Tìm Hiểu Về Khám Da Liễu Tại Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Quảng Trị

1. Định nghĩa Thị lực của một mắt là khả năng c ủa mắt đó nh ận thức rõ các chi tiết, nói cách khác thị lực là khả năng c ủa mắt phân biệt rõ 2 đi ểm ở gần nhau. 2. Các bảng thị lực thông dụng – Bảng thị lực chữ E của Armaignac – Bảng thị lực chữ cái của Snellen và Monoyer – Bảng thị lực vòng hở của Landolt. Bảng thị lực chữ cái Snellen và bảng thị lực vòng hở Landolt là 2 loại bảng tốt, chính xác. – Bảng thị lực dùng cho tr em vẽ các đ ồ vật, dụng cụ, con vật thân quen để tr dễ nhận biết.

I. ĐẠI CƯƠNG

1. Định nghĩa

Thị lực của một mắt là khả năng c ủa mắt đó nh ận thức rõ các chi tiết, nói

cách khác thị lực là khả năng c ủa mắt phân biệt rõ 2 đi ểm ở gần nhau.

2. Các bảng thị lực thông dụng

– Bảng thị lực chữ E của Armaignac

– Bảng thị lực chữ cái của Snellen và Monoyer

– Bảng thị lực vòng hở của Landolt.

Bảng thị lực chữ cái Snellen và bảng thị lực vòng hở Landolt là 2 loại

bảng tốt, chính xác.

– Bảng thị lực dùng cho tr em vẽ các đ ồ vật, dụng cụ, con vật thân quen

để tr dễ nhận biết.

II. CHỈ ĐỊNH

Tất cả mọi ngư i bệnh cần đánh giá th ị lực khi khám mắt, thị lực không

kính, thị lực khi có kính..

III.CHỐNG CHỈ ĐỊNH

– Ngư i bệnh đang có viêm nhi ễm cấp tính tại mắt

– Ngư i bệnh không thể phối h p làm thị lực: lơ mơ, kích đ ộng nhiều, rối

loạn tri giác, rối loạn hành vi, hay ngư i bệnh bị bệnh tâm thần.

IV. CHUẨN BỊ

1. Người thực hiện

– Bác sĩ

– Điều dư ỡng nhãn khoa

– Kỹ thuật viên khúc xạ

2. Phương t iện

– Các loại bảng thị lực như ở trên phù h p từng lứa tuổi

– Máy chiếu tích h p các chế độ bảng thị lực khác nhau: chữ E, Landolt,

Snellen, bảng hình..

– Hộp thử kính đ ể thử thị lực khi đeo kính

– Máy đo khúc x ạ

3. Bệnh nhi

Bệnh nhi đư c hư ớng dẫn, giải thích trư ớc khi thử thị lực

4. Hồ sơ bệnh án

162

Theo quy đ ịnh chung của Bộ y tế

I

V. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH

ĐO TH Ị LỰC

1. Kiểm tra hồ sơ

2. Kiểm tra ngư ời bệnh

3. Thực hiện kỹ thuật

– Phải đ ể ngư i bệnh đ ứng cách bảng thị lực đúng 5m ho ặc 3m đã đư c

4. Các phương pháp đo th ị lực

4.1 Dùng bảng thị lực

Để ngư i bệnh đ ứng cách bảng thị lực 5m hoặc 3m lần lư t chỉ các hàng

chữ, có thể bắt đ ầu từ hàng chữ lớn nhất, hoặc ngư c lại, bắt đ ầu từ hàng chữ

nhỏ nhất, tùy trư ng h p. Ghi thị lực tương ứng với hàng chữ nhỏ nhất mà

ngư i bệnh còn đ ọc đư c.

4.2. Cho ngư ời bệnh đếm ngón tay

4.3. hua bàn tay trư ớc m t người bệnh

4.4. Tìm hư ớng sáng

Đặt một nguồn sáng ở trước mát ngư i bệnh, lần lư t theo các vị trí:

chính giữa, phía trên, phía thái dương, phía dư ới, phía mũi, r ồi bảo ngư i bệnh

lấy tay chỉ hướng của nguồn sáng rọi tới. Nguồn sáng càng nhỏ, đ ặt càng xa, xác

định càng chính xác.

Nếu mất hư ớng phía thái dương là có t ổn thương võng m ạc phía mũi.

4.5. Tìm cảm giác sáng tối

Đặt nguồn sáng trư ớc mắt, ngư i bệnh thấy sáng, bỏ nguồn sáng đi, ngư i

bệnh thấy tối, ghi là có cảm giác sáng tối (+).

Nếu không có cảm giác sáng tối, tức là mù tuyệt đ ối.

4.6. Thử thị lực qua kính lỗ

Khi cho ngư i bệnh đeo kính l ỗ từ thị lực thấp tăng lên trên 1 hàng thì sơ

bộ đánh giá ngư i bệnh có tật khúc xạ, con nếu kh ng tăng thi tìm nguyên nhân

khác gây giảm thi lực.

4.7. Ghi lại kết quả

– Thị lực không kính

– Thị lực kính cũ đang đeo n ếu có)

– Thị lực kính mới nếu kính cũ kh ng đ ạt kết quả.

– Đơn kính sau khi k ết luận

Giới Thiệu Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Quảng Trị

I. Đặc điểm tình hình

Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị được thành lập theo Quyết định số 113/QĐ-UBND ngày 05/8/1989 của UBND tỉnh Quảng Trị với quy mô bệnh viện hạng II và có 300 giường bệnh. Ngày 01/02/2016 bệnh viện được nâng lên bệnh viện hạng I theo quyết định số1401/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị. Bệnh viện có tổng diện tích 21 ha, 1178 giường bệnh, 699 cán bộ viên chức, người lao động; 34 khoa phòng (7 phòng chức năng, 7 khoa cận lâm sàng và 20 khoa lâm sàng), với bảy chức năng nhiệm vụ chính:

1. Cấp cứu, khám chữa bệnh

2. Đào tạo cán bộ y tế

3. Nghiên cứu khoa học về y học

4. Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật

5. Phòng bệnh

6. Hợp tác quốc tế

7. Quản lý kinh tế y tế

BVĐK tỉnh Quảng Trị là bệnh viện tuyến tỉnh, với số lượt khám bệnh trung bình 400 – 500 bệnh nhân/ngày và số lượt điều trị nội trú 900 – 1200 bệnh nhân/ngày.

Để khẳng định năng lực đúng với tầm vóc của bệnh viện đa khoa hạng I trong việc khám chữa bệnh cho nhân dân tỉnh nhà, các tỉnh lân cận và nước bạn Lào, bệnh viện đã đẩy mạnh phát triển các dịch vụ kỹ thuật cao trên đầy đủ các lĩnh vực: nội khoa, ngoại khoa, nhi khoa, phụ sản, chuyên khoa, cận lâm sàng.

Đội ngũ nhân viên y tế giàu kinh nghiệm, tay nghề và trình độ cao (3 Tiến sĩ, 11 Bác sĩ CKII, 24 Thạc sỹ, 37 Bác sĩ- Dược sĩ CKI), phương tiên kỹ thuật hiện đại, thái độ phục vụ tận tình. Tất cả nhằm hướng tới một mục đích chung là đem lại kết quả điều trị tốt nhất cho người bệnh.

II. Cơ sở vật chất, trang thiết bị

Bệnh viện tọa lạc trên khu đất có diện tích 21ha, gồm 9 khu nhà với tổng diện tích sử dụng 48.060 m2. Cơ sở vật chất khang trang, hiện đại với hệ thống 8 phòng mổ, 3 labo xét nghiệm đảm bảo tiêu chuẩn, đạt 100% kết quả ngoại kiểm.

Khu chẩn đoán kỹ thuật cao với hệ thống máy móc thế hệ mới: máy xét nghiệm miễn dịch tự động, máy khí máu, điện giải, đếm tế bào, xét nghiệm nước tiểu, sinh hóa, chức năng đông máu, định danh vi khuẩn. Hệ thống tự động thực hiện tất cả các xét nghiệm với chất lượng chẩn đoán chính xác, trả kết quả nhanh không mất nhiều thời gian chờ đợi.

Hệ thống chẩn đoán hình ảnh hiện đại: Chụp mạch số hóa xóa nền (DSA), CT-Scaner 160 lát cắt, Xquang DR 2 chấm nhận, C-arm kỹ thuật số, siêu âm 4D, máy chụp răng toàn cảnh, máy chụp nhũ ảnh, máy cộng hưởng từ.

Hệ thống 12 máy lọc thận nhân tạo, 1 máy siêu lọc Online – HDF, 1 máy lọc máu liên tục và hệ thống tái tuần hoàn các chất hấp phụ phân tử.

III. Thế mạnh

– Chuyên khoa Ngoại chấn thương – Bỏng: Phẫu thuật chấn thương sọ não, phẫu thuật cột sống, phẫu thuật thoát vị đĩa đệm, phẫu thuật nội soi khớp gối, thay khớp háng toàn phần và bán phần, vi phẫu nối mạch máu, thần kinh, phẫu thuật kết hợp xương bằng đinh nội tủy dưới máy C-arm, phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp có khóa.

– Chuyên khoa Ngoại Tiêu hóa: Các phẫu thuật nội soi ổ bụng, phẫu thuật cắt khối tá tuỵ điều trị u tá tràng và ung thư tuỵ, phẫu thuật nội soi cắt u trực tràng thấp, phẫu thuật tạo van thực quản chống trào ngược dạ dày, phẫu thuật Mille điều trị ung thư trực tràng, thoát vị hoành bẩm sinh và một số phẫu thuật nhi và lồng ngực.

– Chuyên khoa Ngoại Tiết niệu: Tán sỏi niệu quản bằng laser, phẫu thuật nội soi ngoài phúc mạc lấy sỏi bể thân niệu quản, cắt đốt u xơ tiền liệt tuyến, phẫu thuật nội soi cắt u tuyến thượng thận.

– Chuyên khoa Ung bướu: bệnh viện đã làm chủ được nhiều kỹ thuật mới trong chẩn đoán và điều trị ung bướu như: Phẫu thuật cắt tuyến giáp qua nội soi với dao siêu âm; phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến vú, tuyến giáp do ung thư; sinh thiết lõi các tổn thương sâu trong lồng ngực và ổ bụng dưới hướng dẫn của CT; điều trị ung thư gan đa liệu pháp; hóa trị liệu với các phác đồ. Đồng thời phối hợp tốt với Bệnh viện K Trung ương trong gửi bệnh phẩm chẩn đoán mô bệnh học, hóa mô miễn dịch và xét nghiệm đột biến gien.

– Chuyên khoa Tim mạch: trang bị đầy đủ các thiết bị chuyên khoa sâu phục vụ chẩn đoàn bệnh lý tim mạch: ECG gắng sức, Holter ECG 24 giờ, siêu âm Doppler màu. Thực hiện các kỹ thuật can thiệp tim mạch: Đặt máy tạo nhịp tạm thời và máy tạo nhịp vĩnh viễn; Nong và đặt stent động mạch vành; Đóng lỗ thông bằng bít dù; Can thiệp các mạch máu ngoại vi điều trị ung thư gan (TACE), thuyên tắc mạch máu não, hẹp động mạch cảnh, động mạch chi, cầm máu trong tồn thương bệnh lý ở các cơ quan như: phổi, thận, tử cung, tai – mũi – họng, răng – hàm – mặt.

– Phát triển các kỹ thuật nọi soi trong chẩn đoán điều trị: Nội soi phế quản, dạ dày tá tràng, đại tràng; nong hẹp thực quản bằng bóng; kẹp hemoclip cầm máu; chích keo sinh học điều trị giãn tĩnh mạch phình vị. Hệ thống máy lọc thận nhân tạo hiện đại gồm 12 máy và 1 máy siêu lọc điều trị liên tục cho 90 bệnh nhân suy thận.

– Nhi khoa: Điều trị và chăm sóc sơ sinh non tháng, cực non, sơ sinh bệnh lý. Thực hiện tốt các kỷ thuật bơm Surfactant điều trị bệnh phổi non, phương pháp kangaroo, chiếu đèn điều trị vàng da sơ sinh.

– Sản phụ khoa: Tầm soát ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm tế bào âm đạo và soi cổ tử cung; bóc u vú, nang tuyến Bartholine; Phẫu thuật nội soi u buồng trứng, phần phụ, cắt tử cung toàn phần; Theo dõi và điều trị thai nghén nguy cơ cao; Sàng lọc tim bẩm sinh, thính lực, các bệnh rối loạn chuyển hóa.

– Các chuyên khoa khác: Điều trị các bệnh lý bán phần trước nhãn cầu, phẫu thuật phaco điều trị bệnh đục thể thủy tinh, khám sàng lọc bệnh võng mạc trẻ sinh non (ROP); Phẫu thuật chấn thương hàm mặt, các khối u vùng mặt, sứt môi hở hàm ếch; Phẫu thuật nội soi treo thanh quản cắt các khối u lành tính thanh quản, phẫu thuật nội soi chỉnh hình vách ngăn mũi, vá màng nhĩ.

IV. Định hướng phát triển

– Quản lý chất lượng toàn diện

– Phát triển các chuyên khoa sâu

– Xây dựng mô hình bệnh viện: viện – trường, hợp tác đào tạo với trường ĐH Y dược Huế, các trường trong vùng, các tổ chức đào tạo trong và ngoài nước nhằm nâng cao năng lực quản lý, chuyên môn nghiệp vụ cho CBVC Bệnh viện và cán bộ y tế trong khu vực.

– Kiện toàn các khoa phòng theo đúng tiêu chuẩn của bệnh viện hạng nhất: thành lập phòng Quản lý chất lượng, Phòng công tác xã hội, Khoa dinh dưỡng, thành lập các Khoa Ngoại tiêu hóa, Ngoại thận – tiết niệu, Ngoại thần kinh, Ngoại chấn thương chỉnh hình bỏng, Ngoại lồng ngực, Nội tiêu hóa, Nội thận – tiết niệu, Nội cơ – xương – khớp, Nội tiết.

– Phát triển hệ thống công nghệ thông tin, truyền thông theo hướng tự động hóa, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, áp dụng bệnh án điện tử.

– Xây dựng và phát triển đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, có phẩm chất đạo đức tốt; trình độ chuyên môn cao và chuyên sâu trong từng lĩnh vực; tạo một môi trường an toàn, thân thiện cho bệnh nhân.

– Phát triển các kỹ thuật mới, kỹ thuật cao, chuyên sâu; nâng cao chất lượng chuyên môn, chất lượng chăm sóc liên tục và toàn diện; nâng cao y đức, kỹ năng giao tiếp ứng xử; tinh thần thái độ phục vụ người bệnh nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của nhân dân về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ.

– Tiếp tục đổi mới cơ chế hoạt động tài chính, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giúp người dân thuận tiện và tin tưởng trong việc tiếp cận và sử dụng.

Triệu Chứng, Điều Trị Bệnh Loạn Dưỡng Móng Tại Bệnh Viện Phong

Ba mức độ trầm trọng đã được biệt định ở đây là thành phần của những đặc điểm cơ bản phổ biến của khí sắc hưng phấn và sự tăng tốc và tăng lượng của hoạt động cơ thể và tâm thần. Mỗi phần chia nhỏ của mục này chỉ được sử dụng cho một giai đoạn hưng cảm đơn độc. Nếu trước hoặc sau có những giai đoạn cảm xúc khác (trầm cảm, hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ) thì rối loạn phải được ghi mã theo mục rối loạn cảm xúc lưỡng cực.

PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC

I. GIAI ĐOẠN HƯNG CẢM (F30)

Ba mức độ trầm trọng đã được biệt định ở đây là thành phần của những đặc điểm cơ bản phổ biến của khí sắc hưng phấn và sự tăng tốc và tăng lượng của hoạt động cơ thể và tâm thần. Mỗi phần chia nhỏ của mục này chỉ được sử dụng cho một giai đoạn hưng cảm đơn độc. Nếu trước hoặc sau có những giai đoạn cảm xúc khác (trầm cảm, hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ) thì rối loạn phải được ghi mã theo mục rối loạn cảm xúc lưỡng cực.

Bao gồm: Rối loạn lưỡng cực giai đoạn hưng cảm đơn độc.

1.1. Hưng cảm nhẹ (F30.0)

Hưng cảm nhẹ là mức độ nhẹ hơn của hưng cảm trong đó các bất thường về khí sắc và tác phong quá dai dẳng và nặng đến nổi không có thể dựa vào khí sắc chu kỳ nhưng không có ảo giác và hoang tưởng kèm theo. Trong hưng cảm nhẹ có tăng khí sắc nhẹ và dai dẳng (kéo dài ít nhất nhiều ngày), tăng năng lượng và hoạt động và thường có cảm giác thoải mái và có hiệu suất cơ thể lẫn tâm thần rõ rệt. Bệnh nhân dễ chan hòa, ba hoa, suồng sã, tăng tính dục và giảm nhu cầu ngủ. Các triệu chứng này thường có nhưng đến mức độ làm gián đoạn trầm trọng công việc hoặc làm cho xã hội ruồng bỏ.

Thông thường bệnh nhân dễ chan hòa khoái cảm nhưng có thể trở nên cáu kỉnh, tự phụ và thô lỗ. Khả năng tập trung và sự chú ý có thể bị suy giảm, do vậy làm giảm khả năng yên tâm khi làm việc hoặc thư giãn, giải trí nhưng điều này có thể không ngăn cản được bệnh nhân quan tâm đến những hoạt động và những mạo hiểm hoàn toàn mới hoặc tiêu pha hơi nhiều.

Các nguyên tắc chỉ đao chẩn đoán

Nhiều nét trình bày ở trên phù hợp với sự tăng hoặc sự thay đổi khí sắc và tăng hoạt động, phải xuất hiện ít nhất nhiều ngày liên tục, phải biểu hiện tới mức độ dai dẳng hơn so với sự mô tả rối loạn khí sắc chu kỳ. Có trở ngại đáng kể đối với công việc hay hoạt động xã hội là phù hợp với chuẩn đoán hưng cảm nhẹ, nhưng nếu có sự phá vỡ trầm trọng hoặc hoàn toàn những hoạt động đó, thì nên chẩn đoán là trạng thái hưng cảm

Chẩn đoán phân biệt:

Hưng cảm nhẹ bao gồm một loạt những rối loạn về khí sắc và mức độ hoạt động giữa khí sắc chu kỳ và hưng cảm . Tăng hoạt động, không nghỉ (và thường sút cân) cần được phân biệt với những triệu chứng giống như thế xảy ra trong bệnh cường giáp trạng và bệnh chán ăn tâm thần: trạng thái biểu hiện sớm của “trầm cảm kích động” đặc biệt ở tuổi trung niên muộn có thể bề ngoài giống như hưng cảm nhẹ với tính chất cau có khác nhau. Những bệnh nhân có triệu chứng ám ảnh nặng có thể có một số hoạt động về đêm để hoàn thành những nghi thức dọn dẹp nhà cửa, những cảm xúc của họ thường ngược lại với những điều như đã mô tả ở đây.

Khi một giai đoạn ngắn của hưng cảm nhẹ xuất hiện như là giai đoạn đầu hoặc hậu quả của hưng cảm. Thì thường không cần phân biệt riêng lẻ hưng cảm nhẹ.

1.2. Hưng cảm không có các triệu chứng loạn thần

Khí sắc tăng cao không tương xứng với hoàn cảnh riêng của đối tượng và có thể thay đổi từ vui vẻ vô tư đến kích động gần như không thể kiểm tra được. Sự hưng phấn thường kèm theo tăng năng lượng, đưa đến hoạt động thái quá, nói nhanh và giảm nhu cầu ngủ. Mất khả năng kiềm chế xã hội thông thường, chú ý không thể duy trì được, thường đãng trí rõ rệt. Tự cao quá mức, ý tưởng khuyếch đại hoặc quá lạc quan được bộc lộ một cách tự do.

Các rối loạn tri giác có thể xảy ra, như đánh giá màu sắc một cách đặc biệt rực rỡ (thường là đẹp) bận tâm đến những chi tiết tinh vi về bề mặt hay cấu trúc và nhạy cảm chủ quan về ranh giới. Bệnh nhân có thể lao vào những mưu đồ ngông cuồng không thực tế, tiêu tiền một cách liều lĩnh hoặc trở nên công kích, đam mê si tình hoặc đùa tếu trong những tình huống không thích hợp. Trong một vài giai đoạn hưng cảm, khí sắc cau có, ngờ vực hơn là hưng phấn. Cơn đau xảy ra phổ biến nhất ở lứa tuổi 15 – 30 nhưng cũng có thể xảy ra ở bất kỳ tuổi nào từ trẻ em lớn đến tuổi 70 hoặc 80.

Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán

Giai đoạn hưng cảm phải kéo dài ít nhất 1 tuần và phải đủ nặng làm gián đoạn nhiều hay ít công việc và hoạt động xã hội thông thường. Thay đổi khí sắc phải kèm theo tăng năng lượng và nhiều triệu chứng đã nêu ở trên (đặc biệt nói nhanh, giảm nhu cầu ngủ, tính tự cao và lạc quan quá độ).

1.3. Hưng cảm có các triệu chứng loạn thần

Bệnh cảnh lâm sàng là một thể nặng của hưng cảm như đã mô tả ở mục .Tự đánh giá quá mức và ý tưởng tự cao có thể phát triển thành hoang tưởng và sự cáu kỉnh và ngờ vực có thể trở thành hoang tưởng bị hại. Trong những trường hợp nặng các hoang tưởng tự cao hay tôn giáo về nguồn gốc hay vai trò có thể nổi bật và tư duy phi tán, nói nhanh có thể làm cho người khác không thể hiểu được bệnh nhân. Hoạt động thể lực mạnh và kéo dài và kích động có thể dẫn đến xâm phạm hoặc hung bạo và xao nhãng ăn uống và vệ sinh cá nhân có thể dẫn đến trạng thái mất nước và lơ là bản thân nguy hiểm. Nếu cần thiết, hoang tưởng hoặc ảo giác có thể được biệt được là có hoặc không phù hợp với khí sắc “không phù hợp” được hiểu là gồm các hoang tưởng và ảo giác trùng lập về mặt cảm xúc như những hoang tưởng liên hệ không có nội dung tội lỗi hoặc những tiếng nói với bệnh nhân về những sự việc nào đó không có ý nghĩa cảm xúc đặc biệt.

Chẩn đoán phân biệt : Một trong những vấn đề phổ biến nhất là phân biệt rối loạn này với bệnh nhân tâm thần phân liệt, đặc biệt nếu các giai đoạn phát triển bỏ qua trạng thái hưng cảm nhẹ và bệnh nhân chỉ được xem xét lúc cao điểm của bệnh khi các hoang tưởng mở rộng, lời nói không hiểu được và kích động dữ dội có thể làm mờ đi rối loạn cảm xúc cơ bản. Bệnh nhân hưng cảm đáp ứng tốt với thuốc an thần kinh có thể có vấn đề chẩn đoán phân biệt tương tự vào giai đoạn người bệnh đã trở lại mức bình thường cả hoạt động cơ thể và tâm thần nhưng vẫn còn hoang tưởng hoặc ảo giác. Những ảo giác hoặc hoang tưởng nhất thời như đã biệt định cho bệnh tâm thần phân liệt cũng có thể được phân loại như là rối loạn không phù hợp với khí sắc, nhưng nếu những triệu chứng trên đó chiếm ưu thế và kéo dài, thì chẩn đoán rối loạn phân liệt cảm xúc có thể thích hợp hơn.

Bao gồm: sững sờ hưng cảm.

1.4. Các giai đoạn hưng cảm khác

1.5. Giai đoạn hưng cảm, không biệt định

Bao gồm: hưng cảm không biệt định khác (NOS).

II. RỐI LOẠN CẢM XÚC LƯỠNG CỰC

Rối loạn này có đặc điểm là những giai đoạn lặp đi lặp lại (ít nhất là 2 lần), trong đó các mức độ khí sắc và hoạt động của bệnh nhân bị rối loạn đáng kể, trong một số trường hợp rối loạn biểu hiện bằng tăng khí sắc, tăng năng lượng và tăng hoạt động (hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ) và trong một số trường hợp khác là sự hạ thấp khí sắc, giảm năng lượng và giảm hoạt động (trầm cảm). Điểm đặc trưng là bệnh thường hồi phục hoàn toàn giữa các giai đoạn và tỷ lệ mắc bệnh ở hai giới gần như bằng nhau hơn so với các rối loạn khí sắc khác. Vì vậy những bệnh nhân chỉ có những giai đoạn hưng cảm tái diễn tương đối hiếm và giống với (theo bệnh sử gia đình, nhân cách tiền bệnh lý, tuổi khởi phát và tiên lượng bệnh dài hạn) những người cũng có ít nhất các giai đoạn trầm cảm nhất thời, những bệnh nhân như vậy được phân loại như là lưỡng cực .

Các giai đoạn hưng cảm thường bắt đầu đột ngột và thường kéo dài từ hai tuần đến 4 – 5 tháng (thời gian trung bình khoảng 4 tháng). Trầm cảm có khuynh hướng kéo dài lâu hơn (thời gian trung bình khoảng 6 tháng), mặc dù hiếm thấy kéo dài trên 1 năm, trừ trường hợp ở những người cao tuổi. Các giai đoạn của cả hai loại rối loạn thường xảy ra sau các sự kiện gây stress trong đời sống hoặc sang chấn tâm thần khác, nhưng sự có mặt có stress này không thiết yếu để dùng làm chẩn đoán. Giai đoạn đầu tiên có thể xảy ra ở bất kỳ tuổi nào từ trẻ đến già. Tần số các giai đoạn bệnh và mô hình thuyên giảm và tái phát cả hai đều rất đa dạng, mặc dù với thời gian thuyên giảm có khuynh hướng ngày càng ngắn hơn và trầm cảm có khuynh hướng trở thành phổ biến hơn và kéo dài hơn sau tuổi trung niên.

Mặc dù khái niệm ban đầu về “loạn thần hưng trầm cảm” cũng bao gồm những bệnh nhân chỉ bị trầm cảm, thuật ngữ “rối loạn hoặc loạn thần hưng trầm cảm” được sử dụng chủ yếu hiện nay như một từ đồng nghĩa với rối loạn lưỡng cực.

Bao gồm: Bệnh loạn thần hoặc phản ứng hưng trầm cảm

Loại trừ: rối loạn lưỡng cực, giai đoạn hưng cảm đơn độc, khí sắc chu kỳ

2.1. Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn hưng cảm nhẹ

Các nguyên tắc chỉ đao chẩn đoán.

Để chẩn đoán xác định

a. Giai đoạn hiện nay phải có đầy đủ các tiêu chuẩn cho hưng cảm nhẹ : và

b. Phải có ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc khác (hưng cảm nhẹ, hưng cảm, trầm cảm hoặc hỗn hợp) trước đây.

2.2. Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn hưng cảm không có các triệu chứng loạn thần

Các nguyên tắc chỉ đao chẩn đoán

Để chẩn đoán xác định:

a. Giai đoạn hiện nay phải có đầy đủ các tiêu chuẩn của hưng cảm không có các triệu chứng loạn thần : và

b. Ít nhất phải có một giai đoạn rối loạn cảm xúc khác (hưng cảm nhẹ, hưng cảm, trầm cảm, hoặc hỗn hợp) trong quá khứ.

2.3. Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn hưng cảm có các triệu chứng loạn thần

Các nguyên tắc chỉ đao chẩn đoán

Để chẩn đoán xác định:

a. Giai đoạn hiện nay phải có đầy đủ các tiêu chuẩn của hưng cảm có các triệu chứng loạn thần : và

b. Ít nhất phải có một giai đoạn rối loạn cảm xúc khác (hưng cảm nhẹ, hưng cảm, trầm cảm, hoặc hỗn hợp) trong quá khứ.

Nếu cần thiết, hoang tưởng hoặc ảo giác có thể biệt định là phù hợp hoặc không phù hợp với khí sắc

2.4. Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn hỗn hợp

Bệnh nhân đã có ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc hưng cảm, hưng cảm nhẹ hoặc hỗn hợp trong quá khứ và hiện tại biểu lộ hoặc pha trộn hoặc thay đổi nhanh chóng các triệu chứng hưng cảm, hưng cảm nhẹ và trầm cảm.

Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán

Mặc dù hình thái điển hình nhất của rối loạn cảm xúc lưỡng cực bao gồm những giai đoạn trầm cảm và hưng cảm thay thế nhau và cách nhau bằng những thời kỳ khí sắc bình thường, các giai đoạn này cũng thường thấy khí sắc trầm kèm theo hoạt động thái quá và nói nhiều vào những ngày hay tuần cuối, hoặc khí sắc hưng cảm và ý tưởng tự cao, kèm theo kích động, mất năng lượng và giảm dục năng. Triệu chứng trầm cảm và hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm có thể chuyển đổi một cách nhanh chóng từ ngày này sang ngày khác và từ giờ này sang giờ khác.

Chỉ có thể làm chẩn đoán rối loạn cảm xúc lưỡng cực hỗn hợp nếu cả 2 nhóm triệu chứng đều nổi bật trong phần lớn giai đoạn hiện tại của bệnh và nếu giai đoạn này kéo dài ít nhất 2 tuần.

Loại trừ: giai đoạn rối loạn cảm xúc hỗn hợp đơn độc

2.5. Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại thuyên giảm

Bệnh nhân có ít nhất một giai đoạn cảm xúc hưng cảm, hưng cảm nhẹ hoặc hỗn hợp trong quá khứ và thêm vào đó ít nhất một giai đoạn cảm xúc khác: hưng cảm nhẹ, hưng cảm, trầm cảm hoặc hỗn hợp, nhưng hiện nay bệnh nhân không có một rối loạn cảm xúc nào đáng kể và không có như vậy trong nhiều tháng.

Tuy nhiên bệnh nhân có thể tiếp nhận điều trị để làm giảm nguy cơ xuất hiện các giai đoạn rối loạn trong tương lai.

2.6. Các rối loạn cảm xúc lưỡng cực khác

Bao gồm: rối loạn lưỡng cực II các giai đoạn hưng cảm tái phát.

2.7. Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, không biệt định

III. GIAI ĐOẠN TRẦM CẢM

a. Giảm sút sự tập trung và sự chú ý.

b. Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin.

c. Những ý tưởng bị tội và không xứng đáng (kể cả ở trong giai đoạn nhẹ).

d. Nhìn vào tương lai ảm đạm và bi quan.

e. Ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát.

f. Rối loạn giấc ngủ.

g. Ăn ít ngon miệng.

Khí sắc giảm thay đổi ít từ ngày này sang ngày khác và thường không tương ứng với hoàn cảnh, còn có thể biến đổi đặc biệt trong ngày càng về sau càng rõ. Cũng như với giai đoạn hưng cảm các bệnh cảnh lâm sàng có biến đổi rõ rệt tùy theo cá nhân và những biểu hiện không điển hình là đặc điểm phổ biến ở tuổi thanh thiếu niên. Trong một số trường hợp, lo âu, buồn phiền, kích động thỉnh thoảng có thể nổi bật hơn là trầm cảm và sự thay đổi cảm xúc có thể bị che đậy bởi những nét thêm vào như là cau có, lạm dụng rượu, tác phong kích thích và các triệu chứng sợ ám ảnh và triệu chứng ám ảnh có từ trước tăng lên, hoặc bị che đậy bởi lo âu nghi bệnh.

Đối với những giai đoạn trầm cảm thuộc 3 mức độ thường cần phải có ít nhất 2 tuần để làm chẩn đoán, nhưng cũng có thể cần thời gian ngắn hơn nếu triệu chứng nặng bất thường và khởi phát nhanh.

Một số triệu chứng trên có thể rõ rệt và phát triển những nét đặc trưng, các triệu chứng đó được nhiều người coi là có ý nghĩa lâm sàng đặc biệt. Những ví dụ điển hình nhất của các triệu chứng cơ thể này đó là: (xem lời mở đầu ở phần này) mất quan tâm hay ham thích trong những hoạt động thường ngày gây thích thú, không có phản ứng cảm xúc với những sự kiện và môi trường xung quanh thường có thể làm cho vui thích, buổi sáng thức giấc trước giờ thường ngày 2 giờ hoặc sớm hơn, trạng thái trầm cảm thường xấu hơn vào buổi sáng, chứng cớ khách quan về sự chậm chạp tâm lý vận động hoặc kích động (được người khác nhận thấy hoặc kể lại), ăn mất ngon rõ rệt, sút cân (thường quy định và hụt đi 5% hoặc nhiều hơn trọng lượng cơ thể tháng trước), mất dục năng rõ rệt. Thông thường, hội chứng cơ thể này không được xem như có, trừ phi khoảng 4 trong số những triệu chứng trên có chắc chắn.

Các mức độ trầm trọng này được biệt định để bao trùm nhiều loại trạng thái lâm sàng, gặp ở các thể khác nhau trong thực hành tâm thần học.

Bệnh nhân với các giai đoạn trầm cảm nhẹ thường gặp trong các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu và y tế chung, còn các đơn vị điều trị bệnh nhân tâm thần nội trú thì chữa bệnh nhiều hơn những bệnh nhân bị trầm cảm mức độ nặng.

Các hành vi tự hủy hoại kết hợp với những rối loạn khí sắc (cảm xúc), phổ biến nhất là tự đầu độc bằng thuốc đã được kê đơn, cần phải được ghi theo mã phụ của chương XX-ICD 10 (X60 -X84). Các mã này không đòi hỏi phải phân biệt giữa ý định tự sát và suýt tự sát, bởi vì cả 2 loại này đều nằm trong mục chung về tự hủy hoại.

Phân biệt giữa các giai đoạn trầm cảm nhẹ, vừa và nặng dựa vào một sự phán đoán lâm sàng phức tạp, cần tính đến số lượng, loại và mức độ trầm trọng của triệu chứng hiện có. Phạm vi của các hoạt động xã hội và nghề nghiệp thường là một điểm hướng dẫn chung có ích trong khi xác định các mức độ trầm trọng của giai đoạn trầm cảm nặng, nhưng các ảnh hưởng cá nhân, xã hội, văn hóa làm gián đoạn mối quan hệ mềm mại giữa mức độ trầm trọng của các triệu chứng và hiệu suất xã hội là đủ phổ biến và mạnh mẽ để làm cho việc đưa hiệu suất xã hội thành một tiêu chuẩn chủ yếu của mức độ trầm trọng trở nên không thận trọng.

Sự có mặt của mất trí (F00 – F03) hoặc chậm phát triển tâm thần (F70 – F79) không loại trừ chẩn đoán về một giai đoạn trầm cảm còn có thể điều trị được, nhưng do khó giao tiếp với bệnh nhân, có thể cần phải dựa vào những triệu chứng cơ thể có thể quan sát khách quan để làm chẩn đoán như chậm chạp tâm thần vận động mất ngon miệng, sút cân và rối loạn giấc ngủ.

Bao gồm: những giai đoạn của phản ứng trầm cảm đơn độc, trầm cảm nặng (không có các triệu chứng loạn thần), trầm cảm tâm sinh hoặc trầm cảm phản ứng

3.1. Giai đoạn trầm cảm nhẹ

Các nguyên tắc chỉ đao chẩn đoán

Khí sắc trầm, mất quan tâm và thích thú, tăng mệt mỏi thường được coi là những triệu chứng điển hình nhất của trầm cảm và ít nhất phải có hai trong những triệu chứng đó, cộng thêm ít nhất là hai trong số những triệu chứng khác đã được mô tả ở mục (F32.-) để chẩn đoán xác định. Không có triệu chứng nào trong số đó ở mức độ nặng. Thời gian tối thiểu của cả các giai đoạn khoảng 2 tuần.

Bệnh nhân với trầm cảm nhẹ thường buồn chán bởi các triệu chứng đó, khó tiếp tục công việc thường ngày và hoạt động xã hội, nhưng có khả năng không dừng hoạt động hoàn toàn. Chữ số thứ 5 có thể được sử dụng để biệt định sự có mặt của hội chứng cơ thể.

* Không có các triệu chứng cơ thể

Phải có đủ tiêu chuẩn cho một giai đoạn trầm cảm nhẹ và có ít hoặc không có triệu chứng cơ thể.

* Có các triệu chứng cơ thể

Phải có đủ tiêu chuẩn cho một giai đoạn trầm cảm nhẹ và cũng có 4 hoặc nhiều hơn triệu chứng cơ thể

3.2. Giai đoạn trầm cảm vừa

Các nguyên tắc chỉ đao chẩn đoán

Có ít nhất 2 trong 3 triệu chứng điển hình nhất đặc trưng cho giai đoạn trầm cảm nhẹ (F32.0), cộng thêm ít nhất 3 (và tốt hơn 4) những triệu chứng khác. Nhiều triệu chứng có thể biểu hiện rõ rệt, những điều này không nhất thiết nếu có rất nhiều loại triệu chứng khác nhau. Thời gian tối thiểu của cả giai đoạn này vào khoảng 2 tuần.

Bệnh nhân với giai đoạn trầm cảm vừa sẽ thường có nhiều khó khăn để tiếp xúc hoạt động xã hội, nghề nghiệp hoặc công việc gia đình.

Chữ số thứ 5 có thể được sử dụng để biệt định sự xuất hiện của các triệu chứng cơ thể.

* Không có các triệu chứng cơ thể (F32.10)

Có đầy đủ tiêu chuẩn của một giai đoạn trầm cảm vừa và có ít hoặc không có triệu chứng cơ thể

* Có các triệu chứng cơ thể (F32.11)

Có đầy đủ tiêu chuẩn cho một giai đoạn trầm cảm vừa và có 4 hoặc nhiều hơn các triệu chứng cơ thể. (Nếu chỉ có 2 hoặc 3 triệu chứng cơ thể nhưng chúng trầm trọng khác thường thì việc sử dụng mục này có thể được chấp nhận).

3.3. Giai đoạn trầm cảm nặng, không có các triệu chứng loạn thần (F32.2)

Trong giai đoạn trầm cảm nặng, người bệnh thường biểu lộ buồn chán nặng hoặc kích động trừ khi biểu hiện chậm chạp rõ rệt. Mất tự tin hoặc cảm thấy vô dụng hoặc tội lỗi dường như chiếm ưu thế. Tự sát là hành vi nguy hiểm rõ ràng trong những trường hợp đặc biệt trầm trọng. Ở đây thấy rằng hội chứng cơ thể hầu như luôn luôn có mặt trong giai đoạn trầm cảm nặng.

Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán

Có 3 trong số những triệu chứng điển hình để khẳng định giai đoạn trầm cảm nhẹ và vừa (F32.0 , F32.1), cộng thêm ít nhất 4 triệu chứng khác và một số phải đặc biệt nặng. Tuy nhiên, nếu những triệu chứng quan trọng như kích động hoặc chậm chạp rõ nét bệnh nhân có thể không muốn hoặc không thể mô tả nhiều triệu chứng một cách chi tiết. Trong những trường hợp như vậy, việc phân loại toàn bộ một giai đoạn trầm trọng có thể vẫn còn được chấp nhận. Giai đoạn trầm cảm thường kéo dài ít nhất 2 tuần, nhưng nếu các triệu chứng đặc biệt nặng và khởi phát rất nhanh thì có thể làm chẩn đoán này trước 2 tuần.

Trong giai đoạn trầm cảm nặng, người bệnh có thể ít khả năng tiếp tục được công việc xã hội, nghề nghiệp hoặc công việc gia đình, trừ phi ở phạm vi rất hạn chế.

Mục này chỉ được sử dụng cho các giai đoạn trầm cảm nặng đơn độc không có các triệu chứng loạn thần kèm theo,còn các giai đoạn về sau phải sử dụng mục rối loạn trầm cảm tái diễn (F33.-).

Bao gồm:

các giai đoạn đơn độc của trầm cảm kích động sầu uất hoặc trầm cảm sinh thể không có các triệu chứng loạn thần.

3.4. Giai đoạn trầm cảm nặng kèm theo các triệu chứng loạn thần (F32.3)

Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán

Một giai đoạn trầm cảm nặng thỏa mãn các tiêu chuẩn đã nêu ra trong mục F32.2 ở trên và trong đó có các hoang tưởng, ảo giác hoặc sững sờ trầm cảm. Các hoang tưởng thường bao gồm những ý tưởng tội lỗi, thấp hèn, hoặc những tai họa sắp xảy ra, trách nhiệm bệnh nhân phải gánh chịu. Những ảo thanh hoặc ảo khứu thường là gọng kết tội hoặc phỉ báng hoặc mùi rác mục hoặc thịt thối rửa. Sự chậm chạp tâm thần vận động nặng có thể dẫn đến sững sờ. Nếu cần, hoang tưởng hoặc ảo giác có thể được phân rõ là phụ hợp hoặc không phù hợp với rối loạn khí sắc (xem mục F30.2).

Chẩn đoán phân biệt

: Sững sờ trầm cảm phải được phân biệt với tâm thần phân liệt căng trương lực (F20.2) với sững sờ phân ly (F44.2) và với dạng sững sờ thực tổn. Mục này chỉ được sử dụng cho những giai đoạn rối loạn đơn độc trầm cảm nặng có kèm theo các triệu chứng loạn thần, cho những giai đoạn về sau phải sử dụng mục rối loạn trầm cảm tái diễn (F33.-).

Bao gồm:

các giai đoạn đơn độc trầm cảm nặng có các triệu chứng loạn thần, trầm cảm loạn thần, loạn thần trầm cảm tâm sinh, loạn thần trầm cảm phản ứng.

IV. ĐIỀU TRỊ

4.1. NGUYÊN TẮC

* RL lưỡng cực là một bệnh mạn tính, cần được chăm sóc lâu dài

* Dựa vào hóa dược liệu pháp để giảm độ nặng triệu chứng, ổn định khí sắc, ngừa tái phát

* Các biện pháp can thiệp tâm lý có hiệu quả tốt

* Thông tin về bệnh và điều trị cần được cung cấp cho bệnh nhân và thân nhân

Bệnh nhân được điều trị ở cấp độ thích hợp nhất theo mức độ bệnh của mình

4.2. CÁC XÉT NGHIỆM HỖ TRỢ

a) Chẩn đoán hình ảnh (CT scan não, IRM não): phục vụ cho mục tiêu chẩn đoán khi cần chẩn đoán phân biệt với một loạn thần thực thể khi cần

b) Điện não đồ, lưu huyết não, siêu âm não: phục vụ cho mục tiêu chẩn đoán khi cần chẩn đoán phân biệt với một loạn thần thực thể khi cần

c) Các trắc nghiệm tâm lý và các thang lượng giá: hỗ trợ cho việc chẩn đoán, theo dõi diễn tiến bệnh khi cần (YMRS, Hamilton, Beck, Montgomery & Asberg…)

d) Công thức máu và nước tiểu, các xét nghiệm sinh hóa, chức năng gan thận, dịch não tủy, xét nghiệm phân: hỗ trợ cho việc chẩn đoán, theo dõi diễn tiến bệnh khi cần

e) Điện tâm đồ, siêu âm, X quang: hỗ trợ cho việc theo dõi diễn tiến bệnh khi cần

4.3. NHẬP VIỆN NỘI TRÚ

Bệnh nhân RLLC sẽ có chỉ định nhập viện khi kích động, tự sát, bỏ ăn uống, hành vi nguy hiểm cho bản thân và xung quanh, khi cần theo dõi bệnh, khi cần thay đổi phác đồ điều trị thích hợp, khi có bệnh lý khác kết hợp gây mất quân bình tâm thần

4.4. ĐIỀU TRỊ HƯNG CẢM

☆ Bảo đảm an toàn, thiết lập chế độ quản lý điều trị thích hợp

☆ Ngưng thuốc chống trầm cảm, café, rượu, chất gây nghiện

☆ Loại trừ yếu tố nội khoa

☆ Hành vi liệu pháp, giáo dục tâm lý

☆ Ưu tiên nhóm điều hòa khí sắc (Lithium, nhóm muối Valproate), nhóm CLT mới (Olanzapine, Risperidone, Seroquel XR, Ziprazidone, Aripiprazole). Đơn trị hoặc phối hợp khi kém đáp ứng.

☆ Có thể sử dụng nhóm điều hòa khí sắc khác (Carbamazepine), nhóm CLT mới khác (Clozapine), nhóm CLT cổ điển (Haloperidol, Chlorpromazine, Thioridazine, Thiothixene, Pimozide.). Đơn trị hoặc phối hợp khi kém đáp ứng, ngoài ra phối hợp các nhóm trên với Benzodiazepine, chỉ định choáng điện khi không đáp ứng

☆Có thể sử dụng nhóm điều hòa khí sắc khác (Lamotrigine), nhóm thuốc kháng động kinh (Oxcarbazepine, Gabapentine, Topiramate, Tiagabine, Levetiracetam, Zonisamide )

☆ Kết hợp các nhóm thuốc ngủ, chống lo âu trong giai đoạn đầu để kiểm soát kích động, mất ngủ.

☆ Phối hợp tâm lý liệu pháp

4.5. ĐIỀU TRỊ TRẦM CẢM LƯỠNG CỰC

☆ Ưu tiên Quetiapine, nhóm CLT mới kết hợp (Olanzapine + Fluoxetine), nhóm điều hòa khí sắc (Lithium, Lamotrigine). Đơn trị hoặc phối hợp khi kém đáp ứng.

☆ Có thể sử dụng nhóm điều hòa khí sắc khác (muối Valproat, Carbamazepine), nhóm CLT mới (Olanzapine đơn thuần, Risperidone, Ziprazidone, Aripiprazole, Clozapine) phối hợp nhóm chống trầm cảm

☆ ECT được chỉ định khi không đáp ứng

☆ Phối hợp tâm lý liệu pháp

☆ Một số liệu pháp khác kết hợp khi kém đáp ứng với các trị liệu trên

Hormone tuyến giáp Pramipexole Modafinil Topiramate Chất hưng thần

Hạn chế giấc ngủ

Ánh sáng liệu pháp

Kích thích dây X

Liệu pháp dinh dưỡng

Kích thích từ trường xuyên sọ (TMS)

4.6. THUỐC ĐIỀU TRỊ

– Thuốc điều hòa khí sắc (thuốc & liều dùng xem phụ lục)

– Thuốc chống trầm cảm (thuốc & liều dùng xem phụ lục)

– Thuốc chống loạn thần (thuốc & liều dùng xem phụ lục)

– Thuốc tăng cường tuần hoàn não & bồi bổ thần kinh (thuốc & liều dùng xem phụ lục)

– Thuốc chống lo âu (thuốc & liều dùng xem phụ lục)

4.7. XỬ TRÍ TÁC DỤNG PHỤ VÀ BIẾN CHỨNG

4.7.1. THUỐC ĐIỀU HÒA KHÍ SẮC

a. NHÓM VALPROATE

– Tác dụng phụ trên dạ dày – ruột với biểu hiện (buồn nôn, nôn, khó tiêu, tiêu chảy). Những biểu hiện này thường lành tính, giảm dần theo thời gian. Tuy nhiên nếu kéo dài thì điều trị bằng các chất kháng thụ thể H 2 như Cimetidine, Famotidine, Sucrafate

– Tác dụng phụ trên hệ thần kinh như an dịu, thất điều (anxia), loạn vận động, run. Các triệu chứng an dịu, thất điều thường hết khi giảm liều. Nếu run nhiều có thể xử trí bằng chất đối vận p adrenergic như propranolol

– Rụng tóc. Có thể kèm theo vitamin hoặc kẽm để hạn chế việc rụng tóc

– Tăng cân. Khuyên BN tiết chế chất béo và tăng cường hoạt động thể chất

– Gây đa nang buồng trứng hoặc tăng nồng độ androgen ở phụ nữ gây rối loạn kinh nguyệt, béo phì. Thuốc gây quái thai trong 3 tháng đầu của thai kì. Nên cân nhắc trong vấn đề lựa chọn thuốc cho BN nữ trẻ, trong tuổi sinh sản và phải giải thích rõ ràng tác dụng phụ cho BN biết.

b. CARBAMAZEPINE

– Tác động lên hệ thần kinh trung ương: chóng mặt, an dịu, thất điều, nhìn đôi. Nên chú ý phòng ngừ bằng dùng liều thấp, tăng liều dần dần.

– Gây giảm bạch cầu. Nên theo dõi công thức máu BN hàng tháng trong vòng 6 – 12 tháng. Ngưng thuốc khi BC giảm nhiều. Lưu ý BN báo ngay cho BS khi có triệu chứng sốt, đau họng, đốm xuất huyết… trong quá trình điều trị

– Trên hormone: Trong giai đoạn đầu điều trị, thuốc gây giảm hormone tuyến giáp T3, T4 nhưng không tăng TSH. Sau đó thì T3, T4 có thể trở về giới hạn bình thường

– Làm hạ Na máu do kích thích trực tiếp hoặc gián tiếp lên chức năng vasopssin. Cần kiểm tra ion đồ máu khi BN có biểu hiện lú lẫn, đau đầu, yếu cơ

– Thuốc làm tăng nhẹ men gan. Trường hợp tăng cao và kéo dài nên ngừng thuốc. Nên theo dõi chức năng gan mỗi 6 – 12 tháng

– Phát ban ở da, thường là ban dạng sẫn, trường hợp nặng có hiện tượng bong tróc như hội chứng Stevens – Johnson, hội chứng Lyell (hoại tử biểu bì nhiễm độc). Nên ngừng thuốc ngay lập tức khi thấy xuất hiện ban đỏ ở da.

C. LITHIUM

– Trên hệ thần kinh: giảm trí nhớ, bồn chồn, khó chịu, phản ứng chậm chạp, thiếu tự chủ, tư duy chậm chạp.Các triệu chứng này cải thiện khi giảm liều

– Run tay. Nên giảm liều hoặc sử dụng chất đối vận p adrenergic như propranolol

– Trên tim mạch: làm thay đổi sóng T trên EEG

– Gây đa niệu, gây ảnh hưởng đến chức năng nghề nghiệp, gây mất ngủ, mất nước. Nên giảm liều, bù dịch điện giải.

4.7.2. THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM

a. NHÓM THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM 3 VÒNG

– Trên hệ thần kinh thực vật: do ức chế thụ thể muscarinic nên thuốc gây ra tác dụng phụ kháng cholinergic như: khô miệng, táo bón, nhìn mờ, tiểu khó, tăng nhãn áp ở BN bị glaucoma góc đóng. Trong trường hợp nặng như tăng nhãn áp, liệt ruột thì nên ngừng thuốc. Nên chú ý khi điều trị ở người già

– Trên tim mạch: hạ huyết áp tư thế thường gặp ở người già, tăng nhịp tim.

– Có thể tăng men gan nhưng ở mức độ nhẹ Nếu tăng men gan cao thì nên ngừng thuốc.

– Khác: rối loạn chức năng tình dục, ban dị ứng, tăng cân. Xử trí nên giảm liều hoặc đổi thuốc nhóm khác.

b. NHÓM THUỐC ỨC CHẾ TÁI HẤP THU CHỌN LỌC SEROTONIN (SSRI)

– Ức chế tình dục biểu hiện là giảm khoái cảm. Xử trí bằng aclch giảm liều thuốc hoặc chuyển sang thuốc khác ít ảnh hưởng đến chức năng tình dục như bupropion

– Trên hệ thần kinh trung ương:

* Lo âu: hay gặp khi sử dụng thuốc fluoxetine và thường hết sau 1-2 tuần điều trị

* Rối loạn giấc ngủ: fluoxetine gây mất ngủ; nhóm citalopram, escitalopram và

paroxetine có tính an dịu, gây ngủ gà ^ Nếu BN bị mất ngủ khi sử dụng thuốc nên điều trị kèm theo BZD

* Ác mộng: thường tự hết sau vài tuần

* Ngoại tháp: Fluoxtine có thể gây run chi (5-10%)

– Thuốc có thể ảnh hưởng đến chức năng tiểu cầu gây vết bầm trên da nhưng hiếm gặp

– Hội chứng serotonin: gồm tiêu chảy, bồn chồn bất an, kích động mạnh, tăng phản xạ, rối loạn thần kinh thực vật, rung giật cơ, co giật, tăng thân nhiệt. Nặng có thể gây mê sảng, hôn mê, trụy tim mạch… Xử trí: ngừng các thuốc đang sử dụng, điều trị hỗ trợ bằng nitroglycerin, dantrolen, benzodiazepine, thuốc chống co giật.

– Hội chứng cai SSRI: khi ngưng sử dụng đột ngột SSRI có thời gian bán hủy ngắn như paroxetine, luvoxamine. Biểu hiện: chóng mặt, yếu, đau đầu, chóng mặt, làm nặng trở lại triệu chứng lo âu, trầm cảm. Các triệu chứng này tự hết sau 3 tuần.

c. THUỐC VENLAFAXINE

– Thường gặp là buồn nôn, ngủ gà, khô miệng, chóng mặt, căng thẳng, lo âu, táo bón, suy nhược, chán ăn, nhìn mờ, rối loạn phóng tinh, cương dương, giảm khoái cảm.

– Nếu ngừng thuốc đột ngột có thể gây hội chứng cai. Nên giảm liều từ từ trong vòng 2 – 4 tuần trước khi ngừng thuốc

d. THUỐC MIRTAZAPINE

– Thường gặp là ngủ gà có thể gây nguy hiểm cho người lái xe, làm việc trên cao hay điều khiển máy móc.

e. THUỐC NEFAZODONE

– Thường gặp là buồn nôn, chóng mặt, mất ngủ.

– Trên tim mạch: có thể gây hạ huyết áp nên thận trọng trên BN tiền sử bệnh tim mạch

– Gây hoạt hóa cơn hưng cảm ở BN rối loạn cảm xúc lưỡng cực

f. THUỐC TRAZODONE

– Thường gặp là tính an dịu, hạ huyết áp tư thế, chóng mặt, nhức đầu, buồn nôn, khô miệng

– Có thể gây loạn nhịp trên BN sa van 2 lá

– Hiếm gây cương dương kéo dài.

g. THUỐC BUPROPION

– Hay gặp là đau đầu, mất ngủ, buồn nôn

– Không gây giảm chức năng tình dục là tác dụng phụ hay gặp ở những thuốc chống trầm cảm khác

4.7.3. THUỐC CHỐNG LOẠN THẦN

4.7.3.I. Tác dụng phụ không thuộc thần kinh

a) Ảnh hưởng trên tim

* Chlorpromazine và Thioridazine kéo dài khoảng QT, PR, gây sóng T dẹt và độ chênh ST giảm

* Thioridazine có thể gây rối loạn nhịp tim ác tính như rối loạn nhịp tim xoắn đỉnh

* Xử trí

: Nên theo dõi điện tim đồ (ECG) trên BN tiền căn bệnh tim điều trị với Thioridazine

b) Hạ huyết áp tư thế

* Thường gặp ở nhóm thuốc chống loạn thần hiệu lực thấp: Chlopromazine, Thioridazine, Levomepromazine …

* Xử trí

: đo huyết áp tư thế nằm và ngồi trước và sau khi tiêm bắp thuốc chống loạn thần từ 1 – 2 giờ

* Báo trước và hướng dẫn BN phòng tránh bằng cách ngồi và đứng dậy từ từ, nếu thấy chóng mặt thì nên nằm xuống ngay

* Khi xảy ra hạ huyết áp tư thế thì cho BN nằm đầu thấp chân nâng cao, nới bớt quần áo, theo dõi dấu hiệu sinh tồn, quan sát đồng tử

* Truyền dịch Nacl 0,9% 500ml truyền tĩnh mạch 30 giọt/phút

* Nếu không có kết quả thì dùng Hept-a-myl 2 – 5 ml tiêm tĩnh mạch chậm hoặc thuốc co mạch Metaraminol (Aramine)

* Chống chỉ định

: dùng Epinephrine vì làm hạ huyết áp nặng qua việc kích thích p adrenergic

c) Ảnh hưởng huyết học

* Clozapine có biến chứng giảm bạch cầu

* Xử trí

: Phải làm công thức máu trong 6 – 12 tuần lễ đầu và mỗi tháng sau đó

d) Tác động anticholinergic ngoại biên

* Thường gặp nhóm thuốc hiệu lực thấp, biểu hiện bao gồm: khô miệng, nhìn mờ, gãn đồng tử, táo bón, tiểu khó.

* Xử trí: điều trị triệu chứng

* Khô miệng thì khuyên BN uống nhiều nước

* Dủng thuốc nhuận trường

* Giãn đồng tử, mờ mắt có thể sử dụng Pilocarpine

* Tiểu khó có thể dùng Urecholine (bethanechol) 20 – 40 mg/ngày

e) Ảnh hưởng trên hoạt động tình dục

* Ở nam: thuốc làm giảm ham muốn tình dục, gây rối loạn phóng tinh, cương dương

* Ở nữ: thuốc làm giảm ham muốn tình dục, mất khoái cảm

f) Ảnh hưởng nội tiết

* Ở phụ nữ có hiện tượng tăng prolactin máu có thể gây chảy sữa, rối loạn kinh nguyệt, giảm nồng độ estrogen trong máu

* Ở nam có hiện tượng giảm testosterone, gây chứng vú to

4.7.3.2. Tác dụng phụ thần kinh

a) Hội chứng Parkinson do thuốc chống loạn thần

* Đặc trưng bởi 3 triệu chứng: run khi nghỉ ngơi, co cứng, vận động chậm chạp

* Xuất hiện khi BN sử dụng thuốc chống loạn thần hiệu lực cao với hoạt động anticholinergic thấp, hoặc trên BN cao tuổi, có tiền sử bị Parkinson do thuốc

* Xử trí : Có thể giảm liều thuốc chống loạn thần nhưng vẫn đảm bảo kiểm soát các triệu chứng

* Dùng anticholinergic như Trihexyphenidyl 2 – 6 mg hoặc Atropine 0,25 – 0,5mg

b) Loạn trương lực cơ cấp do thuốc chống loạn thần

* Là hiện tượng co cứng các cơ vùng thân, mình, mặt và cổ. Biểu hiện bằng các triệu chứng ưỡn cong người, ưỡn cổ ra sau, vẹo cổ, cơn đảo nhãn cầu, thè lưỡi

Xử trí : Dùng thuốc anticholinergic dạng tiêm bắp như Diphenhydramine 50mg ; Atropin 0,5mg hoặc giãn cơ như Diazepam 10mg

c) Chứng đứng ngồi không yên (akathisia)

* BN biểu hiện bồn chồn, khó chịu, đứng ngồi không yên, đi tới đi lui liên tục

* Xử trí : dùng thuốc anticholinergic hoặc Propranolol 10 – 80mg/ngày

d) Loạn vận động muộn

* Tất cả thuốc CLT cổ điển đều có thể gây rối loạn vận động muộn, gặp ít hơn ở Thioridazine và những thuốc CLT thế hệ mới

* Xử trí

: Giảm liều thuốc CLT đến mức thấp nhất có hiệu quả điều trị. Xem xét việc ngừng thuốc nếu thấy cần thiết. Lựa chọn thuốc CLT khác ít biểu hiện tác dụng phụ vận động: Clozapine …

* Benzodiazepine có thể hữu ích để loại trừ sự khó chịu và lo âu

* Chống chỉ định

thuốc kháng Parkinson vì làm cho trạng thái rối loạn vận động nặng nề hơn

e) Hội chứng ác tính do thuốc

* Nguy hiểm có thể gây tử vong cho BN

* Biểu hiện chính trên lâm sàng: sốt cao, cứng cơ, tăng tỷ lệ créatinine phosphokinase. Các triệu chứng phụ như rối loạn thần kinh thực vật (huyết áp bất thường, nhịp thở nhanh, mạch nhanh), suy giảm ý thức, tăng bạch cầu

* Xử trí : ngưng thuốc chống loạn thần ngay lập tức, hồi sức cấp cứu, theo dõi dấu hiệu sinh tồn bằng monitoring, điều chỉnh nước – điện giải.

* Thuốc doãi cơ: Dantrolen 0,3 – 1 mg/kg IV mỗi 6h

* Thuốc đồng vận Dopaminergic: Bromocriptin 2 – 10mg /8 giờ (uống)

f) Giảm ngưỡng co giật

Thuốc chống loạn thần hiệu lực thấp thường có nguy cơ gây co giật ở những BN tiền sử bị co giật.

g) Gây buồn ngủ

Nên cảnh báo trước với BN về tác dụng phụ này nhất là với nhóm Phénothiazine

4.7.4. THUỐC CHỐNG LO ÂU NHÓM BENZODIAZEPINE

– Ngủ gà. BS nên khuyến cáo cho BN làm nghề lái xe, làm việc trên cao, điều khiển máy móc

– Chóng mặt, thất điều, suy giảm nhận thức, quên thuận chiều. Tác dụng phụ này nên chú ý khi sử dụng trên người già

– Nên thận trọng trên BN suy gan, suy thận (vì dễ gây nguy cơ ngộ độc), BN bị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (do tác dụng ức chế hố hấp của thuốc), BN bị nhược cơ (vì tính dãn cơ của thuốc)

– Có hiện tượng dung nạp, lệ thuộc và cai thuốc. Hội chứng cai thuốc xuất hiện chậm sau 1 – 2 tuần ở BN sử dụng thuốc có thời gian bán hủy kéo dài và có thể biến mất sau 2-3 tuần

V. TÂM LÝ TRỊ LIỆU

Gồm các liệu pháp trị liệu:

* Tâm lý nhận thức hành vi

* Tâm lý nâng đỡ

* Tâm lý nhóm

* Tâm lý gia đình

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Dan J Stein, (2007), The American psychiatric publishing textbook of mood disorder

2. Robert E. Hales, (2008), textbook of psychiatry, 5 th.

3. Kaplan & Sadock’s Synopsis of Psychiatry (2010)

4. International Classiílcation of Diseases – 10 (1995)

Danh Sách Phòng Khám Da Liễu Tại Tp Huế

Thứ Tư, 13-12-2017

Danh sách phòng khám da liễu tại TP Huế

1/Phòng khám Da liễu tại TP Huế – Phòng khám của chúng tôi Lê Đông

Bác sĩ CKI Lê Đông hiện đang là Phó giám đốc Bệnh viện Phong Da liễu tại tỉnh Thừa Thiên Huế với chuyên môn cao và thâm niên trong nghề. Bác sĩ Lê Đông được biết đến là một vị bác sĩ giàu nhiệt huyết và tận tâm với công việc, hết lòng vì người bệnh. Hiện bác sĩ Lê Đông cũng đảm nhận khám chữa các bệnh về da liễu và các dịch vụ chăm sóc da tại phòng khám riêng của mình. Phòng khám của bác sĩ Lê Đông được đánh giá là một trong những phòng khám da liễu duy tín tại TP Huếvà được rất nhiều bệnh nhân biết đến.

Thời gian làm việc:

  • Thừ thứ Hai đến thứ Sáu: Trưa: 11h00 – 13h00; Tối: 17h00 – 20h00
  • Thứ Bảy và Chủ nhật: 8h00 – 20h00

2/Phòng khám Da liễu tại TP Huế – Phòng khám của BS. Thạch và BS. Phương

Bác sĩ Thạch và bác sĩ Phương hiện đang phụ trách tại phòng khám tư nhân trên đường Phạm Văn Đồng, TP Huế. Phòng khám của hai bác sĩ chuyên tiếp nhận khám và điều trị các bệnh ngoài da như viêm da, bạch biến, bạch tạng, ban đỏ, bệnh bong biểu bì bullosa,vảy nến, á sừng, bệnh dời leo – giời leo, bệnh ấu trùng di chuyển ngoài da,… Ngoài ra, phòng khám da liễu của BS. Thạch và BS. Phương còn thực hiện một số dịch vụ như trị mụn, trị nám, tẩy trắng, triệt lông…

Thời gian làm việc:

  • Từ thứ Hai đến thứ Bảy: 7h00 – 19h00
  • Chủ nhật: nghỉ

3/Phòng khám Da liễu tại TP Huế – Phòng khám của BS.Dương Hữu Thành

Bác sĩ Dương Hữu Thành hiện là Phó trưởng khoa của Khoa Da liễu – Bệnh viện Trung Ương Huế. Bên cạnh đó, bác sĩ cũng phụ trách thăm khám, tư vấn và điều trị các bệnh về da và chăm sóc da tại phòng khám tư nhân. Phòng khám Da liễu tại TP Huế của bác sĩ Thành đáp ứng nhu cầu của nhiều bệnh nhân và là một trong những địa chỉ đáng tin cậy về khám da liễu tại địa phương.

Thời gian làm việc:

  • Thứ Bảy: 9h00 – 18h00
  • Chủ nhật: 8h00 – 16h00

4/Phòng khám Da liễu tại TP Huế – Phòng khám của BS Minh Ngọc

Phòng khám chuyên khoa da liễu của bác sĩ Minh Ngọc là một địa chỉ khám da liễu được nhiều người biết đến. Bác sĩ Minh Ngọc có tay nghề giỏi và giàu kinh nghiệm trong ngành da liễu. Bác sĩ chuyên nhận khám và điều trị các bệnh về da như bạch biến, bạch tạng, ban đỏ, bệnh dời leo – giời leo, bệnh da cá, bệnh ấu trùng di chuyển ngoài da, bệnh da đầu, tình trạng ban đỏ và các vấn đề về da khác.

Thời gian làm việc:

  • Từ thứ Hai đến thứ Bảy: 8h00 – 18h00
  • Chủ nhật: nghỉ

5/Phòng khám Da liễu tại TP Huế – Phòng khám của BS Hanh và BS Nhật

Một trong những địa chỉ khám da liễu uy tín tại Huế mà bệnh nhân có thể tham khảo là phòng khám Da liễu của bác sĩ Hanh và bác sĩ Nhật. Phòng khám do hai vị bác sĩ phụ trách có cơ sở vật chất đầy đủ, máy móc và kỹ thuật hiện đại chuyên điều trị các bệnh về da như vảy nến, zona… Ngoài ra, phòng khám cũng có thực hiện các dịch vụ chăm sóc da như trị mụn, trị nám da, trị sẹo lồi bằng laser tiên tiến… theo nhu cầu của khách hàng.

Điện thoại liên hệ: 090 533 43 73

6/Phòng khám Da liễu tại TP Huế – Phòng Khám Da Liễu Việt Pháp

Phòng Khám Da Liễu Việt Pháp do bác sĩ Hoàng Đức Yên phụ trách là điểm đến khám chữa bệnh về da liễu khá quen thuộc của người dân TP Huế. Bác sĩ Hoàng Đức Yên hiện là Trưởng khoa Da liễu tại bệnh viện Trung ương Huế có chuyên môn cao và giàu kinh nghiệm trong việc điều trị các bệnh lý về da như bạch biến, bạch tạng, bệnh da cá, bệnh khô da, bệnh da đầu, ban đỏ,… Phòng khám của bác sĩ Da Liễu Việt Pháp của bác sĩ Hoàng Đức Yên cũng có tiếp nhận điều trị mụn trứng cá, trị nám, sẹo lồi… theo nhu cầu bệnh nhân.

Điện thoại liên hệ: 090 528 04 82

BẠN ĐỌC CÓ THỂ THAM KHẢO THÊM:

Like và Share nội dung này!

Tổng Hợp Danh Sách Bệnh Viện Da Liễu Tốt Nhất Việt Nam

Ngày 13/11/2009, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 4453/QĐ-BYT về việc đổi tên Viện Da liễu Quốc gia thành Bệnh viện Da liễu Trung ương trực thuộc Bộ Y tế.

  • Nghiên cứu mô hình bệnh tật, các phương pháp chẩn đoán, điều trị, dự phòng và phục hồi chức năng các bệnh thuộc chuyên ngành bệnh Phong và Da liễu.
  • Đào tạo cán bộ
  • Công tác khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng

Bệnh viện Da liễu Tp HCM

Bệnh viện Da Liễu TP. Hồ Chí Minh được thành lập theo Quyết định số 466/QĐ-UB ngày 02/05/1977 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở hợp nhất hai Chương trình phòng chống Bệnh phong, Bệnh lây qua tình dục và Khoa Da Bệnh viện Bình Dân.

Hoạt động của Bệnh Viện Da Liễu chúng tôi không ngừng lớn mạnh, phát triển đồng thời từng bước hoàn thiện mạng lưới Da liễu tại TP.Hồ Chí Minh nói riêng, và các tỉnh phía Nam cũ nói chung, phụ trách cả 3 nhóm bệnh: các bệnh da, các BLTQĐTD và bệnh Phong.

Bệnh viện Da liễu Hà Nội

Căn cứ Quyết định số 2821/Q Đ-UB ngày 10/5/2004 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà nội, về việc thành lập Bệnh viện Da liễu trên cơ sở tổ chức lại Trung tâm da liễu.

Khám và điều trị các bệnh về da, các nhiễm khuẩn, lây truyền qua đường tình dục và bệnh nhân bị nhiễm HIV/AIDS. Bên cạnh đó, bệnh viện còn có tư vấn, tuyên truyền, giáo dục. vận động phòng chống các bệnh về da, hoa liễu, các bệnh nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục và phòng chống HIV/AIDS.

Bệnh viện Da liễu Đà Nẵng

Trải qua 40 năm kể từ ngày thành lập Bệnh viện Da liễu Quảng Nam Đà Nẵng và nay là Bệnh viện Da liễu thành phố Đà Nẵng, những bước đi và trưởng thành của bệnh viện đã cho thấy về truyền thống đoàn kết, về tinh thần chịu đựng gian khổ, vượt qua mọi khó khăn thử thách.

  • Khám và chữa nội ngoại trú cho bệnh nhân mắc các bệnh ngoài da, các bệnh Hoa liễu.
  • Tuyên truyền giáo dục nhân dân phòng các bệnh ngoài da và sự nguy hiểm của bệnh Hoa liễu.
  • Điều trị một số bệnh da chuyên sâu, như điều trị các sẹo lõm do hậu quả của mụn trứng cá hay do bệnh Thủy đậu gây ra, các bớt tăng sắc tố, các vết xăm sâu, xóa nếp nhăn… mà nhu cầu người dân rất cao.

Bệnh viện Da liễu Cần Thơ

Bệnh viện da liễu Cần Thơ được biết đến là địa chỉ tin cậy, là nơi được nhiều người biết đến bởi hệ thống đội ngũ bác sĩ chuyên nghiệp và chất lượng khám, chữa bệnh về da đạt chất lượng cao.

Bệnh viện Da liễu Hải Phòng

Bệnh viện Da liễu Thanh Hóa

Bệnh viện Da liễu Thanh Hóa được thành lập theo Quyết định số: 4052/ QĐ – UBND, ngày 15 tháng 12 năm 2008, trên cơ sở TTPC bệnh da liễu trước đây. Bệnh viện với qui mô 100 gường ( 50 gường ở số 195 Hải thượng Lãn Ông – TPTH, 50 gường xã Cẩm Bình huyện Cẩm Thủy).

Bệnh viện Da liễu Nha Trang-Khánh Hòa

Được thành lập từ năm 1982 trên cơ sở sát nhập 3 đơn vị: Trạm Da liễu, Khoa Da liễu Bệnh viện Tỉnh và khu điều trị phong Núi sạn; với quy mô ban đầu chỉ từ 40-50 giường.

Bệnh viện Da liễu Quy Nhơn

Ngày 26 tháng 8 năm 1999, tại Quyết định số 1572/1999/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc đổi tên và quy định lại chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Khu điều trị Phong Quy Hòa thành Bệnh viện Phong và Da liễu Quy Hòa trực thuộc Bộ Y tế, Phòng Tổ chức cán bộ được kiện toàn lần thứ nhất, đổi tên thành Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa.

Spa Trị Mụn Ở Huế Tốt Nhất

Bạn đang tìm spa trị mụn ở Huế ?

Khi nang lông bị các chất nhờn, tế bào chết, bụi bẩn làm tắc nghẽn thì sẽ hình thành nên mụn, một số trường hợp còn bị mụn nội tiết.

Điều trị mụn quả thật là một việc không dễ dàng, thậm chí nhiều người đã thử vô số cách, điều trị cả đời mà không khỏi.

Trong số những nơi trị mụn hiện nay thì spa được nhiều người tin tưởng lựa chọn. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều thắc mắc có nên điều trị mụn ở đó không, nếu không thì chọn địa chỉ nào an toàn và uy tín?

Các Spa trị mụn ở huế tốt nhất hiện nay có những điều gì để thu hút khách hàng

Điều trị mụn ở spa uy tín bạn có thể hoàn toàn an tâm về mức độ đáng tin cậy và bảo đảm an toàn. Bởi spa uy tín, chuyên điều trị các bệnh về da, phòng và ngăn chặn các tình trạng nhiễm khuẩn.

Đảm bảo độ an toàn cao hơn so với các trung tâm, phòng khám da liễu khác. Vì tại spa uy tín, người bệnh sẽ được các bác sĩ trong ngành, am hiểu chuyên môn và kiến thức để đưa ra giải pháp điều trị bệnh về da phù hợp nhất.

Grace Beauty Spa & Clinic – Nơi chất lượng lên ngôi.

Giữa vô vàng các spa, trung tâm thẩm mỹ như hiện nay, thì đâu mới là địa chỉ uy tín, đáng tin cậy để bạn có thể yên tâm điều trị mụn ?

Đó chắc hẳn là một địa chỉ có cơ sở vật chất khang trang, máy móc hiện đại, dịch vụ chăm sóc khách hàng chu đáo và ứng dụng liệu trình điều trị mụn chuyên sâu hiệu quả. Điển hình là GRACE BEAUTY SPA & CLINIC tại 50 Đoàn Hữu Trưng, TP.Huế.

Là một Spa trị mụn ở huế tốt nhất về chăm sóc da với đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp. Tất cả nhân viên đều được đào tạo bài bản và luôn tâm huyết với nghề. Cẩn thận, tỉ mỉ, vui vẻ, nhiệt tình là yêu cầu cơ bản mà Grace Beauty đặt ra cho nhân viên của mình.

Không gian thoải mái và sang trọng Không gian GRACE luôn được chau chuốt và đầu tư. Ở Grace Beauty, sạch sẽ và sang trọng, đưa lại cảm giác thư thái và dể chịu cho khách hàng.

Hãy đến Grace Beauty Spa & Clinic Huế để được trải nghiệm những dịch vụ làm đẹp, thư giãn cao cấp và chất lượng trong không gian sang trọng.

Chúng tôi luôn có những chương trình ưu đãi hấp dẫn dành cho quý khách hàng quan tâm.

Lễ Ra Mắt Bệnh Viện Mắt Và Da Liễu Hải Dương

15 Phương Mai – Đống Đa – Hà Nội [email protected]

HOẠT ĐỘNG CHUNG

PGS. TS Trần Hậu Khang – Giám đốc bệnh viện Da liễu Trung ương phát biểu chúc mừng tại Lễ ra mắt thành lập bệnh viện Mắt và Da liễu, tỉnh Hải Dương

Trải qua 10 năm xây dựng phát triển và trưởng thành của Trung tâm phòng chống bệnh xã hội (TTPCBXH) tỉnh Hải Dương, trong những năm qua Trung tâm đã đạt được nhiều thành tích nổi bật trong công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân tỉnh nhà.

Trung tâm PCBXH đã làm tốt công tác tham mưu cho UBND, Sở y tế tỉnh Hải Dương; hoàn thành vượt chỉ tiêu kế hoạch hàng năm; thực hiên đúng nội dung Dự án, chương trình của tỉnh đề ra; kiểm soát tốt dịch bệnh; cùng Bệnh viện Da liễu Trung ương và Viện Mắt Trung ương xây dựng mạng lưới da liễu và mắt hoạt động có hiệu quả cao; phối hợp với các đơn vị trong phòng bệnh và chữa bệnh cho nhân dân tỉnh Hải Dương và các tỉnh lân cận.

Căn cứ vào nhân lực, vật lực của đơn vị. Căn cứ vào tình hình kinh tế, dân số, nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Ban lãnh đạo TTPCBXH tỉnh Hải Dương đã xây dựng đề án thành lập Bệnh viện Mắt và Da liễu Hải Dương lên UBND, Sở y tế. Được sự nhất trí của HĐND, UBND tỉnh, cùng với sự phối hợp của các Sở – Ban ngành, Bệnh viện Mắt và Da liễu được thành lập theo quyết định số 400/QĐ/UBND ngày 06/2/2013 của UBND tỉnh Hải Dương.

Tới dự lễ ra mắt Bệnh viện Mắt và Da liễu Hải Dương có đông đủ Lãnh đạo UBND, Sở y tế, các đơn vị trong ngành y tế tỉnh Hải Dương. Đặc biệt, tới dự buổi lễ có PGS. TS. Trần Hậu Khang – giám đốc Bệnh viện Da liễu Trung ương đã chúc mừng bệnh viện Mắt và Da liễu Hải Dương. PGS. TS. Trần Hậu Khang chia sẻ, việc thành lập Bệnh viện Mắt và Da liễu Hải Dương đã đáp ứng mong mỏi của cán bộ TTPCBXH là xây dựng ngành Da liễu lớn mạnh ngang tầm khu vực, giảm thiểu quá tải cho tuyến trên và đáp ứng tốt nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân tỉnh Hải Dương và các tỉnh lân cận.

PGS. TS Trần Hậu Khang – Giám đốc bệnh viện Da liễu Trung ương tặng hoa chúc mừng bệnh viện Mắt và Da liễu, tỉnh Hải Dương

PGS. TS Trần Hậu Khang – Giám đốc bệnh viện Da liễu Trung ương cùng các cán bộ BVDLTW dự buổi lễ thành lập Bệnh viện Mắt và Da liễu Hải Dương

Comments

DÀNH CHO BỆNH NHÂN Hướng dẫn khám bênh

Lịch khám chữa bệnh

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ – BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG

Địa chỉ: 15A – Phương Mai – Quận Đống Đa – Hà Nội

Emaill: [email protected]

Giấy phép số 79/GP-TTĐT do Cục PTTH và TTĐT – Bộ TT&TT cấp ngày 30/6/2016.

Trưởng ban biên tập: chúng tôi Nguyễn Văn Thường – Giám đốc Bệnh viện

Bản quyền: Bệnh viện Da liễu Trung ương

Ghi rõ nguồn: Bệnh viện Da liễu Trung ương hoặc http//:dalieu.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này

QUY TRÌNH

Nhận phiếu đăng ký khám bênh

Đóng tiền khám và nhận biên lai

Nộp phiếu đăng ký nhận số thứ tự

CHI PHÍ

Bảng chi phí khám chữa bệnh tại Bệnh Viện Da Liễu Trung Ương do Bộ Y Tế phê duyệt

DÀNH CHO BỆNH NHÂN

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ – BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG

Địa chỉ: 15A – Phương Mai – Quận Đống Đa – Hà Nội

Điện thoại: 024.32222944 Fax: 024.38522665

Emaill: [email protected]

Giấy phép số 79/GP-TTĐT do Cục PTTH và TTĐT – Bộ TT&TT cấp ngày 30/6/2016

Trưởng ban biên tập: chúng tôi Nguyễn Văn Thường – Giám đốc Bệnh viện

Bản quyền: Bệnh viện Da liễu Trung ương

Ghi rõ nguồn: Bệnh viện Da liễu Trung ương hoặc http//:dalieu.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này

Đón Tết Ấm Áp Nghĩa Tình Tại Nơi Điều Trị Cho Bệnh Nhân Phong

Ngày 4/1, đoàn công tác của BV Da liễu Trung ương đã đến trao quà Tết cho bệnh nhân phong tại BV Phong và Da liễu Thái Bình – nơi chăm sóc và điều trị cho 133 bệnh nhân phong nội trú, 86 bệnh nhân ngoại trú. Đây là những bệnh nhân mắc phong và bị di chứng rất nặng từ nhiều năm trước.

PGS.TS Nguyễn Văn Thường – Giám đốc BV Da liễu Trung ương cho biết, nhờ được chăm sóc, điều trị và có cuộc sống thoải mái, vui vẻ nên các bệnh nhân phong ở đây có tuổi thọ cao và cuộc sống chất lượng. PGS. Thường mong muốn các bệnh nhân phong sẽ đón một cái Tết Nguyên đán đầm ấm, vui vẻ.

Giám đốc BV Da liễu Trung ương cũng cho hay, nhờ sự phát triển của y học phát triển, ngày nay, bệnh phong đã bị loại trừ, khống chế được lây lan. Sự kỳ thị trong cộng đồng đối với bệnh nhân phong cũng giảm đến 90%. Tuy vậy, những di chứng bệnh tật do bệnh phong để lại cho người bệnh vẫn còn nặng nề và cần sự quan tâm chia sẻ của cộng đồng, cộng đồng nên có cái nhìn đúng đắn, thông cảm và không nên kỳ thị với những người bệnh phong.

GS.TS Nguyễn Hữu Sáu – Phó Giám đốc BV Da liễu Trung ương chia sẻ, những người bệnh phong là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi, cho nên như thường lệ hàng năm, BV chúng tôi đều tổ chức các đoàn công tác thăm hỏi và trao quà cho bệnh nhân. Đây là nguồn động viên rất lớn với bệnh nhân phong, mong họ vượt qua tất cả khó khăn trong cuộc sống.

Hiện nay, sự kỳ thị đối với bệnh nhân phong đã giảm rất nhiều so với trước đây, nhưng đâu đó nhiều người vẫn có tâm lý e ngại khi tiếp xúc với họ. Chia sẻ về điều này, GS. Sáu khẳng định, bệnh phong tuy là bệnh truyền nhiễm nhưng rất khó lây, lây ít và lây chậm. Tất cả sự tàn tật ở người bệnh mà chúng ta nhìn thấy là hậu quả của tổn thương thần kinh do bệnh trực khuẩn gây nên, và những tàn tật này hoàn toàn không lây nhiễm.

Những người mắc bệnh phong sau khi được điều trị rồi thì hoàn toàn là người khỏe mạnh bình thường, những tàn tật của họ cũng chỉ giống như mắc các tàn tật khác – chuyên gia cho hay.

Khi nghi ngờ có triệu chứng của bệnh phong (như thương tổn da kèm theo mất cảm giác nóng, lạnh, đau…), người dân cần đến các cơ sở y tế để được tư vấn, chẩn đoán và điều trị kịp thời, tránh tàn tật có thể xảy ra.

Tất cả các bệnh nhân phong được điều trị bằng đa hóa trị liệu đủ liều, đủ thời gian quy định. Điều trị tại nhà và miễn phí hoàn toàn. Trường hợp có biến chứng có thể điều trị nội trú tại các cơ sở y tế. Nếu phát hiện sớm thì chỉ sau 6 tháng đến một năm điều trị là có thể khỏi bệnh hoàn toàn, không để lại di chứng.

Được biết, trong dịp cận Tết Nguyên đán 2021, BV Da liễu Trung ương tiếp tục tổ chức nhiều hoạt động thiện nguyện cho các bệnh nhân phong điều trị tại BV Phong và Da liễu Trung ương Quỳnh Lập (Nghệ An), BV Phong Chí Linh (Hải Dương), BV Phong và Da liễu Bắc Ninh…

Bài viết: chúng tôi

Niềm Vui Tết Đến Sớm Với Những Bệnh Nhân Phong

Bệnh phong do vi khuẩn Mycobacterium leprae gây ra. Bệnh không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý người bệnh.Trước đây, người bệnh thường chịu thành kiến sai lầm, chịu sự hắt hủi, xa lánh của cộng đồng.

Bệnh viện Da liễu Trung ương là bệnh viện chuyên khoa đầu ngành, chỉ đạo chương trình phòng chống phong quốc gia. Thấu hiểu được nỗi khổ của người bệnh, đội ngũ y bác sỹ bệnh viên luôn tận tâm điều trị, chia sẻ với hoàn cảnh của họ.

Với tinh thần sẻ chia đó, từ ngày 4 đến ngày 19 tháng 1 năm 2021, Bệnh viện Da liễu Trung ương đã tổ chức thăm hỏi và chúc tết tới các bệnh nhân phong tại các khu điều trị bệnh phong.

Nhằm góp phần mang không khí ấm áp của mùa xuân đến với bà con bệnh nhân Phong tại các khu điều trị Phong trên cả nước chuẩn bị đón xuân Kỷ hợi 2021. Đã thành thông lệ hàng năm, Ban Giám đốc bệnh viện Da liễu Trung ương, Ban chấp hành công đoàn Bệnh viện, Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến cùng cán bộ nhân viên trong bệnh viện đã đến động viên, chia sẻ, thăm hỏi và tặng quà bà con bệnh nhân Phong tại các khu điều trị phong:

– Bệnh viện Phong Chí Linh, Hải Dương

– Khu điều trị Phong Sông Mã, Sơn La

– Khu điều trị Phong Cẩm Thủy, Thanh Hóa

– Bệnh viện Phong tỉnh Hà Nam

– Bệnh viện Da liễu Bắc Ninh (Quả Cảm)

– Bệnh viện Da liễu tỉnh Thái Bình cơ sở 2 (Văn Môn)

– Khu điều trị Phong Quốc Oai, Hà Nội

– Khu điều trị Phong Nậm Zin, ĐIện Biên

– Khu điều trị Phong Phú Bình, Thái Nguyên

– Bệnh viện Phong và Da liễu Trung ương Quỳnh Lập, Nghệ An

– Bệnh nhân nội trú tại Bệnh viện Da liễu Trung ương.

PGS.TS Nguyên Văn Thường, Giám đốc Bệnh viện Da liễu Trung ương đã gửi lời chúc mừng năm mới, chúc sức khỏe tới các bệnh nhân phong cũng như gia đình người bệnh kèm theo những món quà ý nghĩa.

“Bệnh phong là bệnh mà khiến người mắc phải đã rất khổ rồi, nhiều khi vẫn còn có bệnh nhân bị xa lánh.Vì vậy thì các chương trình chống phong vẫn sẽ được tiếp tục thực hiện, tuy nhiên, cộng đồng chúng ta vẫn nên chia sẻ với các bệnh nhân mắc phong, và đặc biệt là các bác sĩ làm công tác phòng chống phong tại cộng đồng.Dù nước ta đã có chính sách cho các bác sĩ hoạt động cộng đồng trong công tác phòng chống bệnh phong nhưng vẫn cần quan tâm các bác sĩ hơn nữa”, chúng tôi Nguyễn Văn Thường cho biết.

Những trại Phong hiện nay là “ngôi nhà chung” của rất nhiều bệnh nhân phong có độ tuổi từ 50-100. Hình ảnh những mái tóc đã ngả bạc và những khuôn mặt buồn bã của những mảnh đời kém may mắn mà không ai có thể không xót thương. Cảm nhận những khó khăn, với truyền thống tương thân tương ái, những món quà chứa đựng tấm lòng và tình thương của các cán bộ Bệnh viện Da liễu Trung ương góp phần làm ấm lòng và đem lại không khí ngày xuân cho những bệnh nhân phong.

Dường như, Tết đã đến sớm hơn tới những khu điều trị phong!

Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Hải Dương

Để phục vụ tốt việc chẩn đoán và điều trị bệnh, Bệnh viện Đa khoa Tỉnh đã đầu tư hệ thống trang thiết bị hiện đại như: Hệ thống máy xét nghiệm sinh hóa, huyết học, vi sinh thế hệ mới, hiện đại, thực hiện chính xác các xét nghiệm, phát hiện các chỉ số bất thường trong cơ thể để có hướng điều trị…Cùng với máy xét nghiệm là máy chụp cắt lớp vi tính CT Scaner 128 dãy; máy chụp cộng hưởng từ, máy Spect CT( Spect ci ty) dùng dược xạ chẩn đoán bệnh, máy siêu âm 3 chiều, 4 chiều; và nhiều thiết bị y tế hiện đại đảm bảo khám chữa trị hiệu quả nhiều loại bệnh khác nhau…

Việc tổ chức khám bệnh vào ngày nghỉ như ngày thường sẽ giúp cho tất cả mọi người và đặc biệt là tạo điều kiện cho đối tượng là công nhân đang lao động tại các khu công nghiệp đến khám bệnh và khám sức khỏe định kỳ thuận lợi hơn.

Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật giảm đau sau mổ bằng phương pháp PCA từ bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương đã cử cán bộ tham gia đào tạo kỹ thuật “Giảm đau sau mổ PCA” theo Dự án Norred, sau đó các chuyên gia của Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức về trực tiếp hướng dẫn. Ngày 29/5/2018 BVĐK tỉnh Hải Dương đã được nghiệm thu, tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật “Giảm đau sau mổ bằng PCA” từ Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương ứng dụng thành công kỹ thuật Y Học Hạt nhân trong chẩn đoán sớm và theo dõi điều trị bệnh ung thư

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương đã đưa vào sử dụng hệ thống máy xạ hình SPECT hai đầu thu. Đây là thiết bị tân tiến giúp phát hiện ung thư giai đoạn sớmvà theo dõi điều trị ung thư, mở ra những hướng chuyên sâu trong công tác khám chữa bệnh chuyên ngành ung bướu.

Sau thời gian triển khai 6 tháng (từ tháng 11 năm 2021 đến nay), Đơn vị Y học hạt nhân trực thuộc Trung tâm Ung bướu Bệnh viện Đa khoa Hải Dương đã tiến hành xạ hình cho 400 ca bệnh nhân, phát hiện 95 trường hợp bệnh lý tổn thương xương, thận, tuyến giáp…, trong đó có 80 ca bệnh di căn xương. Việc triển khai tiếp nhận và sử dụng hệ thống SPECT hai đầu thu đánh dấu bước đột phá trong chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư tại tỉnh nhà.

Với thiết bị hiện đại này, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương sẽ tiếp tục nâng cao chất lượng trong chẩn đoán ung thư giai đoạn sớm, ứng dụng trong điều trị nội khoa các bệnh lý ung thư, đặc biệt là tiền đề cho triển khai kỹ thuật xạ trị điều trị ung thư dự kiến vào quý III năm 2021. Với việc đầu tư trang bị và ứng dụng thành công kỹ thuật này, người dân trên địa bàn tỉnh Hải Dương cũng như khu vực lân cận sẽ được thụ hưởng các dịch vụ y tế kỹ thuật cao, chuyên sâu, đồng thời giảm tình trạng quá tải cho bệnh viện tuyến trung ương.