Top 6 # Xem Nhiều Nhất Ung Thư Là Gì Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Ung Thư Xương Là Gì?

Triệu chứng nổi bật nhất của ung thư xương là đau nhức, nên ở giai đoạn đầu người bệnh dễ nhầm lẫn với các bệnh về xương khớp, cột sống…

Ung thư xương là sự xuất hiện một khối u ác tính ở trong xương. Những khối u này thường phát triển rất mạnh và cạnh tranh với những mô xương lành, có thể đe dọa tới tính mạng của người bệnh.

Ung thư xương có thể là nguyên phát (ung thư phát sinh tại chỗ) hoặc ung thư xương thứ phát (di căn từ cơ quan khác đến xương). Bác sĩ Trần Quốc Khánh, Khoa phẫu thuật cột sống, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, cho biết bệnh ung thư xương rất hiếm gặp, đặc biệt là nhóm ung thư xương nguyên phát chỉ chiếm khoảng 0,5%. Bệnh hầu hết gặp ở trẻ em và người trẻ tuổi (từ 10 đến 25 tuổi).

Ung thư xương thứ phát hay gặp hơn, thường ở người lớn tuổi. Theo bác sĩ Khánh, loại ung thư hay di căn đến xương khớp nhất là ung thư phổi, chiếm khoảng 30%, tiếp đến là ung thư vú ở nữ giới (khoảng 24%), đa u tủy xương (13%), ung thư đường tiêu hóa (9%) và ung thư tiền liệt tuyến ở nam giới (8%).

Triệu chứng nổi bật nhất của ung thư xương là đau nhức. (Ảnh: Medical News Today).

Ở giai đoạn đầu, ung thư xương thường không có biểu hiện hoặc biểu hiện không rõ ràng. Đến giai đoạn muộn hơn, bệnh có các triệu chứng đau, sưng nổi u cục, rối loạn chức năng xương, gãy xương, suy nhược cơ thể… Trong đó, triệu chứng nổi bật nhất của ung thư xương là đau nhức. Đau thường khu trú một vị trí nhất định, tăng về đêm và cường độ tăng dần theo thời gian. Những bệnh nhân ở giai đoạn cuối thường gặp những vấn đề như mệt mỏi, chóng mặt, chán ăn, buồn nôn… Bên cạnh đó, khi khối u di căn sang các bộ phận khác, chẳng hạn như phổi sẽ gây ra tình trạng ho dai dẳng, khó thở, tràn dịch màng phổi. Khối u di căn lên gan gây vàng da, vàng mắt, gan to, nước tiểu sậm màu.

Để giúp chẩn đoán xác định ung thư xương (cả nguyên phát và di căn), bệnh nhân cần được thực hiện một vài hoặc tất cả những thăm dò như chụp phim X-quang xương các bình diện, chụp cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ vùng tổn thương, đo xạ hình xương, sinh thiết vùng tổn thương để xét nghiệm tế bào học. Ngoài ra khi nghi ngờ là ung thư xương do di căn từ cơ quan khác đến, chúng ta cần thực hiện thêm một số thăm dò bổ sung tùy trường hợp cụ thể như chụp X-quang phổi, siêu âm tuyến vú, tuyến giáp, tuyến tiền liệt, xét nghiệm yếu tố ung thư trong máu, nội soi dạ dày, đại tràng, chụp PET..

“Bệnh có thể chữa được nếu phát hiện và điều trị kịp thời”, bác sĩ nói.

Với ung thư xương thứ phát, tiên lượng kém hơn vì nhóm bệnh này thường xuất hiện ở người lớn tuổi, kèm theo có tổn thương ung thư ở một hoặc nhiều cơ quan khác (nguyên phát). Chiến lược điều trị ung thư xương thứ phát phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như thể trạng bệnh nhân, ung thư nguyên phát là ở cơ quan nào, ung thư di căn đến một xương hay nhiều xương, quyết tâm của bệnh nhân và gia đình.. Mục đích ưu tiên trong điều trị vẫn là chất lượng sống (giảm đau) cho bệnh nhân. Phương pháp điều trị gồm phẫu thuật, hóa trị, xạ trị…

Để phòng tránh ung thư xương nói riêng và các loại ung thư nói chung là cần sống lành mạnh, khám sức khỏe định kỳ.

Tìm hiểu về các loại ung thư Ung thư xương ác tính được phát hiện có từ loài rùa Kỷ Trias

Ung Thư Xoang Là Gì?

Các khối u mũi và xoang là các khối u có thể lành tính hoặc ác tính (ung thư) xảy ra trong mũi xoang. Ung thư ở khoang mũi hoặc các khối u ở xoang rất hiếm gặp.

Triệu chứng và cách chữa viêm xoang

Câu hỏi bởi: Giấu tên

Chào bác sĩ!

Tôi muốn hỏi bác sĩ về biểu hiện và cách điều trị viêm xoang. Xin bác sĩ trả lời các thắc mắc của tôi.

Xin cảm ơn!

Chào bạn.

Xoang là những khoảng không gian rỗng nằm trong khối xương đầu mặt và xoang thông với mũi. Vùng trán: có xoang trán. Vùng mũi: có xoang sàng và xoang bướm. Vùng hàm trên: có xoang hàm. Vùng xương bướm thuộc nền sọ: có xoang bướm. Tùy theo xoang nào viêm mà có triệu chứng khác nhau. Viêm xoang còn có thể do dị ứng hay nhiễm trùng, nhiễm nấm,… Viêm xoang có nhiều thể: thể cấp tính và mãn tính.

Viêm xoang cấp tính

Triệu chứng:

Toàn thân: thường chỉ thấy mệt mỏi, sốt nhẹ nhưng cũng có trường hợp thường ở trẻ em có sốt cao, thể trạng nhiễm khuẩn rõ. Triệu chứng cơ năng:

– Đau: đau vùng mặt là dấu hiệu chính, thường đau về sáng do đêm bị ứ đọng xuất tiết, đau thành từng cơn gây nhức đầu. Đau nhức nhất là vùng quanh mắt, đau thành cơn, đau theo nhịp đập. Ấn đau ở phía dưới ổ mắt, cơn đau có chu kỳ, đúng khoảng thời gian nhất định trong ngày thường đau vào lúc từ 8 đến 11 giờ.

– Ngạt tắc mũi: tuỳ theo tình trạng viêm, ngạt tắc mũi 1 hay cả 2 bên, mức độ vừa nhẹ, từng lúc hay tắc mũi liên tục gây mất ngửi, ngạt nhiều bên đau, ngạt tăng về ban đêm.

– Chảy mũi: chảy mũi vàng đục làm hoen bẩn khăn tay, có mũi hôi. Đôi khi xì mạnh thường gây đau và lẫn tia máu.

Thực thể:

– Soi mũi: khám mũi thấy niêm mạc mũi nề đỏ, cuốn mũi dưới cương to, đặt bông thấm Ephedrine 1% còn co hồi lại tốt. Cuốn mũi giữa nề, cần lưu ý quan sát ngách mũi giữa thấy có mủ đọng bám.

Trường hợp viêm xoang do răng số 5, 6, 7 hàm trên, thấy bị áp xe quanh răng đau, răng đau nhức theo nhịp đập, lợi quanh đó bị viêm, mủ chảy từ xoang ra rất thối. Khi ấn ngón tay ở mặt trước xoang gây đau: cụ thể ấn vùng hố nanh tương ứng với xoang hàm. Điểm Grunwald ấn góc trên trong hốc mắt với xoang sàng và điểm Ewing ấn đầu trên trong lông mày với xoang trán.

Điều trị:

Nghỉ ngơi, tránh các yếu tố kích thích. Đảm bảo dẫn lưu tốt mũi xoang, rỏ mũi để đảm bảo thông thoáng, xì mũi hoặc hút để tránh ứ đọng. Tại chỗ: xông hơi nóng với các tinh dầu thơm, khí dung với kháng sinh và corticoid. Toàn thân: dùng kháng sinh nếu có sốt cao, nhiễm khuẩn rõ. Uống hoặc tiêm trong 5 – 7 ngày, chống viêm, giảm đau hạ sốt và cho thêm vitamin C. Chỉ chọc rửa xoang hàm khi đã giảm viêm nhiễm (hết sốt, bạch cầu trong máu trở lại bình thường). Trường hợp do răng, cần nhổ và chữa răng.

Viêm xoang sàng cấp tính ở trẻ em

Triệu chứng mãn tính

Cơ năng:

– Đau: viêm mạn tính thường không đau, trừ những đợt hồi viêm. Thường chỉ là cảm giác nặng đầu, vị trí tuỳ theo loại xoang viêm. Viêm xoang trước thường nhức quanh mắt, hố nanh. Viêm xoang sau thường nhức sâu trong mắt hoặc ở vùng đỉnh chẩm.

– Ngạt tắc mũi thường xuyên. Chảy mũi kéo dài ra cửa mũi trước, mủ xanh hoặc mủ vàng, nếu là viêm xoang trước mạn tính. Viêm xoang sau: mủ hoặc chất nhầy chảy xuống họng, bệnh nhân phải khịt, khạc, nhổ thường xuyên. Hay có biến chứng mắt như viêm thần kinh thị giác sau nhãn cầu, viêm mống mắt thể mi…

Thực thể:

Triệu chứng viêm nhóm xoang trước mãn tính.

Ngách mũi giữa nề và ướt hoặc mủ chảy từ ngách mũi giữa xuống cuốn mũi dưới, hoặc có ít mủ đọng khô ở bờ dưới cuốn mũi giữa. Cuốn mũi dưới nề to. Niêm mạc ngách mũi giữa phù nề, có khi thoái hoá thành polyp. Xuất hiện gờ Kauffman (do phì đại niêm mạc ở ngách mũi giữa thành một đường gờ dài, trông như một cuốn mũi thứ hai nằm ngoài cuốn mũi giữa). Soi mũi sau: mủ đọng ở sàn mũi hoặc ở đuôi cuốn mũi dưới.

Triệu chứng viêm nhóm xoang sau mãn tính.

Soi mũi trước nhiều khi không có gì. Soi mũi sau: thấy chất nhầy mủ xuất phát từ ngách trên chảy ra cửa mũi sau, tỏa xuống vòm mũi họng. Khám họng: thành sau họng viêm mạn tính với nhiều tổ chức lymphô đỏ và chất nhầy đặc bám. X-quang: Blondeau và Hirtz có giá trị trong chẩn đoán xác định: hình xoang mờ đều, hình dày niêm mạc, hình polyp…

Điều trị:

Phương pháp điều trị bảo tồn viêm đa xoang mãn tính: Kháng sinh, chống viêm, giảm đau… (nếu có hồi viêm). Khí dung, Proetz… Chọc xoang hàm để ống dẫn lưu, rửa và bơm thuốc. Nhổ, chữa răng nếu do răng. Vacxin chống nhiễm khuẩn. Vitamin A và B. Giảm mẫn cảm nếu có dị ứng.

Phương pháp điều trị phẫu thuật viêm đa xoang mãn tính:

Phẫu thuật nội soi chức năng mũi, xoang (FESS – Functional Endoscopic Sinus Surgery). Phẫu thuật nạo sàng hàm (Caldwell Luc). Phẫu thuật vách ngăn (nếu nguyên nhân do dị hình vách ngăn).

Chỉ định phẫu thuật xoang:

Viêm xoang gây ra các biến chứng: não, mắt, xuất ngoại… Viêm xoang nguyên nhân do các dị vật trong xoang. Viêm xoang đã có thoái hoá dạng polyp. Các khối u trong xoang (khối u lành tính hoặc ác tính).

Viêm xoang mủ mãn tính, chọc dò xoang hàm để ống dẫn lưu và rửa nhiều lần nếu qua 10 lần không đỡ nên chuyển sang phẫu thuật.

Nguồn sưu tầm Nguồn: songkhoe.vn

Có thuốc gì làm giảm triệu chứng viêm xoang mà không ảnh hưởng tới quá trình liền xương không?

Câu hỏi bởi: Nam

Chào bác sĩ.

Bác sĩ cho em hỏi là em bị gãy xương hàm dưới và đang điều trị được 3 tuần. Khoảng 6 tuần thì tháo niềng răng ra (em chỉ cố định chứ không mổ). Mà em lại bị viêm xoang nữa nên em lo là khi tháo niềng mà em hay hắt hơi nên ảnh hưởng tới quá trình liền xương. Vậy bác sĩ cho em hỏi là có thuốc gì uống làm giảm triệu chứng viêm xoang (không hắt hơi, ngứa mũi) mà không ảnh hưởng tới quá trình liền xương không?

Xin cảm ơn bác sĩ.

Luôn luôn giữ ấm là điều rất quan trọng trong mùa lạnh, đặc biệt là vùng cổ, ngực và mũi khi trời lạnh.

Dùng khẩu trang hoạt tính khi đi ra ngoài đường không những giữ ấm được mũi mà còn hạn chế sự xâm nhập của bụi, vi khuẩn.

Làm ấm vùng mũi mỗi khi tỉnh dậy vào buổi sáng bằng cách dùng hai bàn tay chụp lại hai bên vùng cánh mũi và miệng, tay xoa xoa tập thở ra hít vào, thực hiện như vậy chừng vài phút.

Không tắm nước lạnh mà cần tắm nước nóng, tắm nhanh trong buồng kín gió, lau thân mình và đầu, mặt, cổ thật khô và mặc quần áo ngay.

Vệ sinh họng, miệng hàng ngày như đánh răng trước và sau khi ngủ dậy, sau mỗi bữa ăn và súc họng nước muối sinh lý. Giữ họng và miệng không bị viêm sẽ hạn chế việc bị viêm xoang cũng như bệnh viêm xoang tái phát, bởi hệ thống xoang và các bộ phận đường hô hấp trên liên thông với nhau.

Những người đã bị viêm xoang mãn tính và cả người bình thường thì hàng ngày nên rửa mũi bằng nước muối sinh lý và nên đi khám khi có những nghi ngờ bị, biểu hiện của viêm mũi, viêm xoang, viêm đường hô hấp. Người bị viêm xoang và viêm xoang tái phát cần thiết điều trị theo đơn của bác sĩ, không nên tự mua thuốc kháng sinh để điều trị bệnh. Vì nếu làm như vậy sẽ lợi bất cập hại, nghĩa là bệnh không khỏi mà có khi còn tăng lên hoặc gây tai biến rất nguy hiểm.

Sốt kèm đau đầu, đau hốc mắt, sốt lúc nửa đêm

Câu hỏi bởi: minhanh

Chào bác sĩ!

Cháu mới 16 tuổi cháu hay bị đau nửa đầu, gần đây cháu bị sốt kèm đau đầu kinh khủng đau luôn cả hốc mắt, sốt lúc nửa đêm. Đầu thì lúc nào cũng ê ê 2 bên thái dương cứ lâu lâu lại đau sau gáy hay bên trái, biểu hiện là của bệnh gì và chữa như thế nào?

Cháu xin cảm ơn!

Cháu bị đau đầu kèm đau hốc mắt và sốt, cháu có bị chảy dịch mũi, chảy dịch xuống cổ họng hay nghẹt mũi không? Với triệu chứng như cháu mô tả có thể cháu đang bị viêm xoang. Viêm xoang là bệnh lý do viêm các xoang ở cạnh mũi. Nó được phân loại viêm xoang cấp tính thường chữa trị nội khoa, viêm xoang nãm tính thì chữa trị ngoại khoa. Hệ thống xoang bao gồm: xoang hàm, xoang sàng, xoang trán, xoang bướm.

Triệu chứng viêm xoang:

Đau nhức: vùng đau nhức tuỳ theo xoang bị viêm, xoang hàm: đau nhức vùng má, xoang trán: đau nhức giữa hai lông mày, xoang sàng trước: nhức giữa hai mắt, xoang sàng sau, xoang bướm nhức trong sâu và nhức vùng gáy.

Chảy dịch: tuỳ thuộc vào vị trí xoang bị viêm mà dịch nhầy có thể chẩy ra mũi trước hoặc xuống họng, làm cho bệnh nhân luôn phải khịt mũi hoặc phản xạ ở cổ họng muốn khạc nhổ. Tuỳ theo bị bệnh lâu hay mới mà dịch nhầy có mầu trắng đục hay màu vàng, có mầu hôi, khẳm.

Nghẹt mũi: Có thể nghẹt một bên hoặc cả hai bên.

Điếc mũi: ngửi không biết mùi, thường do viêm nặng, phù nề nhiều. Có thể có sốt nhẹ hoặc sốt cao.

Chúc cháu sức khỏe!

Đau nửa đầu ở hốc mắt, không mở được mắt, chữa như thế nào?

Câu hỏi bởi: cuc vivi

Cháu chào bác sĩ.

Năm nay cháu 22 tuổi. Cháu hay bị đau 1 nửa đầu, đa phần là đau ở hốc mắt không mở được mắt ạ. Mỗi lần đau cháu không muốn cử động và cháu hay dùng thuốc giảm đau. Vậy cháu bị bệnh gì và phải chữa thế nào ạ?

Cảm ơn bác sĩ.

1. Đau nhức: vùng đau nhức tuỳ theo xoang bị viêm

Xoang hàm: Đau nhức vùng má

Xoang trán: Đau nhức giữa hai lông mày

Xoang sàng trước: nhức giữa hai mắt

Xoang sàng sau, xoang bướm nhức trong sâu và nhức vùng gáy

2. Chảy dịch: Tuỳ thuộc vào vị trí xoang bị viêm mà dịch nhầy có thể chảy ra mũi trước hoặc xuống họng, làm cho bệnh nhân luôn phải khịt mũi hoặc phản xạ ở cổ họng muốn khạc nhổ. Tuỳ theo bị bệnh lâu hay mới mà dịch nhầy có mầu trắng đục hay màu vàng, có mầu hôi, khẳm.

3. Nghẹt mũi: Có thể nghẹt một bên hoặc cả hai bên

4. Điếc mũi: Ngửi không biết mùi, thường do viêm nặng, phù nề nhiều. Với biểu hiện đau, tính chất đau, vị trí đau, bác nghĩ rất có thể cháu bị đau đầu do viêm xoang sàng trước. Chính vì thế mà cháu bị đau chủ yếu ở vùng mắt mà thôi.

Chúc cháu mạnh khỏe.

Triệu chứng và cách chữa viêm xoang

Câu hỏi bởi: Giấu tên

Chào bác sĩ!

Tôi muốn hỏi bác sĩ về biểu hiện và cách điều trị viêm xoang. Xin bác sĩ trả lời các thắc mắc của tôi.

Xin cảm ơn!

Chào bạn.

Xoang là những khoảng không gian rỗng nằm trong khối xương đầu mặt và xoang thông với mũi. Vùng trán: có xoang trán. Vùng mũi: có xoang sàng và xoang bướm. Vùng hàm trên: có xoang hàm. Vùng xương bướm thuộc nền sọ: có xoang bướm. Tùy theo xoang nào viêm mà có triệu chứng khác nhau. Viêm xoang còn có thể do dị ứng hay nhiễm trùng, nhiễm nấm,… Viêm xoang có nhiều thể: thể cấp tính và mãn tính.

Viêm xoang cấp tính

Triệu chứng:

Toàn thân: thường chỉ thấy mệt mỏi, sốt nhẹ nhưng cũng có trường hợp thường ở trẻ em có sốt cao, thể trạng nhiễm khuẩn rõ. Triệu chứng cơ năng:

– Đau: đau vùng mặt là dấu hiệu chính, thường đau về sáng do đêm bị ứ đọng xuất tiết, đau thành từng cơn gây nhức đầu. Đau nhức nhất là vùng quanh mắt, đau thành cơn, đau theo nhịp đập. Ấn đau ở phía dưới ổ mắt, cơn đau có chu kỳ, đúng khoảng thời gian nhất định trong ngày thường đau vào lúc từ 8 đến 11 giờ.

– Ngạt tắc mũi: tuỳ theo tình trạng viêm, ngạt tắc mũi 1 hay cả 2 bên, mức độ vừa nhẹ, từng lúc hay tắc mũi liên tục gây mất ngửi, ngạt nhiều bên đau, ngạt tăng về ban đêm.

– Chảy mũi: chảy mũi vàng đục làm hoen bẩn khăn tay, có mũi hôi. Đôi khi xì mạnh thường gây đau và lẫn tia máu.

Thực thể:

– Soi mũi: khám mũi thấy niêm mạc mũi nề đỏ, cuốn mũi dưới cương to, đặt bông thấm Ephedrine 1% còn co hồi lại tốt. Cuốn mũi giữa nề, cần lưu ý quan sát ngách mũi giữa thấy có mủ đọng bám.

Trường hợp viêm xoang do răng số 5, 6, 7 hàm trên, thấy bị áp xe quanh răng đau, răng đau nhức theo nhịp đập, lợi quanh đó bị viêm, mủ chảy từ xoang ra rất thối. Khi ấn ngón tay ở mặt trước xoang gây đau: cụ thể ấn vùng hố nanh tương ứng với xoang hàm. Điểm Grunwald ấn góc trên trong hốc mắt với xoang sàng và điểm Ewing ấn đầu trên trong lông mày với xoang trán.

Điều trị:

Nghỉ ngơi, tránh các yếu tố kích thích. Đảm bảo dẫn lưu tốt mũi xoang, rỏ mũi để đảm bảo thông thoáng, xì mũi hoặc hút để tránh ứ đọng. Tại chỗ: xông hơi nóng với các tinh dầu thơm, khí dung với kháng sinh và corticoid. Toàn thân: dùng kháng sinh nếu có sốt cao, nhiễm khuẩn rõ. Uống hoặc tiêm trong 5 – 7 ngày, chống viêm, giảm đau hạ sốt và cho thêm vitamin C. Chỉ chọc rửa xoang hàm khi đã giảm viêm nhiễm (hết sốt, bạch cầu trong máu trở lại bình thường). Trường hợp do răng, cần nhổ và chữa răng.

Viêm xoang sàng cấp tính ở trẻ em

Triệu chứng mãn tính

Cơ năng:

– Đau: viêm mạn tính thường không đau, trừ những đợt hồi viêm. Thường chỉ là cảm giác nặng đầu, vị trí tuỳ theo loại xoang viêm. Viêm xoang trước thường nhức quanh mắt, hố nanh. Viêm xoang sau thường nhức sâu trong mắt hoặc ở vùng đỉnh chẩm.

– Ngạt tắc mũi thường xuyên. Chảy mũi kéo dài ra cửa mũi trước, mủ xanh hoặc mủ vàng, nếu là viêm xoang trước mạn tính. Viêm xoang sau: mủ hoặc chất nhầy chảy xuống họng, bệnh nhân phải khịt, khạc, nhổ thường xuyên. Hay có biến chứng mắt như viêm thần kinh thị giác sau nhãn cầu, viêm mống mắt thể mi…

Thực thể:

Triệu chứng viêm nhóm xoang trước mãn tính.

Ngách mũi giữa nề và ướt hoặc mủ chảy từ ngách mũi giữa xuống cuốn mũi dưới, hoặc có ít mủ đọng khô ở bờ dưới cuốn mũi giữa. Cuốn mũi dưới nề to. Niêm mạc ngách mũi giữa phù nề, có khi thoái hoá thành polyp. Xuất hiện gờ Kauffman (do phì đại niêm mạc ở ngách mũi giữa thành một đường gờ dài, trông như một cuốn mũi thứ hai nằm ngoài cuốn mũi giữa). Soi mũi sau: mủ đọng ở sàn mũi hoặc ở đuôi cuốn mũi dưới.

Triệu chứng viêm nhóm xoang sau mãn tính.

Soi mũi trước nhiều khi không có gì. Soi mũi sau: thấy chất nhầy mủ xuất phát từ ngách trên chảy ra cửa mũi sau, tỏa xuống vòm mũi họng. Khám họng: thành sau họng viêm mạn tính với nhiều tổ chức lymphô đỏ và chất nhầy đặc bám. X-quang: Blondeau và Hirtz có giá trị trong chẩn đoán xác định: hình xoang mờ đều, hình dày niêm mạc, hình polyp…

Điều trị:

Phương pháp điều trị bảo tồn viêm đa xoang mãn tính: Kháng sinh, chống viêm, giảm đau… (nếu có hồi viêm). Khí dung, Proetz… Chọc xoang hàm để ống dẫn lưu, rửa và bơm thuốc. Nhổ, chữa răng nếu do răng. Vacxin chống nhiễm khuẩn. Vitamin A và B. Giảm mẫn cảm nếu có dị ứng.

Phương pháp điều trị phẫu thuật viêm đa xoang mãn tính:

Phẫu thuật nội soi chức năng mũi, xoang (FESS – Functional Endoscopic Sinus Surgery). Phẫu thuật nạo sàng hàm (Caldwell Luc). Phẫu thuật vách ngăn (nếu nguyên nhân do dị hình vách ngăn).

Chỉ định phẫu thuật xoang:

Viêm xoang gây ra các biến chứng: não, mắt, xuất ngoại… Viêm xoang nguyên nhân do các dị vật trong xoang. Viêm xoang đã có thoái hoá dạng polyp. Các khối u trong xoang (khối u lành tính hoặc ác tính).

Viêm xoang mủ mãn tính, chọc dò xoang hàm để ống dẫn lưu và rửa nhiều lần nếu qua 10 lần không đỡ nên chuyển sang phẫu thuật.

Nguồn sưu tầm Nguồn: songkhoe.vn

Bệnh Ung Thư Máu Là Gì? Bệnh Máu Trắng Là Gì?

Bệnh ung thư máu là gì?

Ung thư máu (bệnh máu trắng) là bệnh trong đó tủy và hệ bạch huyết bị rối loạn và tạo ra những bạch cầu ác tính. Chúng tăng sinh ngoài tầm kiểm soát và nhu cầu của cơ thể, lấn át các tế bào khác trong máu khiến cho máu không hoàn thành được các nhiệm vụ thường lệ.

Bạch cầu là một trong ba loại tế bào của máu: Hồng cầu, bạch cầu và tiểu bào. Hồng cầu chứa huyết cầu tố, mang dưỡng khí nuôi các cơ quan bộ phận. Bạch cầu có nhiệm vụ chống lại các chất lạ như vi sinh vật, hóa chất xâm nhập cơ thể và tạo ra kháng thể. Tiểu cầu giúp máu đóng cục, tránh xuất huyết ở vết thương.

Tế bào máu được tạo ra từ các tế bào gốc đa hiệu (pluripotent stem cells) ở tủy xương. Nơi đây, tế bào máu lớn lên cho đến khi trưởng thành thì chuyển sang dòng máu.

Phần dung dịch lỏng của máu là huyết tương, có các hóa chất hòa tan như đạm, tùy theo tốc độ tiến triển tình trạng nặng nhẹ của bệnh. Trường hợp cấp tính, xuất hiện nhiều tế bào máu chưa trưởng thành và vô dụng ở tủy xương và máu. Bệnh nhân bị thiếu máu vì hồng cầu thấp; dễ xuất huyết vì thiếu tiểu cầu; dễ mắc bệnh nhiễm vì khả năng tự vệ giảm. Do đó bệnh trở nên trầm trọng rất nhanh. Trong mãn tính, dấu hiệu xảy ra hormone, khoáng, vitamins, kháng thể.

Bệnh ung thư máu có cả ở súc vật như mèo, heo, trâu bò và dĩ nhiên ở người. Với người, bệnh xuất hiện ở bất cứ tuổi nào. Nam giới bị ung thư máu nhiều hơn nữ giới.

Ung thư máu có thể là mạn tính hoặc cấp tính, chậm hơn, bệnh nhân có đủ thời gian tạo ra tế bào máu trưởng thành nhưng có thể chuyển sang tình trạng cấp tính. Ung thư máu mãn tính nhiều hơn cấp tính và thường thấy ở người ngoài 67 tuổi. Trẻ em dưới 19 tuổi thường hay bị ung thư máu cấp tính lympho bào.

Ung thư cũng được chia loại tùy theo bạch cầu ác tínhđược tạo ra từ hệ bạch huyết hoặc từ tủy xương.

Nguyên nhân đích thực của bệnh chưa được biết rõ, nhưng một số rủi ro có thể gây ra bệnh. Đó là:

– Tiếp xúc với các nguồn phóng xạ, như trường hợp các nạn nhân bom nguyên tử ở Nhật vào cuối Thế Chiến II, vụ tai nạn nổ lò nguyên tử Chernobyl (Ukraine) năm 1986 hoặc ở bệnh nhân tiếp nhận xạ trị. – Bệnh nhân ung thư được điều trị bằng dược phẩm. – Làm việc trong môi trường có nhiều hóa chất như benzene, formaldehyde. – Một số bệnh do thay đổi gene như hội chứng Down, do virus hoặc vài bệnh về máu.

Triệu chứng của bệnh ung thư máu

Sốt, đau đầu, đau khớp do sự chèn ép trong tủy

Sốt, rét run, và triệu chứng giống như cảm cúm.

Mệt mỏi, yếu sức, da đổi thành màu trắng nhợt do thiếu hồng cầu

Hay bị nhiễm trùng do bạch cầu không thực hiện được chức năng chống nhiễm khuẩn

Chảy máu chân/nướu răng do giảm khả năng làm đông máu

Dễ bầm tím và dễ chảy máu.

Biếng ăn, sút cân.

Ra mồ hôi về ban đêm ở bệnh nhân là nữ

Sưng nề bụng hoặc cảm giác khó chịu ở bụng.

Đau khớp và xương.

Nếu không được điều trị, ung thư máu cấp tính đưa tới tử vong rất mau. Ung thư mạn tính có thể không có dấu hiệu, khó chẩn đoán, dễ tử vong vì bội nhiễm các loại vi khuẩn. Đôi khi bệnh được khám phá tình cờ trong khi khám sức khỏe tổng quát.

Để xác định bệnh, bác sĩ sẽ thực hiện các bước như sau:

Khám tổng quát cơ thể, tìm coi gan, lách, hạch có sưng;

Thử nghiệm đếm số tế bào máu và số lượng huyết cầu tố, các chức năng của gan, thận;

Xét nghiệm tế bào tủy xương và nước tủy,

Chụp hình X-quang cơ thể.

Cách điều trị bệnh ung thư máu

Bệnh cần được các bác sĩ chuyên môn nhiều ngành như huyết học, u bướu hóa xạ trị chăm sóc, điều trị. Mục đích điều trị là đưa bệnh tới tình trạng không còn triệu chứng, bệnh nhân bình phục với tế bào máu và tủy xương lành mạnh như trước. Phương thức điều trị tùy thuộc vào một số yếu tố như loại ung thư, giai đoạn bệnh, tuổi tác và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.

Các phương pháp trị liệu gồm có:

Hóa trị dùng các dược phẩm khác nhau bằng cách uống, chích vào tĩnh mạch hoặc vào tủy xương để tiêu diệt tế bào ung thư. Hóa trị rất công hiệu và được áp dụng cho đa số bệnh nhân. Có nhiều loại thuốc và người bệnh có thể chỉ uống một thứ hoặc phối hợp hai ba thuốc. Tuy nhiên, hóa trị cũng ảnh hưởng tới các tế bào bình thường và gây ra một số tác dụng phụ như rụng tóc, lở môi miệng, nôn mửa, tiêu chẩy, ăn mất ngon, rối loạn kinh nguyệt, rối loạn sinh sản.

b. Xạ trị (Radiation therapy)

Với một máy phát xạ lớn, các tia phóng xạ được đưa vào các bộ phận có nhiều bạch cầu ung thư tụ tập, như lá lách, não bộ để tiêu diệt chúng. Tác dụng phụ gồm có: Mệt mỏi, viêm đau nơi da nhận tia xạ.

c. Sinh trị liệu (Biological Therapy)

Còn gọi là miễn dịch trị liệu, sinh trị liệu sử dụng kháng thể để hủy hoại tế bào ung thư. Kháng thể là những chất đạm đặc biệt được cơ thể sản xuất khi có một vật lạ xâm nhập. Kháng thể này sẽ phát hiện và tiêu diệt các vật lạ đó khi chúng trở lại cơ thể.

Sinh trị liệu được thực hiện qua hai phương thức:

Gây miễn dịch để kích thích, huấn luyện hệ miễn dịch nhận diện và tiêu diệt tế bào ung thư

Cho bệnh nhân dùng các kháng thể đặc biệt được sản xuất trong phòng thí nghiệm để trị ung thư.

d. Ghép tế bào gốc (Stem Cell Transplant)

Ghép tủy là lấy tủy xương (thường là ở xương hông) có tế bào gốc của một người cho khỏe mạnh rồi đưa vào người bệnh với mục đích tái tạo tế bào máu và hệ thống miễn dịch. Tế bào gốc từ máu, cuống rốn thai nhi và nhau thai cũng được dùng để điều trị một vài loại ung thư máu.

Trong bệnh ung thư máu, tế bào gốc của tủy bị lỗi, sản xuất ra quá nhiều bạch cầu non yếu nhưng ác tính, gây trở ngại cho sự tăng sinh của tế bào bình thường ở máu.

Ghép tủy không hoàn toàn bảo đảm tránh được sự tái phát của ung thư nhưng có thể tăng khả năng trị bệnh và kéo dài đời sống người bệnh.

Phòng ngừa bệnh ung thư máu

Một số bệnh ung thư có thể phòng ngừa bằng cách giảm thiểu tiếp xúc với rủi ro gây ung thư (như tránh khói thuốc lá), bằng nếp sống lành mạnh (không hút thuốc lá, uống nhiều rượu…), bằng dinh dưỡng đầy đủ hợp lý. Riêng với ung thư bạch cầu thì không có các rủi ro rõ rệt để phòng tránh.

Vì vậy người thường xuyên tiếp xúc với phóng xạ, hóa chất độc mà có những dấu hiệu bệnh bất thường đều nên đi kiểm tra sức khỏe theo định kỳ để sớm khám phá ra bệnh.

Ghép Tế Bào Gốc.

Vào giữa thế kỷ thứ 19, các khoa học gia người Ý đã gợi ý rằng tủy xương là nguồn gốc của tế báo máu nhờ có một hóa chất nào đó trong tủy. Tới đầu thế kỷ 20, nhiều nhà nghiên cứu chứng minh là một số tế bào ở tủy tạo ra tế bào máu. Họ gọi các tế bào này là “tế bào gốc”-stem cells. Kết quả nhiều nghiên cứu kế tiếp đã xác định dữ kiện này.

Tế bào gốc có trong tủy xương và máu. Tủy là lớp mô bào xốp nằm giữa các khoảng trống của xương. Ở trẻ sơ sinh, tất cả xương đều có tủy hoạt động mạnh. Tới tuổi tráng niên, tủy ở xương tay chân ngưng hoạt động trong khi đó tủy ở các xương sọ, hông, sườn, ức, cột sống vẫn tiếp tục sản xuất tế bào gốc.

Đặc tính của các tế bào gốc là có thể tự sinh ra tế bào khác y hệt như mình và tạo ra các tế bào trưởng thành như hồng cầu, bạch huyết cầu, tiểu cầu.

Ngoài tủy xương, tế bào gốc còn có trong dòng máu lưu thông hoặc máu từ cuống rốn thai nhi, nhau thai.. Ở tủy xương, cứ khoảng 100,000 tế bào máu thì có một tế bào gốc, trong khi đó số lượng tế bào gốc ở máu chỉ bằng 1/100 ở tủy.

Khái niệm ghép tủy để trị bệnh được khảo sát một cách khoa học vào cuối thế chiến II khi có nhiều nạn nhân bị hoại tủy do tiếp cận với phóng xạ, đặc biệt là sau vụ nổ bom nguyên tử ở Nhật.

Kỹ thuật ghép tủy xương được thực hiện thành công vào năm 1968 để điều trị các bệnh ung thư bạch cầu, thiếu máu vô sinh (aplastic anemia), u ác tính các hạch bạch huyết như bệnh Hodgkin, rối loạn miễn dịch và vài loại u như ung thư noãn sào, vú.

Trong ghép tủy, các tế bào bệnh hoạn của tủy bị tiêu diệt và tế bào gốc lành mạnh được truyền vào máu, tập trung vào ổ xương và bắt đầu sinh ra tế bào máu bình thường cũng như thiết lập một hệ miễn dịch mới.

Ghép tế bào gốc cứu sống nhiều người và chỉ thực hiện được khi có người cho thích hợp. Điều này không dễ dàng, vì để phương thức thành công, tế bào đôi bên phải hầu như 100% tương xứng. Chỉ dưới 30% bệnh nhân cần ghép tế bào mầm có thể tìm được tương xứng ở thân nhân.

Ngược lại khi người cho và người nhận không là sinh đôi đồng nhất thì cần phải tìm một người cho có loại tế bào gần tương tự như tế bào người nhận. Đây là việc làm khá khó khăn, tốn nhiều thời gian để có đối tác tương ứng.

Nhu cầu của bệnh nhân cần được ghép tế bào gốc rất cao mà kiếm được hai loại tế bào tương xứng giữa người cho và người nhận rất khó khăn. Vì thế nhiều tổ chức bất vụ lợi quốc tế đã đứng ra để ghi danh những vị tình nguyện hiến tủy hoặc tế bào mầm trong máu. Mỗi vị ghi danh là một niềm hy vọng cho những bệnh nhân khao khát chờ đợi được cứu sống. Hiện nay danh sách có khoảng hơn 10 triệu người trên thế giới sẵn sàng dâng hiến.

Hiến tủy được thực hiện tại cơ sở y tế với đầy đủ phương tiện, sau nhiều sửa soạn chu đáo cho nên rất an toàn. Mọi người từ 18 tới 60 tuổi, có sức khỏe tốt và hội đủ một số tiêu chuẩn y tế đều có thể ghi danh.

Ung Thư Tuyến Tụy Là Gì?

Các loại ung thư tuyến tụy: ung thư hình thành trong ống tuyến tụy (hình thành bởi các tế bào sản xuất dịch tiêu hóa phát triển bất thường – còn gọi là carcinoma tuyến) và ung thư hình thành trong các tế bào sản xuất hormone của tuyến tụy (còn gọi là ung thư nội tiết tuyến tụy – là loại rất hiếm gặp).

Ung thư tuyến tụy là gì? 2. Những biểu hiện của bệnh ung thư tuyến tụy

+ Vàng da hoặc mắt:

Chỉ cần một khối u rất nhỏ có thể chặn các ống dẫn mật trong đầu tuyến tụy, làm cho mật ứ lại, gây ra vàng da.

+ Ngứa da lòng bàn tay, bàn chân:

Tác dụng phụ ít được biết đến của vàng da là bàn tay và bàn chân ngứa. Đó là do da phản ứng với bilirubin, một sắc tố mật màu nâu vàng gây ra vàng da.

+ Mất cảm giác thèm ăn.

Theo một nghiên cứu ở Italia nhận thấy rằng, trước khi phát hiện ra khối u tuyến tụy từ 6-8 tháng, bệnh nhân đột nhiên cảm thấy chán ăn và thường thấy no mặc dù khi ăn rất ít.

+ Thay đổi khẩu vị:

Cũng trong nghiên cứu của các nhà khoa học Italia nói trên, một số bệnh nhân được khảo sát nói rằng bỗng dưng họ không còn thích hương vị của cà phê, rượu và thuốc lá, thậm chí còn cảm thấy “ghê” những mùi vị này.

+ Đau bụng:

Bệnh nhân ung thư tuyến tụy cho biết đó là những cơn đau kiểu gặm nhấm chứ không phải là đau nhói hay đau dữ dội, nó có xu hướng đẩy ra phía sau lưng.

Một đặc trưng khác là cảm giác đau biến mất khi cúi người về phía trước.

+ Túi mật phình to:

Ống mật bị tắc nghẽn gây vàng da đồng thời cũng có thể khiến túi mật phì đại.

Hiện tượng này có thể nhìn thấy trên các xét nghiệm hình ảnh, thậm chí có trường hợp bác sĩ cảm thấy được khi thăm khám.

+ Phân lỏng, có mùi:

Khi một khối u tuyến tụy chặn đường đi của các enzym tiêu hóa đến ruột, kết quả là cơ thể không có khả năng tiêu hóa chất béo.

Vì vậy, người bệnh có thể đi ngoài phân lỏng, có mùi kinh khủng, kết quả của các chất béo dư thừa. Đặc biệt, các chuyên gia cho biết triệu chứng này là dấu hiệu sớm nhưng thường bị bỏ qua .

+ Phân có màu sậm:

Tuy nhiên điều này có thể xảy ra vì thiếu men tụy, cơ thể không thể hấp thụ được chất béo nên dễ giảm cân.