên, hãy trao đổi với bác sĩ để được sự đánh giá thích hợp. Việc đánh giá nên bao gồm thăm khám đầu và cổ để xem xem có khối u (bướu) hay không. Một số xét nghiệm, có thể được đề nghị để hỗ trợ chẩn đoán như bên dưới.

Chẩn đoán ung thư tuyến giáp ở trẻ em

Triệu chứng

Siêu âm tuyến giáp là kỹ thuật sử dụng sóng siêu âm và máy tính để tạo ra hình ảnh của tuyến giáp và những thành phần khác ở cổ như là hạch cổ trên màn hình.

Xạ hình tuyến giáp cung cấp thông tin về hình dạng và chức năng của tuyến giáp cũng như giúp xác định những khu vực tuyến giáp không hấp thụ iodine theo cách bình thường.

Sinh thiết bằng kim nhỏ đối với khối u bất thường ở tuyến giáp hay cổ.

Trong một vài trường hợp, việc cắt bỏ một phần khối u hoặc một thùy của tuyến giáp là cần thiết để phân tích giúp thiết lập chẩn đoán và lên kế hoạch điều trị.

Xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán

Hình ảnh học siêu âm là sử dụng sóng siêu âm giúp tạo hình của tuyến giáp và những thành phần khác của cổ như là hạch cổ.

Những test khác có thể nên được làm bao gồm:

Xạ hình tuyến giáp cung cấp thông tin về hình và chức năng của tuyến giáp,xác định được những khu vực tuyến giáp không hấp thụ được i-ốt theo cách bình thường.

Sinh thiết bằng kim nhỏ đối với bất kì bướu bất thường ở tuyến giáp hay cổ.

Trong một vài trường hợp, cần thiết phải cắt bỏ một phần bướu hoặc một thùy của tuyến giáp, kết quả phân tích giúp thiết lập chẩn đoán và kế hoạch điều trị.

Điều trị ung thu tuyến giáp ở trẻ em

Nếu khối u được xác định là ác tính, bác sĩ sẽ đề nghị phẫu thuật. Phẫu thuật có thể bao gồm cắt bỏ thùy tuyến giáp, cắt bỏ gần hoàn toàn tuyến giáp hoặc cắt bỏ hoàn toàn tuyến giáp.

Ở trẻ em bị ung thư tuyến giáp dạng nhú hoặc dạng nang, phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn tuyến giáp được xem như là điều trị tiêu chuẩn, vì bệnh thường đã tiến triển khi phát hiện với tỉ lệ di căn cao, và phẫu thuật sẽ giảm nguy cơ tái phát.

Ở trẻ em, việc mổ lại nhiều lần có thể cần thiết khi không phẫu thuật loại bỏ toàn bộ tuyến giáp. Hạch bạch huyết ở cổ có lẽ cần được loại bỏ vì đó là một phần của điều trị đối với ung thư tuyến giáp nếu có nghi ngờ có sự di căn đến hạch bạch huyết.

Theo sau điều trị phẫu thuật là xạ trị, giúp hủy những tế bào ung thư sót lại không được loại bỏ. Điều trị hormone giáp có thể phải thực hiện trong suốt toàn bộ cuộc đời của đứa trẻ để thay thế cho những hormone giáp bình thường và làm chậm sự phát triển của những tế bào ung thư còn sót lại.

Nếu ung thư tuyến giáp di căn đến các bộ phận khác của cơ thể, hóa trị (điều trị bằng hợp chất hóa học hoặc thuốc) có thể áp dụng. Liệu pháp này tác động tới khả năng phát triển hay tái sản xuất của tế bào ung thư. Những nhóm thuốc riêng biệt hoạt động theo những cách riêng biệt trong việc chống lại tế bào ung thư và làm giảm kích thước của bướu. Xạ trị cũng có thể được áp dụng trong việc điều trị một vài thể khác của ung thư tuyến giáp.

Nhìn chung, kết quả điều trị những thể ung thư ở trẻ nhỏ có khuynh hướng tốt hơn. Kết quả tốt nhất được ghi nhận ở những trẻ nữ tuổi niên thiếu, thể ung thư dạng nhú và bướu tại chỗ của tuyến giáp.

http://www.entnet.org/node/1469


Bạn đang xem chủ đề Ung Thư Giáp trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!