Top 3 # Xem Nhiều Nhất Ung Thư Mạch Bạch Huyết Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Viêm Mạch Bạch Huyết Là Bệnh Gì?

Viêm mạch bạch huyết là bệnh gì?

Viêm mạch bạch huyết là tình trạng viêm nhiễm hệ thống bạch huyết, một phần chính của hệ thống miễn dịch. Hệ bạch huyết là một mạng lưới gồm các cơ quan, tế bào, ống dẫn và các tuyến. Các tuyến còn được gọi là các hạch và có thể được tìm thấy xuyên suốt khắp cơ thể. Chúng rõ nhất dưới hàm, ở nách và ở háng.

Các cơ quan tạo nên hệ bạch huyết bao gồm:

Amidan – nằm ở vùng cổ họng

Lá lách – có chức năng thanh lọc máu và nhiều chức năng khác.

Tuyến ức, một cơ quan trên ngực giúp tế bào bạch cầu phát triển.

Các tế bào miễn dịch, được gọi là các lymphocyte, phát triển trong tủy xương, sau đó di chuyển đến các mạch bạch huyết và các cơ quan khác trong hệ thống bạch huyết giúp bảo vệ cơ thể chống lại các loại virus và vi khuẩn. Hệ thống bạch huyết cũng lọc dịch bạch huyết (nơi chứa các tế bào bạch cầu giết chết vi khuẩn).

Dịch bạch huyết di chuyển khắp cơ thể dọc theo các mạch bạch huyết và thu thập các chất béo, vi khuẩn, các chất thải khác từ tế bào và các mô. Hạch bạch huyết sau đó lọc các chất độc hại ra khỏi chất dịch này và sản xuất nhiều tế bào bạch cầu để chống lại sự nhiễm trùng.

Viêm mạch bạch huyết đôi khi được gọi là nhiễm độc máu. Bệnh có thể nhầm lẫn với chứng huyết khối tĩnh mạch, là một cục máu đông trong lòng tĩnh mạch.

Những dấu hiệu và triệu chứng của viêm mạch bạch huyết là gì?

Bạn có thể thấy những sọc đỏ trên bề mặt da từ khu vực bị nhiễm bệnh tới tuyến bạch huyết gần nhất. Chúng có thể mờ hoặc rất rõ ràng và rất nhỏ. Những vết này có thể kéo dài từ vết thương hoặc vết cắt. Trong một số trường hợp, chúng có thể kèm mụn nước.

Các triệu chứng khác bao gồm:

Ớt lạnh

Sưng hạch bạch huyết

Sốt

Tình trạng khó chịu hoặc cảm giác không khỏe

Mất cảm giác ngon miệng

Nhức đầu

Đau cơ.

Bạn có thể gặp các triệu chứng khác không được đề cập. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về các dấu hiệu bệnh, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ.

Khi nào bạn cần gặp bác sĩ?

Nếu bạn có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào được liệt kê ở trên hoặc có bất kỳ câu hỏi nào, vui lòng tham khảo ý kiến của ​​bác sĩ. Cơ địa mỗi người khác nhau. Tốt nhất bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ để có được lời khuyên tốt nhất cho bạn.

Nguyên nhân nào gây ra viêm mạch bạch huyết?

Viêm mạch bạch huyết nhiễm khuẩn xảy ra khi vi khuẩn hoặc virus xâm nhập vào các kênh bạch huyết. Chúng có thể đi xuyên qua vết cắt hay vết thương hoặc phát triển từ một nhiễm trùng hiện có.

Nguyên nhân gây nhiễm khuẩn phổ biến nhất của viêm mạch bạch huyết thường là nhiễm khuẩn liên cầu hoặc nhiễm khuẩn tụ cầu. Cả hai bệnh này đều là nhiễm trùng do vi khuẩn.

Viêm mạch bạch huyết có thể xảy ra nếu bạn đã mắc một nhiễm trùng da và nó đang diễn tiến xấu đi, điều này có nghĩa là vi khuẩn sẽ sớm xâm nhập vào máu. Các biến chứng như nhiễm khuẩn huyết, tình trạng viêm toàn thân có thể đe dọa tính mạng.

Những yếu tố nào làm tăng nguy cơ mắc viêm mạch bạch huyết?

Có rất nhiều yếu tố làm tăng nguy cơ mắc viêm mạch bạch huyết như:

Tiểu đường

Suy giảm miễn dịch hoặc mất chức năng miễn dịch

Dùng steroid trong thời gian dài

Vết mèo hay chó cắn cũng có thể gây nhiễm trùng và dẫn đến viêm mạch bạch huyết.

Ngoài ra, còn có các nguyên nhân khác như ung thư (ung thư vú, phổi, dạ dày, tụy, ung thư trực tràng và ung thư tuyến tiền liệt). Viêm mạch bạch huyết cũng xuất hiện ở những người mắc bệnh Crohn.

Điều trị viêm mạch bạch huyết

Những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của các chuyên viên y tế. Hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ.

Những kỹ thuật y tế nào dùng để chẩn đoán viêm mạch bạch huyết?

Để chẩn đoán viêm mạch bạch huyết, bác sĩ sẽ khám tổng quát, chẳng hạn như kiểm tra xem hạch bạch huyết có sưng hay to lên không. Bác sĩ cũng có thể yêu cầu các xét nghiệm như sinh thiết để phát hiện nguyên nhân sưng hạch hoặc cấy máu nếu nghi ngờ có nhiễm trùng trong máu.

Những phương pháp nào dùng để điều trị viêm mạch bạch huyết?

Điều trị viêm mạch bạch huyết phụ thuộc vào nguyên nhân cơ bản gây nhiễm trùng.

Các lựa chọn điều trị viêm mạch bạch huyết có thể bao gồm:

Nghỉ ngơi

Chườm ấm

Kê cao vùng nhiễm trùng

Thuốc kháng viêm không steroid khi đau:

Ibuprofen (Motrin®, Nuprin®, NeoProfen®, Advil®)

Ketoprofen (Orudis®, Actron®, Oruvail®)

Naproxen (Naprosyn®, Aleve®, Aanaprox®)

Thuốc giảm đau gây ngủ:

Để điều trị cơn đau từ vừa đến nặng

Dùng để điều trị trong thời gian ngắn.

Điều trị kháng sinh:

Dicloxacillin

Cephalexin (Keflex®)

Nafcillin

Cefuroxime (Zinacef®)

Ceftriaxone (Rocephin®)

Trimethoprim và sulfamethoxazole (TMP / SMZ, Bactrim®, Septra®)

Clindamycin (Cleocin®)

Phẫu thuật đối với viêm mạch bạch huyết

Thuốc gây tê tại chỗ được tiêm vào các mô bao quanh ổ áp xe

Tạo một vết rạch trên da, để thoát mủ ổ áp xe

Da được khử trùng bằng xà phòng kháng khuẩn hoặc rửa với cồn

Trong vài trường hợp, một miếng gạc vô trùng hoặc ống dẫn lưu được chèn trong khoang áp xe. Ống hoặc gạc được đặt bên trong khoang thường được lấy ra sau 24-36 giờ.

Những thói quen sinh hoạt nào giúp bạn hạn chế diễn tiến của viêm mạch bạch huyết?

Mạch bạch huyết là một phần của hệ thống miễn dịch trong cơ thể, nên nếu hệ thống này bị tổn thương có thể dẫn đến tình trạng nguy hiểm đến tính mạng. Nếu bạn cảm nhận một hạch nào đó trên cơ thể sưng to hay bất thường, hãy đi khám bác sĩ để được tư vấn cách điều trị cần thiết nhất. Ngoài ra, một mạch bạch huyết to cũng rất có thể là diễn tiến của một tiến trình ung thư.

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để được tư vấn phương pháp hỗ trợ điều trị tốt nhất.

Hello Bacsi không đưa ra các lời khuyên, chẩn đoán hay các phương pháp điều trị y khoa.

Ung Thư Bạch Huyết (Lymphoma)

Hạch bạch huyết hay hạch lympho là một trong vô số các cấu trúc trơn, hình bầu dục dẹp, rải rác dọc theo các mạch bạch huyết, là một phần của hệ bạch huyết. Các hạch bạch huyết có mặt ở khắp cơ thể, tập trung nhiều ở một số vùng như cổ, nách, bẹn. Hạch bạch huyết đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động của hệ miễn dịch. Chúng chứa các tế bào bạch huyết và có chức năng làm bộ lọc hoặc bẫy giữ lại các phần tử ngoại lai, có thể bị viêm và sưng khi làm nhiệm vụ này.

Ung thư bạch huyết là một loại ung thư xuất phát từ các tế bào của hệ miễn dịch được gọi là các tế bào bạch huyết (tế bào lympho). Giống như các loại ung thư khác, ung thư bạch huyết xảy ra khi các tế bào bạch huyết rơi vào tình trạng phát triển và sinh sản mất kiểm soát.

Các tế bào lympho là các bạch cầu di chuyển khắp nơi trong cơ thể bên trong một loại dịch được gọi là dịch bạch huyết. Chúng được vận chuyển bởi một mạng lưới các mạch tạo thành hệ bạch huyết, là một phần của hệ miễn dịch. Hệ bạch huyết, có nhiệm vụ chống lại nhiễm trùng hoặc bất cứ tác nhân nào đe dọa cơ thể, còn bao gồm các hạch bạch huyết nằm khắp nơi trong cơ thể để lọc dịch bạch huyết chảy qua chúng. Các hạch bạch huyết sẽ sưng nề và đau khi có một lượng lớn các vi sinh vật tập trung bên trong, và đó là dấu hiệu của tình trạng nhiễm trùng cục bộ.

Có 2 loại tế bào lympho chính: tế bào B và tế bào T. Cả 2 loại đều được thiết kế để nhận biết và tiêu diệt các tác nhân nhiễm trùng và các tế bào bất thường. Tế bào B sản xuất ra các protein đi khắp nơi trong cơ thể, dính vào các vi sinh vật gây nhiễm và các tế bào bất thường rồi báo động cho hệ miễn dịch biết rằng tác nhân gây bệnh này cần phải được tiêu diệt. Các tế bào T mới thật sự tiêu diệt trực tiếp các tác nhân gây bệnh và thực hiện chức năng điều hòa hệ miễn dịch khi chúng đang ở trong tình trạng kém hoạt động hay hoạt động quá mức.

Ung thư bạch huyết xảy ra khi tế bào B hoặc T trở nên tăng trưởng và sinh sản mất kiểm soát. Các tế bào lympho bất thường tập trung trong một hoặc nhiều hạch bạch huyết hoặc trong các mô bạch huyết như lách hay amidan để rồi cuối cùng tạo thành một khối gồm nhiều tế bào được gọi là khối u. Các khối u lớn lên và xâm lấn vào khu vực của các mô và các cơ quan xung quanh, chiếm đoạt oxy và chất dinh dưỡng của chúng.

Nếu các tế bào lympho di chuyển từ hạch bạch huyết này sang hạch bạch huyết khác hoặc sang những cơ quan khác, ta gọi đây là hiện tượng ung thư di căn. Ung thư bạch huyết tiến triển ra bên ngoài mô bạch huyết được gọi là ung thư bạch huyết ngoài hạch.

Mỗi năm tại Hoa Kỳ có khoảng 54.000 người được chẩn đoán bị ung thư bạch huyết không-Hodgkin, và 7.000 người được chẩn đoán bị ung thư bạch huyết Hodgkin. Nó là loại ung thư máu thường gặp nhất tại Hoa Kỳ. Tại Châu Âu, người ta phát hiện ra khoảng 50.000 trường hợp ung thư bạch huyết không-Hodgkin mỗi năm.

Phân loại ung thư bạch huyết

Có 2 loại ung thư bạch huyết: ung thư bạch huyết Hodgkin (còn được gọi là bệnh Hodgkin) và không-Hodgkin. Cả hai loại này có thể xảy ra ở những vị trí giống nhau và gây ra những triệu chứng tương tự nhau. Sự khác biệt của chúng chỉ nhận biết được qua kính hiển vi.

Ung thư bạch huyết Hodgkin xuất phát từ một dòng tế bào B bất thường đặc hiệu. Có 5 loại ung thư bạch huyết Hodgkin. Ung thư bạch huyết không-Hodgkin có thể xuất phát từ các tế bào B hoặc T bất thường và có khoảng 30 loại được phân biệt bằng những chất đánh dấu di truyền đặc hiệu. Do ung thư bạch huyết có rất nhiều nhóm nhỏ nên việc phân loại chúng rất phức tạp và phải dựa vào những đặc điểm vi thể, di truyền, và hình dạng phân tử.

Mặc dù có vài loại ung thư bạch huyết không-Hodgkin có vẻ tương tự nhau nhưng chúng có cơ chế khác nhau và đáp ứng khác nhau với điều trị. Các thể ung thư bạch huyết Hodgkin được phân biệt dựa trên những khác biệt vi thể quan sát được qua kính hiển vi cũng như mức độ lan rộng của bệnh.

Nguyên nhân ung thư bạch huyết

Về cơ bản thì ung thư là kết quả của các tế bào phát triển không kiểm soát và không chết đi. Các tế bào bình thường trong cơ thể tuân theo một con đường bất di bất dịch là: lớn lên, phân chia và chết đi. Sự chết đi của tế bào theo chương trình được gọi là apoptosis, và nếu như quá trình này bị phá hủy thì ung thư sẽ xảy ra. Các nhà khoa học không biết chính xác nguyên nhân gây ra ung thư bạch huyết nhưng họ đã xác định được một số yếu tố nguy cơ.

Di truyền: Ung thư bạch huyết có thể là kết quả của di truyền từ những thành viên trong gia đình. Một người được sinh ra với những đột biến gen nhất định hoặc một chỗ sai sót trong gen làm cho người này về mặt thống kê dễ phát triển thành ung thư sau này.

Các yếu tố khác: Khi chúng ta càng lớn tuổi thì những đột biến có thể gây ung thư trên DNA càng xuất hiện nhiều hơn. Nguy cơ bị ung thư bạch huyết không-Hodgkin gia tăng khi lớn tuổi và ung thư bạch huyết Hodgkin thường gặp nhất ở độ tuổi từ 16-34 và từ 55 tuổi trở lên. Ngoài ra, những bệnh khác có thể làm gia tăng tỷ lệ bị ung thư bạch huyết bao gồm: nhiễm HIV, nhiễm virus tế bào T type 1 ở người (HTLV-1: human T-lymphocytic virus type 1), nhiễm Epstein-Barr virus, nhiễm Helicobacter pylory, hoặc virus viêm gan B hoặc C; các bệnh tự miễn (chẳng hạn như bệnh lupus); những bệnh cần phải được điều trị ức chế miễn dịch; và những bệnh gây suy giảm miễn dịch khác.

Triệu chứng ung thư bạch huyết

Các triệu chứng của ung thư khá khác nhau và tùy thuộc vào vị trí của ung thư, nơi mà nó lan rộng, và độ lớn của khối u. Ung thư bạch huyết thường có biểu hiện đầu tiên là cảm thấy có những chỗ sưng nề ở cổ, nách, hoặc bẹn. Ngoài ra, có thể thấy những vị trí sưng nề khác ở nơi các hạch bạch huyết xuất hiện, chẳng hạn như ở lách. Thông thường, các hạch bạch huyết lớn có thể xâm lấn khu vực các mạch máu, dây thần kinh, hoặc dạ dày, làm cho bệnh nhân bị sưng nề tay, chân, tê ngứa, hoặc cảm thấy đầy bụng.

Ung thư bạch huyết còn có các triệu chứng không đặc hiệu, chẳng hạn như sốt, lạnh run, sụt cân không rõ nguyên nhân, đổ mồ hôi đêm, lơ mơ, và ngứa ngáy.

Chẩn đoán và phân độ ung thư bạch huyết

Để chẩn đoán bệnh ung thư bạch huyết, các bác sĩ sẽ cần phải khám thực thể cũng như được cung cấp một bệnh sử cá nhân và gia đình đầy đủ rồi sau đó sẽ xem xét các kết quả của một số loại xét nghiệm.

Xét nghiệm máu sẽ được dùng để kiểm tra các tế bào máu, chức năng của thận và gan. Bác sĩ cũng có thể khảo sát một chất hóa học có tên là Lactase Hydrogenase (LDH), khi nồng độ của chất này cao thường là dấu hiệu gợi ý của bệnh ung thư bạch huyết không-Hodgkin thể xâm lấn.

Một số kỹ thuật hình ảnh có thể được sử dụng để tìm sự hiện diện của ung thư và mức độ lan rộng của chúng. Một số kỹ thuật thường dùng bao gồm:

X quang

CT scan

Cộng hưởng từ

Chụp mạch bạch huyết (bạch huyết đồ).

Chụp bằng galli.

PET scan.

Các bác sĩ còn có thể kiểm tra tủy xương để xem ung thư bạch huyết có ảnh hưởng đến tủy xương hay không. Các mẫu tủy xương thường được lấy từ xương chậu để tìm sự hiện diện của các tế bào B hoặc T bất thường.

Cách duy nhất có thể chẩn đoán được ung thư là lấy đi một mẫu nhỏ của khối u và xem xét chúng dưới kính hiển vi bằng một thủ thuật được gọi là sinh thiết. Các bác sĩ sẽ thu thập mẫu bằng cách đâm kim qua da, phẫu thuật, hoặc nội soi. Nhà giải phẫu bệnh học sẽ khảo sát những mẫu lấy được dưới kính hiển vi để xác định xem ung thư có hiện diện hay không.

Sau khi chẩn đoán được thiết lập, các bác sĩ sẽ phân tích mẫu mô và các kết quả xét nghiệm để xem thử ung thư đã lan truyền đến đâu và xác định giai đoạn của ung thư. Giai đoạn ung thư giúp các bac sĩ biết những lựa chọn điều trị nào là thích hợp và nó còn nói lên tiên lượng của bệnh nhân.

Cách phân loại thường gặp và đơn giản của ung thư bạch huyết Hodgkin là xem nó lớn (tiên lượng xấu) hay nhỏ (tiên lượng tốt hơn). Loại không-Hodgkin được phân loại dựa theo tính chất vi thể, vị trí trong cơ thể, và những tính chất gen và phân tử. Nó thường được chia ra làm 3 cấp độ. Cấp độ thấp là các khối ung thư bạch huyết phát triển chậm và thường không cần phải điều trị ngay lập tức. Cấp độ trung bình là khi các khối ung thư phát triển nhanh và cần phải điều trị ngay lập tức. Chúng thường có thể trị khỏi được. Còn cấp độ cao là khi các khối u lớn nhanh và có tính xâm lấn, và cần phải được điều trị ngay lập tức và điều trị tích cực, chúng thường không còn trị khỏi được nữa.

Ung thư bạch huyết Hodgkin và không-Hodgkin có cùng một hệ thống phân độ để diễn tả mức độ lan tràn của bệnh:

Giai đoạn I hoặc bệnh giai đoạn sớm là khi ung thư bạch huyết xuất hiện ở một vùng hạch bạch huyết đơn độc hoặc chỉ có ở một cơ quan đơn độc ngoài hạch bạch huyết.

Giai đoạn II hoặc bệnh tiến triển cục bộ là khi ung thư bạch huyết xuất hiện ở từ hai vùng hạch bạch huyết trở lên ở cùng một phía của cơ hoành hoặc một vùng hạch bạch huyết và mô hoặc cơ quan kế cận.

Giai đoạn III hoặc bệnh tiến triển là khi ung thư bạch huyết ảnh hưởng đến từ hai hạch lympho trở lên hoặc một hạch và một cơ quan ở hai phía đối diện của cơ thể.

Giai đoạn IV hoặc bệnh lan rộng là khi ung thư bạch huyết lan đến lách, tủy xương, xương, hoặc hệ thần kinh trung ương.

Cả 2 loại ung thư bạch huyết còn được phân loại ra thành: A là không có những triệu chứng như sốt và sụt cân, B là có những triệu chứng trên, hoặc E để chỉ khối u đã xâm lấn trực tiếp từ hạch bạch huyết sang một cơ quan nào đó.

Điều trị ung thư bạch huyết

Điều trị tùy thuộc vào loại ung thư, phân độ của ung thư (mức độ lan tràn của nó), tuổi tác, tình trạng sức khỏe, đã từng được điều trị trước đó chưa, và những đặc điểm cá nhân kèm theo. Điều trị ung thư bạch huyết thường nhằm mục tiêu làm bệnh thuyên giảm hoàn toàn, là tình trạng các tế bào ung thư bạch huyết trong cơ thể có thể vẫn còn nhưng không phát hiện ra được và không gây ra triệu chứng gì. Những phương pháp điều trị ung thư bạch huyết thường được dùng bao gồm hóa trị, xạ trị, và liệu pháp sinh học.

Mục tiêu cuối cùng của việc điều trị ung thư bạch huyết là đạt được tình trạng thuyên giảm kéo dài. Nếu ung thư xuất hiện trở lại, tình trạng này được gọi là tái phát. Sau khi điều trị, bệnh nhân có thể sẽ thấy cải thiện (khối u thu nhỏ lại), bệnh ổn định (khối u vẫn giữ nguyên kích thước cũ), tiến triển (bệnh xấu đi), hoặc khó trị (khối u đề kháng với điều trị).

Hóa trị

Hóa trị là cách dùng các hóa chất ngăn cản quá trình phân chia của tế bào – tấn công protein hoặc DNA – làm cho các tế bào tự chết đi. Cách trị liệu này nhắm đến bất kỳ tế bào nào phân chia nhanh chóng (không nhất thiết chỉ có các tế bào ung thư), tuy nhiên các tế bào khỏe mạnh thường có thể tự phục hồi sau khi bị tổn thương trong khi đó các tế bào ung thư thì không thể. Hóa trị thường được dùng để điều trị những loại ung thư đã di căn do những loại thuốc này có thể di chuyển đến khắp cơ thể. Điều trị được thực hiện theo chu kỳ, do đó cơ thể có thời gian để phục hồi giữa các đợt điều trị. Tuy nhiên, vẫn còn một số tác dụng phụ có thể gặp bao gồm: rụng lông tóc, buồn nôn, mệt mỏi, và nôn ói. Các biện pháp điều trị phối hợp thường là kết hợp nhiều cách hóa trị khác nhau hoặc phối hợp giữa hóa trị với những phương pháp điều trị khác.

Xạ trị

Xạ trị tiêu diệt ung thư bằng các hướng chùm tia năng lượng cao đến các tế bào ung thư để gây ra những tổn thương trên các phân tử tào thành các tế bào ung thư và làm cho chúng tự chết đi. Xạ trị sử dung tia gamma năng lượng cao được phát ra từ những kim loại như radium hoặc tia X năng lượng cao được tạo thành từ máy. Xạ trị có thể được sử dụng một mình để thu nhỏ khối u lại hoặc để tiêu diệt các tế bào ung thư, và nó còn được dùng phối hợp với những phương pháp điều trị ung thư khác.

Các tác dụng phụ của hóa trị bao gồm những thay đổi nhẹ trên da tương tự như cháy nắng hoặc rám nắng, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, và mệt mỏi. Các bệnh nhân có khuynh hướng ăn mất ngon, khó giữ được cân nặng cũ, nhưng hầu hết các tác dụng phụ thường sẽ biến mất vài tuần sau khi kết thúc điều trị

Phòng ngừa ung thư bạch huyết

Vẫn chưa phát hiện ra cách nào để phòng ngừa bệnh ung thư bạch huyết. Tuy nhiên, các bác sĩ khuyên nên tránh những yếu tố nguy cơ đã được liệt kê ở phía trên và tránh nhiễm virus và mắc những loại bệnh làm ức chế hệ miễn dịch của cơ thể.

Ung Thư Và Hệ Bạch Huyết

(SCI Blog) – Hệ bạch huyết giúp bảo vệ cơ thể chúng ta khỏi các tế bào ung thư cũng như tiêu diệt các vi khuẩn, vi trùng gây hại. Các tế bào lympho, tuyến hạch, và dịch bạch huyết hoạt động song song cùng hệ tuần máu để lọc bỏ vi khuẩn cũng như giam giữ các tế bào ung thư để cản trở chúng xâm lấn vào các cơ quan khác. Tuy nhiên, các tế bào ung thư khi mắc kẹt trong các hạch bạch huyết đôi khi lại có thể tiếp tục phát triển và tạo nên ung thư thứ phát tại đó.

Hệ bạch huyết là gì?

Hệ bạch huyết là một hệ thống các ống mỏng cùng các hạch chạy khắp cơ thể. Những chiếc ống này được gọi là mạch bạch huyết. Hệ thống bạch huyết là một phần quan trọng của hệ thống miễn dịch của chúng ta trong vai trò:

chống lại vi khuẩn và nhiễm trùng

tiêu hủy các tế bào cũ hoặc bất thường, ví dụ như tế bào ung thư

Hệ bạch huyết hoạt động như thế nào?

Hệ bạch huyết hoạt động tương tự như hệ tuần hoàn máu. Các mạch bạch huyết phân nhánh thông qua tất cả các bộ phận của cơ thể như động mạch và tĩnh mạch. Tuy nhiên, các mạch bạch huyết lại mỏng hơn và chứa một chất lỏng không màu gọi là dịch bạch huyết.

Trong dịch bạch huyết có chứa một lượng lớn các loại tế bào bạch cầu được gọi là tế bào lympho. Những tế bào này chống lại nhiễm trùng và giúp tiêu hủy các tế bào bị hư hỏng hoặc bất thường.

Khi máu lưu thông khắp cơ thể, các chất lỏng rò rỉ từ các mạch máu sẽ đi vào các mô cơ thể để cung cấp dinh dưỡng đến các tế bào và thấm vào các mô cơ thể để tạo thành dịch mô. Các chất này sau đó sẽ lọc và lấy đi các chất thải, vi khuẩn, các tế bào bị hư hỏng cùng các tế bào ung thư nếu có trong các mô. Khi xong việc, chất lỏng này sẽ chảy vào các mạch bạch huyết.

Dịch bạch huyết sau đó sẽ đi qua các mạch vào các tuyến bạch huyết để lọc loại bỏ vi khuẩn và các tế bào bị hư hỏng.

Từ các tuyến hạch, dịch bạch huyết di chuyển vào các mạch bạch huyết lớn hơn để tới được mạch bạch huyết rất lớn ở cổ, gọi là ống ngực. Tại đây, các ống ngực sẽ giúp lọc sạch dịch bạch huyết để đưa trở lại hệ tuần hoàn máu.

Hạch bạch huyết

Hạch bạch huyết có hình dạng như một hạt đậu nhỏ, nằm rải rác ở nhiều khu vực trên cơ thể như dưới cánh tay, nách, háng, cổ, bụng và ngực.

Chúng ta có thể sờ thấy một vài hạch trên cơ thể, chẳng hạn như các hạch bạch huyết ở cổ.

Các hạch bạch huyết lọc dịch bạch huyết khi dịch này chảy qua. Quá trình này diễn ra khi tế bào B và tế bào T tấn công bất kì vi khuẩn hoặc virus nào chúng tìm thấy trong bạch huyết.

Khi các tế bào ung thư tách ra khỏi một khối u, chúng có thể bị mắc kẹt ở một hoặc nhiều hạch bạch huyết lân cận. Vì vậy, các bác sĩ thường kiểm tra các hạch bạch huyết xung quanh để đánh giá mức độ lan rộng của ung thư.

Nguyên nhân phổ biến nhất gây nên hiện tượng sưng hạch bạch huyết là nhiễm trùng, nhưng đôi khi các hạch bạch huyết cũng có thể bị sưng do ung thư.

Các cơ quan hệ bạch huyết khác

Hệ thống bạch huyết bao gồm một số cơ quan khác như lá lách, tuyến ức, amidan và hạnh nhân hầu (VA vòm họng).

Lá lách

Lá lách nằm dưới xương sườn trái trong cơ thể, bao gồm 2 loại mô chính là tủy lách đỏ và tủy lách trắng. Tủy lách đỏ lọc và tái tạo các tế bào hồng cầu bị tổn thương từ máu, còn tủy lách trắng chứa các tế bào lympho B và lympho T để chống lại nhiễm trùng cho cơ thể.

Tuyến ức

Tuyến ức là một tuyến nhỏ nằm ở dưới xương ngực, hỗ trợ sản xuất các tế bào bạch cầu để chống nhiễm trùng. Tuyến ức thường phát triển lớn nhất ở tuổi dậy thì và co lại ở tuổi trưởng thành.

Amidan và hạnh nhân hầu (VA vòm họng)

Amidan là 2 tuyến ở phía sau cổ họng. Hạnh nhân hầu, hay còn được gọi là VA vòm họng, là các tuyến ở phía sau mũi giáp với mặt sau của cổ họng. Cả 2 cơ quan này hỗ trợ bảo vệ lối vào hệ thống tiêu hóa và phổi khỏi vi khuẩn và virus.

Cập nhật ngày 30/03/2020Tham khảo nguồn: The lymphatic system and cancer Bản quyền nội dung thuộc về Cancer Research UK và quyền dịch thuật cấp cho Prof. Dr. Thích Minh Tâm

Ung Thư Hạch Bạch Huyết Ở Mèo

Ung thư hạch bạch huyết là một loại ung thư có nguồn gốc từ các tế bào bạch huyết. Là một loại bạch cầu, các tế bào bạch huyết đóng vai trò quan trọng và không thể thiếu trong hàng phòng thủ trong hệ miễn dịch của cơ thể.

Ung thư hạch bạch huyết là nguyên nhân gây ra khoảng 90% ung thư máu và khoảng 33% tất cả các khối u ở mèo. Hơn nữa, nó là nguyên nhân phổ biến nhất của chứng tăng canxi huyết ở mèo.

Triệu chứng và phân loại

Dạng trung thất (xảy ra trong không gian giữa túi phổi/phổi) Dạng tiêu hóa (xảy ra ở đường tiêu hóa, bụng, gan) Dạng đa tâm (xảy ra trong các hạch bạch huyết) Solitary form (Dạng đơn độc (có thể xảy ra ở bất kỳ vị trí nào)

Các triệu chứng phụ thuộc vào vị trí

Dạng thận (xảy ra ở thận)

Chán ăn

Nôn mửa

Yếu

Đi tiểu và khát nước nhiều (chứng đái nhiều và chứng khát nhiều)

Nguyên nhân

Chẩn đoán

Bạn sẽ cần phải cung cấp cho bác sĩ thú y một bệnh sử đầy đủ của mèo và sự khởi phát các triệu chứng. Bệnh sử và chi tiết bạn cung cấp có thể cho bác sĩ thú y các đầu mối về những cơ quan đang bị ảnh hưởng chủ yếu. Việc biết điểm khởi phát có thể giúp xác định chẩn đoán dễ dàng hơn. Khi có được lịch sử ban đầu, bác sĩ thú y sẽ tiến hành kiểm tra sức khỏe toàn diện cho mèo. Xét nghiệm thường quy trong phòng thí nghiệm bao gồm xét nghiệm công thức máu, xét nghiệm hóa sinh và phân tích nước tiểu.

Kết quả xét nghiệm máu có thể cho thấy tình trạng thiếu máu, hoặc có sự hiện diện của một số lượng lớn bất thường các nguyên bào lympho trong máu ngoại biên, tình trạng này được gọi là tăng nguyên bào lympho huyết. Nguyên bào lympho là tế bào chưa trưởng thành biệt hóa để hình thành các tế bào lympho trưởng thành; chúng thường xuất hiện trong tủy xương, nhưng nếu chúng sinh sôi nảy nở một cách không thể kiểm soát, chúng có thể di chuyển đến máu ngoại biên, dẫn đến một tình trạng bất thường được gọi là tăng nguyên bào lympho huyết.

Điều trị

Rất khó có thể chữa khỏi bệnh và không có phương điều trị chung nào dành cho ung thư hạch bạch huyết. Mục tiêu chính là cải thiện chất lượng cuộc sống cho mèo bệnh lâu nhất có thể. Hóa trị và xạ trị có thể được sử dụng, nhưng bạn sẽ cần phải tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa ung thư thú y để xác định xem mèo của bạn có phù hợp với loại liệu pháp này hay không. Nó sẽ phụ thuộc vào giai đoạn của ung thư hạch bạch huyết (sớm hoặc đang tiến triển), tuổi của mèo, và tình trạng sức khỏe tổng quát của mèo, và những sự cân nhắc khác. Ngoài ra, tùy thuộc vào loại và giai đoạn của ung thư hạch bạch huyết, phẫu thuật có thể được thực hiện ở một số mèo bệnh. Đây có thể là một giải pháp khả thi đối với một số loại tắc nghẽn đường ruột và để loại bỏ các khối u. Rạch phẫu thuật cũng sẽ cho phép bác sĩ thú y thu thập một mẫu khối u để đánh giá trong phòng thí nghiệm.

Chăm sóc

Điều không may là không có cách chữa trị nào cho căn bệnh này. Cách giải quyết duy nhất trong một số trường hợp là dành nhiều sự quan tâm hơn để cải thiện chất lượng cuộc sống của con vật bị bệnh. Điều quan trọng là theo dõi chặt chẽ lượng thức ăn và nước uống của mèo khi nó đang trong giai đoạn phục hồi. Tiên lượng bệnh này rất đa dạng và phụ thuộc vào sự phản ứng với điều trị ban đầu, loại khối u giải phẫu, tình trạng FeLV và gánh nặng khối u.

Nếu bắt đầu sử dụng hóa trị, bạn có thể cần phải đưa mèo đi đánh giá thường xuyên. Trong mỗi lần khám, bác sĩ thú y sẽ tiến hành xét nghiệm máu để xác định sự phản ứng với điều trị và cũng để kiểm tra tình trạng của bất kỳ biến chứng nào xảy ra do thực hiện điều trị để có thể điều chỉnh khi cần thiết. Nếu các loại thuốc hóa trị đã được kê như là một phần của điều trị tại nhà, hãy chắc chắn làm theo các hướng dẫn một cạch chặt chẽ, vì các loại thuốc hóa trị có độc tính cao đối với sức khỏe con người. Các biện pháp phòng ngừa cơ bản bao gồm đeo găng tay cao su trước khi cho mèo uống thuốc. Nếu được kê thuốc giảm đau, hãy sử dụng chúng cẩn thận và làm theo mọi hướng dẫn một cách cẩn thận, đảm bảo rằng tất cả các thành viên trong nhà đều quen thuộc với lịch uống thuốc; một trong những sự cố có thể ngăn ngừa nhất với thú cưng là dùng thuốc quá liều. Thời gian sống sót rất khác nhau, dao động từ vài tháng đến dưới hai năm