Top 19 # Xem Nhiều Nhất Ung Thư Nội Mạc Tử Cung 2010 / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Ung Thư Nội Mạc Tử Cung / 2023

Published on

1. Phác đồ điều trị BVTD – 2016 1 UNG THƯ NỘI MẠC TỬ CUNG I. ĐẠI CƯƠNG  Ung thư nội mạc tử cung (KNMTC) là K xuất phát từ NMTC  Đứng thứ sáu trong các loại ung thư ở nữ giới, thứ hai trong ung thư phụ khoa.  Phẫu thuật là phương pháp điều trị chính yếu. Tỉ lệ điều trị khỏi và sống còn rất cao sau phẫu thuật. II. YẾU TỐ NGUY CƠ  Yếu tố nội tiết: cường estrogen kéo dài, rối loạn phóng noãn, hội chứng buồng trứng đa nang, dậy thì sớm, mãn kinh muộn.  Sử dụng Tamoxifen.  Yếu tố di truyền: gia đình có người bị KNMTC, K vú, K đại tràng (Hội chứng Lynch).  Yếu tố thể trạng: béo phì, cao huyết áp, đái tháo đường.  Chế độ ăn: nhiều mỡ động vật và nhiều năng lượng toàn phần. III. CHẨN ĐOÁN 1. Lâm sàng  Triệu chứng cơ năng – Phụ nữ mãn kinh: xuất huyết ÂĐ bất thường khoảng 80 – 90% TH. – Phụ nữ còn kinh: RL kinh nguyệt, rong kinh, rong huyết. – Giai đoạn muộn: đau do xâm lấn, chèn ép, tiểu máu, tiêu ra máu, báng bụng…  Triệu chứng thực thể – Khám âm đạo bằng tay và mỏ vịt: ghi nhận kích thước, mật độ, độ xâm lấn, di động, dính… – Giai đoạn sớm thường TC ít thay đổi kích thước và mật độ. Giai đoạn muộn tử cung xâm lấn, dính, kém di dộng, xâm lấn chu cung, âm đạo, trực tràng… 2. Cận lâm sàng  Siêu âm – Siêu âm ngả âm đạo: đánh giá độ dày và cấu trúc của NMTC, đánh giá mức độ xâm lấn vào cơ TC, loại trừ các bệnh lý khác ở vùng chậu. – Siêu âm bụng tổng quát: ghi nhận sự lan tràn và di căn của bệnh.  Nạo sinh thiết kênh, lòng TC, lấy bệnh phẩm gởi GPB.  Soi buồng tử cung: đánh giá sự lan rộng trên NMTC và sinh thiết đúng vị trí.  Chụp cắt lớp vi tính (CT scan), chụp cộng hưởng từ ổ bụng (MRI) và PET CT: đánh giá mức độ xâm lấn, độ lan rộng của u, tình trạng di căn hạch.  Các xét nghiệm khác – Chụp Xquang phổi: tìm di căn phổi. – CA125: tăng khoảng 50-60% trường hợp. – βhCG: loại trừ thai trong buồng TC. – Xạ hình xương: khi nghi ngờ di căn xương. – Chụp UIV, soi bàng quang, trực tràng: khi nghi ngờ xâm lấn các cơ quan này.

4. Phác đồ điều trị BVTD – 2016 4 6. KNMTC dạng TB sáng, thanh dịch, carcinosarcoma (*)  Phẫu thuật đánh giá giai đoạn như ung thư BT.  Phẫu thuật cắt TC + 2 PP + đánh giá giai đoạn + PT giảm tổng khối bướu.  Điều trị hỗ trợ sau PT – Giai đoạn IA: theo dõi hoặc hóa trị ± xạ trị trong. – Giai đoạn IB, II, III, IV: hóa trị ± xạ trị. Carcinosarcoma (*): tham khảo phác đồ sarcoma thân tử cung. 7. Điều trị bảo tồn tử cung (Xem bài Điều trị bảo tồn trong K NMTC) VII. THEO DÕI SAU ĐIỀU TRỊ  Tái khám mỗi 3 tháng trong 2năm đầu, sau đó mỗi 6 tháng cho đến 5 năm, và sau đó tái khám mỗi 6 tháng hoặc mỗi năm tùy trường hợp.  Xét nghiệm CA125 và siêu âm.  MRI, CT scan: cân nhắc tùy trường hợp. VIII.ĐIỀU TRỊ TÁI PHÁT 1. Tái phát tại chỗ – tại vùng  Chưa xạ trị ngoài trước hoặc có xạ trị trong trước: xạ trị ngoài + xạ trị trong, hoặc xem xét khả năng PT.  Có xạ trị ngoài trước: xem xét PT, hoặc điều trị nội tiết hoặc hóa trị. 2. Di căn khu trú  Xem xét phẫu thuật ± xạ trị  Nội tiết  Hóa trị 3. Di căn xa  Grad thấp, không có triệu chứng, ER (+), PR (+)  điều trị nội tiết, nếu tiến triển  hóa trị.  Có triệu chứng, grad cao, bướu lớn: hóa trị ± xạ trị nâng đỡ. IX. CÁC PHÁC ĐỒ HÓA TRỊ TRONG KNMTC 1. Phác đồ phối hợp Paclitaxel + Carboplatin Paclitaxel: 175 mg/m2 , truyền TM trong 3 giờ, vào Ngày 1. Carboplatin: AUC 5-7, IV, vào Ngày 1. Lặp lại chu kỳ mỗi 21 ngày. AC Doxorubicin: 60 mg/m2 , IV, vào Ngày 1. Cyclophosphamide: 500 mg/m2 , IV, vào Ngày 1. Lặp lại chu kỳ mỗi 21 ngày. AP Doxorubicin: 50 mg/m2 IV, vào Ngày 1. Cisplatin: 50 mg/m2 IV, vào Ngày 1. Lặp lại chu kỳ mỗi 21 ngày

5. Phác đồ điều trị BVTD – 2016 5 Doxorubicin + Paclitaxel Doxorubicin: 50 mg/m2 , IV, vào Ngày 1. Paclitaxel: 150 mg/m2 , IV, vào Ngày 1. Lặp lại chu kỳ mỗi 21 ngày Cisplatin + Doxorubicin + Paclitaxel Cisplatin : 50 mg/m2 , IV, vào Ngày 1. Doxorubicin: 45 mg/m2 , IV, vào Ngày 1. Paclitaxel: 160 mg/m2 , truyền TM trong 3 giờ, vào Ngày 2. Filgrastim: 5 mcg/kg, TDD, vào Ngày 3 – 12 hoặc Pegfilgrastim : 6 mg (trẻ em < 12 tuổi : 100 mcg/kg) TDD 1 lần sau 24-72 giờ mỗi chu kỳ hóa trị. Lặp lại chu kỳ mỗi 21 ngày. CAP Cyclophosphamide: 500 mg/m2 , IV, vào Ngày 1. Doxorubicin: 50 mg/m2 , IV, vào Ngày 1. Cisplatin: 50 mg/m2 , IV, vào Ngày 1. Lặp lại chu kỳ mỗi 21 ngày. Carboplatin + Pegylated Liposomal Doxorubicin Carboplatin: AUC 5, vào Ngày 1. Pegylated Liposomal Doxorubicin: 40 mg/m2 , IV, vào Ngày 1. Lặp lại chu kỳ mỗi 28 ngày. Paclitaxel + Ifosfamide (carcinosarcoma) Paclitaxel: 135 mg/m2 , truyền TM trong 3 giờ, vào Ngày 1 Ifosfamide: 1.600 mg/m2 , IV, vào Ngày 1-3. Lặp lại chu kỳ mỗi 21 ngày cho tới 8 chu kỳ. Mesna được sử dụng đường TM. G- CSF hỗ trợ 5 mcg/kg/ngày, TDD, bắt đầu vào Ngày 4. Gemcitabine + Docetaxel Gemcitabine: 900 mg/m2 , IV, vào Ngày 1 và Ngày 8. Docetaxel: 100 mg/m2 , IV, vào Ngày 8. Lặp lại chu kỳ mỗi 21 ngày. 2. Phác đồ đơn chất Doxorubicin Doxorubicin: 60 mg/m2 , IV, vào Ngày 1. Lặp lại chu kỳ mỗi 21 ngày. Paclitaxel Paclitaxel: 200 mg/m2 , truyền TM trong 3 giờ vào Ngày 1. Lặp lại chu kỳ mỗi 21 ngày. Giảm liều đến 175 mg/m2 đối với bệnh nhân đã xạ trị vào vùng chậu. Topotecan Topotecan: 1,0 mg/m2 , IV, vào Ngày 1-5. Lặp lại chu kỳ mỗi 21 ngày. Giảm liều đến 0,8 mg/m2 vào Ngày 1-3 đối với bệnh nhân đã xạ trị vào vùng chậu.

6. Phác đồ điều trị BVTD – 2016 6 X. ĐIỀU TRỊ NỘI TIẾT TRONG KNMTC 1. Chỉ định: Ung thư NMTC tái phát và di căn, grad thấp, dạng NMTC, có thụ thể ER, PR (+). 2. Các thuốc nội tiết  Các progestins: nội tiết chính trong điều trị ung thư NMTC – Medroxyprogesterone (MPA) Liều khởi đầu: 400mg x 3 lần mỗi tuần trong 12 tuần. Liều duy trì: 400mg x 2 lần mỗi tuần. – Megestrol acetate (MA) Liều khởi đầu: 160 mg/ngày trong 12 tuần. Liều duy trì: 80-160 mg/ngày.  Tamoxifen: có thể dùng đơn lẻ hoặc kết hợp với các progestins. Liều dùng: 20 – 40mg/ngày.  Các đồng vận LHRH (Luteinizing hormone-releasing hormone agonists): Goserelin và Leuprolide. Tiêm mỗi 1-3 tháng. Thuốc có tính ức chế sản sinh estrogen từ buồng trứng ở những phụ nữ còn kinh nguyệt.  Các thuốc ức chế aromatase (aromatase inhibitors): thuốc ngăn cản tạo estrogen từ các mô ngoài BT. – Letrozole: 2,5mg/ngày, hoặc – Anastrozole: 1mg/ngày, hoặc – Exemestane: 25 mg x 1 lần/ngày sau khi ăn. Trường hợp KNMTC được chẩn đoán sau PT cắt tử cung, điều trị hỗ trợ cần dựa trên – Tuổi BN. – Mong con. – Độ xâm lấn cơ TC. – Grad mô học và loại mô học bướu. – Cân nhắc PT đánh giá giai đoạn (cắt 2 PP + nạo hạch chậu,…). Tài liệu tham khảo 1. Phạm Văn Bùng và cs (2003). Di căn hạch chậu của ung thư nội mạc tử cung. Y học chúng tôi Số đặc biệt chuyên đề Ung bướu học. Phụ bản số 4, tập 9. 2. Vũ Ngọc Thành và cs (2005) Xạ trị bổ túc trong ung thư nội mạc tử cung. Y học chúng tôi Số đặc biệt chuyên đề Ung bướu học. Phụ bản số 4, tập 9. 3. Edward Chu, Vincent T. DeVita, Jr. (2012). Physicians’ Cancer Chemotherapy drug manual. Jones & Bartlett Learning India Pvt, Ltd, p 451-453. 4. Mohamed K. Mehasseb và John A. Latimer (2012). Controversies in the Management of Endometrial Carcinoma: An Update.Obstetrics and Gynecology International Volume 2012. 5. Rachel Kupetst et al (2013). The Role of Adjuvant Therapy in Endometrial Cancer.Joint SoGC-GoC-SCC Clinical Practice Guideline. Obstet Gynaecol Can;35(4 eSuppl B): S1- S9. 6. NCCN Clinical Practice Guidelines in Oncology. Uterine neoplasms. Version 2.2016. NCCN.org

Ung Thư Nội Mạc Cổ Tử Cung / 2023

Nội dung chính trong bài [ Hiện ]

Ung thư nội mạc cổ tử cung (hay còn gọi là niêm mạc cổ tử cung) là căn bệnh ung thư thường gặp ở phụ nữ. Hiểu rõ về căn bệnh này là cách tốt nhất để người bệnh sống chung hòa bình với nó.

Tử cung, cổ tử cung của phụ nữ

I. Ung thư nội mạc cổ tử cung là gì?

Tử cung là một cơ quan sinh dục của phụ nữ, có hình quả lê quay ngược, nó nằm giữa bàng quang và trực tràng. Phần trên lồi to gọi là đáy tử cung còn phần dưới nhỏ và dài được gọi là cổ tử cung.

Ung thư nội mạc tử cung có thể xuất hiện tại cả phần đáy và cổ tử cung. Vị trí cổ tử cung thường gặp hơn, chính vì thế mà khi nhắc đến ung thư tử cung, người ta thường chỉ nhắc đến cung thư nội mạc cổ tử cung là nhiều.

Đây là một loại ung thư phát sinh từ nội mạc hay còn gọi là niêm mạc của tử cung. Sự phát triển bất thường của các tế bào có khả năng xâm nhập và lây lan nhanh chóng đến các bộ phận khác trên cơ thể chính là cách mà ung thư nội mạc tử cung tiến triển.

II. Nguyên nhân ung thư nội mạc tử cung ở nữ giới

Ung thư nội mạc cổ tử cung

Hiện nay, các bác sĩ chuyên khoa chưa hiểu rõ tất cả các nguyên nhân, rủi ro gây ra ung thư nội mạc cổ tử cung. Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu và điều trị thực tế, các bác sĩ đã tổng hợp và đưa ra các nguyên nhân, rủi ro có thể dẫn đến căn bệnh này ở nữ giới.

1. Virus HPV xâm nhập

Hầu hết phụ nữ mắc ung thư nội mạc cổ tử cung khi được phát hiện đều bị nhiễm virus HPV trong nhiều năm. Đây là một loại virus lây truyền qua đường tình dịch, nó tiếp xúc qua da âm đạo và dương vật.

Hiệp hội ung thư Australia đã thống kê rằng, cứ 5 phụ nữ thì có đến 4 người nhiễm HPV vào một lúc nào đó trong cuộc đời.

Virus HPV có nhiều chủng khác nhau, trong số đó, chỉ có một số chủng có thể gây ung thư tử cung, ung thư dương vật… như chủng 16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59 và 66). Viêm nội mạc cổ tử cung nhiều lần trong đời bởi virus HPV sẽ khiến nguy cơ ung thư nội mạc cổ tử cung gia tăng.

Việc phát hiện ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm có thể được thực hiện thông qua xét nghiệm Pap Smear (phết tế bào tử cung), vì thế, phụ nữ tiền hoặc sau mãn kinh nên thực hiện tầm soát ung thư cổ tử cung định kỳ hàng năm để phát hiện sớm và điều trị hiệu quả.

2. Điều trị Tamoxifen

Tỷ lệ là 1 trong số 500 phụ nữ ung thư vú được điều trị với tamoxifen sẽ phát triển ung thư nội mạc cổ tử cung.

3. Di truyền ung thư đại trực tràng nonpolyposis (HNPCC)

Những người có tiền sử ung thư đại trực tràng có nguy cơ ung thư nội mạc cổ tử cung cao hơn. Theo hiệp hội ung thư Mỹ, nếu phụ nữ từng bị ung thư đại trực tràng sẽ có nguy cơ ung thư nội mạc cổ tử cung cap hơn từ 40 – 60 %.

4. Mất cân bằng estrogen trong cơ thể

Buồng trứng của người phụ nữ sản sinh ra hai hormone nữ chính – estrogen và progesterone. Sự biến đổi trong sự cân bằng các hooc môn gây ra sự thay đổi tế bàotrong nội mạc tử cung dẫn đến sự hình thành của khối y

Tăng lượng estrogen trong cơ thể có thể làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc cổ tử cung ở phụ nữ, các nhóm nguy cơ cao bao gồm:

Người béo phì, thừa cân

Sinh trên 4 người con

Không sinh con

Có kinh nguyệt sớm hơn 12 tuổi

Quan hệ sớm – trước 18 tuổi

Tiểu đường, cao huyết áp

Quan hệ vợ chồng với nhiều người

Mắc bệnh đa nang buồng trứng

Quá sản (quá kích) nội mạc cổ tử cung

5. Hút thuốc lá

Thuốc lá là một nguyên nhân gây nên hầu hết các loại bệnh ung thư

6. Suy giảm hệ thống miễn dịch, rối loạn nội tiết

Người mắc bệnh HIV/AIDS, viêm gan mạn, bệnh lý mô liên kết… có nguy cơ ung thư nội mạc cổ tử cung cao hơn

7. Các yếu tố khác

Nghèo, lạc hậu, vệ sinh kém, giống nòi bất thường, thực phẩm nghèo chất dinh dưỡng (thiếu sinh tố A, C, axít folic, trái cây, rau tươi…) cũng là một yếu tố nguy cơ gây ung thư nội mạc cổ tử cung cao hơn.

III. Dấu hiệu (triệu chứng, biểu hiện) ung thư nội mạc cổ tử cung

Ung thư tử cung có cơ hội điều trị 80% nếu phát hiện ở giai đoạn sớm. Một số triệu chứng hay biểu hiện thường gặp bạn không nên bỏ qua khi cơ thể lên tiếng cảnh báo

HPV là 1 nguyên nhân gây ung thư nội mạc cổ tử cung

1. Chảy máu âm đạo bất thường

Hiện tượng này bao gồm dấu hiệu chảy máu âm đạo giữa các chu kỳ kinh nguyệt, chảy máu sau khi quan hệ tình dục hoặc sau giai đoạn mãn kinh.

2. Âm đạo có mùi hôi, khó chịu, chảy dịch

Khi phát hiện âm đạo có mùi hôi, khó chịu, chảy dịch và màu dịch bất thường bạn nên đi khám phụ khoa. Đây là dấu hiệu cảnh báo ung thư tử cung nhiều phụ nữ bỏ qua nhất do nó thường gây nhầm lẫn với việc nhiễm nấm, nhiễm khuẩn âm đạo hoặc các bệnh phụ khoa khác không phải bệnh ung thư.

3. Đau hoặc áp lực vùng xương chậu

Nếu cơ thể xuất hiện những dấu hiệu bất thường trên, bạn nên đến gặp bác sĩ phụ khoa để thăm khám, tìm hiểu nguyên nhân và có phương pháp điều trị kịp thời. Tránh để quá lâu khiến bệnh chuyển biến phức tạp khó điều trị dứt điểm.

IV. Chẩn đoán ung thư nội mạc cổ tử cung

Ung thư tử cung giai đoạn đầu thường không có biểu hiện rõ ràng. Một số trường hợp có thể nhầm lẫn với các bệnh phụ khoa khác. Vì vậy nếu nghi ngờ có sự xuất hiện của khối u trong tử cung, bác sĩ sẽ yêu cầu thực hiện các xét nghiệm và thủ thuật được sử dụng để chẩn đoán bao gồm:

1. Khám vùng chậu – phát hiện dấu hiệu bất thường bên trong

Dấu hiệu, triệu chứng, biểu hiện ung thư nội mạc cổ tử cung

Trong kỳ khám vùng chậu, bác sĩ kiểm tra kỹ phần ngoài của bộ phận sinh dục và thực hiện khám trong để phát hiện những dấu hiệu bất thường ở vùng chậu và tử cung.

2. Siêu âm đầu dò tử cung

Bác sĩ của bạn có thể đề nghị một siêu âm qua âm đạo để nhìn vào độ dày và kết cấu của nội mạc tử cung và giúp loại trừ các điều kiện khác. Hiện nay tại Việt Nam, các bác sĩ thường sử dụng siêu âm đầu dò để phát hiện những dấu hiệu bất thường trong lớp niêm mạc tử cung.

3. Kiểm tra lớp nội mạc tử cung

Quá trình soi tử cung, bác sĩ sẽ chèn một ống mỏng, mềm dẻo, qua ống thông âm đạo và cổ tử cung vào tử cung của bạn. Một ống kính trên ống soi cho phép bác sĩ kiểm tra bên trong tử cung và nội mạc tử cung. Điều này giúp bác sĩ phát hiện những tổn thương hoặc bất thường trên bề mặt lớp nội mạc tử cung.

4. Sinh thiết tế bào – phát hiện tế bào ung thư

Khi phát hiện những dấu hiệu bất thường ở lớp nội mạc tử cung, có thể bạn sẽ trải qua một sinh thiết nội mạc tử cung để xác nhận, tìm kiếm tế bào ung thư. Kết quả sinh thiết thường có sau 5-7 ngày và được thực hiện tại các phòng LAB của các bệnh viện hiện đại.

5. Thực hiện phẫu thuật lấy mô để xét nghiệm

Nếu không thể lấy đủ mô trong thời gian sinh thiết hoặc nếu kết quả sinh thiết không rõ ràng, có thể bạn cần phải trải qua một thủ thuật lấy mô trực tiếp từ lớp nội mạc tử cung. Trong thời kỳ D & C, mô được lấy từ màng tử cung của bạn và kiểm tra dưới kính hiển vi cho tế bào ung thư.

V. Ung thư nội mạc cổ tử cung giai đoạn 0, 1 (1a, 1b), 2 (2a, 2b(, 3 (3a, 3b, 3c1, 3c2), 4 (4a, 4b, giai đoạn cuối) tiên lượng sống được bao lâu?

1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng thời gian sống của bệnh ung thư nội mạc cổ tử cung

Tiên lượng về thời gian sống của bệnh nhân ung thư nội mạc cổ tử cung thực ra phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó, phải kể đến các yếu tố chính là:

Độ lớn và trọng lượng của khối u

Sinh thiết tế bào ung thư nội mạc cổ tử cung

Khối u càng nhỏ tức chiều cao, chiều rộng và chiều dày càng nhỏ thì có tiên lượng càng tốt.

Giai đoạn sớm có tiên lượng tốt hơn giai đoạn muộn

Đây là yếu tố quan trọng nhất, khi khối u đã xâm lấn vào cả khu vùng chậy haowjc các mô liên kết lỏng lẻo quanh cổ tử cung, tử cung thì việc điều trị sẽ phức tạp và khó khăn hơn. Ung thư đã đã lan đến các hạch bạch huyết và khu vực khác thì tiên lượng sẽ kém hơn.

Ung thư nội mạc cổ tử cung có phần độ thấp có tiên lượng thấp hơn

Phân độ hay là Grade của khối u là hệ thống nhằm phân loại các tế bào ung thư dựa vào mức độ bất thường về hình dạng của chúng khi quan sát dưới kính hiển vi và tốc độ phát triển của chúng. Đây là một yếu tố quan trọng trong tiên lượng ung thư biểu mô tuyến cổ tử cung. Các bác sĩ thường mô tả phân độ khối u theo 4 mức khác nhau từ 1 đến 4, khối u ở phân độ 3 có nguy cơ di căn sẽ tiên lượng kém hơn.

Tính chất khối u

Cùng được gọi là ung thư nội mạc cổ tử cung như ung thư biểu mô tế bào nhỏ và biểu mô tế bào như thủy tinh có tiên lượng kém hơn các loại ung thư cổ tử cung khác.

Tình trạng thiếu máu

Người bị thiếu máu thường có tiên lượng không tốt bằng người không mắc chứng tương tự. Mặc dù được bổ sung bằng truyển máu nhưng tình trạng này không hề được cải thiện.

Qua đây chúng ta có thể thấy một điều rằng, phụ nữ nên chăm sóc bản thân và đi khám, tầm soát ung thư định kỳ sau tuổi 50 để có sớm phát hiện và điều trị hiệu quả mầm mống ung thư nội mạc cổ tử cung.

2. Ung thư nội mạc cổ tử cung giai đoạn 0, 1 (1a, 1b), 2 (2a, 2b(, 3 (3a, 3b, 3c1, 3c2), 4 (4a, 4b, giai đoạn cuối)

Các tế bào ung thư thường phát triển lặng lẽ bên trong tử cung. Cũng giống như các bệnh ung thư khác ở nữ giới, ung thư tử cung thường tiến triển qua 05 giai đoạn, mỗi giai đoạn có một đặc trưng riêng biệt.

1. Ung thư nội mạc tử cung giai đoạn 0

Giai đoạn này còn được gọi là ung thư tế bào biểu mô tại chỗ. Các tế bào ung thư chỉ được tìm thấy trong lớp bề mặt của các tế bào nội mạc tử cung mà không phát triển sâu vào các lớp tế bào bên dưới. Ung thư đã không lan sang các hạch bạch huyết lân cận hoặc các vị trí xa xôi. Đây là một tổn thương tiền ung thư.

Tiên lượng thời gian sống sau 35 năm của bệnh nhân lên tới 100%, vì thế phát hiện ung thư nội mạc cổ tử cung sớm sẽ giúp người bệnh vượt qua căn bệnh dễ dàng hơn.

2. Ung thư nội mạc tử cung giai đoạn 1 (1a, 1b)

Ung thư chỉ phát triển trong tử cung. Nó cũng có thể phát triển ở các tuyến của cổ tử cung. Giai đoạn này được chia làm 2 giai đoạn nhỏ

Ung thư nội mạc cổ tử cung giai đoạn 0, 1 (1a, 1b), 2 (2a, 2b), 3 (3a, 3b, 3c1, 3c2), 4 (4a, 4b, giai đoạn cuối)

Giai đoạn 1A: Trong giai đoạn sớm nhất của giai đoạn 1, ung thư nằm trong nội mạc tử cung (màng trong của tử cung) và có thể phát triển từ nội mạc tử cung qua lớp cơ dưới của tử cung. Nó chưa lan đến hạch bạch huyết hoặc các vị trí xa xôi trong cơ thể.

Giai đoạn 1B: Ung thư đã phát triển từ nội mạc tử cung vào trong cơ tử cung. Ung thư chưa lan rộng sang các mô xung quanh hoặc bên ngoài tử cung.

Tỷ lệ người bệnh tiên lược sống sau 5 năm là:

– Giai đoạn 1a là 85%

– Giai đoạn 1b là 47%

3. Giai đoạn 2

Tỷ lệ người bệnh tiên lượng sống sau 5 năm là:

– Giai đoạn 2a là 63%

– Giai đoạn 2b là 58%

Ung thư nội mạc cổ tử cung giai đoạn 1, 1a, 1b (Nguồn ảnh: Afamily)

4. Giai đoạn 3

Khối u đã lan ra ngoài tử cung hoặc vào các mô lân cận trong vùng chậu.

Giai đoạn 3A: Ung thư đã lan đến bề mặt ngoài của tử cung (gọi là huyết thanh, các ống dẫn trứng hoặc buồng trứng. Ung thư chưa có dấu hiệu lan sang các hạch bạch huyết hoặc các vị trí xa hơn.

Giai đoạn 3B: Khối u đã lan đến âm đạo hoặc mô xung quanh tử cung (parametrium). Tuy nhiên chưa lan sang các hạch bạch huyết hoặc các vị trí xa xôi.

Ung thư nội mạc cổ tử cung giai đoạn 2 – 2a, 2b (Nguồn ảnh Afamily)

Giai đoạn 3C1: Ung thư có thể lây lan sang một số mô lân cận, nhưng không phát triển sâu vào bên trong bàng quang hoặc trực tràng. Ung thư đã lan đến các hạch lympho vùng chậu nhưng không ảnh hưởng đến các hạch bạch huyết xung quanh động mạch chủ hoặc các vị trí khác.

Giai đoạn 3C2: Ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết xung quanh động mạch chủ (hạch chậu ao), nhưng chưa ảnh hưởng đến các cơ quan khác trong cơ thể

Tiên lượng sống sau 5 năm của bệnh nhân ở giai đoạn này là:

– Giai đoạn 3a là 35%

– Giai đoạn 3b là 21%

Ung thư nội mạc cổ tử cung giai đoạn 3a (Nguồn ảnh: Afamily)

5. Giai đoạn 4

Ung thư đã lan đến bề mặt bên trong của bàng quang hay trực tràng (phần dưới của ruột già), đến các hạch bạch huyết ở háng, và / hoặc các cơ quan khác, chẳng hạn như xương, phế quản hay phổi.

Ung thư nội mạc cổ tử cung giai đoạn 3b (Nguồn ảnh: Afamily)

Giai đoạn 4A: Ung thư đã lan đến lớp niêm mạc bên trong của trực tràng hoặc bàng quang. Nó có thể lan rộng tới các hạch bạch huyết ở gần đó nhưng không lan rộng tới các vị trí khác trong cơ thể.

Giai đoạn 4B: Ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết xa, vùng bụng trên, màng phổi, hoặc các cơ quan ra khỏi tử cung, chẳng hạn như phổi hoặc xương.

Việc xác định rõ tính chất, đặc điểm đặc trưng của từng giai đoạn sẽ giúp bác sĩ hiểu rõ tình trạng tiến triển của khối u ung thư và xây dựng phác đồ điều trị hợp lý.

Tiên lượng thời gian sống sau 5 năm của bệnh nhân trong giai đoạn này là:

Ung thư nội mạc cổ tử cung giai đoạn 3c (Nguồn ảnh: Afamily)

VI. Điều trị ung thư nội mạc cổ tử cung hiện đại như thế nào?

Các lựa chọn điều trị ung thư tử cung sẽ tùy thuộc vào đặc điểm của ung thư, giai đoạn bệnh, thể trạng… của người bệnh. Trong đó, các biện pháp y học hiện đại điều trị chính ung thư nội mạc cổ tử cung là:

1. Phẫu thuật cắt bỏ tử cung

Phẫu thuật cắt bỏ tử cung được khuyến cáo đối với hầu hết phụ nữ bị ung thư nội mạc cổ tử cung. Hầu hết phụ nữ bị ung thư nội mạc cổ tử cung đều phải trải qua một thủ thuật để cắt bỏ tử cung (cắt bỏ tử cung), cũng như loại bỏ các ống dẫn trứng và buồng trứng (salpingo-oocctomy).

Cắt bỏ tử cung khiến bạn không thể có con trong tương lai. Bạn sẽ đối mặt với thời kỳ mãn kinh sớm hơn thông thường nếu bạn chưa từng trải qua giai đoạn này trong đời.

2. Hóa trị ung thư nội mạc cổ tử cung

Ung thư nội mạc cổ tử cung giai đoạn 4a (Nguồn ảnh: Afamily)

Hóa trị liệu sử dụng hóa chất để diệt tế bào ung thư. Bệnh nhân có thể nhận được một loại thuốc hóa trị liệu, hoặc hai hoặc nhiều loại thuốc có thể được sử dụng kết hợp.

Hóa trị có thể được khuyến cáo cho những trường hợp ung thư tử cung đang phát triển hoặc tái phát đã lan ra ngoài tử cung. Thông qua đường uống hoặc tiêm truyền tĩnh mạch, hóa chất sẽ trực tiếp thẩm thấu vào máu và sau đó đi vào cơ thể của bạn, giết chết tế bào ung thư.

3. Xạ trị ung thư nội mạc cổ tử cung

Liệu pháp bức xạ sử dụng các chùm năng lượng mạnh như tia X và proton để diệt các tế bào ung thư. Trong một số trường hợp, bác sĩ có thể khuyên bệnh nhân cách xạ trị để giảm nguy cơ tái phát ung thư sau khi giải phẫu. Trong những trường hợp nhất định, xạ trị cũng có thể được khuyến cáo trước khi giải phẫu, làm co lại khối u và giúp phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn.

Ung thư nội mạc cổ tử cung giai đoạn 4b

Ngoài ra, những bệnh nhân không đủ sức khỏe để phẫu thuật, các bác sĩ cũng có thể chỉ định điều trị bằng xạ trị. Khi ung tư nội mạc cổ tử cung đã di căn, xạ trị có thể giúp kiểm soát sự đau đớn cho bệnh nhân.

4. Liệu pháp nội tiết điều trị ung thư nội mạc cổ tử cung

Liệu pháp nội tiết tố bao gồm việc dùng thuốc có ảnh hưởng đến lượng hoóc môn trong cơ thể. Liệu pháp nội tiết tố có thể là một lựa chọn nếu bệnh nhân bị ung thư nội mạc tử cung lan rộng ra ngoài tử cung. Liệu pháp bao gồm:

Thuốc để tăng lượng progesterone trong cơ thể: Progestin tổng hợp, một dạng của hoocmon progesterone, có thể giúp ngăn các tế bào ung thư nội mạc tử cung phát triển.

Thuốc để giảm lượng estrogen trong cơ thể: Thuốc trị liệu bằng nội tiết tố có thể giúp làm giảm lượng estrogen trong cơ thể hoặc làm cho cơ thể bạn khó sử dụng estrogen sẵn có. Các tế bào ung thư nội mạc tử cung dựa vào estrogen để giúp chúng phát triển có thể bị tiêu diệt vì đáp ứng với những thuốc này.

VII. Phòng ung thư tử cung tái phát và mắc mới ung thư

Cũng giống như các loại ung thư khác, ung thư nội mạc cổ tử cung có 2 mục tiêu phòng ngừa là phòng ngừa tái phát và mắc mới ung thư.

Điểm chung của hai mục tiêu phòng ngừa này là người bệnh cần thực hiện tốt các việc sau đây:

Duy trì tinh thần tích cực. Tận hưởng cuộc sống với những việc mình thích, những thú vui cá nhân. Và tiết chế các cảm xúc tức giận, buồn chán, suy nghĩ tiêu cực. Cả người khỏe lần người ung thư đều cần điều này để cuộc sống thật sự ý nghĩa.

Sử dụng thuốc và các chế phẩm dược hợp lý

Hạn chế các yếu tố nguy cơ: không ăn đồ ăn nhiều dầu mỡ, thuốc lá, ăn thực phẩm không tốt cho sức khỏe, rượu bia, thời khóa biểu không khoa học, quan hệ tình dục với nhiều người khác nhau, sinh nhiều con, không kiểm soát tốt cân nặng, bệnh tiểu đường, cao huyết áp, viêm nhiễm, tăng sản nội tuyến tử cung…

Nên cho con bú bằng sữa mẹ: Điều này làm giảm sự rụng trứng và hoạt động của estrogen, không chỉ giúp bạn ngăn ngừa ung thư niêm mạc tử cung, ung thư vú mà còn giúp bạn nhanh chóng lấy lại vóc dáng thanh mảnh.

Điều trị xuất huyết bất thường ngay lập tức: Khi cơ thể xuất hiện dấu hiệu chảy máu âm đạo bất thường, bạn nên tìm hiểu ra nguyên nhân và có phương pháp điều trị kịp thời. Việc chảy máu nội mạc tử cung có thể dẫn đến tổn thương lớp niêm mạc, dẫn đến ung thư niêm mạc tử cung.

Ngoài ra, với người chưa mắc ung thư nội mạc cổ tử cung cũng có thể phòng ngừa căn bệnh này nhờ tiêm vắc xin HPV.

Các bác sĩ điều trị ung bướu tại các bệnh viện điều trị ung thư lớn như bệnh việ K, 108 và Bạch Mai hay khuyên bệnh nhân trước, trong và sau khi điều trị tích cực ung thư nội mạc cổ tử cung sử dụng King Fucoidan Agaricus. Việc này giúp tăng hiệu quả điều trị, giảm thiểu tác dụng phụ và ngăn ngừa tái phát ung thư.

Sản phẩm được các bác sĩ điều trị ung bướu khuyên dùng

Bởi Fucoidan khi phối hợp với là sự kết hợp tuyệt với giúp tiêu diệt tế bào ung thư từ trong trứng nước và nâng cao khả năng miễn dịch cho người sử dụng.

Bạn cần tìm hiểu kỹ hơn trước khi lựa chọn sử dụng, hãy đọc bài viết sâu hơn về sản phẩm này Ở ĐÂY, HOTLINE MIỄN CƯỚC 24/7 18000069

Chúng tôi luôn đồng cảm và mong muốn bạn cùng người thân sống vui khỏe nhất.

Xạ trị ung thư nội mạc cổ tử cung

Lạc Nội Mạc Tử Cung / 2023

Giả thuyết được chấp nhận rộng rãi nhất đối với sinh lý bệnh học của nội mạc tử cung là các tế bào nội mạc tử cung di chuyển từ buồng tử cung trong kỳ kinh nguyệt và bám dính vào các vị trí ngoài tử cung. Phổ biến là dòng chảy ngược của tổ chức trong chu kỳ kinh qua vòi trứng vào ổ bụng; hệ bạch huyết và hệ thống tuần hoàn có thể vận chuyển, các tế bào nội mạc đến những vị trí xa hơn (như khoang màng phổi).

Một giả thuyết khác là quá trình dị sản khoang cơ thể: biểu mô khoang cơ thể được chuyển thành các tuyến giống như nội mạc tử cung.

Về mặt vi thể thì phần nội mạc tử cung lạc chỗ có cấu trúc và các tuyến giống như nội mạc tử cung. Những mô này chứa các thụ thể estrogen và progesterone và do đó thường phát triển, biến đổi và chảy máu để đáp ứng với sự thay đổi lượng hormone trong chu kỳ kinh nguyệt; hơn nữa, các mô này có thể sản xuất estrogen và prostaglandin. Quá trình lạc nội mạc có thể tự tiếp diễn hoặc tự thoái triển giống như xảy ra trong khi có thai (có thể bởi vì nồng độ progesterone ở mức cao). Cuối cùng, hiện tượng lạc nội mạc có thể gây viêm và tăng số lượng các đại thực bào được kích hoạt và sản xuất các cytokine tiền viêm.

Tỉ lệ mắc gia tăng ở những người thân thuộc thế hệ thứ nhất của những phụ nữ bị lạc nội mạc tử cung gợi ý rằng di truyền cũng là một nhân tố.

Ở những bệnh nhân bị lạc nội mạc tử cung nặng và giải phẫu vùng chậu bị thay đổi, tỷ lệ vô sinh cao, có thể do giải phẫu bị thay đổi và tình trạng viêm gây cản trở đến cơ chế thụ tinh buồng trứng, thụ tinh noãn, và di động của vòi tử cung

Một số bệnh nhân bị lạc nội mạc tử cung ít và giải phẫu xương chậu bình thường cũng vô sinh; lý do suy giảm khả năng sinh sản không rõ ràng nhưng có thể bao gồm những điều sau:

Tăng tần suất của hội chứng các nang trứng đã hoàng thể hóa mà không giải phóng ra được (tế bào trứng bị mắc kẹt)

Tăng sản sinh prostaglandin phúc mạc hoặc tăng hoạt động của các đại thực bào phúc mạc làm ảnh hưởng đến chức năng của tinh trùng và tế bào trứng

Niêm mạc tử cung không được chấp nhận (do rối loạn chức năng của kỳ hoàng thể hay các bất thường khác)

Các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn có thể xảy ra đối với lạc nội mạc tử cung là

Tiền sử gia đình đối với những người rất thân thuộc thế hệ thứ nhất đã từng bị lạc nội mạc tử cung

Trì hoãn sinh con hoặc không sinh con

Có kinh lần đầu sớm

Mãn kinh muộn

Khiếm khuyết ống Müllerian

Tiếp xúc với diethylstilbestrol trong tử cung

Các yếu tố bảo vệ tiềm ẩn bao gồm

Sinh nhiều lần

Cho con bú kéo dài

Bắt đầu có kinh muộn

Sử dụng thuốc ngừa thai dạng uống liều thấp (liên tục hoặc theo chu kỳ)

Điều Trị Ung Thư Nội Mạc Tử Cung, Triệu Chứng, Chẩn Đoán, Nguyên Nhân Gây Ung Thư Nội Mạc Tử Cung / 2023

Ung thư nội mạc tử cung (tên khoa học là Endometrial Cancer) là một loại ung thư phụ khoa đang ngày càng trở nên phổ biến ở phụ nữ. Ở dạng ung thư này, các tế bào xuất phát từ nội mạc tử cung (lớp màng mỏng phía trong thành tử cung) sẽ phân chia và phát triển không ngừng, lây lan sang các mô xung quanh, tạo thành các khối u ác tính và dẫn tới tử vong cho người bệnh.

Với những yếu tố nguy cơ kể trên, đối tượng có khả năng cao mắc ung thư nội mạc tử cung bao gồm:

Phụ nữ trên 60 tuổi.

Phụ nữ trong gia đình có mẹ, chị em gái bị ung thư cổ tử cung hoặc các bệnh di truyền như hội chứng Lynch, hội chứng Cowden.

Bệnh nhân đã sử dụng tamoxifen, các liệu pháp điều trị hormone thay thế.

Phẫu thuật cắt bỏ tử cung, buồng trứng hai bên: là phương pháp điều trị chính và cổ điển.

Xạ trị: sử dụng các chùm tia có năng lượng lớn để tiêu diệt các tế bào ung thư. Phương pháp này được sử dụng như một liệu pháp bổ trợ cho phẫu thuật. Xạ trị có thể dùng xạ ngoài hoặc xạ trong.

Hoá trị: Sử dụng hoá chất để tiêu diệt các tế bào ung thư. Ở giai đoạn muộn của ung thư, hoá trị có thể làm chậm tiến triển và giúp bệnh nhân kéo dài thời gian sống.

Liệu pháp hormone: Dùng thuốc ngăn chặn các tế bào ung thư tiếp xúc với các nội tiết tố mà chúng cần cho sự phát triển. Thuốc thường được sử dụng hiện nay là progestin. Khi ung thư di căn xa, liệu pháp với progestin có thể đẩy lui bệnh trong khoảng 33% các trường hợp. Phương pháp này thường được chỉ định với những bệnh nhân không thể mổ, đã di căn hoặc tái phát sau điều trị.

Khám phụ khoa định kỳ.

Gặp bác sĩ để được tư vấn về nguy cơ của các liệu pháp hormone thay thế.

Duy trì cân nặng phù hợp với chỉ số BMI (Body Mass Index), không để bị béo phì.

Tập thể dục thường xuyên: cố gắng có những hoạt động thể chất ít nhất 30 phút mỗi ngày.

Các biện pháp chẩn đoán bệnh Ung thư nội mạc tử cung

Bệnh thường được chẩn đoán và điều trị ở giai đoạn sớm. Tuỳ theo triệu chứng lâm sàng của người bệnh, bác sĩ có thể chỉ định các biện pháp sau để chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung:

Siêu âm: giúp đánh giá độ dày và cấu trúc của niêm mạc tử cung.

Nội soi buồng tử cung: phương pháp này giúp chẩn đoán sớm những tổn thương ở nội mạc tử cung.

Sinh thiết nội mạc tử cung: dùng thủ thuật lấy mẫu mô từ nội mạc tử cung để làm xét nghiệm. Từ kết quả xét nghiệm có thể chẩn đoán ung thư, quá sản và một số bệnh khác.

Xét nghiệm sử dụng marker ung thư: CA 125 (Cancer antigen 125) là một dạng protein trong máu thường được sử dụng để chẩn đoán ung thư. Ở những bệnh nhân ung thư nội mạc tử cung, nồng độ CA 125 sẽ tăng cao.

Xét nghiệm mô bệnh học từ tế bào âm đạo giúp xác định độ biệt hoá, xâm lấn mạch máu của tế bào ung thư.

Xét nghiệm PAP smear hay còn gọi là phết tế bào tử cung: Tế bào bong ra từ lớp nội mạc tử cung được tách ra, tiến hành nhuộm và soi dưới kính hiển vi. Phương pháp này giúp tìm ra các tế bào bất thường, tế bào tiền ung thư và ung thư.

Chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ, chụp PET-CT để đánh giá mức độ xâm lấn, tình trạng di căn của khối u cũng như tiến triển của ung thư.

Nguyên nhân bệnh Ung thư nội mạc tử cung

Mất cân bằng hormone

Đây là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành ung thư nội mạc tử cung.

Ở nữ giới, trước thời kỳ mãn kinh, buồng trứng là nguồn sản xuất chính cho hai loại hormone là estrogen và progesterone. Sự cân bằng giữa hai loại hormone này thay đổi mỗi tháng theo chu kỳ kinh nguyệt và giúp cho nội mạc tử cung khỏe mạnh. Khi nồng độ estrogen tăng cao sẽ kích thích sự tăng sinh các tế bào nội mạc tử cung, làm gia tăng nguy cơ mắc ung thư.

Đa nang buồng trứng: Bệnh nhân mắc hội chứng đa nang buồng trứng có nồng độ hormone bất thường với tỉ lệ cao hormone androgen (hormone nam giới) và estrogen trong khi nồng độ progesterone lại thấp. Điều này làm tăng nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung.

Béo phì: Estrogen được tổng hợp một phần từ các mô mỡ. Lượng mỡ trong cơ thể nhiều dẫn tới lượng estrogen lớn khiến người béo phì có nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung cao hơn 2-4 lần so với phụ nữ bình thường.

Tiền sử gia đình, yếu tố di truyền

Yếu tố di truyền đóng góp 2-10% các trường hợp ung thư nội mạc tử cung. Phụ nữ mắc hội chứng Lynch (ung thư đại trực tràng di truyền không do polyp) có 40-60% nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung. Đột biến gene gây nên hội chứng này thường được di truyền từ mẹ sang con.

Các yếu tố khác

Tamoxifen sử dụng trong điều trị ung thư vú cũng làm tăng nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung do chất này có tác động tăng sinh nội mạc tử cung, tương tự như estrogen.

Dậy thì sớm (trước 12 tuổi) hoặc mãn kinh muộn (sau 55 tuổi) cũng làm tăng nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung.

Bên cạnh đó, phụ nữ chưa từng mang thai cũng có nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung cao.

Tiểu đường loại 2: Tỉ lệ mắc ung thư nội mạc tử cung cao gấp đôi ở phụ nữ mắc bệnh tiểu đường loại 2.

Tuổi tác cao cũng làm tăng nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung.

Triệu chứng bệnh Ung thư nội mạc tử cung

Biểu hiện của ung thư nội mạc tử cung bao gồm:

Xuất huyết âm đạo bất thường là biểu hiện thường gặp nhất ở bệnh nhân mắc ung thư nội mạc tử cung. Biểu hiện có thể là rối loạn kinh nguyệt, xuất huyết giữa các chu kỳ hoặc xuất huyết sau mãn kinh.

Tiết dịch âm đạo bất thường: Ở trạng thái bình thường, dịch âm đạo tiết ra có màu trong suốt như sữa, hơi đặc hoặc trong, dính như lòng trắng trứng, ít và không chảy ra ngoài. Khi dịch âm đạo tiết ra nhiều, có màu sắc bất thường, kèm theo mùi, đặc biệt là sau khi mãn kinh thì đây là một trong những biểu hiện cảnh báo nguy cơ ung thư nội mạc tử cung.

Đau thường xuyên hoặc có cảm nhận khối u xuất hiện ở vùng chậu hông: Biểu hiện này thường xuất hiện ở giai đoạn sau của ung thư, khi khối u đã lớn dần lên và chèn ép các mô xung quanh khu vực xương chậu.

Giảm cân bất thường không rõ nguyên nhân.

Đau khi quan hệ tình dục.

Mặc dù các biểu hiện trên có thể gây ra bởi nhiều nguyên nhân khác không phải ung thư, nhưng các chuyên gia khuyến cáo nên đến các cơ sở y tế để kiểm tra nếu mắc một trong các dấu hiệu trên.

Copyright © 2019 – Sitemap