Liệu Pháp Sinh Học Trong Điều Trị Ung Thư – Ung Thư Học

--- Bài mới hơn ---

  • Chẩn Đoán Ung Thư Tụy
  • Tiếp Tục Thua Kiện Vì Gây Ung Thư, Johnson & Johnson Phải Bồi Thường Số Tiền ‘khủng’
  • Sàng Lọc Và Phát Hiện Sớm Ung Thư Khoang Miện – Sàng Lọc Ung Thư
  • Thuốc Trị Ung Thư Kaposi Liên Quan Tới Aids
  • Sự Khác Biệt Giữa U Lành Tính Và U Ác Tính
  • Định nghĩa

    Liệu pháp sinh học điều trị ung thư là một phương thức điều trị mà sử dụng hệ thống miễn dịch cơ thể để tiêu diệt tế bào ung thư.

    Liệu pháp sinh học đã được sử dụng trong điều trị nhiều loại ung thư để ngăn chặn hoặc làm chậm lại sự phát triển của khối u và ngăn cản sự lan rộng của ung thư. Liệu pháp sinh học thường ít gây ra các tác dụng phụ nhiễm độc hơn các phương pháp điều trị khác.

    Liệu pháp sinh học tác động như thế nào?

    Mục tiêu của liệu pháp này là thúc đẩy hệ miễn dịch nhận ra và tiêu diệt tế bào ung thư.

    Hệ miễn dịch của cơ thể chiến đấu chống lại những tác nhân ngoại lai, như vi sinh vật, xâm nhập vào cơ thể. Hệ miễn dịch cũng sẽ xem các tế bào ung thư là bất thường, nhưng không phải lúc nào cũng như vậy. Tế bào ung thư có thể phát triển một năng lực che dấu khỏi các tế bào của hệ miễn dịch. Hoặc chúng có thể vô hiệu hóa hoặc ức chế hoạt động của tế bào miễn dịch.

    Thông thường, liệu pháp sinh học tác động thông qua một trong hai cách:

    • Thúc đẩy hệ miễn dịch tấn công tế bào ung thư. Có nhiều cách liệu pháp điều trị sinh học có thể đạt được mục tiêu này. Ví dụ, tiêm hóa chất kích thích tế bào hệ miễn dịch. Hoặc một mẫu thử của hệ miễn dịch có thể được huấn luyện trong phòng thí nghiệm để tấn công các tế bào ung thư trước khi được đưa trở lại cơ thể.
    • Làm cho tế bào ung thư dễ bị hệ miễn dịch phát hiện hơn. Liệu pháp sinh học cũng có thể nhắm vào đích là tế bào ung thư, kích hoạt hoặc bất hoạt các tín hiệu tế bào giúp chúng tránh né được các tế bào miễn dịch.

    Những dạng của liệu pháp sinh học

    Một vài dạng của liệu pháp điều trị sinh học đã có mặt, bao gồm:

    • Chuyển tế bào nuôi dưỡng
    • Chất ức chế sinh mạch
    • Liệu pháp BCG (Bacillus Calmette-Guerin)
    • Liệu pháp hóa sinh
    • Vaccine ung thư
    • Liệu pháp cytokine
    • Liệu pháp gene
    • Miễn dịch liên hợp (immunoconjugates)
    • Kháng thể đơn dòng
    • Liệu pháp virus tiêu diệt khối u (oncolytic virus therapy)
    • Thuốc điều trị đích

    Nhiều dạng của liệu pháp sinh học hiện mới chỉ đang trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng. Liệu pháp sinh học cho ung thư hiện là một lĩnh vực tích cực trong nghiên cứu ung thư.

    Theo Mayo Clinic

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bước Đầu Điều Trị Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ Giai Đọan Lan Tràn Bằng Cisplatin + Irinotecan Tại Khoa Phổi Bv Chợ Rẫy
  • Cập Nhật Những Bệnh Ung Thư Người Việt Nam Thường Mắc Phải Có Chiều Hướng Tăng
  • Giải Phẫu Bệnh Hoc: Bệnh Lý Nguyên Bào Nuôi Thai Kì
  • Những Dấu Hiệu Nhận Biết Bệnh Ung Thư Tuyến Nước Bọt
  • Chẩn Đoán Và Điều Trị Ung Thư Thanh Quản
  • Ung Thư Hậu Môn – Ung Thư Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Nốt Ruồi Hay Ung Thư Hắc Tố? Các Dấu Hiệu Cảnh Báo Ở Các Chàm (Bớt, Biến Đổi Da) Lành Tính Và Ác Tính
  • Chẩn Đoán Và Điều Trị Ung Thư Thanh Quản
  • Những Dấu Hiệu Nhận Biết Bệnh Ung Thư Tuyến Nước Bọt
  • Giải Phẫu Bệnh Hoc: Bệnh Lý Nguyên Bào Nuôi Thai Kì
  • Cập Nhật Những Bệnh Ung Thư Người Việt Nam Thường Mắc Phải Có Chiều Hướng Tăng
  • Ung thư hậu môn thường ít khi được mọi người nhắc đến vì vấn đề nhạy cảm, nhưng việc thoát khỏi những vấn đề ngạy cảm xung quanh căn bệnh này có thể làm giảm tỉ lệ tử vong.

    Ung thư có thể xảy ra ở bất kỳ vị trí nào trên cơ thể, vì vậy hậu môn – phần cuối cung f của ống tiêu hóa cũng không là ngoại lệ. Ung thư hậu môn có thể phát triển 1 khối u ở da xung quanh hậu môn, nhưng nó thường được coi là ung thư da. Ung thư hậu môn là khi bệnh xảy ra trong ống hậu môn. Theo Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ, dấu hiệu của ung thư hậu môn hiếm gặp bao gồm: chảy máu, đau hậu môn, ngứa, thay đổi áp lực của hậu môn hoặc chảy mủ từ hậu môn. Ung thư hậu môn cũng có thể biểu hiện bằng khối u ở gần hậu môn hoặc thay đổi thói quen đại tiện.

    Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, khối u ở hậu môn có nhiều thể mô bệnh học khác nhau xuất phát từ các loại tế bào khác nhau. Ung thư hậu môn chủ yếu phát triển từ lớp niêm mạc. Ung thư cũng có thể được hình thành từ các tuyến dưới niêm mạc.

    Mặc dù ung thư hậu môn hiếm gặp hơn ung thư đại tràng hay ung thư trực tràng, chiếm 1,6% ung thư đường tiêu hóa, nhưng ở Mỹ có khoảng 8000 người mắc/năm. Số lượng mới mắc ung thư hậu môn ngày càng tăng. Ung thư hậu môn được phát hiện càng sớm càng tốt. Theo thống kê tỉ lệ sống trên 5 năm khoảng 60-70%, tùy thuộc vào từng thể bệnh khi ung thư hậu môn được phát hiện ở giai đoạn sớm. Nhưng tỉ lệ sống giảm nhanh khi ở giai đoạn tiến triển. Ung thư hậu môn giai đoạn cuối, tỉ lệ sống sau 5 năm chỉ còn 7-21%.

    Một số người nên được sàng lọc ung thư hậu môn nhiều hơn những người khác. Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ cho biết nhiễm HPV làm tăng nguy cơ bị ung thư hậu môn. HPV rất phổ biến và có ở hầu hết nam, nữ đã quan hệ tình dục. HPV cũng gây ra những ung thư khác như ung thư hậu môn, ung thư hạ họng…Những yếu tố nguy cơ khác như quan hệ với nhiều đối tác, quan hệ qua đường hậu môn, người trên 50 tuổi, hút thuốc lá, người suy giảm miễn dịch, hậu môn thường xuyên bị kích thích ( sưng, đau, đỏ, nhức). Những người bị ung thư cổ tư cung hay ung thư âm đạo cũng làm tăng nguy cơ ung thư hậu môn.

    Nguồn:

    http://www.medicaldaily.com/anal-cancer-early-signs-and-symptoms-disease-no-one-talks-about-406240

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ung Thư Đại Trực Tràng Sống Được Bao Lâu?
  • Gói Tầm Soát Ung Thư Vòm Họng Ts
  • Điều Trị Thành Công Bệnh Nhân Ung Thư Tại Hai Vị Trí: Hạ Họng Và Thực Quản Tại Trung Tâm Y Học Hạt Nhân Và Ung Bướu
  • Liệu Pháp Nhắm Trúng Đích Cho Bệnh Ung Thư Gan
  • Chi Phí Điều Trị Bệnh Gan Chuẩn Xác Nhất Hiện Nay ?
  • Ung Thư Học Đại Cương

    --- Bài mới hơn ---

  • Jco: Tạp Chí Của Ung Thư Học Lâm Sàng
  • Coin: Ung Thư Học Lâm Sàng Mạng
  • Asco: Hội Ung Thư Học Lâm Sàng Hoa Kỳ
  • Abeloff Ung Thư Học Lâm Sàng 6E 2022
  • Thần Kinh Học Ung Thư Trong Thực Hành Lâm Sàng 3E 2022
  • Ung Thư Học Đại Cương – Nguyễn Bá Đức

    Chủ biên: Nguyễn Bá Đức

    Tác giả : Phùng Phướng, Nguyễn Văn Cầu, Nguyễn Trần Thúc huân

    NXB Giáo Dục Việt Nam 2009

    115 trang

    Trong thời đại ngày nay mặc dù khoa học đã có những tiến bộ vượt bậc đặc biệt là trong lĩnh vực sinh học phân tử, tuy nhiên để định nghĩa bệnh ung thư là gì vẫn không dễ dàng.

    Tuy nhiên chúng ta có thể định nghĩa ung thư như là quá trình bệnh lý trong đó một số tế bào thoát ra khỏi sự kiểm soát, sự biệt hóa sinh lý của tế bào và tiếp tục nhân lên. Những tế bào này có khả năng xâm lấn và phá hủy các tổ chức chung quanh. Đồng thời chúng di trú và đến phát triển ở nhiều cơ quan khác nhau và hình thành nên di căn, uối cùng ung thư gây tử vong do:

    – Các biến chứng cấp tính như: xuất huyết ồ ạt, chèn ép não, ngạt thở.

    – Tiến triển nặng dần tiến đến rối loạn chức năng của các cơ quan do khối di căn như thiểu năng hô hấp, suy chức năng gan thận.

    – Sự thoái triển dần dần, kéo dài dẫn đến suy kiệt và cuối cùng bệnh nhân tử vong.

    Chương I Đại cương về ung thư

    Chương II Dịch tễ học ung thư

    Chương III Cơ chế bệnh sinh & quá trình tiến triển tự nhiên của bệnh ung thư

    Chương IV Nguyên nhân ung thư

    chương V Dự phòng ung thư

    Chương VI Thăm khám khối u

    chương VII Chẩn đoán bệnh ung thư

    chương VIII Chất chỉ điểm ung thư

    Chương IX Điều trị phẩu thuật bệnh ung thư

    Chương X Điều trị tia xạ bệnh ung thư

    Chương XI Hoá trị ung thư

    Chương XII Điều trị giảm đau trong ung thư

    Chương XIII Điều trị một số triệu chứng thường gặp trong ung thư giai đoạn cuối

    Chương XIV Chương trình phòng chống bệnh ung thư ở Việt Nam giai đoạn 2002-2010

    Download

    Download

    Download Ung Thư Học Đại Cương – Nguyễn Bá Đức.PDF Ung Thư Học Đại Cương – Nguyễn Bá Đức.PDF Ung Thư Học Đại Cương – Nguyễn Bá Đức.PDF

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ung Thư Xương Hàm Là Gì? Biểu Hiện, Chẩn Đoán, Điều Trị
  • Hà Tĩnh: Sự Sống Mong Manh Của Cháu Bé 5 Tháng Tuổi Bị U Máu Quai Hàm
  • Xót Xa Cảnh Cháu Bé Thụ Tinh Ống Nghiệm Bị Khối U Ác Tính Ăn Vào Não
  • Biểu Hiện Và Cách Điều Trị Loạn Năng Thái Dương Hàm
  • Trật Khớp Thái Dương Hàm
  • Ung Thư Dạ Dày – Ung Thư Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Cập Nhật Về Điều Trị Hóa Chất Trong Ung Thư Dạ Dày
  • Khuẩn Hp Và Nguy Cơ Ung Thư Dạ Dày
  • Vi Khuẩn Hp Có Tên Gọi Đầy Đủ Là Helicobacter Pylori. Theo Thống Kê Có Tới 70% Người Việt Nhiễm Vi Khuẩn Hp. Vi Khuẩn Hp Là Nguyên Nhân Chính Dẫn Đến Tình Trạng Viêm Loét Dạ Dày, Tá Tràng Đặc Biệt Là
  • Vi Khuẩn Hp Gây Ung Thư Dạ Dày Khi Nào? (Cập Nhật 2022)
  • Thủ Phạm Chính Gây Ung Thư Dạ Dày Tại Việt Nam
  • Tổng quan

    Dạ dày là một túi cơ nằm ở thượng vị, ngay dưới các xương sườn. Dạ dày có nhiệm vụ tiếp nhận và lưu giữ thức ăn, sau đó giúp nghiền nhỏ và tiêu hóa chúng.

    Ung thư biểu mô tuyến (ung thư xuất phát từ các tế bào tiết nằm ở thành dạ dày) là loại ung thư dạ dày phổ biến nhất.

    Triệu chứng 

    Các dấu hiệu và triệu chứng của ung thư dạ dày có thể gồm:

    • Mệt mỏi
    • Cảm thấy đầy bụng sau ăn
    • Cảm thấy nhanh no sau khi ăn một lượng nhỏ thức ăn
    • Ợ nóng nhiều và thường xuyên
    • Khó tiêu nặng và không giảm bớt
    • Buồn nôn thường xuyên và không rõ nguyên nhân
    • Đau dạ dày
    • Nôn thường xuyên
    • Sụt cân không giải thích được

     

    Khi bạn có những dấu hiệu và triệu chứng trên, hãy đến khám bác sĩ để tìm ra nguyên nhân sớm.

    Nguyên nhân 

    Các type ung thư dạ dày

    Loại tế bào trong khối u quyết định type ung thư dạ dày. Từ đó cũng giúp lựa chọn phương pháp điều trị. Các type ung thư dạ dày bao gồm:

    • Ung thư xuất phát từ tế bào tuyến (adenocarcinoma). Các tế bào tuyến nằm trong dạ dày bài tiết một lớp nhày bảo vệ thành dạ dày khỏi acid dịch tiêu hóa. Ung thư biểu mô tuyến chiếm tỷ lệ chủ yếu trong các type ung thư dạ dày.
    • Ung thư xuất phát từ các tế bào của hệ miễn dịch (lymphoma). Thành dạ dày có chứa một số lượng nhỏ các tế bào của hệ miễn dịch và có thể phát triển thành ung thư. U lympho ở dạ dày hiếm gặp.
    • Ung thư xuất phát từ các tế bào tiết hormon (carcinoid cancer). Các tế bào tiết hormon có thể phát triển thành ung thư carcinoid. Loại ung thư này cũng hiếm gặp.
    • Ung thư xuất phát từ mô của hệ thần kinh (GIST- A gastrointestinal stromal tumor). Loại ung thư này xuất phát từ các tế bào của hệ thần kinh đã biệt hóa, được tìm thấy trong dạ dày. GIST là type hiếm gặp trong ung thư dạ dày.

     

    Bởi vì các type khác của ung thư dạ dày đều hiếm gặp, nên khi nhắc đến ung thư dạ dày thường là nói đến ung thư biểu mô tuyến của dạ dày.

    Yếu tố nguy cơ

    • Chế độ ăn nhiều muối và đồ hun khói
    • Chế độ ăn ít ra và hoa quả
    • Ăn thức ăn có aflatoxin trong nấm mốc
    • Tiền sử gia đình ung thư dạ dày
    • Nhiễm Helicobacter pylori
    • Viêm dạ dày kéo dài
    • Thiếu máu ác tính
    • Hút thuốc
    • Có polyp dạ dày

     

    Chẩn đoán

    Các xét nghiệm và thủ thuật được sử dụng để chẩn đoán ung thư dạ dày bao gồm:

    • Nội soi tiêu hóa trên. Một ống nhỏ chứa một camera rất nhỏ được đưa qua họng và vào trong dạ dày. Bác sĩ có thể tìm kiếm các dấu hiệu của ung thư. Nếu tìm thấy vùng nghi ngờ, bác sĩ có thể bấm sinh thiết để làm giải phẫu bệnh.

    • Các chẩn đoán hình ảnh. Chụp cắt lớp vi tính và chụp X quang với thuốc cản quang barium hay được dùng.

    Chẩn đoán giai đoạn

    Giai đoạn ung thư giúp bác sĩ quyết định phương pháp điều trị tốt nhất. Những xét nghiệm và thủ thuật được sử dụng:

    • CĐHA: chụp cắt lớp vi tính và chụp cắt lớp xạ hình positron (PET).
    • Mổ thăm dò. Các bác sĩ có thể yêu cầu mổ thăm dò để tìm các dấu hiệu di căn ổ bụng của ung thư dạ dày. Phương pháp mổ nội soi thường được sử dụng.

     

    Những xét nghiệm khác có thể được sử dụng tùy vào tình trạng của bệnh nhân.

    Các giai đoạn ung thư dạ dày

    Các giai đoạn của ung thư biểu mô tuyến dạ dày:

    • I. Ở giai đoạn này, khối u chỉ giới hạn trong lớp niêm mạc của dạ dày. Các tế bào ung thư có thể lan đến một vài hạch lympho kế cận.
    • II. Giai đoạn này, các tế bào ung thư phát triển sâu hơn, đến lớp cơ thành dạ dày. Các tế bào ung thư có thể lan đến nhiều hạch lympho hơn.
    • III. Ở giai đoạn này, ung thư đã phát triển hết các lớp của dạ dày và lan đến các cấu trúc lân cận. Hoặc có thể khối u nhỏ hơn nhưng đã lan rộng khắp hệ thống hạch lympho.
    • IV. Khối u đã di căn đến những vị trí khác trong cơ thể.

    Điều trị

    Lựa chọn phương pháp điều trị phụ thuộc vào giai đoạn ung thư, thể trạng sức khỏe và mong muốn của bệnh nhân.

    Phẫu thuật

    Mục đích của phẫu thuật là loại bỏ toàn bộ vùng ung thư và qua mép rìa mô lành, nếu có thể. Các lựa chọn bao gồm:

    • Cắt khối u ở giai đoạn sớm khỏi dạ dày. Khi ung thư rất nhỏ và còn giới hạn trong lớp niêm mạc, chúng có thể được cắt bỏ qua nội soi.
    • Cắt dạ dày một phần. Các bác sĩ chỉ cắt phần dạ dày bị ảnh hưởng bởi khối u.
    • Cắt dạ dày toàn bộ. Là cắt toàn bộ dạ dày và các mô xung quanh. Thực quản sẽ được nối trực tiếp với ruột non để duy trì lưu thông của thức ăn.
    • Cắt hạch lympho để tìm ung thư. Các bác sĩ tiến hành kiểm tra và cắt các hạch lympho trong ổ bụng để tìm kiếm tế bào ung thư.
    • Phẫu thuật giảm nhẹ triệu chứng. Cắt một phần dạ dày có thể giảm nhẹ triệu chứng ở bệnh nhân ung thư tiến triển. Trong trường hợp này, phẫu thuật viên không thể điều trị khỏi ung thư, nhưng có thể khiến bệnh nhân cảm thấy tốt hơn.

     

    Phẫu thuật cũng kèm theo những nguy cơ xuất huyết và nhiễm khuẩn. Nếu một phần hoặc toàn bộ dạ dày đã được cắt bỏ, bạn có thể gặp các vấn đề về tiêu hóa.

    Xạ trị

    Xạ trị có thể được dùng trước phẫu thuật (xạ trị tân bổ trợ) để làm khối u nhỏ lại và dễ dàng cắt bỏ hơn. Hóa trị cũng có thể được dùng sau phẫu thuật (hóa trị bổ trợ) để tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại. Xạ trị thường phối hợp với hóa trị. Trong trường hợp ung thư tiến triển, xạ trị có thể được sử dụng để giảm nhẹ các ảnh hưởng do kích thước khối u quá lớn.

    Xạ trị có thể gây tiêu chảy, khó tiêu, buồn nôn và nôn.

    Hóa trị

    Các hóa chất dùng trong hóa trị liệu sẽ đi khắp cơ thể, và tiêu diệt các tế bào ung thư vượt qua khỏi dạ dày.

    Hóa trị có thể được chỉ định trước phẫu thuật (hóa trị tân bổ trợ) giúp giảm bớt kích thước khối u, làm nó có thể được cắt bỏ dễ hơn. Hóa trị cũng có thể được chỉ định sau phẫu thuật (hóa trị bổ trợ) để tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại. Hóa trị thường phối hợp với xạ trị. Hóa trị có thể được sử dụng đơn độc đối với những bệnh nhân ung thư tiến triển, giúp giảm nhẹ triệu chứng.

    Các tác dụng phụ của hóa trị phụ thuộc vào loại hóa chất được sử dụng. Và loại hóa chất được dùng lại phụ thuộc vào type ung thư dạ dày.

    Điều trị nhắm đích

    Liệu pháp nhắm đích sử dụng thuốc tấn công vào những phần đặc hiệu trong tế bào ung thư. Các thuốc dùng trong điều trị ung thư dạ dày bao gồm:

    • Trastuzumab (Herceptin) dùng cho tế bào ung thư sản xuất quá nhiều HER2.
    • Ramucirumab (Cyramza) dùng cho ung thư tiến triển không đáp ứng với những phương pháp điều trị khác.
    • Imatinib (Gleevec) dùng cho type hiếm gặp GIST.
    • Sunitinib (Sutent) dùng cho type GIST.
    • Regorafenib (Stivarga) dùng cho type GIST.

     

    Xét nghiệm tế bào ung thư giúp bác sĩ biết phương pháp điều trị có hiệu quả hay không.

    Chăm sóc giảm nhẹ

    Chăm sóc giảm nhẹ là một chăm sóc y tế đặc biệt tập trung cung cấp những biện pháp nhằm giảm nhẹ đau đớn và những triệu chứng trong các bệnh nặng. Chăm sóc giảm nhẹ đặc hiệu với từng bệnh nhân, gia đình và từng bác sĩ khác nhau. Chăm sóc giảm nhẹ có thể áp dụng trong khi đang tiến hành các điều trị xâm lấn khác như phẫu thuật, hóa trị hay xạ trị. Khi chăm sóc giảm nhẹ được sử dụng cùng với các điều trị thích hợp khác, bệnh nhân ung thư có thể cảm thấy tốt hơn và kéo dài cuộc sống hơn.

    Chăm sóc giảm nhẹ được cung cấp bởi một đội ngũ bác sĩ, y tá và những chuyên gia đặc biệt. Với mục tiêu cải thiện chất lượng cuộc sống cho các bệnh nhân ung thư và gia đình họ. Chăm sóc giảm nhẹ thường song hành cùng với các phương pháp điều trị khác.

    Sống cùng ung thư

    Khi bị chẩn đoán ung thư có thể làm bạn hoảng loạn và lo sợ. Nhưng sau khi trải qua cơn sốc, bạn có thể tìm kiếm sự giúp đỡ và tập trung vào những việc làm giúp bạn đương đầu với khó khăn. VD:

    • Tìm kiếm thông tin đầy đủ để ra quyết định về phương pháp điều trị thích hợp. Hỏi bác sĩ các thông tin về loại ung thư, giai đoạn và các lựa chọn điều trị. Sử dụng những thông tin đó để tìm hiểu thêm về ung thư dạ dày, lợi ích và nguy cơ của các phương pháp điều trị.
    • Kết nối với những bệnh nhân ung thư khác. Tham gia một nhóm các bệnh nhân cùng mắc ung thư. Hoặc giao lưu với họ trên internet.
    • Sống năng động. Được chẩn đoán ung thư không có nghĩa bạn phải dừng các hoạt động ưa thích của mình. Trong phần lớn thời gian, nếu bạn cảm thấy đủ sức khỏe để làm một việc gì đó thì cứ làm.

    Phòng bệnh

    Bởi vì không có nguyên nhân cụ thể của ung thư dạ dày, nên không có biện pháp nào ngăn ngừa hoàn toàn được nó. Nhưng bạn có thể giảm nguy cơ mắc ung thư dạ dày bằng những thay đổi nhỏ hằng ngày. VD:

    • Tập thể dục.
    • Ăn nhiều hoa quả và rau.
    • Giảm lượng muối và đồ hun khói trong chế độ ăn.
    • Dừng hút thuốc.
    • Hỏi bác sĩ về nguy cơ mắc ung thư của bạn.

     

    Theo Mayo Clinic.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thủ Phạm Gây Ung Thư Dạ Dày
  • Hình Ảnh Dạ Dày Bình Thường Và Bệnh Lý Trên Phim Chụp X Quang
  • Chẩn Đoán Hình Ảnh Xquang Dạ Dày Và Tá Tràng – Virad
  • Những Thói Quen Gây Ung Thư Dạ Dày
  • Thời Điểm Nào Nên Thực Hiện Sàng Lọc Ung Thư Dạ Dày? Thanh Vũ Medic Bạc Liêu
  • Bệnh Học Ung Thư Vòm Họng

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Dấu Hiệu Phát Hiện Ung Thư Vòm Họng Sớm Nhất
  • Tầm Soát Ung Thư Vòm Họng Phát Hiện Sớm Bệnh Ung Thư Vòm Họng
  • Cách Phát Hiện Bệnh Ung Thư Vòm Họng
  • ‘thần Dược’ Chữa Ung Thư Vòm Họng
  • Hà Tĩnh: Bài Thuốc Đặc Biệt Của “thần Y” Có Thể Chữa Khỏi Ung Thư Vòm Họng
  • Bệnh ung thư vòm họng (NPC – Nasopharyngeal Carcinoma) ở nước ta có tỷ lệ cao, đứng hàng đầu trong các bệnh ung thư đầu cổ, đứng hàng thứ 5 trong các bệnh ung thư nói chung. Nhưng các triệu chứng lại không điển hình hầu hết là các triệu chứng “mượn” của các cơ quan lân cận như: tai, mũi, thần kinh, hạch…do đó việc chẩn đoán gặp nhiều khó khăn. Cần phát hiện sớm, điều trị kịp thời để cứu sống bệnh nhân.

    Giải phẫu vòm họng

    Cấu tạo giải phẫu: vòm họng còn gọi là họng mũi, thuộc lá thai trong có cấu trúc là một hình hộp có sáu mặt.

    Mặt trước là cửa mũi sau.

    Hai bên là loa vòi nhĩ cách đuôi cuốn mũi dưới khoảng 1 cm, xung quanh loa vòi có tổ chức bạch huyết gọi là amiđan Gerlach. Phía trên gờ vòi nhĩ hai bên có hố Rosenmuler.

    Mặt trên là bờ dưới của thân xương bướm và mảnh nền của xương chẩm. Ở mặt này tổ chức bạch huyết tập trung thành đám gọi là amiđan Luschka. Khi tổ chức này quá phát được gọi là viêm V.A.

    Mặt dưới thông với họng miệng.

    Mạch máu nuôi dưỡng: là động mạch bướm khẩu cái, xuất phát từ động mạch hàm trong (là 1 trong 2 ngành cùng của động mạch cảnh ngoài).

    Tổ chức học: phần trên được cấu tạo bởi biểu mô trụ đơn có lông chuyển thuộc niêm mạc đường hô hấp. Phía dưới là lớp biểu mô lát tầng thuộc niêm mạc đường tiêu hoá.

    Lịch sử nghiên cứu về ung thư vòm họng

    Trong nghiên cứu các xác ướp ở Ai Cập, Elliot Smith đã phát hiện được hai sọ người có tổn thương ở nền sọ như thương tổn của bệnh ung thư vòm họng.

    Theo Fardel năm 1837 ở châu Âu đã có những bệnh án đầu tiên của bệnh nhân có bệnh cảnh giống ung thư vòm họng.

    Tại Việt Nam cố giáo sư Trần Hữu Tước đã nghiên cứu trên 612 bệnh nhân ung thư vòm họng tại Bệnh viện Bạch Mai (1955 – 1964).

    Dịch tễ học

    Thế giới: ung thư vòm mũi họng xuất hiện nhiều ở Trung Quốc, Châu Phi và một số nước Đông nam Á, rất hiếm gặp ở Châu Âu, Châu Mỹ. Đặc biệt là vùng Quảng Đông (Trung Quốc) gặp nhiều với tỷ lệ: 30-45 bệnh nhân/100.000 dân/năm. Người ta còn gọi ung thư vòm họng là “U Quảng Đông”.

    Việt Nam: vẫn chưa có một thống kê đầy đủ, chính xác. Nhưng theo thống kê của Bệnh viện K-Hà Nội (1998) thì ung thư vòm họng đứng hàng thứ 4, 5 sau ung thư phổi, tử cung buồng trứng, vú, ung thư gan và là bệnh đứng đầu trong các ung thư vùng đầu, cổ với tỷ lệ: 9-11 bệnh nhân/100.000 dân/năm.

    Giới tính hay gặp ở nam giới, tỷ lệ nam/nữ: 2-3/1.

    Tuổi: bệnh thường xuất hiện từ 20 tới 65 tuổi, sau 65 tuổi tỷ lệ bệnh giảm dần.

    Yếu tố môi trường: bao gồm điều kiện vi khí hậu, bụi khói, tình trạng ô nhiễm và tập quán ăn uống (ăn cá muối, tương, cà và những chất mốc… do những thứ này chứa Nitrosamine chất gây ung thư).

    Yếu tố gen di truyền: gần đây có một số tác giả cho rằng những người cùng huyết thống có khả năng cùng mắc bệnh ung thư vòm họng. Ngành di truyền học đã tìm thấy khoảng 30 gen ung thư nội sinh. Những gen này bình thường ở trạng thái tự động đóng lại và nằm im nhưng nếu có một cơ chế cảm ứng nào đó, gen ung thư sẽ thức dậy và gây nên hiện tượng phát triển vô tổ chức tạo ra ung thư.

    Tuy nhiên nhiều tác giả cho rằng căn nguyên của ung thư vòm họng không phải là đơn độc mà do nhiều yếu tố cùng tác động gây nên. Vì vậy công tác phòng chống ung thư vòm họng phải làm ở nhiều khâu, nhiều lĩnh vực khác nhau mới mang lại kết quả.

    Mô bệnh học

    Theo phân loại của (WHO – 1978):

    Hay gặp nhất là ung thư biểu mô không biệt hoá (UCNT-Undifferenciated carcinoma nasopharynngeal type) chiếm 75% – 85%.

    Loại ung thư biểu mô biệt hoá (CS-Carcinoma spinocellulaire) chiếm 10% – 15%.

    Ung thư liên kết (Sarcoma) hiếm gặp khoảng: 5%.

    Hạch cổ khi sinh thiết làm giải phẫu bệnh lý: đồng nhất với kết quả giải phẫu bệnh lý của vòm họng (nguyên phát).

    Giai đoạn đầu

    Các triệu chứng âm thầm nên rất khó phát hiện. Đau đầu là triệu chứng sớm, thường đau nửa đầu, từng cơn hoặc âm ỉ. Dùng các thuốc giảm đau ít có tác dụng.

    Giai đoạn khu trú

    Triệu chứng cơ năng

    Triệu chứng thần kinh: hay gặp nhất là đau đầu, đau nửa đầu hoặc đau sâu trong hốc mắt, vùng thái dương và xuất hiện tổn thương các dây thần kinh sọ não trong trường hợp bệnh nhân đến muộn như: có cảm giác tê bì ở miệng và vùng mặt cùng với bên đau đầu do dây thần kinh tam thoa bị chèn ép.

    Triệu chứng mũi xoang: ngạt mũi một bên, cùng với bên đau đầu, lúc đầu ngạt không thường xuyên sau ngạt liên tục. Hay gặp nhất là chảy mũi nhầy, có thể chảy mũi mủ do viêm xoang phối hợp, thỉnh thoảng có xì ra nhầy lẫn máu.

    Triệu chứng tai (khối u xuất phát từ thành bên họng mũi, loa vòi): có cảm giác tức như bị nút ráy tai cùng bên với đau đầu. Ù tai, nghe kém thể dẫn truyền đơn thuần (do bị tắc vòi Eustachi). Có thể gặp viêm tai giữa cùng bên do bội nhiễm.

    Triệu chứng hạch cổ và hạch dưới hàm: phần lớn bệnh nhân đến khám vì xuất hiện hạch cổ, thường hạch cổ cùng bên với khối u. Dễ chẩn đoán nhầm là ung thư hạch tiên phát. Hạch điển hình hay nhìn thấy ở sau góc hàm, dãy hạch cảnh trên, hạch lúc đầu nhỏ sau to dần, hạch cứng, ấn không đau, không có viêm quanh hạch, di động hạn chế dần. Sau cố định dính vào cơ, da.

    Triệu chứng thực thể

    Soi mũi trước không có gì đặc biệt.

    Soi mũi sau có thể thấy khối u sùi hoặc thâm nhiễm ở nóc vòm hay thành bên vòm, ở gờ loa vòi Eustachi.

    Sờ vòm bằng tay hay thăm bằng que bông có rớm máu.

    Giai đoạn lan tràn

    Triệu chứng toàn thân: thể trạng đã suy giảm, kém ăn, mất ngủ, gầy sút, thiếu máu, da màu rơm, hay bị sốt do bội nhiễm.

    Triệu chứng cơ năng và thực thể: tùy theo hướng lan của khối u sẽ xuất hiện các triệu chứng khác nhau.

    Lan ra phía trước

    Thường gặp khối u ở nóc vòm, cửa mũi sau.

    U lan vào hốc mũi gây nên ngạt tắc mũi. Lúc đầu ngạt một bên về sau khối u phát triển lấp kín cửa mũi sau gây ngạt tắc hai bên mũi, nói giọng mũi. Chảy mũi mủ có mùi hôi rõ, thường lẫn tia máu, có khi chảy máu cam.

    Khám mũi: thấy khối u sùi, ở sâu sát cửa mũi sau, thường có loét hoại tử, dễ chảy máu.

    Lan ra hai bên: khối u ở loa vòi, lan theo vòi Eustachi ra tai giữa.

    Ù tai, nghe kém một bên rõ rệt.

    Đau trong tai lan ra vùng xương chũm.

    Chảy mủ tai lẫn máu, có mùi thối, có khi lẫn mảnh tổ chức hoại tử.

    Soi tai: màng nhĩ thủng, có u sùi, hoại tử, dễ chảy máu, u có thể qua hòm nhĩ và lan ra ống tai ngoài.

    Lan xuống dưới

    U lan xuống dưới đẩy phồng màn hầu là ảnh hưởng đến giọng nói (giọng mũi hở), nuốt hay bị sặc.

    U có thể tới miệng, thường ở sau trụ sau của amiđan.

    Có thể gặp hội chứng Trotter: điếc, khít hàm, liệt màn hầu.

    Lan lên trên

    Ung thư lan lên nền sọ gây các hội chứng nội sọ như: tăng áp lực nội sọ và các hội chứng thần kinh khu trú:

    Hội chứng khe bướm: liệt các dây thần kinh III, VI và nhánh mắt của dây V gây liệt các cơ vận nhãn, đau nhức vùng trán và ổ mắt.

    Hội chứng mỏm đá: liệt các dây thần kinh V, VI gây lác trong, khít hàm, tê bì nửa mặt.

    Hội chứng đá-bướm hay hội chứng Zacod: liệt các dây thần kinh II, III, IV,V, VI gây mù mắt, liệt toàn bộ nhãn cầu, liệt cơ nhai, gây tê bì nửa mặt.

    Hội chứng lỗ rách sau hay hội chứng Vernet: liệt các dây thần kinh IX, X, XI gây liệt họng, liệt màn hầu, có dấu hiệu vén màn hầu, giọng nói đôi, liệt cơ ức đòn chũm, cơ thang.

    Hội chứng lồi cầu-lỗ rách sau hay hội chứng Collet-Sicard: liệt các dây thần kinh IX, X, XI, XII và liệt lưỡi.

    Hội chứng Garcin: toàn bộ 12 đôi dây thần kinh sọ não một bên bị liệt.

    Chẩn đoán

    Trước một bệnh nhân có những triệu chứng trên, phải nghi ngờ và được khám tỉ mỉ vòm họng đó là: soi vòm gián tiếp qua gương hoặc soi vòm bằng ống soi (cứng, mềm). Qua soi vòm có thể thấy một tổ chức sùi mủn nát, loét hoặc thâm nhiễm dễ chảy máu.

    Sinh thiết khối u

    Chẩn đoán giải phẫu bệnh lý, là yếu tố chẩn đoán xác định.

    Chẩn đoán tế bào học

    Có ý nghĩa định hướng (tế bào tại vòm họng hoặc tại hạch cổ).

    Chẩn đoán huyết thanh

    Chẩn đoán X- quang

    Tư thế Hirtz.

    C.T.Scan vùng vòm họng, nền sọ: đánh giá sự lan tràn và phá hủy của khối u lên nền sọ.

    Chẩn đoán phóng xạ

    Có thể chẩn đoán sớm được kích thước khối u, chẩn đoán được tình trạng di căn xa của bệnh.

    Chẩn đoán giai đoạn

    Tổ chức chống ung thư quốc tế (UICC – Union internationale contre le cancer) – 1987 xếp loại giai đoạn UTVH.

    Phân loại T.N.M. T (Tumor): khối u nguyên phát:

    Tx: không rõ khối u.

    Tis: (insitu) khối u nhỏ khu trú dưới niêm mạc.

    To: không có u (soi vòm chưa thấy khối u).

    T1: khối u khu trú ở 1 vị trí giải phẫu.

    T2: khối u đã lan ra 2 vị trí khác.

    T3: khối u lan vào hốc mũi, xuống dưới màn hầu.

    T4: khối u đã phá huỷ xương nền sọ hoặc gây tổn tương các dây thần kinh sọ não.

    N (Node): hạch cổ:

    No: không sờ thấy hạch cổ.

    N1: một hạch cổ, cùng bên, di động, KT< 3 cm.

    N2: hạch cổ phân làm 3 mức.

    N2a: một hạch cổ, cùng bên, di động, KT: 3 – 6 cm.

    N2b: nhiều hạch cổ, cùng bên, di động, KT< 6 cm.

    N2c: hạch cổ 2 bên hoặc đối bên, di động, KT< 6 cm.

    M (Metastasis): di căn xa:

    Mo: chưa xuất hiện di căn xa.

    M1: đã xuất hiện di căn xa (căn cứ vào X-quang và siêu âm để chẩn đoán).

    Phân loại giai đoạn lâm sàng

    Giai đoạn I: T1NoMo.

    Giai đoạn II: T2NoMo.

    Giai đoạn III: T3NoMo, T1-3N1Mo.

    Giai đoạn IV: T4No-1Mo, N2-3Mo và các T.

    M1 (các T và các N).

    Chẩn đoán phân biệt

    U xơ vòm mũi họng.

    Polyp mũi sau.

    Tồn dư tổ chức V.A.

    Diễn biến và tiên lượng

    Giai đoạn đầu

    Khu trú, tiến triển chậm, ít ảnh hưởng tới toàn thân, thường kéo dài 1- 2 năm nếu được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời đúng phác đồ có thể khỏi bệnh.

    Giai đoạn lan tràn

    Ảnh hưởng tới toàn thân rõ, tiến triển nhanh thường tử vong do khối u lan lên nền sọ, do di căn tới các phủ tạng như phổi, gan, xương.

    Do khối u nằm trong hốc sâu, gần nền sọ, nên điều trị khó khăn, kết quả bị hạn chế, tiên lượng xấu.

    Co60 là biện pháp điều trị chủ yếu và cho kết quả khả quan nếu bệnh nhân đến sớm, nhất là đối với thể ung thư biểu mô không biệt hoá.

    U nguyên phát được tia vào vùng cổ bên, với liều 65-70Gy trong vòng từ 6 đến 7 tuần.

    Các hạch cổ hoặc dưới hàm được tia với liều 50Gy trong thời gian 6 đến 7 tuần.

    Cắm kim vào u và hạch trong trường hợp xạ ngoài đã đủ liều nhưng khối u chưa hết.

    Phẫu thuật

    Phẫu thuật nạo vét hạch cổ trước hoặc sau xạ trị.

    Hoá trị liệu

    Chỉ áp dụng với thể ung thư biểu mô không biệt hoá hoặc hạch cổ đã lan rộng và có di căn xa.

    Miễn dịch trị liệu

    Tác dụng tăng sức đề kháng và hỗ trợ trong xạ trị.

    Phòng bệnh ung thư vòm mũi họng

    Hiện nay người ta cho rằng: 70 % nguyên nhân ung thư do yếu tố ngoại lai, còn 30% do yếu tố nội tại và do yếu tố di truyền cho nên: phải có chế độ ăn hợp lý, giảm mỡ động vật, ít ăn thịt thay bằng rau hoa quả có nhiều Vitamin C, E.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ung Thư Vòm Họng: Dấu Hiệu Triệu Chứng, Nguyên Nhân, Chẩn Đoán Điều Trị Tai Mũi Họng
  • Ung Thư Vòm Họng Di Căn Hạch
  • 【Tìm Hiểu】Hpv Và Ung Thư Vòm Họng
  • Điều Trị Ung Thư Vòm Họng Giai Đoạn Đầu Bằng Phương Pháp Nào Để Đạt Hiệu Quả?
  • Biểu Hiện Của Ung Thư Vòm Họng Cảnh Báo Bệnh Đã Ở Giai Đoạn Cuối
  • Bệnh Học Ung Thư Tuyến Giáp

    --- Bài mới hơn ---

  • Ung Thư Tuyến Giáp Là Gì?
  • Ung Thư Tuyến Giáp Với Biểu Hiện Các Giai Đoạn Và Chữa Trị K Tuyến Giáp
  • Phẫu Thuật Ung Thư Tuyến Giáp
  • Tỉ Lệ Sống Của Bệnh Ung Thư Tuyến Giáp
  • 3 Loại Bướu Tuyến Giáp Thường Gặp
  • Ung thư tuyến giáp chiếm tỷ lệ 1% trong số những trường hợp tử vong do ung thư, đây là một nhóm bệnh có tiên lượng rất khác nhau, người ta chia ra:

    Những ung thư biểu mô tế bào tuyến giáp bao gồm:

    Ung thư biệt hoá, tiên lượng tốt nếu điều trị đúng, bệnh dễ xuất hiện khi chiếu xạ ở cổ từ tuổi thiếu niên hoặc nhiễm nguyên tử.

    Ung thư không biệt hoá tiên lượng rất xấu.

    Những ung thư biểu mô tuỷ, phát triển từ tế bào C của tuyến giáp.

    Cá biệt có lymphoma hoặc ung thư nơi khác di căn đến

    Ung thư tuyến giáp biệt hoá

    Tỷ lệ gặp cao, nhất là ở phụ nữ trẻ, tiên lượng tốt. Đôi khi có khă năng bắt giữ iode, nhưng hiếm khi là u tiết.

    Chiếm 50% các trường hợp, gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng hay gặp ở trẻ em và thanh niên trước 40 tuổi, chiếu xạ vùng cổ là điều kiện thuận lợi gây K biểu mô nhú, K lan rộng theo đường bạch huyết, có khi bệnh được gợi ý ban đầu từ một hạch di căn ở vùng cổ.

    Xạ hình u bắt iode kém (vùng “lạnh”).

    K biểu mô nang (carcinome folliculaire):

    Chiếm dưới 25% các trường hợp, hay gặp ở lứa tuổi 40-60, di căn bằng đường máu

    đến xương, phổi, gan.

    Xạ hình u có thể bắt iode không đều, điểm di căn cũng có thể bắt giữ iode phóng xạ.

    K biểu mô tuỷ (carcinome medullaire):

    Hoặc chất đệm dạng bột (struma amyloide), hoặc cận nang (parafolliculaire), chiếm dưới 5% các trường hợp, thường gặp sau 50 tuổi, lan rộng bằng đường máu và đường bạch huyết, có khi phối hợp với các u khác như pheochromocytome (Hội chứng Sipple), có thể có tinh gia đình.

    Xạ hình u không bắt iode (vùng lạnh). Chẩn đoán dựa vào định lượng calcitonine huyết tương tăng, định lượng sau kích thích với pentagatrine thấy calcitonine tăng rất nhiều. Kháng nguyên biểu mô phôi (ACE) thường tăng.

    Ung thư tuyến giáp không biệt hoá

    K biểu mô không biệt hoá, chiếm khoảng 20% các trường hợp, thường xuất hiện sau

    50 tuổi, từ một nốt đơn độc lan rất nhanh đến vùng lân cận, gây triệu chứng chèn ép. Diễn tiến nặng nhanh trong vòng vài tháng.

    Xạ hình thấy u không bắt iode (nhân lạnh).

    Sự phát triển của u bị tác động bởi nồng độ TSH trong máu, U phát triển nhanh khi

    TSH tăng và ngược lại.

    Triệu chứng gợi ý K giáp:

    Phát hiện một nốt ở tuyến giáp thể tích tăng dần, hoặc một nột đã có từ lâu, gần đây chợt tăng thể tích.

    Dấu hiệu chèn ép cơ quan lân cận (hội chứng trung thất).

    Hạch cổ hoặc thượng đòn lớn dần, chắc, không đau.

    Siêu âm giáp giúp phân biệt nang với khối đặc.

    Xạ hình giáp: Kết quả tuỳ thuộc loại u, nếu phát hiện nhân “lạnh” cần chọc hút xét nghiệm tế bào học, hoặc sinh thiết xét nghiệm mô học.

    Tỷ lệ sống còn10 năm khi có điều trị như sau:

    80% đối với K biểu mô nhú.

    60% đối với K biểu mô nang.

    Với K biểu mô không biệt hoá tiên lượng rất xấu.

    Phẫu thuật cắt tuyến giáp một bên, khi còn khu trú, hoặc cắt toàn phần, bóc hạch xâm lấn.

    Sau phẩu thuật cho thêm iode phóng xạ với liều điều trị và hormone giáp với liều ức chế.

    Đối với K giáp không biệt hoá cần phẩu thuật rộng, iode phóng xạ liều cao, có thể xem xét hoá trị liệu tạm thời.

    Đối với K biểu mô tuỷ, sau khi phẩu thuật toàn bộ tuyến giáp, định lượng calcitonine giúp phát hiện mô ung thư còn lại chưa được lấy hết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ung Thư Tuyến Giáp (Bệnh Học, Chẩn Đoán Và Điều Trị)
  • Bác Sĩ Khuyên: Ung Thư Tuyến Giáp Kiêng Ăn Gì Và Nên Ăn Gì?
  • Ung Thư Tuyến Giáp Thể Nhú Kiêng Ăn Gì? 10 Thực Phẩm Rất Cần Tránh
  • Ung Thư Tuyến Giáp Nguyên Nhân Triệu Chứng Và Cách Điều Trị
  • Ung Thư Tuyến Giáp Nguyên Nhân Và Cách Điều Trị Bệnh
  • Bệnh Học Ung Thư Dạ Dày

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghiên Cứu Mô Bệnh Học Và Chẩn Đoán Ung Thư Tuyến Tiền Liệt
  • Giải Phẫu Bệnh Học: Bệnh Lý Màng Phổi
  • Bộ Sách Bách Khoa Thư Bệnh Học, 4 Tập
  • Ysinhhoc.vn_Sinh Học Phân Tử Ung Thư
  • Giáo Án Sinh Học 12 Tuần 12 (Bài 21 + 22)
  • Ung thư dạ dày đứng hàng đầu của các ung thư đường tiêu hóa. Mặc dù tỷ lệ tử vong đã có chiều hướng giảm trong suốt 60 năm qua nhưng tỷ lệ bệnh so với các ung thư khác vẫn còn cao.

    Tỷ lệ bệnh ung thư dạ dày thay đổi giữa các quốc gia khác nhau. Ở Nhật Bản, Trung Quốc, Chilê và Ireland tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong đã có xu hướng giảm đáng kể. Ở Mỹ, trong những năm gần đây, tỷ lệ bệnh này đã giãm (ở nam từ 28/100.000 dân xuống còn 5/100.000 và ở nữ từ 27/100.000 xuống còn 2, 3/100.000) tỷ lệ nam/ nữ là 1, 7, tuổi trung bình là 63. Tỷ lệ tử vong giảm từ 33/100.000 vào năm 1930 xuống còn 3, 7/100.000 vào năm 1990. Năm 1996 có khoảng 22.800 trường hợp ung thư dạ dày mới mắc được chẩn đoán và có 14000 người chết.

    Riêng ở Việt nam thì chưa có thống kê cụ thể

    Ung thư biểu mô tuyến dạ dày

    Khoảng 85% ung thư dạ dày thuộc loại adenocarcinomas (ung thư biểu mô tuyến dạ dày), 15% là loại lymphomas-non-Hodgkin và leio-myosarcomas và các loại u thứ phát ít gặp.

    Ung thư biểu mô tuyến dạ dày được chia làm hai loại: loại lan tỏa và loại ruột non.

    Giải phẫu bệnh

    Loại ruột non:

    Là loại ung thư dạ dày hay gặp. Các tế bào tăng sinh có cấu trúc ống dạng tuyến. Loạn sản tuyến (dysplasia) là đặc trưng ở thể bệnh này, loạn sản ở mức độ cao gặp trong giai đoạn tiến triển cũng như ở giai đoạn im lặng kéo dài từ 5 đến 15 năm. Loạn sản có thể xảy ra trên nền viêm dạ dày mạn teo tuyến cũng như ở vùng có dị sản ruột và cả hai phối hợp sẽ làm tăng nguy cơ của Adenocarcinoma dạ dày. Tổn thương ở dạng loét, thường gặp ở hang vị và bờ cong nhỏ dạ dày và thường có giai đoạn tiến triển tiền ung thư kéo dài. Khối u có ranh giới rõ, di căn theo đường máu đến gan và theo đường bạch huyết đến hạch, tỷ lệ gặp ở người già nhiều hơn.

    Loại lan tỏa:

    Đây là loại ung thư ít biệt hóa hơn loại ruột. Tế bào tăng sinh thâm nhiễm thành từng mảng, làm dày vách dạ dày. Nó phát triển khắp nơi ở dạ dày kể cả tâm vị làm mất khả năng giản dạ dày (gọi là thể linitis plastica hoặc thể đét) khả năng di căn xa. Nó thâm nhiễm phúc mạc và sau phúc mạc, lan tỏa vào các ống bạch mạch, xương. Loại này thường gặp ở nơi mà ung thư dạ dày được xem có nguy cơ thấp như ở Hoa Kỳ và gặp ở người trẻ nhiều hơn. Loại này có tiên lượng xấu hơn loại ruột. Ngoài ra còn một dạng khác là Adenosquamous tiên lượng rất xấu vì tiến triển rất nhanh và di căn sớm.

    Tùy độ sâu và độ rộng của u, chia làm ung thư bề mặt và ung thư xâm nhập.

    Ung thư bề mặt:

    Chỉ giới hạn ở niêm mạc và hạ niêm mạc, chưa đến lớp cơ, biểu hiện 3 dạng:

    Typ I: Lồi lên hoặc ở dạng polype .

    Typ IIa: Nếp niêm mạc chỉ gờ lên, Typ IIb: Niêm mạc bằng phẳng, Typ IIc: Niêm nạc hơi lún xuống.

    Typ III. Là sự đào sâu xuống như hình hang, được bao quanh bởi những nốt niêm mạc. Có trường hợp phối hợp giữa các loại làm cho nó có tính chất của ổ loét.

    Ung thư thể xâm nhập:

    Vượt qua lớp niêm mạc đến lớp cơ, thanh mạc. Có 3 loại.

    Ung thư thể sùi: Một khối trên nền cứng và sùi vào bên trong lòng dạ dày, không có loét hay hoại tử.

    Ung thư thể loét: Các nếp niêm mạc hội tụ dừng lại ngoài vòng phù nề.

    Ung thư thể xâm nhiễm: Tổn thương lan tỏa tẩm nhuận toàn bộ dạ dày (thể đét).

    Ung thư dạ dày thường lan rộng về phía thực quản ở chổ nối dạ dày thực quản khi ung thư nằm ở thân, phình vị. Ở hang vị, ung thư thường lan xuống và gây hẹp môn vị, nhưng xâm lấn qua tá tràng thì hiếm. Ung thư có thể lan đến mạc nối nhỏ, mạc nối lớn, lách, đại tràng, tụy, hạch vùng kế cận.

    Ung thư dạ dày thường di căn đến phổi, gan, não, xương, hạch thượng đòn (hạch Virchow), hạch nách trái (hạch Irish), hạch quanh rốn (hạch Sister Mary Joseph), buồng trứng (u Krukenberg), phúc mạc, trực tràng

    Các yếu tố nguy cơ và cơ chế sinh bệnh của ung thư dạ dày

    Các yếu tố đã được khẳng định:

    Loạn sản dạ dày mức độ nặng: Thường gặp ở các thể viêm, loét dạ dày mạn với loạn sản tuyến. Khoảng 10% có thể tiến đến ung thư dạ dày sau 5 đến 15 năm.

    Viêm teo dạ dày mạn, dị sản ruột.

    Adenomas dạ dày.

    Barrette thực quản: Gây ung thư vùng tâm vị.

    Vi khuẩn Helicobacter pylori: Gây viêm dạ dày mạn vùng hang vị, viêm teo tuyến dạ dày, loét dạ dày, u limpho dạ dày (MALT) và ung thư dạ dày.

    Các yếu tố có thể gây ung thư dạ dày:

    Sau phẫu thuật cắt dạ dày vùng hang vị 15 – 25 năm theo dỏi tỷ lệ ung thư là 50 -70% vì có loạn sản ở gần miệng nối.

    Hamartomas dạ dày.

    Thức ăn: Người ta nhận thấy rằng những người ăn nhiều và kéo dài các thức ăn được bảo quản bằng ướp muối, hun khói hay sấy khô có nồng độ nitrat cao thường kết hợp với ung thư dạ dày. Dưới tác dụng của vi khuẩn Nitrat sẽ bị biến thành nitrosamin, một chất gây ung thư.

    Vi khuẩn

    Ăn ít trái cây, rau tươi: Gợi ý bới vitamin C ức chế sự biến đổi nitrite thành nitrosamin. Ở Hoa kỳ, sự giảm tỷ lệ mới mắc của ung thư dạ dày kết hợp với sự giảm của những thương tổn lóet dạng ruột ỏ vùng thấp của dạ dày; gợi ý rằng, sự bảo quản thực phẩm tốt hơn, khả năng làm đông lạnh thực phẩm tốt (hạn chế sự phát triển vi khuẩn) có thể cung cấp rộng rãi cho mọi tầng lớp xã hội, đã làm giảm tỷ lệ mắc ung thư dạ dày.

    Tình trạng kinh tế xã hội cũng có vai trò quan trọng: Tỷ lệ ung thư dạ dày cao ở các nước có đời sống thấp, khả năng nhiễm khuẩn càng cao.

    Thuốc lá và rượu cũng được xem như là yếu tố nguy cơ.

    Yếu tố nghi ngờ:

    Polyp tăng sản.

    Polyp tuyến vùng đáy vị.

    Loét dạ dày lành tính.

    Nhóm máu A thường dễ bị ung thư dạ dày hơn các nhóm khác. Có lẽ nhóm máu nầy, khả năng bảo vệ của niêm mạc dạ dày chống các yếu tố gây u yếu hơn các nhóm máu khác.

    Đặc điểm lâm sàng

    Ở giai đoạn sớm: 80% thường không có triệu chứng, số còn lại thường có triệu chứng của loét, nôn buồn nôn, chán ăn, giảm khẩu vị, đau bụng, xuất huyết dạ dày, giảm cân, nuốt khó.

    Ở giai đoạn tiến triển: Dấu chứng sụt cân là nổi bật (60%), buồn nôn, nôn, chán ăn, cảm giác nặng tức sau ăn, đau vùng thượng vị, đôi khi có cơn đau loét, chán rượu và thuốc lá, có thể có sốt. Chảy máu nhẹ và rỉ rả thường gặp nhất, với biểu hiện thiếu máu nhược sắc. Hẹp tâm vị thực quản gây khó nuốt đối với thể ung thư ở cao. Hẹp môn vị, tiền môn vị gây đau bụng, nôn, mất nước.

    Khám Bụng: Có khi bình thường hoặc có khi sờ được khối u hoặc mảng ranh giới không rõ ở vùng thượng vị. Ung thư dạ dày có thể lan đến thanh mạc dính vào các cơ quan lân cận như tuỵ, đại tràng, hạch, mạc nối, di căn đến phúc mạc, buồng trứng (u Krukenberg), hạch quanh rốn (nốt Sister Mary Joseph), di căn đến hạch bạch huyết vùng và hạch Virchow.(hạch thượng đòn), xương, phổi, gan, tuỷ, não.

    Khám tổng quát: Có thể thấy thiếu máu, phù hoặc vàng da, cổ trướng.

    Các biểu hiện lâm sàng ít gặp: (Dấu chứng cận u): Giảm sản tủy, những mảng sắc tố đen ở da vùng nách (Acanthosis nigricans), hội chứng Trousseau, viêm da cơ, thiếu máu huyết tán vi thể, sừng hóa tuyến bã, bệnh thận màng.

    Cận lâm sàng

    Về máu:

    Tăng Fibrinogen và các protein khác của phản ứng viêm.

    Thiếu máu: Giảm hồng cầu.

    Định lượng CEA (carcinogenic embryonary antigen): Tăng, chỉ thấy ở giai đọan muộn trong 1/2 trường hợp, có ích trong việc theo dõi diễn tiến sau phẫu thuật cắt bỏ dạ dày.

    Dịch vị:

    Phân tích cho thấy vô toan do teo dạ dày trước đó hoặc phối hợp với ung thư.

    Nội soi và sinh thiết:

    Là một tiến bộ trong chẩn đóan ung thư bề mặt, cho xác định vị trí, tình trạng lan rộng của u, tình trạng chảy máu.

    Xét nghiệm tế bào học: Siêu âm:

    Bụng, siêu âm nội soi, Scanner bụng: đánh giá độ rộng, sâu và phát hiện di căn của ung thư.

    Xét nghiệm tủy:

    Chọc dò não tủy, scanner sọ, sinh thiết da: khi có gợi ý di căn.

    X quang:

    Với kỹ thuật chụp nhuộm Baryte thông thường cho ta hình ảnh:

    Hình ảnh khuyết với góc nhọn cắm vào thành dạ dày trong ung thư sùi hoặc loét sùi.

    Co rút và cứng đơ trong ung thư tẩm nhuận lan rộng.

    Lóet hình nêm (hình ảnh tam tài hay hình lõi táo) trong ung thư thể loét sùi.

    Kỹ thuật đối quang kép giúp chẩn đóan tốt các thương tổn nhỏ nằm sát bờ, tương ứng với 3 type của giải phẫu bệnh. (type 1: polypoide, type 2: loét nông, type 3: lóet đào hang).

    Chẩn đóan càng sớm thì cơ may điều trị khỏi (giai đoạn Tis), và thời gian sống càng dài. Phát hiện dựa vào X quang và nội soi sinh thiết hàng lọat. Ở Nhật, hiện nay phát hiện sớm ung thư dạ dày đến 90% trường hợp so với Hoa Kỳ là 40%. Đây là giai đoạn T1, T2 và thường ít triệu chứng.

    Vào giai đọan muộn, triệu chứng càng rõ và nặng, có thể di căn xa, điều trị rất hạn chế.

    Khi nội soi, cần phải sinh thiết ít nhất 10 mảnh. Trong thể đét, cần phải sinh thiết sâu. Trong thời kỳ làm sẹo khi điều trị, cần phải sinh thiết 2 đợt.

    Tùy thuộc thể mô học của ung thư, vị trí của u, sự xâm lấn tại chỗ và di căn.

    Tiên lượng tốt: Ung thư dạ dày giai đoạn sớm (tổn thương ở niêm mạc, dưới niêm mạc)

    Ung thư lọai ruột non có giới hạn rõ hơn nên tiên lượng tốt hơn lọai ung thư lan tỏa, ung thư vùng tâm vị và phình vị lớn do chẩn đóan chậm nên tiên lượng xấu hơn ung thư phần thấp của dạ dày, di căn phúc mạc tiên lượng xấu hơn.

    Phân loại theo TNM cho phép đánh giá và tiên lượng sống, nhưng còn dựa vào độ lớn của u (T), tổn thương hạch (N) và sự xuất hiện của di căn (M). T1: U chưa vượt quá niêm mạc, tương ứng với ung thư bề mặt. T2: U đến lớp cơ.

    T3: U đến thanh mạc.

    T4: U dính vào cơ quan lân cận. N0: Không có hạch.

    N1: Chỉ có hạch gần dạ dày, phạm vi quanh 3 cm.

    N2: Hach vùng bị xâm nhập nhưng có thể cắt bỏ được. N3: di căn hạch lan rộng: Không thể cắt bỏ được.

    M0: Chưa có di căn tạng.

    Gđ1: Chỉ ở dạ dày:Tỷ lệ tương đối gặp 26-28%

    Gđ2: Có hạch ổ bụng: 43-49%.

    Gđ3: Có hạch trên cơ hoành.

    Gđ4: Tổn thương lan toả (giai đoạn 3và 4 là 13-31%).

    Các loại ung thư dạ dày khác

    Lymphoma dạ dày tiên phát

    Dịch tễ:

    Hiếm gặp hơn lọai adenocarcinoma, chiếm dưới 15% tòan bộ ung thư dạ dày và khoảng 40% các u lympho đường tiêu hoá. Có khoảng 1/3 trường hợp không có hạch. Loại này gia tăng trong suốt 20 năm qua.

    U lympho dạ dày có thể nguyên phát hoặc thứ phát, gặp ở mọi lứa tuổi, nhất là sau 50 tuổi. Nhiễm H. pylori dường như làm gia tăng nguy cơ phát triển lymphoma dạ dày đặc biệt là loại MALT (mucosa-associated lymphoide tissue). Hình thái u lympho dạ dày đa dạng, u sinh ra từ các tổ chức dưới niêm mạc lan vào bên trong thành, trên một diện rộng hoặc tạo thành một khối nguyên vẹn. Ở đó niêm mạc có hình nốt, niêm mạc dày ra, đôi khi bị ăn mòn, khối lớn tạo ra u dạng polype, hoặc có khi lan đến tá tràng.

    Triệu chứng:

    Gầy sút, đau thượng vị, buồn nôn và nôn, thiếu máu, sốt, chảy máu, ít khi thủng. Lâm sàng sờ được khối u (1/3 trường hợp)

    Chẩn đoán:

    Phân biệt với Adenocarcinoma dạ dày đôi khi rất khó dựa vào nội soi và sinh thiết (đôi khi phải sinh thiết sâu). X quang không có hình ảnh nào là đặc hiệu, nhưng nếu phối hợp thương tổn dạng polype và lóet trợt trên cùng một bệnh nhân thì gợi ý cho chẩn đóan.

    Di căn:

    Hạch, gan, tủy xương, lách, phúc mạc, tầng trên cơ hòanh.

    Tiên lượng:

    Tốt hơn adenocarcinome, 40%- 60% bệnh nhân sống được 5 năm. Tiên lượng các gioai đoạn của lymphoma dạ dày theo Ann Arbor.

    Gđ1: Chỉ ở dạ dày:Tỷ lệ tương đối gặp 26-28%.

    Gđ2: Có hạch ổ bụng: 43-49%.

    Gđ3: Có hạch trên cơ hoành.

    Gđ4: Tổn thương lan toả (giai đoạn 3và 4 là 13-31%).

    Sarcome cơ trơn

    Chiếm 1%- 3% Ác tính bắt nguồn từ cơ. Tổn thương ở thân dạ dày, gây loét và chảy máu. Nó hiếm khi xâm nhập vào các tạng lân cận và không di căn hạch nhưng có thể lan đến gan và phổi.

    U carcinoid dạ dày

    Chiếm 0, 3% ung thư dạ dày. Đây là loại u nội tiết tạo ra các chất có nhiều hoạt tính sinh học như serotonin, histamin, somatostatin và các kinin nhưng không gây các triệu chứng phừng mặt, tiêu chảy và các triệu chứng tim phổi như trong hội chứng carcinoid. Tổn thương thường ở lớp dưới niêm mạc nhưng có thể loét đến lớp cơ. Tổn thương nhiều nơi kém tăng gastrin máu.

    U trung mô khác

    Ác tính bắt nguồn từ mô thần kinh.

    Sarcome mạch máu Kaposi

    Chủ yếu ở da, nội tạng đặc biệt dạ dày. Biểu hiện dưới dạng nốt ở dưới niêm mạc, đôi khi lóet có màu đỏ sẫm, đường kính 1-2 cm. Thường gặp ở bệnh nhân AIDS hoặc bệnh nhân đang điều trị bằng liệu pháp ức chế miễn dịch.

    U dạ dày thứ phát

    Thường hiếm, nguyên phát từ một melanome ác tính, ung thư vú, phổi, tụy, tinh hoàn, tuyến mang tai. Hình ảnh X quang giống với lymphome hoặc u dạ dày thể lan toả. Chẩn đóan bằng nội soi, sinh thiết

    Điều trị Carcinoma dạ dày

    Phẫu thuật:

    Phẫu thuật vẫn là chỉ định hàng đầu, phát hiện sớm, kết quả sau phẫu thuật càng cao (tỷ lệ sống sau 5 năm là 37% ở Nhật và 10-15%: ở Hoa kỳ).

    Cắt cách bờ khối u ít nhất 5 cm.

    Cắt bán phần: Ung thư bề mặt ở 1/3 dưới chưa di căn hạch thì cắt dạ dày bán phần là đủ.

    Cắt toàn phần: Ung thư 1/3 giữa và trên cắt dạ dày toàn phần tốt hơn cắt bán phần hoặc cắt cực trên, nạo bỏ hạch tòan bộ.

    Cắt lách phối hợp khi ung thư dạ dày ở bờ cong lớn.

    U tâm vị: Cắt phần cuối thực quản và phần đầu dạ dày.

    Đặt stent, cắt bằng tia laser kèm cầm máu với Nd:YAG (Argon và Neodymium: Yttrium aluminum garner) qua nội soi trong trường hợp u chảy máu và quá giai đoạn phẫu thuật.

    Điều trị ngọai khoa tạm thời:

    Khi phẫu thuật bụng thấy có di căn xa.

    Điều trị không phẫu thuật:

    Cải thiện được triệu chứng đau, triệu chứng toàn thân, làm chậm tái phát từ hạch hoặc các ổ di căn, điều trị giai đoạn ung thư không phẫu thuật được và bổ sung cho can thiệp phẫu thuật.Thường dùng đa hoá trị liệu nhưng chưa thấy tăng thời gian sống, độc cho gan, tim và thận nên dùng thận trọng cho người già.

    5-FU: 2600mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 24 giờ, mỗi tuần 1 lần trong thời gian 6 tuần Chống chỉ định: phụ nữ có thai, bạch cầu < 2.500/mm

    Cisplatin: 50mg/m2/ truyền tĩnh mạch trong 15 phút tuần 1, 3, 5 và 8.

    Calcium folinate 500mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 30 phút mỗi tuần 1 lần trong 6 tuần.

    Methotrexate 1500mg/m2 truyền 30 phút nghỉ 60 phút trong ngày thứ nhất .

    5-FU: 1500mg/m2 truyền trong 30phút, ngày thứ nhất.

    Calcium folinate 15mg/m2 truyền trong 24giờ sau khi truyền methotrexate trong ngày đầu, từ ngày thứ 2 trở đi, truyền trong 6 giờ.

    Doxorubicin: 30mg/m2 truyền trong 30phút, lập lại ngày thứ 15 và 29.

    Thuốc có nhiều tác dụng phụ như buồn nôn, sốt, đi chảy, viêm thực quản, suy tủy, giảm bạch cầu hạt, nhiễm độc cơ tim, rụng tóc, nổi mày đay.

    Dùng1 liều 28- 35Gy trực tiếp tại đáy khối u trong khi phẫu thuật, hoặc trên mặt cắt trong khi phẫu thuật.

    Dùng liều 45-50Gy, 20-30 lần kết hợp với hoá trị cho các trường hợp không phẫu thuật được và có tiên lượng xấu(di căn màng bụng, xương, hạch sâu), hoặc cùng với phẫu thuật sẽ làm giảm đau và chậm sự tái phát u và hạn chế di căn.

    Kết quả điều trị phẫu thuật: Theo JRSGC:

    Tuỵêt đối: T1, T2, hạch nạo vét xa vùng tổn thương, chưa có di căn gan, phúc mạc. Tỷ lệ sống sau 5 năm là 50%.

    Tương đối: T1, T2, chưa di căn, hạch gần vùng tổn thương. Tỷ lệ sống sau 5 năm là 25%.

    Không điều trị tương đối: T3, lớn, rộng, di căn gan, phúc mạc.Tỷ lệ sống sau năm năm là 15%.

    Không điều trị tuỵêt đối: Khi u quá lớn, u ở giai đoạn T4N1, T4N2, có hơn 4 hạch phát hiện khi phẫu thuật (2%).

    Các biện pháp hỗ trợ khác:

    Bồi phụ sắt, dùng thuốc giảm đau thông thường, morphin và các dẫn xuất của nó.

    Điều trị Lymphoma dạ dày và các loại ung thư khác của dạ dày

    Lymphoma dạ dày:

    Gđ1: Cắt bán phần hay toàn phần kèm hoá và xạ trị sau phẫu thuật: 4 liều CHOP, phối hợp một hay hai lần xạ trị 39, 6Gy. Thành công 80%. Nếu là loại MALT lymphoma thì phối hợp diệt tận gốc HP.

    Gđ 2, 3, 4: Phẫu thuật kèm hoá trị liệu, loại lan toả sống không quá 2 năm.

    Nếu không phẫu thuật được: Hoá và xạ trị: 4 liều CHOP phối hợp xạ trị 25, 5Gy nửa bụng trên.

    Theo dõi tái phát sau phẫu thuật: Nội soi dạ dày trong vòng 3 năm đầu, chú ý vòng bạch huyết Waldeyer vì đây là vị trí hay tái phát.

    Sarcome cơ trơn:

    Ác tính bắt nguồn từ cơ. Tổn thương ở thân dạ dày, gây loét và chảy máu. Nó hiếm khi xâm nhập vào các tạng lân cận và không di căn hạch nhưng có thể lan đến gan và phổi.

    Điều trị phẫu thuật kết hợp hoá trị liệu cho trường hợp đã có di căn

    U carcinoid dạ dày:

    Đây là loại u nội tiết tạo ra các chất có nhiều hoạt tính sinh học. Tổn thương thường ở lớp dưới niêm mạc nhưng có thể loét đến lớp cơ. Tổn thương nhiều nơi kèm tăng gastrin máu.

    Điều trị bằng phẫu thuật, hoá trị kèm Octreotide có thể cải thiện triệu chứng ở nhiều bệnh nhân.

    U trung mô khác:

    Ác tính bắt nguồn từ mô thần kinh.

    Điều trị chủ yếu bằng phẫu thuật.

    Sarcome mạch máu Kaposi:

    Chủ yếu ở da, nội tạng đặc biệt dạ dày.

    Thường gặp ở bệnh nhân AIDS hoặc bệnh nhân điều trị bằng liệu pháp ức chế miễn dịch.

    Điều trị bằng phẫu thuật, tiên lượng rất xấu.

    U dạ dày thứ phát:

    Điều trị bằng hóa trị, tiên lượng xấu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghiên Cứu Nhu Cầu Và Sự Hài Lòng Của Bệnh Nhân Về Khám Chữa Bệnh Tại Các Cơ Sở Điều Trị Ung Thư Ở Việt Nam Năm 2014
  • Giáo Trình Ung Thư Học Hạt Nhân 2022
  • Thần Kinh Học Ung Thư Trong Thực Hành Lâm Sàng 3E 2022
  • Abeloff Ung Thư Học Lâm Sàng 6E 2022
  • Asco: Hội Ung Thư Học Lâm Sàng Hoa Kỳ
  • Bệnh Học Ngoại Ung Thư Thận

    --- Bài mới hơn ---

  • Đau Nhẹ Vùng Hông Và Lưng Là Những Dấu Hiệu Của Bệnh Ung Thư Thận
  • 5 Dấu Hiệu Ung Thư Thận Giúp Bạn Phát Hiện Bệnh Sớm
  • Bệnh Ung Thư Thận Có Dấu Hiệu Gì Ảnh Hưởng Đến Sức Khỏe Cần Chú Ý?
  • 4 Dấu Hiệu Tố Trẻ Nhỏ Mắc Bệnh Ung Thư Thận Tại Việt Nam
  • Những Triệu Chứng Của Bệnh Ung Thư Thận Này Ra Sao?
  • Ung thư thận là loại u ác tính nguyên phát trong nhu mô thận. Việc chẩn đoán sớm có một ý nghĩa trong điều trị.

    Ung thư thận chiếm 90% các loại u ác tính nguyên phát ở thận. Bệnh thường xuất hiện ở người lớn trên 40 tuổi, với tỉ lệ nam gấp 2 lần so với nữ giới. Ung thư thận chiếm 1-2% toàn bộ các loại ung thư ở người lớn.

    Ung thư thận có thể ở thể rải rác và ở thể di truyền. Ung thu thận có thể xuất hiện trên nhiều người trong gia đình và yếu tố di truyền cũng được đề cập đến (khuyết đoạn nhiễm sắc thể 3, chuyển vị của các nhiễm sắc thể 3 – 8).

    Nhiều bệnh nhân có hội chứng thần kinh da, như hội chứng Von Hippel Lindau, hoặc bệnh xơ cứng não củ Bourneville có thể có ung thư thận. Những bệnh nhân suy thận được chạy thận nhân tạo nhiều năm có thể có nang thận kèm theo ung thư thận.

    Nguyên nhân bệnh sinh cho đến nay vẫn chưa được biết rõ. Tuy nhiên một vài yếu tố được cho là có tác động đến sự xuất hiện ung thư thận.

    Hút thuốc lá được nhiều tác giả đề cập đến, khoảng 30% nam giới và khoảng 24% nữ giới hút thuốc là bị ung thư thận.

    Những bệnh nhân dùng nhiều thuốc lợi tiểu có tỉ lệ ung thư thận tăng gấp 3 lần người bình thường, hoặc dùng nhiều thuốc giảm đau chứa phenacetin dường như cũng làm tăng nguy cơ hình thành ung thư thận. Béo phì dường như cũng có mối liên hệ với ung thư thận.

    Giải phẫu bệnh

    Phần lớn u xuất phát từ vùng vỏ thận. Thông thường, u hình cầu có bao giả chèn ép vào vùng tuỷ. Màu sắc thay đổi từ xám trắng đến màu vàng tuỳ vào loại tế bào. Phần lớn u đồng chất với lốm đốm có vùng hoại tử và chảy máu, có chỗ vôi hóa, xơ và tạo thành nang. Có nhiều mạch máu đến nuôi dưỡng.

    Ung thư thận thường là ung thư biểu mô tuyến và bao gồm nhiều loại tế bào khác nhau. Tế bào sáng chiếm khoảng 75%, các tế bào này hình tròn, nhân nhỏ, bào tương chứa nhiều glycogen và lipit. Tế bào hạt ít gặp hơn, chứa nhiều hạt trong bào tương, nhân lớn hơn nhân của tế bào sáng.

    Ngoài ra có tế bào còn ở dạng tế bào nhỏ và tế bào dạng sarcom, các tế bào này có thể có dạng hình thoi, giống các nguyên bào sợi, có nhân biến dạng và nhiều gián phân.

    Các loại ung thư khác ít gặp

    Nephroblastom

    Còn được gọi là u Wilms, thường gặp ở trẻ em 3 – 4 tuổi. Xuất phát từ các phần còn lại của mô phôi. Các tế bào ung thư được tạo thành bởi sự hỗn hợp các tế bào biểu mô, tế bào trung mô và tế bào mầm.

    Sarcom

    Hiếm gặp hơn. Ung thư xuất phát từ các phần tử trung mô của vỏ và xoang thận và bao gồm các loại sarcom cơ trơn, sarcom mỡ, u mạch tế bào quanh mao mạch (hemangiopericitom)

    Các loại khác

    Ung thư nang tuyến nhú, các u tế bào lớn Hamperl và các u hỗn hợp lại càng ít gặp.

    Ung thư thận lúc đầu còn khu trú trong thận, vì vậy lúc giải phẫu tử thi có thể phát hiện nhiều trường hợp chưa có di căn. Bell (1950) cho rằng các u tế bào thận dưới 3cm là u tuyến lành tính. Tuy nhiên trên thực tế có nhiều u thận dưới 3 cm mà đã có di căn rồi ( Smith 1989).

    Khối ung thư to dần, phá vỡ bao thận và lan ra ngoài tới lớp mỡ quanh thận, xâm lấn các tạng gần như đại tràng, gan.

    Ung thư thận di căn theo các đường bạch huyết và tĩnh mạch. Theo đường bạch huyết, ung thư thận di căn vào các hạch thắt lưng động mạch chủ rồi đến các hạch sau phúc mạc, bụng, trung thất, có khi u lên hạch thượng đòn, nách, cổ. Theo đường tĩnh mạch u di căn vào tĩnh mạch chủ rồi đến các hạch sau phúc mạc bụng, trung thất và xa hơn vào các tạng xa như phổi, gan, xương, thượng thận, thận bên kia, não…

    Phân loại ung thư thận theo TNM

    Tx không xác định được u nguyên phát.

    T0 Không có bằng chứng u.

    T1 U có kích thước < 7cm, khu trú trong thận.

    T3 U lan ra đến tĩnh mạch lớn hoặc thâm nhiễm tuyến thượng thận hoặc tổ chức mỡ quanh thận, nhưng chưa lan ra khỏi cân Gerota.

    T3a U xâm nhiễm tuyến thượng thận hoặc bao mỡ quanh thận, nhưng chưa xâm lấn cân Gérota.

    T3b U xâm lấn vào tĩnh mạch thận hoặc tĩnh mạch chủ dưới cơ hoành.

    T3c U xâm lấn vào tĩnh mạch chủ trên cơ hoành.

    T4 U xâm lấm ra ngoài cân Gerota.

    Hạch lympho vùng là những hạch ở rốn thận, quanh động mạch và tĩnh mạch chủ bụng. Việc xâm lấn phía đối diện không ảnh hưởng đến tiêu chuẩn phân loại của N.

    Nx không xác định được hạch di căn.

    N0 Không có hạch di căn.

    N1 Di căn 1 hạch vùng.

    N2 Di căn nhiều hơn 1 hạch vùng.

    Mx không xác định được di căn xa.

    M0 Không có di căn xa.

    Chẩn đoán xác định dựa vào

    Lâm sàng

    Là triệu chứng thường gặp (80% trường hợp). Đái máu đại thể, toàn bãi, không đau, không sốt. Đái máu một cách bất ngờ, bỗng nhiên dừng lại để rồi tái phát không có nguyên nhân. Trong trường hợp đái máu nhiều, có máu cục, cũng có thể có cơn đau quặn thận..

    Đau thắt lưng:

    Đau âm ỉ, lan ra trước hay xuống dưới do u phát triển to ra làm căng bao thận hoặc có thể có cơn đau quặn thận do máu cục di chuyển xuống bàng quang.

    Khối u vùng thắt lưng:

    Dễ sờ thấy nếu bệnh nhân đến khám muộn. Thăm khám phải nhẹ nhàng để tránh gây di căn ung thư. Nhiều khi khám thấy một khối u rắn chắc bờ đều hay gồ ghề, di động nhiều hay ít.

    Đái máu, đau thắt lưng và khối u vùng thắt lưng được xem là 3 triệu chứng kinh điển của ung thư thận, tuy nhiên một số bệnh nhân lại có biểu hiện bởi sự kết hợp các hội chứng và các triệu chứng.

    Các triệu chứng khác:

    Nếu thăm khám kỹ, có thể phát hiện giãn tĩnh mạch thừng tinh cùng bên có bệnh lý.

    Chảy máu sau phúc mạc có thể gặp, kèm theo đau dữ dội, sốt và các triệu chứng chảy máu trong, khi ung thư đột ngột vỡ ra khỏi bao.

    Hội chứng cận ung thư: Thường xuất hiện bên cạnh các triệu chứng tiết niệu kể trên.

    Sốt 39 – 40 0 C trong nhiều tháng, sức khoẻ giảm sút. Hoại tử trong thận hay các chất sinh nhiệt của ung thư thận có thể là nguyên nhân sốt của ung thư.

    Tình trạng toàn thân giảm sút nhanh chóng, chán ăn, suy nhược, thiếu máu, sốt nhẹ, tốc độ huyết trầm tăng.

    Đa hồng cầu, kèm theo đau đầu, mệt mỏi, chóng mặt, ngứa tê các chi, rối loạn thị giác.

    Gan to, nhẵn, không đau, kèm theo phosphatase kiềm tăng, tỉ prothrobin giảm, albumin máu giảm (hội chứng Stauffer).

    Nồng độ calci máu tăng do ung thư tiết chất giống hormon tuyến cận giáp, hoặc di căn vào xương gây kích thích các huỷ cốt bào hoạt động.

    Tăng huyết áp do u tiết nhiều renin hay do chèn ép động mạch thận.

    Nếu các hội chứng cận ung thư không giảm đi sau cắt thận, có thể tiên đoán tiên lượng xấu.

    Triệu chứng do di căn đến các cơ quan khác:

    Trong trường hợp di căn của ung thư vào phổi, xương, gan và các tạng khác, bệnh nhân có thể đến khám với các triệu chứng của các cơ quan này.

    Hoặc ngược lại ung thư được phát hiện một cách tình cờ, khi chưa có dấu hiệu lâm sàng, nhân khi chụp niệu đồ tĩnh mạch, siêu âm, chụp CT Sacnner, chụp phổi… Các trường hợp này ngày càng nhiều nhờ sự phổ cập của các phương tiện ghi hình, đặc biệt siêu âm từ những năm 80.

    Cần chú ý phát hiện bệnh trong thể bệnh gia đình hay khi gặp các hội chứng thần kinh da.

    Cận lâm sàng

    Các xét nghiệm cận lâm sàng có mục đích giúp cho chẩn đoán xác định,

    đánh giá sự xâm lấn của ung thư và theo dõi sau mổ để phát hiện di căn hoặc tái phát tại chỗ

    Xét nghiệm máu:

    Các xét nghiệm sinh hoá như công thức máu, xét nghiệm tốc độ lắng máu, calci máu, chức năng gan, các rối loạn nội tiết cho phép phát hiện các dấu hiệu trong các “hội chứng cận ung thư”

    Chẩn đoán hình ảnh:

    Đây là một phương pháp dễ sử dụng, không nguy hiểm, khả năng phát hiện rất tốt, ngay cả những u nhỏ chưa có biểu hiện lâm sàng và hiện nay được phát triển tương đối đều khắp. Siêu âm cho phép chẩn đoán các ung thư đặc của thận và các di căn vào tĩnh mạch thận, tĩnh mạch chủ, các hạch ở cuống thận. Thông thường ung thư thận là một khối đặc, không đồng nhất, bờ không đều, âm vang khác với âm vang của thận bình thường. Chú ý là các u nhỏ thường kém âm vang.

    Chụp hệ tiết niệu không chuẩn bị cho thấy bóng thận không đều, to hơn bình thường, có thể kèm theo hình ảnh vôi hoá trong thận hay ở rìa thận.

    Chụp niệu đồ tĩnh mạch (UIV): Trong các phim chụp sớm, có thể thấy một khối u vượt ra khỏi bờ ngoài của thận. Ở các phim sau, thấy ngay ở vùng đầy một hình khuyết. ở các phim chụp khác tiếp theo, có thể thấy các hình chèn ép, kéo dài, cắt cụt, đẩy chệch hướng các đài bể thận. U ở cực dưới thận còn đẩy lùi vào trong phần trên của niệu quản. Ngoài ra phương pháp này còn cho thấy chức năng thận bên kia. Trên thực tế, cần kết hợp với siêu âm để khỏi bỏ sót những khối u nhỏ < 2 hay 3cm.

    Trong một số trường hợp ngược lại ung thư thận quá lớn, hủy hoại gần hết nhu mô thận hay làm tắc tĩnh mạch thận, hoặc máu cục chèn ép các đài bể thận. Vì vậy thận không ngấm thuốc cản quang.

    Chụp động mạch: Trước đây chụp động mạch là một phương pháp để chẩn đoán quan trọng đối với các u thận. Phương pháp này cho phép thấy được một khối được sự tưới máu rất mạnh, hình ảnh hỗn loạn của hệ động mạch cùng các hồ máu, thời gian máu quay về tĩnh mạch nhanh, hình ảnh vô mạch do hoại tử . Một số ung thư thận lại ít được tưới máu (10% các ung thư thận). Chụp động mạch thận còn giúp làm tắc động mạch thận để tiến hành phẫu thuật thuận lợi.

    Phương pháp chụp động mạch còn có giá trị rất lớn khi cần phát hiện những u nhỏ gây chảy máu tái phát. Chụp động mạch thận còn giúp cho việc hướng dẫn cắt thận bán phần trong trường hợp ung thư thận trên thận duy nhất. Tuy nhiên, hiện nay phương pháp này dần dần được thay thế bởi chụp tỉ trọng cắt lớp.

    Chụp CT Scanner: Cho phép xác định tính chất của u và đánh giá sự xâm lấn của u. Trước hết nên chụp mà không bơm thuốc để phát hiện những hình ảnh vôi hoá, sau đó chụp với thuốc để phát hiện u.

    Ung thư thận thường được thể hiện như một khối đầy, không đồng nhất, tỷ trọng ngang hoặc kém so với nhu mô thận. Sau khi tiêm thuốc u nổi rõ lên một thoáng rồi trở nêm kém tỉ trọng so với nhu mô thận. Các vùng hoại tử càng kém tỉ trọng.

    Cộng hưởng từ hạt nhân: Giúp cho việc phân biệt một khối u nang và một khối u đặc, phát hiện các mầm ung thư trong hệ tĩnh mạch và giúp cho việc đánh giá sự xâm lấn của ung thư.

    Các xét nghiệm khác: Trong trường hợp nghi ngờ ung thư di căn xa vào các tạng khác, cần phải làm một số các xét nghiệm khác:

    Chụp phổi thẳng nghiêng:

    Chụp nhấp nháy hệ thống xương với methylendiphosphonat (MDP 99mTC).

    Chẩn đoán phân biệt

    Các nang thận không điển hình

    Nang đặc chứa máu, các chất dịch…được chẩn đoán nhờ siêu âm, tỷ trọng cắt lớp và có khi chỉ cần chọc hút.

    U nang có ngăn: Phân biệt giữa nang thường với u nang ung thư có ngăn dày và u nang bào sáng.

    U nang vôi hoá: 2-5% các u nang có thể vôi hoá, nhưng chỉ ở phần ngoại vi và có dịch lỏng bên trong. Cần chọc hút dưới siêu âm.

    U nang bờ không đều được chẩn đoán bằng siêu âm và chụp tỉ trọng cắt lớp.

    Các u thận ác tính và lành tính

    U cơ mỡ thận có những vùng mờ nhạt do mỡ trong u.

    Cần đặc biệt chú ý các thể xâm lấn của các u đường tiết niệu trên.

    Các khối viêm

    Như áp xe, viêm thận bể thận, u thận hạt vàng, hoặc bệnh viêm thận màng trắng.

    Các u tạng gần

    Thượng thận…

    Nguyên tắc điều trị

    Phương pháp được chọn lựa là phẫu thuật cắt thận kèm bóc hạch, cắt bỏ tuyến thượng thận, kèm lấy bỏ tổ chức mỡ quanh thận, cắt mạch máu buồng trứng hoặc mạch máu thừng tinh và cắt toàn bộ niệu quản sau khi lấy bỏ huyết khối tĩnh mạch. Đây là phương pháp kinh điển.

    Cắt bỏ thận để điều trị triệu chứng trong trường hợp chảy máu nhiều.

    Những di căn một vị trí cần được phẫu thuật để lấy bỏ.

    Cắt thận một phần: Trong trường hợp ung thư trên 1 thận hoặc u nhỏ.

    Làm tắc nghẽn mạch động mạch thận: Đối với những bệnh nhân không thể phẫu thuật được.

    Tia xạ: Áp dụng trong trường hợp có di căn vào xương,

    Hoá chất trị liệu: Một số hoá chất chống ung thư đã được sử dụng, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có hiệu quả cao.

    Miễn dịch trị liệu: Nhiều tác giả hiện nay đang sử dụng các Cytokin như Interferon, Interleukin để điều trị có hiệu quả khá tốt.

    Hormon trị liệu: Một số tác giả sử dụng progesteron, androgen, antiestrogen để điều trị, nhưng hiệu quả chưa rõ ràng.

    Các phương pháp điều trị

    Cắt thận toàn bộ

    Chỉ định

    Đây là phương pháp được chọn lựa hàng đầu trong điều trị ung thư thận nhằm mục đích chữa khỏi cho bệnh nhân nếu giai đoạn sớm hoặc nhằm mục đích điều trị triệu chứng (đau, đái máu) ở giai đoạn muộn. Ngay cả ung thư thận đã có di căn (hạch, gan, não) cắt thận toàn bộ vẫn có chỉ định nhằm mục đích làm chậm quá trình phát triển của khối di căn, kéo dài đời sống của bệnh nhân.

    Nguyên tắc

    Phẫu thuật bao gồm cắt thận toàn bộ kèm bóc hạch, cắt bỏ tuyến thượng thận, lấy bỏ tổ chức mỡ quanh thận, cắt mạch máu buồng trứng hoặc mạch máu thừng tinh và cắt toàn bộ niệu quản sau khi lấy bỏ huyết khối tĩnh mạch.

    Đây là phương pháp kinh điển. Đường mổ phải đủ rộng để có thể tiếp cận cuống mạch được dễ dàng và lấy hết được toàn bộ khối u và tổ chức mỡ quanh thận cũng như mạc thận. Đường mổ hay được sử dụng là đường dưới sườn xuyên phúc mạc.

    Cắt thận không điển hình

    Cắt bỏ thận để điều trị triệu chứng trong trường hợp chảy máu nhiều hoặc gây đau.

    Những di căn một vị trí cần được phẫu thuật để lấy bỏ.

    Cắt thận một phần: Trong trường hợp ung thư trên 1 thận hoặc u nhỏ.

    Làm nghẽn mạch động mạch thận

    Đối với những bệnh nhân không thể phẫu thuật được.

    Chỉ là phương pháp điều trị tạm thời, áp dụng trong trường hợp có di căn vào xương, nhằm mục đích giảm đau.

    Hoá chất trị liệu

    Một số hoá chất chống ung thư đã được sử dụng, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có hiệu quả cao và cũng chỉ áp dụng điều trị tạm thời.

    Miễn dịch trị liệu

    Nhiều tác giả hiện nay đang sử dụng các Cytokin như Interferon, Interleukin để điều trị có hiệu quả trong một số trường hợp, nhưng giá thuốc còn rất đắt.

    Hormon trị liệu

    Một số tác giả sử dụng progesteron, androgen, antiestrogen để điều trị, nhưng hiệu quả chưa rõ ràng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bệnh Ung Thư Thận Là Gì? Dấu Hiệu Và Cách Chữa Bệnh Ung Thư Thận
  • U Nguyên Bào Thận (U Wilms)
  • Các Phương Pháp Điều Trị Ung Thư Thận
  • U Nguyên Bào Thận (U Wilms): Ung Thư Thận Ảnh Hưởng Tới Trẻ Em
  • Ung Thư Thận Sống Được Bao Lâu
  • Dịch Tễ Học Bệnh Ung Thư

    --- Bài mới hơn ---

  • Giám Đốc Bệnh Viện K Nhận Giải Thưởng Nhân Tài Đất Việt Vì Đột Phá Điều Trị Ung Thư Vú
  • Đặc Trưng Của Ung Thư Vú Ở Bệnh Nhân Vị Thành Niên
  • Bao Nhiêu Tuổi Thì Tầm Soát Ung Thư?
  • Ung Thư Biểu Mô Ống Tuyến Vú Tại Chỗ (Nội Ống) (Dcis)
  • 【Tìm Hiểu】Ung Thư Biểu Mô Tuyến Vú Xâm Lấn
  • UNG THƯ TRÊN THẾ GIỚI

    Dựa vào số liệu của các Ghi nhận ung thư quần thể tại nhiều vùng khác nhau, Tổ chức Y tế Thế giới ước tính hàng năm trên thế giới có khoảng 11 triệu trường hợp mới mắc và khoảng trên 6 triệu người chết do ung thư. Tại các nước phát triển ung thư là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai sau bệnh tim mạch, ở các nước đang phát triển ung thư đứng hàng thứ ba sau bệnh nhiễm trùng/ký sinh trùng và tim mạch

    Bảng 1: Số liệu về tình hình mắc và chết do ung thư năm 2002

    Ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở nam giới tại các nước phát triển và đang phát triển. Trong năm 2002 trên thế giới có khoảng

      Ca mới mắc ung thư phổi chiếm 12,5% tổng số các ca mới mắc ung thư. nam mắc nhiều hơn nữ với tỷ lệ ASR ở nam là 30,9/100.000 dân; ở nữ giới ASR là 12.6/100.000 dân.

    Ung thư vú là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở phụ nữ các nước phát triển và ung thư cổ tử cung là nguyên nhân tử vong hàng đầu tại các nước đang phát triển. Năm 2002 trên thế giới có khoảng 1.200.000 ca mới mắc ung thư vú trong đó ở các nước phát triển có ASR trung bình là 103,7/ 100.000 phụ nữ và các nước đang phát triển ASR trung bình khoảng 21/100.000 phụ nữ. Nơi cổ tỷ lệ mới mắc ung thư vú cao nhất là Bắc Mỹ (99,4/100.000), Tây và Bắc Âu, úc (84,6/100.000). Trung bình cứ 8 phụ nữ ở Hoa Kỳ thì có 1 người mắc ung thư vú. Tỷ lệ chết do ung thư vú tăng lện theo tỷ lệ mắc, tuy nhiên ở một số nước phát triển mặc dù tỷ lệ mắc gia tăng nhưng tỷ lệ chết vẫn giữ ớ mức độ ổn định nhờ các tiến bộ trong sàng lọc phát hiện sớm và những thành tựu đạt được trong điều trị.

    Trong năm 2005 trên toàn thế giới có trên 500.000 ca ung thư cổ tử cung mới trong đó ở các nước đang phát triển chiếm hơn 90%. Số trường hợp chết do ung thư cổ tử cung là 270.000, như vậy trên thế giới cứ 2 phút thì có một phụ nữ chết vì ung thư cổ tử cung.

    Ung thư dạ dày là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ hai ở cả hai giới. Số ca mới mắc ung thư dạ dày hàng năm chiếm khoảng 9-10% tổng số các ca ung thư. Một số nghiên cứu cho thấy, người dân Nhật Bản di cư sang Hoa Kỳ, ở thế hệ thứ nhất mang đặc tính nguy cơ góc về ung thư dạ dày, nhưng sang thế hệ sau mang tính nguy cơ của quốc gia đang cư trú Các loại ung thư dạ dày có biệt hóa cao thường gặp ớ những vùng có tần suất ung thư cao, trong khi loại kém biệt hóa thường gặp ở những nơi có tần suất thấp.

    Ung thư gan là một trong những ung thư phổ biến trên thế giới. Phân bố bệnh không đều giữa các vùng khác nhau. Bệnh gặp ở nam giới nhiều hơn so với nữ giới, 0 các nước đang phát triển nhiều hơn so với các nước phát triển. Nhật Bản, Đông Nam Á, vùng cận Sahara là những vùng có nguy cơ ung thư gan cao. Ung thư gan xếp hàng thứ 3 trong các nguyên nhân gây tử vong do ung thư trên toàn thế giới, chiếm khoảng 4% trong các loại ung thư ở người Ung thư gan có tỷ lệ mới mắc hàng năm xếp hàng thứ 5 ở nam giới và thứ 8 ở nữ giới.

    Một số nghiên cứu của các tác giả nước ngoài trên người Việt Nam di cư tới Anh và xứ Wales, Los Angeles, úc, các tác giả cũng nhận thấy nguy cơ tử vong và mắc những loại ung thư vòm họng, gan, dạ dày, co tử cung ở người Việt mới di cư sang cao hơn so với dân bản xứ. Trong khi đó, ung thư đại – trực tràng, phổi, vú lại thấp hơn dân bản xứ. Những thông tin này hết sức quan trọng về mặt y tế công cộng, giúp cho các nhà hoạch định chính sách biết để quan tâm đến những ung thư tại địa bàn quản lý để cổ mức đầu tư phù hợp, đáp ứng được nhu cầu của người dân. Vì vậy, tất cả các quốc gia đã tiến hành ghi nhận ung thư đều định kỳ ước tính gánh nặng bệnh ung thư của cả nước thông qua số liệu về tỷ lệ mắc ung thư của các quần thể nhỏ đã được tiến hành ghi nhận.

    BỆNH UNG THƯ Ở VIỆT NAM

    Những cố gắng để tìm hiểu tình hình ung thư ở Việt Nam đã có từ rất lâu. Trong một nghiên cứu tiến hành trên 3.000 ca ung thư ở Viện Ung thư Hà Nội (nay là Bệnh viện K) năm 1950, các tác giả đã nhận thấy ung thư đường sinh dục chiếm tỷ lệ rất cao 0 cả nam và nữ cũng như các ung thư khoang miệng, các ung thư có nguồn gốc từ bào thai và tế bào nuôi, trong khi những ung thư khác như ung thư phổi, đường tiết niệu và tiêu hoá, các ung thư có nguồn gốc phần mềm, xương, thần kinh lại hiếm gặp. Trong một nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh, giai đoạn 1976-1981 cho thấy loại ung thư gặp nhiều nhất ở nam giới là ung thư phổi, miệng, vòm họng, trong khi ở nữ giới là ung thư cổ tử cung, vú và khoang miệng. Tuy nhiên, số liệu mà mỗi bệnh viện đưa ra chỉ phản ánh mô hình bệnh đặc thù với chuyên ngành hoặc thế mạnh của bệnh viện đó mà không mô tả được thực trạng cơ cấu bệnh ung thư trong cộng đồng dân cư.

    Số liệu về tình hình ung thư mà hai Ghi nhận Quần thể ở Hà Nội (1988-1990) và Thành phố Hồ Chí Minh (1994) đưa ra có lẽ là những con số về tỷ lệ mắc ở người Việt Nam duy nhất được tính toán cho tới các thời điểm đó, mặc dù tại hai thời điểm công bố nói trên số liệu của hai ghi nhận còn chưa thật đầy đủ. Các kết quả cho thấy tại Hà Nội, ở nam giới những loại ung thư gặp nhiều theo thứ tự từ cao xuống thấp là ung thư phổi, dạ dày, gan, đại – trực tràng, vòm; ở nữ giới là vú, dạ dày, đại – trực tràng, cổ tử cung, phổi. Tại Thành phố Ho Chí Minh ở nam giới, năm loại ung thư hay gặp nhất là phổi, gan, dạ dày, vòm họng, đại – trực tràng; ở nữ giới là ung thư cổ tử cung, vú, phổi) dạ dày và buồng trứng. Các số liệu của Ghi nhận Ung thư Hà Nội các giai đoạn 1991-1992, 1994) 1995-1996, 1996-1999 và của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1995-1996 cũng đã được đánh giá và công bố. Dựa trên số liệu của hai ghi nhận này, các tác giả đã ước tính gánh nặng bệnh ung thư tại Việt Nam. Tỷ lệ mắc trên người Việt Nam ước tính trong năm 2000 ớ nam giới là 91,5/100.000 và 81,5/100.000 ở nữ giới. Tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 141,6/100.000 ở nam giới và 101,6/100.000 ở nữ giới, ung thư phổi, dạ dày, gan là những ung thư phổ biến nhất ở nam giới. Ung thư vú, cổ tử cung và da dày la những ung thư phổ biến nhất ớ phụ nữ Việt Nam. Có sự khác biệt lớn về tình hình ung thư giữa các vùng khác nhau, đặc biệt là ung thư gan và ung thư cổ tử cung là những ung thư gặp nhiều ở miền Nam hơn miền Bắc, trong khi ung thư dạ dày và vòm họng lại gặp nhiều ở miền Bắc hơn. Nhưng nếu chỉ dựa vào số liệu của hai ghi nhận (Hà Nội và thành phố Hổ Chí Minh) để ước tính tỷ lệ mắc ung thư cho cả nước thì sẽ là thiếu chính xác và không đầy đủ vì hai địa bàn này đều là hai thành phố lớn không thể đại diện cho tất cả các vùng địa lý của Việt Nam. Do đó để có được chỉ số ước tính gánh nặng ung thư cho mỗi cộng đồng và cho cả nước cần thiết phải tổ chức thêm ghi nhận ung thư ở cả vùng đồng bằng, miền núi, nông thôn, miền biển, miền Trung, chính vì lý do đó giai đoạn 2001-2004 trong khuôn khổ của một đề tài cấp Nhà nước ở Việt Nam đã tổ chức thêm 04 ghi nhân ung thư dựa vào quần thể tại Hải Phòng, Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế và Cần Thơ) Kết quả bước đầu của các ghi nhận ung thư này cho thấy, tỷ lệ mắc thô (CR) trung bình hàng năm ở nam giới là 93,4/100.000, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi (ASR) trung bình hàng năm là 124,2/100.000, các tỷ lệ này ở nữ giới là 77,4/100.000 và 85,96/100.000.

    Ở nữ giới:

    Tại Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế, ung thư vú đứng thứ nhất và ung thư dạ dày đứng thứ hai. Riêng tại Cần Thơ, ung thư vú đứng thứ hai sau ung thư cổ tử cung, ung thư dạ dày đứng thứ tư.

    Ung thư phế quản phổi đứng thứ ba tại Hà Nội, Hải Phòng, đứng thứ tư tại Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế và đứng thứ sáu tại Cần Thơ.

    Tại Hà Nội sắp xếp theo thứ tự 10 loại ung thư phổ biến nhất ở nữ giới như sau: vú, dạ dày, phế quản phổi, đại – trực tràng, cổ tử cung, giáp trạng, buồng trứng, gan, hạch, máu. So với giai đoạn 1996-1999, có sự thay đổi ung thư phổi từ vị trí thứ tư lên vị trí thứ ba, đổi chỗ cho ung thư đại – trực tràng, ung thư gan từ vị trí thứ sáu xuống vị trí thứ tám, ung thư giáp trạng và ung thư máu giai đoạn 1996-1999 không đứng trong mười ung thư thường gặp ở nữ giới Hà Nội nhưng đến giai đoạn này ung thư giáp trạng đứng vị trí thứ sáu và ung thư máu đứng vị trí thứ chín.

    Tại Hải Phòng kết quả ghi nhận được khác với Hà Nội ở chỗ ung thư vòm là một trong 10 ung thư phổ biến nhất và không có ung thư giáp trạng trong 10 ung thư phổ biến, sắp xếp theo thứ tự 10 loại ung thư phổ biến nhất ở nữ giới Hải Phòng như sau: vú, dạ dày, phế quản phổi, đại – trực tràng, cổ tử cung, gan, hạch, buồng trứng, máu, vòm.

    Tại Thái Nguyên, ung thư máu đứng thứ bảy, trước cả ung thư vòm, hạch và giáp trạng. Trong khi đó, tại Hà Nội ung thư máu đứng thứ mười và tại Hải Phòng ung thư máu đứng thứ chín, tại Cần Thơ ung thư máu đứng thứ tám. Sắp xếp theo thứ tự 10 loại ung thư phổ biến nhất ở nữ giới Thái Nguyên như sau: vú, dạ dày, đại – trực tràng, phế quản phổi, cổ tử cung, gan, máu, vòm, hạch, giáp trạng.

    Riêng tại Thừa Thiên Huế, ung thư miệng và ung thư phần mềm là hai trong mười ung thư phổ biến nhất. Như vậy, sắp xếp theo thứ tự 10 loại ung thư phổ biến nhất ở nữ giới Thừa Thiên Huế như sau: vú, dạ dày, cổ tử cung, phế quản phổi, đại – trực tràng, gan, miệng, phần mềm, buồng trứng, giáp trạng.

    Tại Cần Thơ, ung thư cổ tử cung đứng thứ nhất đẩy ung thư vú xuống vị trí thứ hai, ung thư gan đứng thứ ba. Trong khi đó, tại 4 tỉnh thành Hà Nội, Thái Nguyên, Hải Phòng, Thừa Thiên Huế, ung thư gan chỉ đứng vị trí từ thứ sáu trở xuống, sắp xếp theo thứ tự 10 loại ung thư phổ biến nhất ở nữ giới Cần Thơ như sau: cổ tử cung, vú, gan, dạ dày, buồng trứng, phế quản phổi, đại – trực tràng, máu, hạch, giáp trạng.

    Nhìn chung, tại 5 tỉnh thành, 10 ung thư phổ biến ở nữ giới chiếm tỷ lệ từ 73,3% đến 80,5%, các loại ung thư khác chỉ chiếm 19,5% đến 26,7%.

    Ở nam giới:

    Ung thư phế quản phổi đứng hàng đầu tại Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên; đứng thứ ba tại Thừa Thiên Huế, đứng thứ tư tại Cần Thơ. Ung thư dạ dày đứng thứ hai ở hầu hết các vùng, riêng tại Thái Nguyên đứng thứ ba. Ung thư gan đứng hàng đầu tại Thừa Thiên Huế và Cần Thơ, đứng thứ hai tại Thái Nguyên, đứng thứ ba tại Hà Nội và Hải Phòng.

    10 loại ung thư phổ biến ở nam giới Hà Nội sắp xếp theo thứ tự như sau: Phế quản phổi, dạ dày, gan, đại – trực tràng, thực quản, vòm, hạch, máu, bàng quang, hạ họng-thanh quản. So sánh với giai đoạn 1996-1999, có sự thay đổi ung thư thực quản từ vị trí thứ tám lên vị trí thứ năm. Ung thư vòm từ vị trí thứ năm xuống vị trí thứ sáu. Ở giai đoạn 1996-1999, ung thư bàng quang và hạ họng thanh quản không nằm trong mười ung thư phổ biến, nhưng đến giai đoạn này, trong kết quả của chúng tôi, ung thư bàng quang đứng thứ chín, ung thư hạ họng đứng thứ mười.

    Tại Hải Phòng và Thừa Thiên Huế, ung thư lưỡi đứng trong vị trí 10 ung thư phổ biến nhất. Tại Hải Phòng, ung thư lưỡi đứng thứ chín và tại Thái Nguyên, ung thư lưỡi đứng thứ mười. 10 loại ung thư phổ biến ở nam giới Hải Phòng sắp xếp theo thứ tự như sau: phế quản phổi, dạ dày, gan, hạch, vòm, thực quản, đại – trực tràng, máu, lưỡi, bàng quang.

    Tại Thái Nguyên có sự khác biệt so với các vùng khác: ung thư dương vật và ung thư xương là hai trong 10 ung thư phổ biến nhất. Như vậy, sắp xếp theo thứ tự 10 ung thư phổ biến ở nam giới Thái Nguyên như sau: phế quản phổi, gan, dạ dày, đại – trực tràng, vòm, máu, hạch, thực quản, dương vật, xương.

    Ung thư gan chiếm vị trí thứ nhất tại Thừa Thiên Huế và tại Cần Thơ. Riêng tại Thừa Thiên Huế, cả hai giới, ung thư miệng và ung thư phần mềm là hai trong mười ung thư phổ biến nhất. 10 loại ung thư phổ biến ở nam giới Thừa Thiên Huế sắp xếp theo thứ tự như sau: gan, dạ dày, phế quản phổi, đại – trực tràng, hạch, miệng, phần mềm, máu, thực quản, lưỡi.

    Tại Cần Thơ, ung thư tuỵ và ung thư tuyến tiền liệt là hai trong 10 loại ung thư phổ biến nhất, sắp xếp theo thứ tự 10 ung thư phổ biến ở nam giới Cần Thơ như sau: gan, dạ dày, đại – trực tràng, phế quản phổi, máu, hạch, vòm, bàng quang, tuy, tuyến tiền liệt.

    Nhìn chung, tại 5 tỉnh thành, 10 ung thư phổ biến ở nam giới chiếm tỷ lệ từ 77,5% đến 84,3% tổng số ung thư, các loại ung thư khác chỉ chiếm 15,7% đến 22,5%.

    Như vậy, trung bình mỗi năm ước tính ở Việt Nam có tối thiểu 78.000 ca ung thư mới mắc được ghi nhận, trong đó nam 41.500 ca và nữ 36.500 ca. Mỗi năm có khoảng 8.000 ca ung thư phổi, 7.000 ca ung thư vú, 4.000 ca ung thư dạ dày và 2.000 Ca ung thư gan…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Án: Mô Bệnh Học Bệnh Ung Thư Vú Hạch Nách Dương Tính
  • Các Khuyến Nghị Điều Trị Ung Thư Vú Của Chuyên Gia Dựa Trên Cập Nhật Bằng Chứng Cho Nhiều Ngôn Ngữ
  • Trang Blog Của Kobayashi Mao Được Dịch Sang Tiếng Anh
  • Ung Thư Vú Và Ung Thư Buồng Trứng Di Truyền
  • Lớp Học Tiếng Anh Miễn Phí Dành Cho Bệnh Nhân Ung Thư Vú
  • Bệnh Học Ung Thư Vú Pdf

    --- Bài mới hơn ---

  • Cứu Sống Người Mẹ Bị Ung Thư Vú Di Căn Não, Hôn Mê, Mất Trí Nhớ Quyết Tâm Sinh Con
  • Tầm Soát Ung Thư Vú Bao Nhiêu Tiền? Ở Đâu Tốt Nhất?
  • Nam Bao Nhiêu Tuổi Dễ Mắc Ung Thư Vú
  • Những Điều Cần Biết Về Ung Thư Vú Bộ Ba Âm Tính
  • Ung Thư Vú Bộ Ba Âm Tính
  • Nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến các khía cạnh khac nhau cua ung thư biểu mô tuyến vú, đặc biệt trong vài thập kỷ qua, rất nhiều tác giả đã tập trung nghiên cứu về tình trạng thụ thể nội tiết nhằm mục đích lựa chọn biện pháp điêu trị và đánh giá tiên lượng bệnh.

    Ở trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về ung thư biểu mô tuyến vú. Các nghiên cứu trên chủ ỵếu đề cập đến các khia cạnh dịch tễ học, lâm sàng hoặc giải phẫu bệnh của bệnh. Việc đánh giá tình trạng thụ thể nội tiết estrogen progesteron va Her-2/neu (c-erbB-2) trên các mô ung thư vú được chuyên đúc trong paraffin cũng đã được chúng tôi nghiên cứu và công bố trên một số tạp chí trong và ngoài nước. Trong cuốn sách này chúng tôi trình bày một số khía cạnh về bệnh học hiện đại cua ung thư vú với mong muốn được cung cấp cho độc giả một số kiến thức cơ bản và cập nhật về ung thư vú.

    Cuốn sách phục vụ cho việc đào tạo trong và sau đại học, đồng thời cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho các bác sĩ quan tâm đến việc nghiên cứu ung thư vú. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến phê bình của độc giả.

    Từ khóa: Giải Phẫu Bệnh Học Vú, Ung Thư Vú

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ai Dễ Bị U Vú, Ung Thư Vú.
  • Cắt Bỏ Vú Ngừa Ung Thư, Có Nên Theo Angelina?
  • Ung Thư Vú Kiêng Ăn Gì?
  • Ung Thư Vú Và Cách Phòng Tránh
  • Nguyên Nhân Bệnh Ung Thư Vú Và Cách Chữa Trị Hiệu Quả
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100