Ung Thu U Tuy

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Ung Thu U Tuy xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 21/01/2021 trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Ung Thu U Tuy để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 5.742 lượt xem.

Có 8649 tin bài trong chủ đề【Ung Thu U Tuy】

【#1】2 Cách Sử Dụng Cây Thuốc Nam Hỗ Trợ Chữa Bệnh Tiểu Đường Tuýp 1 Và Tuýp 2

Với những triệu chứng có nét tương đồng khác nhau, bệnh tiểu đường tuýp 1 và bệnh tiểu đường tuýp 2 cũng có thể làm cho người bệnh nhầm lẫn và đưa ra phương pháp điều trị sai lầm, nếu không được bác sĩ chẩn đoán một cách chính xác. Nếu bệnh phát hiện khá muộn, có thể gây ra một số nguy cơ có hại.

Bệnh tiểu đường tuýp 1 là gì?

Bệnh tiểu đường tuýp 1 là căn bệnh thiếu hụt insulin, mà tuyến tụy đã không cung cấp trong tế bào, là một trong những căn bệnh phát triển một cách âm thầm trong cơ thể của người bệnh và rất nguy hiểm.

Đây là căn bệnh tự miễn, nguyên nhân gây ra căn bệnh này là do hệ miễn dịch tự tiêu hủy những tế bào có thể sản sinh ra insulin, làm ngăn cản sự chuyển hóa của glucozo, và căn bệnh này thường xảy ra ở những đối tượng trẻ hóa.

Triệu chứng thường gặp ở căn bệnh này: Bệnh nhân luôn cảm thấy mệt mỏi, có khi đói dữ dội, nhưng rất nhanh chóng bị sút cân, các vết thương rất chậm lành, khớp xương thường xuyên bị mức mỏi…Bệnh nhân nếu gặp một trong số những dấu hiệu trên cần đến cơ sở y tế được bác sĩ chẩn đoán bệnh một cách chính xác hơn.

Đây là một căn bệnh có thể gây ra các biến chứng cho người bệnh, các biến chứng đó rất nguy hiểm, nếu không được phát hiện và điề trị kịp thời.

Đâu là phương pháp nhằm kéo dài cuộc sống, giảm các triệu chứng, phòng ngừa biến chứng do bệnh tiểu đường tuýp 1 gây ra?

Để tìm ra một phương pháp thích hợp cho bệnh đái tháo đường tuýp 1 thì không khó, nhưng để vận dụng nó để điều trị thì không phải bệnh nhân nào cũng đủ kiên trì để có thể làm được điều đó. Đối với bệnh tiểu đường tuýp 1 thì khoog thể không sử dụng đến thuốc hỗ trợ insulin, loại thuốc có tên một loại hormone mà cơ thể khi bị bệnh làm cho tuyến tụy không đủ khả năng để tiết ra, loại thuốc này được dùng để tiêm dưới da của người bệnh.

Ngoài ra bệnh nhân bị tiểu đường tuýp 1 có thể sử dụng 2 bài thuốc điều trị bệnh mà chúng tôi đưa ra sau đây.

2 bài thuốc điều trị bệnh tiểu đường tuýp 1.

Bài thuốc thứ nhất.

Sử dụng dây thìa canh: Đây là loại cây thuộc họ dây leo các hoạt chất trong cây có tác dụng hạ và ổn định đường huyết rất tốt, giúp hạ lipid máu và giảm lượng cholesterol, tăng sự tiết dịch của insulin và ức chế hấp thu glucozo đường ruột.

Sử dụng cây dây thìa canh bằng cách: Sau khi thu hái rửa sạch, có thể chặt ra từng khúc nhỏ rồi phơi khô. Sau đó, cất trong túi bóng để giữu cho nguyên liệu này không bị ẩm mốc. Mỗi ngày bạn có thể lấy 25-30gr, đun sôi với một lít nước trong 5-10 phút rồi rót ra phích để giữ nóng. Ngày uống 3 lần, và uống sau bữa ăn khoảng 20-25 phút.

Sử dụng lá trá xanh: Trà xanh là một loại thực phẩm khá phổ biến, và rất được nhiều người ưa thích đặc biệt là những người, ở độ tuổi trung niên và về già. Vì đây là loại trà dùng để uống, và rất có lợi cho sức khỏe. Dùng để phòng chống và điều trị rất nhiều loại bệnh trong đó có bệnh tiểu đường.

Trong thành phần của trà xanh có nhiều chất oxy hóa, chất này có tác dụng giảm stress, giảm mạch và hạ huyết áp, hoạt chất trong trà xanh còn có một loại hoạt tính có tên khoa học polyphenol giúp điều chỉnh lượng đường trong máu, giúp quá trình kiểm soát đường rất tốt.

Cách sử dụng lá chè xanh trong việc điều trị bệnh tiểu đường rất đơn giản, bạn chỉ cần hãm nước chè xanh để uống thay nước hàng ngày, giúp cho lượng đường trong máu có thể ổn định tốt hơn.

Trên là một số thồng tin cần thiết, mà chúng tôi muốn cung cấp để các bạn có thể hiểu rõ hơn về bệnh tiểu đường tuýp 1, mà có thể từ đó để tìm cách chữa trị một cách tốt nhất.

Trao sức khỏe sống trọn vẹn! Bạn nên chọn lựa một vài bài thuốc tôt nhất để điều trị cho căn bệnh của mình, không nên sử dụng lan man để rồi bệnh lại không đi đâu vào đâu!

Dược sĩ Lâm đã có 20 kinh nghiệm làm chuyên môn về chuyên khoa Nội. Đặc biệt Dược sĩ Lâm có nhiều năm kinh nghiệm các bệnh tiểu đường, rối loạn tuyến giáp, rối loạn cholesterol


【#2】Cách Điều Trị Ung Thư Tuyến Tiền Liệt?

Xin bác sĩ cho biết các phương pháp điều trị ung thư tuyến tiền liệt?

HÃY THAM KHẢO NHỮNG THÔNG TIN TỔNG HỢP DƯỚI ĐÂY

Hiện nay có rất nhiều phương pháp điều trị ung thư tuyến tiền liệt, là phương pháp điều trị đa mô thức như phẫu thuật, kết hợp điều trị về nội tiết, kết hợp hóa trị, điều trị nhắm trúng đích, xạ trị… Các phương pháp điều trị ung thư tuyến tiền liệt hết sức đa dạng. Tùy theo từng giai đoạn bệnh lý mà chúng ta có thể áp dụng các phương pháp điều trị khác nhau.

Những bệnh nhân đến viện giai đoạn sớm sẽ được phẫu thuật tận gốc bằng phương pháp mổ mở hoặc mổ nội soi, giúp điều trị triệt để và giảm tỉ lệ tử vong.

Nếu bệnh nhân đến trong giai đoạn muộn, có thể áp dụng những phương pháp khác như cắt tinh hoàn, sử dụng các thuốc kháng nội tiết để điều trị. Ở những giai đoạn trễ hơn, áp dụng thuốc hóa trị hoặc thuốc nhắm trúng đích khác.

Với những bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt đã đi ra khỏi vỏ bao, tức khối u đã xâm lấn ra khỏi vỏ bao, có thể áp dụng xạ trị ngoài giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Nếu khối u vẫn còn nằm trong vỏ bao, điều trị bằng xạ trị áp sát hay còn gọi là điều trị xạ tại chỗ. Đây là phương pháp được áp dụng hiện nay tại 1 số trung tâm lớn trên thế giới.

Tốc độ phát triển của ung thư tuyến tiền liệt khác nhau giữa nam giới. Phát hiện sớm sẽ giúp cho việc điều trị có kết quả tốt nhất.

– Khám trực tràng bằng tay: Đây là bước đầu tiên trong chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt. Bác sĩ sẽ đưa một ngón tay đeo găng vào trực tràng và cảm nhận trong tiền liệt tuyến có hay không các vùng cứng, sần sùi hoặc bất thường.

– Xét nghiệm kháng nguyên đặc hiệu của tuyến tiền liệt (PSA): PSA là một chất được sản xuất bởi cả các tế bào tuyến tiền liệt bình thường và ác tính. Sự tăng của nồng độ PSA trong máu là một xét nghiệm khác giúp phát hiện ung thư tuyến tiền liệt.

– Sinh thiết dưới hướng dẫn của siêu âm qua ngã trực tràng hoặc đáy chậu: Là thủ thuật trong đó một đầu dò siêu âm với kích thước tầm ngón tay được đưa vào trực tràng để kiểm tra tuyến tiền liệt. Các mẫu mô của tuyến tiền liệt được lấy ra bằng một kim nhỏ sau khi gây tê tại chỗ và được bác sĩ giải phẫu bệnh (chuyên gia bệnh học) xem dưới kính hiển vi.

– Chụp cộng hưởng từ (MRI) vùng chậu: Hình ảnh chi tiết của vùng chậu giúp xác định sự lan rộng tại khu vực của ung thư tuyến tiền liệt và có xâm lấn đến các hạch bạch huyết xung quanh hay không.

– Chụp xạ hình xương: Giúp phát hiện ung thư đã di ra khỏi tuyến tiền liệt đến tận xương. Khi ung thư tuyến tiền liệt di căn, xương là nơi phổ biến nhất mà nó sẽ lan đến.

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để được tư vấn phương pháp hỗ trợ điều trị tốt nhất. chúng tôi không đưa ra các lời khuyên, chẩn đoán hay các phương pháp điều trị y khoa.

Trên hết, thay vì phải tìm cách chữa bệnh thì mình nghĩ chúng ta hãy nên giữ gìn sức khỏe thật tốt thông qua chế độ sinh hoạt, ăn uống lành mạnh. Phòng bệnh hơn chữa bệnh phải không nào?

Các thông tin trên website này được tự động tổng hợp, sưu tầm trên Internet, và thông tin chỉ mang tính chất tham khảo. Chúng tôi không chịu trách nhiệm nào do việc áp dụng các thông tin trên website này gây ra.


【#3】Mách Bạn Cách Điều Trị Ung Thư Tuyến Giáp Theo Chuẩn Quốc Tế

1. Mục tiêu, nguyên tắc điều trị ung thư tuyến giáp

Tuyến giáp là tuyến nội tiết lớn nhất của cơ thể, đảm nhiệm nhiều vai trò quan trọng trong cơ thể, tiết ra 2 loại hormon giáp trạng Thyroxine (T4) và hormone tri-iodo-thyronine (T3). Tuyến giáp bắt giữ và cô đặc Iod từ huyết tương theo cơ chế vận chuyển tích cực. Trong tuyến giáp, iod được hữu cơ hóa và tổng hợp thành thyroxin nhờ khuôn thyroglobin.

Bệnh nhân ung thư tuyến giáp nếu được phát hiện sớm thường có tiên lượng tốt, bệnh nhân thường được dễ dàng điều trị thành công, cơ hội khỏi bệnh là cực kỳ cao có thể lên tới gần 100%. Việc điều trị ung thư tuyến giáp thường theo nguyên tắc như sau:

  • Phẫu thuật vẫn là phương pháp điều trị chính cho tất cả các loại khối u tuyến giáp.
  • Liệu pháp I 131 được chỉ định trong những trường hợp bênh nhân lớn tuổi (trên 45 tuổi) mắc ung thư tuyến giáp thể biệt hóa, bướu có kích thước lớn (trên 4 cm) hoặc di căn xa.
  • Xạ trị hoặc hóa trị áp dụng cho những bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể kém biệt hóa hoặc không biệt hóa.

Điều trị ung thư tuyến giáp hiện nay đã có rất nhiều tiến bộ

2. Các phương pháp chữa ung thư tuyến giáp

2.1. Phẫu thuật ung thư tuyến giáp

Phẫu thuật ung thư tuyến giáp có lẽ là phương pháp điều trị không thể thiếu được trong hầu hết các bệnh ung thư. Đối với ung thư tuyến giáp, các hình thức phẫu thuật có thể là:

Cắt thùy tuyến giáp

Phẫu thuật cắt thùy tuyến giáp là một hoạt động loại bỏ thùy chứa ung thư, thường cùng với isthmus (mảnh nhỏ của tuyến đóng vai trò là cầu nối giữa thùy trái và thùy phải).

Đôi khi nó được sử dụng để điều trị ung thư tuyến giáp biệt hóa (nhú hoặc nang) nhỏ và không có dấu hiệu lan rộng ra ngoài tuyến giáp.

Hoặc cũng có thể được sử dụng để chẩn đoán ung thư tuyến giáp nếu kết quả sinh thiết FNA không có cung cấp chẩn đoán rõ ràng.

Lợi thế của phẫu thuật này là một số bệnh nhân có thể không cần phải uống thuốc nội tiết tố tuyến giáp vì nó để lại một phần của tuyến sau.

Nhưng có một số tuyến giáp còn lại có thể can thiệp vào một số xét nghiệm tìm kiếm sự tái phát ung thư sau khi điều trị, chẳng hạn như quét radioiodine và xét nghiệm máu thyroglobulin.

Cắt tuyến giáp

Cắt tuyến giáp là phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp. Đây là phẫu thuật phổ biến nhất cho ung thư tuyến giáp. Như với phẫu thuật cắt thùy, điều này thường được thực hiện thông qua một vết mổ dài vài inch ở phía trước cổ.

Bạn sẽ có một vết sẹo nhỏ ở phía trước cổ sau khi phẫu thuật, nhưng điều này sẽ trở nên ít chú ý hơn theo thời gian.

Nếu toàn bộ tuyến giáp bị cắt bỏ, nó được gọi là cắt tuyến giáp toàn bộ. Đôi khi bác sĩ phẫu thuật có thể không thể loại bỏ toàn bộ tuyến giáp. Nếu gần như tất cả các tuyến được loại bỏ, nó được gọi là cắt tuyến giáp gần như toàn bộ.

Sau khi phẫu thuật cắt tuyến giáp gần hoặc toàn bộ, bạn sẽ cần uống thuốc nội tiết tố tuyến giáp (levothyroxin) hàng ngày.

Nhưng một lợi thế của phẫu thuật này so với phẫu thuật cắt thùy là bác sĩ của bạn sẽ có thể kiểm tra sự tái phát (ung thư trở lại) sau đó bằng cách sử dụng quét radioiodine và xét nghiệm máu thyroglobulin.

Loại bỏ hạch bạch huyết

Nếu ung thư đã di căn đến các hạch bạch huyết gần đó ở cổ, chúng sẽ được loại bỏ đồng thời phẫu thuật được thực hiện trên tuyến giáp. Điều này đặc biệt quan trọng để điều trị ung thư tuyến giáp tủy và ung thư anaplastic (khi phẫu thuật là một lựa chọn).

Đối với ung thư nhú hoặc nang trong đó chỉ có 1 hoặc 2 hạch bạch huyết được cho là có chứa ung thư, các hạch to có thể được loại bỏ và bất kỳ tế bào ung thư nhỏ nào có thể còn lại sau đó được điều trị bằng iốt phóng xạ.

Rủi ro và tác dụng phụ của phẫu thuật tuyến giáp

Khàn giọng tạm thời hoặc vĩnh viễn hoặc mất giọng. Điều này có thể xảy ra nếu thanh quản (hộp giọng nói) hoặc khí quản bị kích thích bởi ống thở được sử dụng trong khi phẫu thuật.

Điều này cũng có thể xảy ra nếu các dây thần kinh đến thanh quản (hoặc dây thanh âm) bị tổn thương trong quá trình phẫu thuật. Bác sĩ nên kiểm tra dây thanh âm của bạn trước khi phẫu thuật để xem chúng có di chuyển bình thường không.

Tổn thương tuyến cận giáp (tuyến nhỏ phía sau tuyến giáp giúp điều chỉnh nồng độ canxi). Điều này có thể dẫn đến mức canxi trong máu thấp, gây co thắt cơ và cảm giác tê và ngứa ran.

Chảy máu quá mức hoặc hình thành cục máu đông lớn ở cổ (gọi là khối máu tụ).

2.2. Xạ trị điều trị ung thư tuyến giáp bằng I – 131

Tuyến giáp hấp thụ gần như tất cả iốt trong cơ thể. Do đó, iốt phóng xạ (RAI, còn được gọi là I-131) có thể được sử dụng để điều trị ung thư tuyến giáp và ít gây ảnh hưởng đến phần còn lại của cơ thể bạn.

Liệu pháp iốt phóng xạ giúp mọi người sống lâu hơn nếu họ bị ung thư tuyến giáp dạng nhú hoặc nang (ung thư tuyến giáp biệt hóa) đã lan đến cổ hoặc các bộ phận cơ thể khác.

Để liệu pháp RAI có hiệu quả nhất, cơ thể của bạn cần có lượng hormone kích thích tuyến giáp cao (TSH hoặc thyrotropin) trong máu. Hormone có vai trò làm cho mô tuyến giáp (và tế bào ung thư) hấp thụ iốt phóng xạ.

  • Ngừng dùng thuốc nội tiết tố tuyến giáp trong vài tuần. Điều này gây ra nồng độ hormone tuyến giáp rất thấp (suy giáp), khiến tuyến yên tiết ra nhiều TSH.
  • Tiêm thyrotropin (Thyrogen) có thể khiến cho hormone tuyến giáp bị giữ lại trong một thời gian dài không cần thiết. Thuốc này được dùng hàng ngày trong 2 ngày, tiếp theo là RAI vào ngày thứ 3.

Nếu tuyến giáp của bạn đã được cắt bỏ, có một số cách để tăng mức TSH trước khi được điều trị bằng RAI:

Hầu hết các bác sĩ cũng khuyên bạn nên tuân theo chế độ ăn ít iốt trong 1 hoặc 2 tuần trước khi điều trị.

2.3. Hóa trị ung thư tuyến giáp

Hóa trị ít có tác dụng trong điều trị hầu hết các loại ung thư tuyến giáp và thường chỉ được áp dụng trong một số trường hợp.

Phương pháp này thường được kết hợp với xạ trị chùm tia bên ngoài cho bệnh ung thư tuyến giáp anaplastic và đôi khi được sử dụng cho các bệnh ung thư tiến triển khác không còn đáp ứng với các phương pháp điều trị khác.

Các loại thuốc hóa trị được sử dụng phổ biến nhất để điều trị chủ yếu là ung thư tuyến giáp tủy và ung thư tuyến giáp anaplastic.

2.4. Liệu pháp hormon tuyến giáp

Nếu tuyến giáp của bạn đã được cắt bỏ, cơ thể bạn không còn có thể tạo ra hormone tuyến giáp cần thiết. Khi đó, bạn sẽ cần uống thuốc hormone tuyến giáp (levothyroxin) để thay thế hormone tự nhiên và giúp duy trì sự trao đổi chất bình thường và có thể làm giảm nguy cơ ung thư trở lại.

Chức năng tuyến giáp bình thường được điều hòa bởi tuyến yên. Tuyến yên tạo ra một loại hormone gọi là TSH khiến tuyến giáp sản xuất hormone cho cơ thể. TSH cũng thúc đẩy sự phát triển của tuyến giáp và có thể là các tế bào ung thư tuyến giáp.

Các bác sĩ cho rằng bằng cách cho liều thuốc hormone tuyến giáp cao thì làm giảm nồng độ TSH. Điều này có thể làm chậm sự phát triển của bất kỳ tế bào ung thư và làm giảm nguy cơ một số bệnh ung thư tuyến giáp quay trở lại.

3. Điều trị ung thư tuyến giáp theo từng loại và từng giai đoạn

3.1. Ung thư tuyến giáp thể nhú và thể nang

Hầu hết các bệnh ung thư được điều trị bằng cách cắt bỏ tuyến giáp (cắt tuyến giáp), mặc dù các khối u nhỏ không lan ra ngoài tuyến giáp có thể được điều trị bằng cách chỉ cần cắt bỏ bên cạnh tuyến giáp có chứa khối u (cắt thùy).

Ngay cả khi các hạch bạch huyết không được mở rộng, một số bác sĩ khuyên nên cắt bỏ khoang cổ trung tâm (phẫu thuật cắt bỏ các hạch bạch huyết bên cạnh tuyến giáp) cùng với cắt bỏ tuyến giáp. Mặc dù hoạt động này chưa được chứng minh là cải thiện khả năng sống sót của bệnh ung thư, nhưng nó có thể làm giảm nguy cơ ung thư quay trở lại ở vùng cổ.

Các loại thuốc điều trị nhắm mục tiêu sorafenib (Nexavar) và lenvatinib (Lenvima) có thể được thử nếu ung thư đã lan đến một số nơi.

3.2. Ung thư tuyến giáp thể tủy

Hầu hết các bác sĩ khuyên rằng bệnh nhân được chẩn đoán mắc ung thư tuyến giáp tủy (MTC) nên được kiểm tra các khối u khác, chẳng hạn như pheochromocytoma và u tuyến cận giáp.

Sàng lọc phát hiện pheochromocytoma đặc biệt quan trọng, bởi vì gây mê và phẫu thuật có thể cực kỳ nguy hiểm khi những khối u này xuất hiện.

Nếu các bác sĩ phẫu thuật và bác sĩ gây mê biết về các khối u như vậy trước, họ có thể điều trị cho bệnh nhân bằng thuốc trước để phẫu thuật an toàn

Giai đoạn I và II

Cắt tuyến giáp toàn bộ là phương pháp điều trị chính cho MTC và thường chữa khỏi bệnh nhân MTC giai đoạn I hoặc giai đoạn II. Các hạch bạch huyết gần đó thường được loại bỏ là tốt. Bởi vì tuyến giáp được loại bỏ, liệu pháp hormone tuyến giáp là cần thiết sau phẫu thuật.

Đối với MTC, liệu pháp hormon tuyến giáp có nghĩa là cung cấp đủ hormone để giữ cho bệnh nhân khỏe mạnh, nhưng nó không làm giảm nguy cơ ung thư sẽ quay trở lại. Bởi vì các tế bào MTC không hấp thụ iốt phóng xạ, không có vai trò nào đối với liệu pháp iốt phóng xạ trong điều trị MTC.

Giai đoạn III và IV

Phẫu thuật giống như giai đoạn I và II (thường là sau khi sàng lọc hội chứng MEN 2 và pheochromocytoma). Liệu pháp hormon tuyến giáp được đưa ra sau đó.

Khi khối u lan rộng và xâm lấn nhiều mô gần đó hoặc không thể loại bỏ hoàn toàn, liệu pháp xạ trị chùm tia bên ngoài có thể được đưa ra sau phẫu thuật để cố gắng giảm nguy cơ tái phát ở cổ.

Đối với các bệnh ung thư đã lan đến các bộ phận xa của cơ thể, phẫu thuật, xạ trị hoặc các phương pháp điều trị tương tự có thể được sử dụng nếu có thể.

Nếu những phương pháp điều trị này có thể được sử dụng, vandetanib (Capba), cabozantinib (Cometriq) hoặc các loại thuốc nhắm mục tiêu khác có thể được thử.

3.3. Ung thư tuyến giáp thể kém biệt hóa

Điều trị iốt phóng xạ không được sử dụng vì nó không đem lại hiệu quả cao đối với bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể kém biệt hóa.

Liệu pháp xạ trị chùm tia ngoài có thể được sử dụng một mình hoặc kết hợp với hóa trị liệu

Đối với các bệnh ung thư đã lan rộng, hóa trị liệu đơn thuần có thể được sử dụng. Nếu các tế bào ung thư có những thay đổi nhất định trong gen BRAF hoặc NTRK, điều trị bằng thuốc nhắm mục tiêu dabrafenib (Tafinlar) và trametinib (Mekinist) hoặc larotrectinib (Vitrakvi) là những lựa chọn khác.

4. Các biện pháp kiểm soát, nâng cao hiệu quả điều trị ung thư tuyến giáp

– Bạn biết không, tâm lý và ý chí quyết tâm điều trị ung thư tuyến giáp có thể giúp vượt qua tất cả những khó khăn mà bạn đang phải đối mặt. Vì vậy, thường xuyên đọc sách báo nuôi dưỡng ý chí tinh thần là cách rất tốt để nâng cao hiệu quả điều trị.

– Để tăng cường hệ miễn dịch, giảm tác dụng phụ trong điều trị ung thư, bạn nên sử dụng các sản phẩm hỗ trợ điều trị ung thư tuyến giáp chẳng hạn như King Fucoidan & Agaricus.

Sản phẩm King Fucoidan & Agaricus hỗ trợ điều trị ung thư

Sản phẩm King Fucoidan đến từ Nhật Bản là sự kết hợp hoàn chỉnh giữa Fucoidan được chiết xuất từ 100% tảo nâu Mozuku và Bột nghiền từ Nấm Agaricus rất giàu các vitamin, chứa hàm lượng lớn Beta 1.3 Glucan và Beta 1.6 Glucan – các chất oxy hóa chống ung thư cực mạnh.

  • Giúp ngăn chặn sự tiến triển của tế bào u bướu, tốt cho người đang trong quá trình hóa – xạ trị.
  • Hỗ trợ miễn dịch, tăng cường khả năng kháng và trung hòa gốc tự do
  • Hỗ trợ bảo vệ gan, hệ miễn dịch, tăng cường sức đề kháng và chống lão hóa.

Sự kết hợp giữa hoạt chất fucoidan và beta- glucan trong sản phẩm cho tác dụng hỗ trợ điều trị ung thư hiệp đồng. Cơ chế tác động của King Fucoidan & Agaricus lên tế bào ung thư như sau:

Để được tư vấn về sản phẩm và cách mua hàng, mời bạn gọi điện tới tổng đài miễn cước , hoặc số số ngoài giờ hành chính 02439963961 để được hướng dẫn cụ thể.

Với khách hàng khu vực miền Nam vui lòng liên hệ liên hệ tổng đài 02839316468 được tư vấn và mua hàng trực tiếp từ nhà nhập khẩu chính thức sản phẩm.


【#4】Chữa Thủy Đậu Và Phỏng Dạ Bằng 12 Tuyệt Chiêu “cứ Dùng Là Khỏi”

Khi cơ thể bị khó chịu, sốt nhẹ, mệt mỏi và cơ thể bắt đầu xuất hiện những nốt hồng, sau 24 – 48 giờ phồng rộp thành mụn nước, nhiều người khẳng định đây là bệnh thủy đậu. Tuy nhiên, cũng có người cho rằng đây là bệnh phỏng dạ. Vậy thực tế đây là 2 bệnh khác nhau hay bệnh thủy đậu và phỏng dạ là một?

Bệnh thủy đậu và phỏng dạ chỉ là một bệnh?

Câu hỏi bệnh thủy đậu và phỏng dạ có phải là một không là thắc mắc của nhiều người. Người bệnh không biết mình đang mắc bệnh gì và điều trị như thế nào.

Thực chất, thủy đậu và phỏng dạ là một bệnh, chỉ là tên gọi khác nhau ở mỗi vùng miền. Bệnh phỏng dạ là tên gọi xưa của bệnh thủy đậu ở miền Bắc, còn ở miền Nam thường gọi là bệnh trái rạ. Vì thế, nguyên nhân, triệu chứng , cách điều trị thủy đậu và bệnh phỏng dạ là như nhau.

Bệnh phỏng dạ thường xuất hiện chủ yếu ở trẻ dưới 15 tuổi, nhiều nhất là 5 – 10 tuổi. Tác nhân gây bệnh chính là sự hoành hành của một loại virus có tên varicella-zoster. Bệnh thủy đậu thường xảy ra ở trẻ em nhưng không có nghĩa là người lớn không mắc bệnh. Thời điểm bệnh bùng phát là từ đầu xuân và kéo dài sang hè. Bệnh thủy đậu ở trẻ em thường để lại nhiều biến chứng nhưng người lớn bị thì biến chứng sẽ nguy hiểm hơn.

  • Sốt nhẹ 37,5-38oC trong vài ngày, trẻ kém ăn, quấy khóc.
  • Bệnh thủy đậu ở giai đoạn đầu thường khá giống với bệnh sởi. Nốt ban đỏ mọc ở toàn thân, thường mọc nhiều ở da đầu, mặt, chân tay rồi lan dần khắp người.
  • Nốt thủy đậu phỏng nông, trông khá giống với giọt sương. Tốc độ mọc nốt đậu nhanh. Kích cỡ của nốt đậu khác nhau tùy thuộc vào độ tuổi, tình trạng bệnh của mỗi người.
  • Bệnh nhân cảm giác ngứa, khó chịu muốn gãi tung nốt phỏng dạ.
  • Giai đoạn cuối, nốt thủy đậu vỡ ra, dần đóng vảy. Vảy thủy đậu bong ra là khỏi bệnh.

Thủy đậu hay phỏng dạ rất dễ lây lan, chỉ cần một cái hắt xì hơi, sự đụng chạm vào các dịch nước bên trong nốt phỏng là người đối diện cũng có thể mắc bệnh. Sự lây truyền chỉ kết thúc khi các nốt ban vỡ ra đóng vảy.

12 cách chữa bệnh thủy đậu khỏi nhanh nhất

Người bị bệnh thủy đậu cần phải vệ sinh cá nhân sạch sẽ tránh nguy cơ trái rạ mắc bệnh zona sau này. Súc miệng bằng nước muối là mẹo chữa bệnh thủy đậu đơn giản nhất. Thực hiện súc miệng hàng ngày, sáng và tối sẽ giúp giảm ngứa và ngừa mọc mụn thủy đậu trong miệng.

2. Trà thảo mộc

Các loại trà thảo mộc đã được chứng minh chữa bệnh thủy đậu rất tốt và được các chuyên gia sức khỏe khuyên dùng. Dùng trà catnip cùng với mật đường giúp giảm sốt khi bị thủy đậu.

Sử dụng giấm nâu để tắm giúp giảm ngứa và các nốt đậu nhanh đóng vảy hơn. Cách làm sử dụng 1/2 chén giấm nấu cho vào nước tắm, ngâm mình trong bồn tắm ít nhất 10 phút/ngày.

4. Sử dụng rễ cây chút chít vàng (yellow dock)

Cây chút chít vàng là thảo mộc có công dụng giảm ngứa và làm nốt đậu khô, đóng vảy nhanh hơn.

Cách làm: Dùng 15g rễ cây chút chít vàng băm nhỏ đun sôi lấy 2 chén nước. Dùng nước sắc này bôi lên vùng da bị thủy đậu, hoặc có thể uống 1/4 chén, chia làm nhiều lần trong ngày.

Tuy nhiên, cần chú ý, lá cây chút chít vàng rất độc nên tuyệt đối chỉ được dùng rễ cây.

5. Tránh ánh nắng mặt trời

Bệnh nhân thủy đậu nên được cách ly ở trong phòng rộng rãi, thoáng mát, tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời. Ánh nắng mặt trời sẽ làm mụn đậu nhiều hơn.

6. Mật ong thiên nhiên

Trong mật ong có chứa nhiều dưỡng chất tốt cho sức khỏe và có tác dụng làm đẹp. Người bị thủy đậu bôi mật ong thiên nhiên lên vùng da bị tổn thương các dưỡng chất sẽ hấp thụ vào da, sau thủy đậu sẽ không để lại sẹo mờ. Đây là cách chữa thủy đậu nhanh nhất.

7. Dầu hoa oải hương

Tinh dầu oải hương giúp bệnh nhân thủy đậu giảm ngứa, ngừa lây lan mụn nước, mang lại cảm giác thư thái, cảm giác nhẹ nhàng, mát mẻ cho làn da.

8. Dầu vitamin E

Dầu vitamin E sẽ giúp các mụn nước thủy đậu nhanh chóng biến mất. Dùng dầu vitamin E chà xát khắp cơ thể để hấp thụ và da tốt hơn.

9. Dùng dung dịch banking soda

Dung dịch banking soda giúp các mụn nước thủy đậu không bị vỡ ra và phòng tránh sự hình thành mụn nước mới. Cách sử dụng pha dung dịch banking soda vào ly nước nhỏ, rồi bôi lên các mụn nước và vùng da xung quanh.

10. Tắm với lá sầu đâu

Người bị bệnh thủy đậu kiêng tắm là một quan niệm sai lầm, khiến bệnh nặng hơn. Để chữa bệnh thủy đậu nhanh nhất, nên sử dụng lá sầu đâu để tắm. Tắm bằng nước lá sầu đâu ấm không chỉ có tác dụng giảm ngứa mà còn giúp các mụn thủy đậu vỡ nhanh bình phục hơn.

11. Dùng thuốc Đông y chữa thủy đậu

12 Ngọc Dung Tán chữa thủy đậu nhanh nhất

Thủy đậu như chúng ta đã biết ngoài ảnh hưởng tới sức khỏe của người bệnh, nó còn gây hậu quả rất xấu đến cơ thể, diện mạo. Vì vậy, Ngọc Dung Tán là sản phẩm có công dụng chữa thủy đậu hiệu quả từ sâu bên trong và tác động lành sẹo từ bên ngoài. Sản phẩm là sự kết hợp của 2 bài thuốc uống và bôi giúp tác dụng trị bệnh tối đa.

Thành phần của thuốc uống Ngọc Dung Tán bao gồm các thảo dược thiên nhiên quý hiếm: Kim ngân hoa, hồng hoa, ké đầu ngựa, bồ công anh… với Tỷ Lệ Vàng giúp phát huy tối đa công hiệu của từng vị thuốc. Đối với thuốc dạng cao bôi Ngọc Dung Tán, những vị thuốc tự nhiên lành tính như: Mật ong, sinh địa, tang bạch bì… giúp cho làn da của người bệnh được nuôi dưỡng, nhanh chóng liền sẹo, lấy lại độ đàn hồi.

Ngọc Dung Tán được điều chế bằng sự tâm huyết của đội ngũ y bác sĩ từ nhà thuốc Tâm Minh Đường, giúp hàng nghìn người thoát khỏi bệnh thủy đậu và phỏng dạ an toàn, hiệu quả mà người bệnh không cần phải điều chế.

Sản phẩm uy tín, đảm bảo chất lượng bởi nhà thuốc Tâm Minh Đường đã vinh dự được nhận giải thưởng “Cúp vàng thương hiệu An toàn vì sức khỏe cộng đồng”.

Người bệnh có thể liên hệ mua bài thuốc Ngọc Dung Tán trị bệnh thủy đậu và phỏng dạ theo địa chỉ 2 nhà thuốc sau:


【#5】Triệu Chứng, Điều Trị Bệnh Ung Thư Biểu Mô Ống Tuyến Vú Tại Chỗ Tại Bệnh Viện 71 Trung Ương

Tại Việt Nam tỷ lệ mắc ước tính là 17,4/100.000 dân, tại phía Bắc, ung thư vú chiếm hàng đầu trong số các ung thư ở nữ, còn ở phía Nam, căn bệnh này đứng sau ung thư cổ tử cung.

UNG THƯ TUYẾN VÚ

1. ĐẠI CƯƠNG :

1.1 Định nghĩa : Ung thư vú là ung thư bắt đầu trong các mô của vú. Hầu hết các ung thư biểu mô ống tuyến sữa. Là một căn bệnh hay gặp và chiếm tỷ lệ tử vong hàng đầu trong số các ung thư của nữ giới ở nhiều nước trên thế giới.

Tại Việt Nam tỷ lệ mắc ước tính là 17,4/100.000 dân, tại phía Bắc, ung thư vú chiếm hàng đầu trong số các ung thư ở nữ, còn ở phía Nam, căn bệnh này đứng sau ung thư cổ tử cung.

Điều trị ung thư vú hiện nay là sự kết hợp chặt chẽ giữa các biện pháp điều trị tại chỗ, tại vùng bằng phẫu thuật, tia xạ với các phương pháp toàn thân bằng hóa chất, nội tiết và sinh học.

1.2 Yếu tố nguy cơ :

– Yếu tố di truyền và gia đình.

– Yếu tố nội tiết.

– Chế độ ăn uống.

– Bệnh vú lành tính.

– Yếu tố môi trường.

2. ĐÁNH GIÁ BỆNH NHÂN :

Lâm sàng :

Khối u vú thường không gây đau, một số trường hợp có chảy dịch đầu vú (dịch máu hoặc dịch vàng chanh) u có mật độ cứng rắn, mặt gồ ghề, ranh giới có thể rõ hoặc không. Trong những trường hợp đến muộn, u có thể xâm lấn vào thành ngực làm hạn chế di động hoặc xâm nhiễm da tạo hình ảnh “sần da cam” hoặc vỡ loét, đôi khi ung thư vú cũng biểu hiện như một viêm tấy lan toả vùng vú (ung thư vú thể viêm).

Trong nhiều trường hợp bệnh nhân thường có hạch nách cùng bên, hạch có thể có các mức độ tổn thương từ mềm đến cứng hoặc xâm nhiễm dính vào xung quanh tuỳ theo mức độ tiến triển bệnh. Trong mọi trường hợp đều phải lưu ý khám hạch thượng đòn và tuyến vú đối bên.

Cận lâm sàng:

– Chụp Nhũ ảnh : tổn thương điển hình có dạng hình sao nhiều chân, co kéo tổ chức tuyến vú, có nhiều chấm vi can xi hoá tập hợp thành đám.

– Xét nghiệm tế bào học: thường thấy các tế bào ung thư mất sự kết dính, đa hình thái, tỷ lệ nhân/nguyên sinh chất tăng, nhiều nhân quái nhân chia, bào tương kiềm tính.

Khi cả ba phương pháp trong bộ ba kinh điển đều cho kết quả dương tính thì có thể đi đến chẩn đoán xác định. Nếu một trong ba phương pháp này nghi ngờ, có thể chỉ định sinh thiết kim, sinh thiết tức thì hoặc sinh thiết mở thường quy để khẳng định chẩn đoán.

Các phương pháp chẩn đoán khác :

– Sinh thiết kim: cho phép lấy mảnh tổ chức làm giải phẫu bệnh định mô bệnh học và các xét nghiệm hóa mô miễn dịch khác như ER, PR, HEU2.

– Sinh thiết tức thì: cho phép chẩn đoán xác định ung thư ngay khi bệnh nhân ở trên bàn mổ.

– Sinh thiết mở: trong nhiều trường hợp chỉ phát hiện được ung thư sau khi đã phẫu thuật lấy u. Vì vậy, mọi trường hợp mổ u vú đấu bắt buộc phải kiểm tra giải phẫu bệnh khối u, đặc biệt là đối với các bệnh nhân trên 35 tuổi.

. Tiêu chuẩn xác định : u tuyến vú có mô bệnh học tế bào ác tính

Chẩn đoán phân biệt:

– U lành tuyến vú.

– Viêm tuyến vú, áp xe vú

Chẩn đoán giai đoạn :

Chẩn đoán TNM và giai đoạn theo Tổ chức Chống ung thư quốc tế UICC 2002.

T: U nguyên phát (Pnmary tumor).

Tx: Không xác định được u nguyên phát.

To: Không có dấu hiệu u nguyên phát.

Tis: Carcinoma tại chỗ: carcinoma nội ống, carcinoma thể thùy tại chỗ, hoặc bệnh Paget của núm vú nhưng không sờ thấy u.

Tl: U có đường kính lớn nhất không vượt quá 2cm.

Tl vi thể: u có đường kính ≤ 0,1 cm.

T1a: 0,1 ≤ U ≤ 0,5 cm.

T1b: 0.5 cm ≤ U ≤ 1 cm.

T1c : 1 < U ≤ 2 cm.

T2: 2cm < U ≤ 5cm.

T4: U mọi kích thước nhưng có xâm lấn thành ngực hoặc da bao gồm.

T4a: Xâm lấn tới thành ngực.

T4b: U xâm lấn tới da bao gồm sần da cam hoặc loét da vú, hoặc nhiều khối u dạng vệ tinh ở da.

T4c: Bao gồm T4a và T4b nhưng giới hạn ở một bên vú.

N: Hạch vùng.

Nx : Không xác định được hạch vùng (ví dụ hạch đã được lấy bỏ).

N0 : Không có di căn hạch vùng.

N1 : Di căn hạch nách cùng bên di động.

N2: Di căn hạch nách cùng bên dính nhau hoặc dính vào tổ chức xung quanh.

N3: Di căn hạch vú trong và/hoặc hạch thượng đòn cùng bên.

M : Di căn xa.

Mx: Không xác định được di căn xa.

M0: Không có di căn xa.

M1: Di căn xa.

4. ĐIỀU TRỊ :

Mục đích điều trị : Phát hiện sớm và điều trị hết bệnh, ngăn chặn bệnh diễn tiến nặng hơn, làm tăng thời gian tỉ lệ sống còn toàn bộ và cuộc sống không bịnh

Nguyên tắc điều trị : phối hợp 4 phương thức : Hóa trị, xạ trị, phẫu thuật, nội tiết Điều trị cụ thể :

Phẫu thuật

-Hạch lính gác là chặng hạch đầu tiên bị di căn. Nếu hạch lính gác không bị di căn → không cần nạo hạch nách giúp tránh các dư chứng phù nề, hạn chế cử động tay sau phẫu thuật.

Phẫu thuật là chính điều trị ung thư vú, nhất là ở những trường hợp chưa có di căn.

Phẫu thuật cắt tuyến vú và vét hạch nách: đây là phương pháp phẫu thuật cơ bản, bao gồm cắt bỏ toàn bộ tuyến vú và nạo vét hạch nách thành một khối. Có thể chỉ định điều trị hoá chất tân bổ trợ để làm hạ giai đoạn bệnh trước phẫu thuật.

Phẫu thật bảo tồn tuyến vú: chỉ định cho K vú giai đoạn sớm, bao gồm cắt một phần tuyến vú và xạ trị cho thấy kết quả sống còn không thay đổi so với đoạn nhũ tận gốc, ít dư chứng, thẩm mỹ cao, cải thiện chất lượng cuộc sống và tâm lý bệnh nhân sau điều trị

Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ tuyến vú ngay sau cắt bỏ: Kỹ thuật này đem lại cho bệnh nhân ung thư vú chất lượng sống tốt hơn cả về thể chất lẫn tinh thần.

Xạ trị :

❖1-3 hạch : Xạ trị vào mô vú, giường u & hạch nách hạch thượng đòn, hạch vú trong :50Gy/25 liều

❖0 hạch : Xạ trị vào mô vú, giường u : 50Gy/25 liều

❖1-3 hạch : Xạ trị vào thành ngực & hạch nách hạch thượng đòn, hạch vú trong : 50Gy/25 liều

Hoá trị :

Áp dụng cho bệnh nhân giai đoạn không mổ được tại thời điểm chẩn đoán (điều trị hoá chất tân bổ trợ), điều trị hoá chất sau mổ (điều trị bổ trợ) cho những bệnh nhân có di căn hạch nách hoặc có các yếu tố nguy cơ cao.

Hoá chất có thể phân ra làm 3 nhóm: các phác đồ không có anthracyclin, các phác đồ có anthracyclin và các phác đồ có taxanes. Hiện tại, kháng thể đơn dòng đã được đưa vào điều trị như Trastuzumab (herceptin) khi có Her-2/neu dương tính.

Hóa trị kết hợp

Phác đồ AC- T (Doxorubicin, Cyclophophamide, Cyclophophamide)

Lặp lại mỗi 3 tuần

Phác đồ EC (Epirubicin, Cyclophophamide), Lặp lại mỗi 3 tuần Phác đồ T- CISPLATIN;Lặp lại mỗi 3 tuần Phác đồ DOCETAXEL + DOXORUBICIN,Lặp lại mỗi 3 tuần Phác đồ DOCETAXEL + CAPECITABINE,Lặp lại mỗi 3 tuần TRASTUZUMAB, nếu xét nghiệm HEU2 dương tính

+++,

Liều tấn công 4 mg/kg truyền TM / 90 phút.

Liều duy trì 2 mg/kg hàng tuần Hóa trị đơn chất PACLITAXEL, GEMCITABINE DOCETAXE, CAPECITABINE,VINORELBIN

Điều trị nội tiết

Chỉ định khi có ER hoặc PR dương tính

Tamoxifen vẫn là thuốc căn bản nhất dùng trong điều trị nội tiết các ung thư vú vì rẻ tiền và dễ sử dụng, thời gian 5 năm. Các thuốc ức chế aromatase như anastrozol, letrozol, exemestan ngày càng phổ biến.

Các trường hợp có thụ thể nội tiết dương tính trên phụ nữ đã mãn kinh có thể dùng nội tiết ngay từ đầu bằng các thuốc chặn men aromatase.

ANASTROZOLE 1mg / ngày

LETROZOLE 2.5 mg / ngày

EXEMESTANE25mg ( Aromasin 25mg ) / ngày

Lưu đồ chẩn đoán và điều trị :

5. THEO DÕI TÁI KHÁM:

Tiêu chuẩn nhập viện :

– U vú có kết quả giải phẩu bệnh ác tính.

– U biểu hiện lâm sàng dạng viêm tấy hoặc teo đét.

Theo dõi :

– Mỗi 1 tháng sau điều trị : CA15-3 , XQ phổi / CT ngực, CT/MRI não, Siêu âm bụng.

– Mỗi 3 tháng sau 1 năm điều trị

– Mỗi 6 tháng sau 2 năm điều trị

Tiêu chuẩn ra viện :

– Bệnh có đáp ứng với điều trị.

– Bệnh ổn định, triệu chứng thuyên giảm.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Breast cancer staging. ẠJCC 7 th 2009

2. Nguyễn chấn Hùng, Điều trị ung thư vú, ung bướu nộikhoa 2004.

3. Cancer of the breast in Devita, Principles & Practice of Oncology, 2001.

4. Phạm vinh Quang, Bài giảng ngoại khoa tuyến vú, 2008.


【#6】【Tìm Hiểu】Ung Thư Biểu Mô Tuyến Vú Xâm Lấn

Ung thư biểu mô tuyến vú xâm lấn là gì?

Mặc dù ung thư vú không chỉ giới hạn cho một nhóm tuổi cụ thể, nhưng phụ nữ lớn tuổi có nhiều nguy cơ phát triển ung thư biểu mô ống động mạch xâm lấn. Hiệp hội Ung thư Mỹ ghi nhận gần hai phần ba số bệnh nhân ung thư vú xâm lấn là phụ nữ lớn tuổi hơn 55. Các trường hợp xâm lấn ống động mạch cũng có thể xảy ra ở nam giới.

Ung thư biểu mô ống động mạch xâm lấn không thể hiện nhiều triệu chứng rõ ràng trong giai đoạn đầu. Một số người bệnh có thể Bạn có thể cảm thấy một khối u đang phát triển ở vú, đó là dấu hiệu đầu tiên của bệnh ung thư vú xâm lấn. Một phát hiện bất thường trên một tuyến vú cũng là một trong những dấu hiệu hiện diện của IDC. Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, các triệu chứng cảnh báo sớm của ung thư biểu mô tuyến vú xâm lấn là:

  • Đau ở ngực
  • Vú sưng lên bất thường
  • Da bị nổi mẩn, kích thích
  • Cảm thấy đau ở núm vú
  • Hình thành một khối u ở vùng dưới nách
  • Da gần vú hoặc núm vú dày và đỏ
  • Tiết dịch núm vú

Ung thư biểu mô ống động mạch xâm lấn có thể được chẩn đoán thông qua việc sử dụng một số xét nghiệm hình ảnh bao gồm chụp nhũ ảnh, siêu âm và MRI. Sinh thiết thường được thực hiện nếu có bất thường qua xét nghiệm hình ảnh.

Điều trị Ung thư biểu mô ống động mạch xâm lấn được thực hiện theo hai cách khác nhau. Một là điều trị tại chỗ, mục tiêu hướng tới các khối u và khu vực xung quanh; 2 là điều trị hệ thống, nhắm tới các tế bào ung thư đã lan rộng tới các bộ phận khác.

Điều trị tại chỗ thường gồm 2 phương pháp:

Phu thut: Phẫu thuật là phương pháp hiệu quả nhất trong điều trị ung thư ống động mạch xâm lấn. Phương pháp này loại bỏ hoàn toàn khối u thông qua phẫu thuật cắt bỏ một phần hay cả vú.

Bc x tr liu: Xạ trị sử dụng các chùm năng lượng cao để tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại sau phẫu thuật. Có ba loại bức xạ trị liệu có thể được sử dụng để điều trị ung thư ống động mạch xâm lấn: bức xạ chùm tia bên ngoài, chiếu xạ một phần vú bên trong và chiếu xạ một phần vú bên ngoài.

Việc điều trị có hệ thống của IDC cũng gồm hai phương pháp hóa trị và liệu pháp nội tiết tố.

Hóa tr: Các loại thuốc hóa trị giúp loại bỏ tế bào ung thư còn sót lại sau phẫu thuật hoặc xạ trị. Phương pháp này được khuyến cáo chỉ dành cho những bệnh nhân có khối u rất lớn hoặc có nguy cơ tái phát cao hơn bởi nó có thể ảnh hưởng tới các tế bào khỏe mạnh xung quanh.

Liu pháp hormon: Trong liệu pháp nội tiết, các bệnh nhân được cho thuốc kháng estrogen để ngăn chặn các thụ thể hormone của tế bào ống động mạch xâm lấn nhận estrogen và phân chia. Các loại thuốc làm giảm mức độ estrogen trong cơ thể và do đó ngăn chặn các tế bào ung thư phát triển.

Để đăng ký khám và điều trị với bác sĩ Singapore tại Khoa ung bướu – Phòng khám chuyên gia Singapore, Bệnh viện Thu Cúc, vui lòng liên hệ: 0907 245 888.


【#7】Ung Thư Biểu Mô Ống Tuyến Vú Tại Chỗ (Nội Ống) (Dcis)

  • DCIS là dạng sớm của ung thư vú và chiếm chừng 12% tất cả các loại ung thư vú.
  • Ung thư vú bắt đầu khi các tế bào trong vú bắt đầu phân chia và phát triển theo cách bất thường.
  • Vú gồm các tiểu thùy (các tuyến sản xuất sữa) và các ống dẫn (ống mang sữa tới núm vú), các tiểu thùy và ống dẫn sữa được bao quanh bởi các mô tuyến, mô sợi và các mô mỡ.
  • Khi các tế bào ung thư phát triển bên trong ống dẫn sữa của vú nhưng vẫn còn ở bên trong ống (in situ) thì được gọi là DCIS. Các tế bào ung thư vẫn chưa có khả năng lan ra ngoài các ống này vào các mô vú xung quanh hoặc tới các bộ phận khác của cơ thể. Do vẫn còn ở trong ống dẫn sữa nên DCIS có tiên lượng rất tốt.
  • Bạn có thể thấy DCIS được mô tả theo các cách khác nhau như là ung thư tiền xâm lấn, ung thư nội ống hoặc ung thư không xâm lấn, hoặc ung thư vú giai đoạn 0.

Các triệu chứng của DCIS

  • DCIS thường không có triệu chứng. Hầu hết DCIS được phát hiện khi khám sàng lọc vú hoặc được chụp X quang vú vì lý do khác.
  • Thi thoảng DCIS được phát hiện ra khi nhiều người có thay đổi ở vú như là khối bướu hoặc tiết dịch núm vú. Tuy nhiên nếu một ai đó mắc DCIS mà có thay đổi ở vú thì nhiều khả năng họ cũng sẽ mắc ung thư vú xâm lấn.
  • Một số người mắc ung thư biểu mô ống tuyến vú tại chỗ cũng bị mảng đỏ ở núm vú giống như bệnh Paget vú, mặc dầu điều này hiếm.

DCIS có thể được chẩn đoán khi sử dụng một loạt các xét nghiệm, có thể gồm một hoặc nhiều xét nghiệm sau:

Nếu bạn không có triệu chứng và được gọi lại sau chụp X quang vú thì có thể là do bạn có một vài đốm trắng bé xíu nhìn thấy trên phim X quang. Các đốm trắng này là các đốm của muối canxi và được gọi là vôi hóa. Vôi hóa có thể là do DCIS. Tuy nhiên, không phải tất cả các vôi hóa tìm được đều là DCIS. Nhiều phụ nữ phát triển vôi hóa lành tính (không phải ung thư) trong vú khi họ già đi.

Nếu bạn có nốt vôi hóa hóa, bạn sẽ được chụp thêm nhũ ảnh chẩn đoán để xem vôi hóa chi tiết hơn nữa. Đôi khi cũng có thể được siêu âm vú.

Nếu nốt vôi hóa không lành tính rõ ràng thì bạn sẽ được sinh thiết dưới hướng dẫn của chẩn đoán hình ảnh để giúp chẩn đoán. Dùng nhũ ảnh để định vị chính xác vị trí vôi hóa cần sinh thiết. Đôi khi sử dụng siêu âm nhưng việc này ít phổ biến hơn. Thủ thuật này được thực hiện như là cho bệnh nhân ngoại trú nên bạn có thể ra về sớm sau đó.

Nếu bạn được sinh thiết, đôi khi bạn được đặt một cái kẹp (hoặc vật đánh dấu) nhỏ bằng kim loại vào vú ở nơi mẫu sinh thiết được lấy ra để có thể tìm lại được khu vực này nếu cần sinh thiết hoặc phẫu thuật bổ sung. Vật đánh dấu này được để lại trên vú là an toàn và không cần được lấy ra, thậm chí nếu không cần thêm thủ thuật nào nữa.

Nhân viên tại phòng khám sẽ nói cho bạn khi nào bạn nhận được kết quả sinh thiết. Bạn thường sẽ được hẹn quay lại phòng khám để nhận kết quả.

Kết quả được mô tả như thế nào

  • Độ mô học thấp – các tế bào ung thư nhìn gần như giống với tế bào bình thường và thường phát triển chậm
  • Độ mô học trung bình – các tế bào ung thư nhìn ít khác với tế bào bình thường và đang phát triển nhanh hơn.
  • Độ mô học cao – các tế bào ung thư nhìn gần như bị thay đổi và thường đang phát triển nhanh.

Để có thêm thông tin đề nghị xem bài viếtTìm hiểu kết quả giải phẫu bệnh

DCIS có thể phát triển thành ung thư vú xâm lấn hay không?

Nếu DCIS không được điều trị thì các tế bào ung thư có thể có khả năng lan ra bên ngoài các ống dẫn sữa vào các mô vú xung quanh, và được gọi là ung thư vú xâm lấn. Ung thư xâm lấn có tiềm năng lan tới các bộ phận khác của cơ thể.

Trong một số trường hợp, DCIS sẽ không bao giờ phát triển thêm hoặc tăng trưởng chậm đến nỗi nó sẽ không bao giờ gây hại trong cuộc sống. Mặc dù kích thước và độ mô học của DCIS có thể giúp dự đoán liệu nó có trở thành xâm lấn hay không, hiện nay không có cách nào để biết liệu điều này có xảy ra hay không. DCIS độ mô học cao nhiều khả năng trở thành ung thư vú xâm lấn và phát triển nhanh hơn là DCIS có độ mô học thấp.

Mục tiêu của điều trị là loại bỏ tất cả DCIS ra khỏi bên trong vú để giảm nguy cơ trở thành ung thư vú xâm lấn.

Do không có cách nào biết khi nào hoặc liệu DCIS sẽ trở thành ung thư vú xâm lấn hay không, thường có khuyến nghị điều trị, và có thể dẫn tới điều trị không cần thiết hoặc điều trị quá mức đối với một số người.

Nghiên cứu đang được thực hiện nhằm làm rõ các trường hợp của DCIS nào sẽ trở thành xâm lấn và chúng có thể an toàn để không cần điều trị hay không. Nếu bạn được chẩn đoán DCIS độ mô học thấp thì bạn có thể được mời tham dự thử nghiệm lâm sàng.

Gần như nhiều khả năng phẫu thuật cắt bỏ vú được đề xuất nếu:

  • DCIS ảnh hưởng đến một khu vực lớn trong vú
  • DCIS có ở từ hai khu vực của vú trở lên (mặc dù nếu các khu vực là nhỏ, có thể có hai đường mổ cục bộ rộng thay cho việc cắt toàn bộ vú;

Hầu hết các trường hợp DCIS là không thể sờ thấy được nên một quy trình được gọi là định vị thường được sử dụng vào hôm trước hoặc vào ngày phẫu thuật bảo tồn vú. Việc này được làm trong khoảng thời gian 30 phút và giúp đánh dấu chính xác khu vực sẽ cắt bỏ khi phẫu thuật. Một dây dẫn (chỉ kim loại) rất nhỏ được đưa vào vị trí nghi ngờ dưới hướng dẫn của nhũ ảnh hoặc siêu âm. Nếu bạn định vị dưới hướng dẫn nhũ ảnh, vú của bạn sẽ bị ép trong suốt thời gian thủ thuật. Bạn sẽ được gây tê cục bộ làm tê liệt khu vực phẫu thuật nhưng vẫn có cảm giác không thoải mái. Sau khi đã định vị chỉ kim loại xong, bạn sẽ chụp nhũ ảnh để kiểm tra xem có đặt đúng vị trí chưa. Khi xác định chỉ kim loại đã đúng vị trí, nó sẽ được cố định lại bằng băng keo và để đó cho đến khi phẫu thuật.

Một số bệnh viện đang sử dụng thủ thuật định vị mới, sử dụng một hạt phóng xạ liều thấp (có kích thước của hạt gạo) được đưa vào mô vú thay cho dây kim loại. Thủ thuật này có thể được thực hiện tới 2 tuần trước khi phẫu thuật. Trong khi phẫu thuật, sử dụng một đầu dò đặc biệt để định vị hạt và hướng dẫn bác sĩ phẫu thuật tới mô cần được cắt bỏ cùng với hạt phóng xạ.

Nếu bạn phải phẫu thuật cắt bỏ vú bạn sẽ có khả năng xem xét tái tạo vú. Việc này có thể được thực hiện đồng thời với việc phẫu thuật (tái tạo tức thì) hoặc sau vài tháng hoặc vài năm (tái tạo trì hoãn).

Có một số phụ nữ không chọn hoặc không thể tái tạo vú. Họ có thể dùng túi ngực thay thế hoặc không làm gì cả.

Hầu hết phụ nữ mắc DCIS sẽ không phải phẫu thuật để vét hạch bạch huyết. Những người mắc ung thư vú xâm lấn sẽ thường phải vét hạch bạch huyết để kiểm tra xem có hạch bạch huyết nào dưới cánh tay có chứa tế bào ung thư vú hay không. Việc này giúp quyết định liệu điều trị bổ sung sẽ mang lại lợi ích cho bạn.

Thường không khuyến nghị vét hạch bạch huyết cho những người mắc DCIS do các tế bào ung thư vú chưa phát triển khả năng lan ra bên ngoài ống dẫn sữa vào mô vú xung quanh và do vậy không thể lan tới hạch bạch huyết.

Sinh thiết hạch gác nhận biết được liệu (các) hạch bạch huyết có tế bào ung thư hay không. Nếu không có tế nào ung thư, có nghĩa là các hạch khác cũng không có, nên không cần vét thêm hạch bạch huyết.

Nếu các kết quả sinh thiết hạch gác cho thấy rằng (các) hạch đầu tiên có tế bào ung thư thì có thể phẫu thuật thêm hoặc xạ trị vào các hạch bạch huyết còn lại.

Đôi khi một khu vực ung thư vú xâm lấn được tìm thấy cùng với DCIS. Nếu như vậy, nó sẽ ảnh hưởng tới các điều trị mà bạn sẽ được thực hiện và bạn có thể cần phẫu thuật hạch bạch huyết dưới cánh tay để kiểm tra liệu chúng có chứa tế bào ung thư hay không. Để có thêm thông tin đề nghị đọc quyển Trọn gói thông tin ung thư vú nguyên phát.

Sau khi phẫu thuật bạn có thể cần tiếp tục điều trị, gọi là điều trị bổ trợ. Điều trị bổ trợ có thể bao gồm xạ trị và, trong một số trường hợp có thể liệu pháp nội tiết. Mục đích của các điều trị này là giảm nguy cơ DCIS quay lại hoặc phát triển thành ung thư xâm lấn. Không sử dụng liệu pháp hóa trị và liệu pháp trúng nắm trúng đích (sinh học) để điều trị DCIS.

Xạ trị sử dụng tia X năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Nếu bạn được phẫu thuật bảo tồn thì bạn có thể được xạ trị. Thường không cần xạ trị sau phẫu thuật cắt vú đối với DCIS.

Xạ trị được thực hiện như bạn là bệnh nhân ngoại trú, chừng 4 tới 6 tuần sau phẫu thuật. Xạ trị thường được thực hiện hàng ngày (từ thứ hai tới thứ sáu) trong ba tuần.

Bác sĩ của bạn sẽ giải thích những lợi ích của xạ trị và nói cho bạn các tác dụng phụ bất kỳ của quá trình xạ trị. Để có thêm thông tin hãy đọc cuốn sách Xạ trị cho ung thư vú nguyên phát

Nhiều liệu pháp nội tiết làm việc theo cách khác nhau để chặn ảnh hưởng của estrogen lên tế bào ung thư. Liệu pháp nội tiết thường được chỉ định nếu ung thư vú của bạn có các thụ thể trong các tế bào liên kết với chất nội tiết estrogen, được gọi là ung thư vú dương tính với thụ thể estrogen hay là ung thư vú ER+. Khi estrogen liên kết với các thụ thể này, nó có thể kích thích các tế bào ung thư phát triển. Nếu không tìm thấy các thụ thể estrogen thì gọi là ung thư vú âm tính với thụ thể estrogen hay là ung thư vú ER- và liệu pháp nội tiết sẽ không có lợi.

Mọi ung thư vú xâm lấn được xét nghiệm tìm các thụ thể nội tiết bằng cách dùng mô từ lần sinh thiết hoặc sau phẫu thuật. Có thể thực hiện xét nghiệm tìm thụ thể progesteron (một chất nội tiết khác). DCIS có thể được xét nghiệm tìm các thụ thể nội tiết này nhưng thường không được thực hiện.

Một số nghiên cứu thấy rằng sử dụng liệu pháp nội tiết sau phẫu thuật làm giảm nguy cơ DCIS quay trở lại (tái phát) và nguy cơ phát triển thành ung thư vú xâm lấn, nhưng những phụ nữ uống thuốc nội tiết không sống lâu hơn những người không uống.

Nhận tin bạn bị ung thư vú DCIS có thể là thời điểm khó khăn và đầy lo lắng. Mỗi người phản ứng khác nhau với việc chẩn đoán và có cách thức đối mặt khác nhau.

Mặc dù DCIS là bệnh ung thư vú ở giai đoạn sớm với tiên lượng rất tốt, một số người cảm thấy rất lo lắng và sợ hãi khi bị chẩn đoán. Mọi người thường đấu tranh giữa các điều trị như là phẫu thuật cắt bỏ vú, và rằng DCIS có thể không bao giờ gây bất kỳ nguy hại gì cho họ.

Một số người miễn cưỡng nói họ lo lắng về việc bị chẩn đoán DCIS do họ lo ngại những người khác sẽ nhìn bệnh này không nguy hiểm bằng các loại ung thư vú khác, hoặc họ có thể than phiền khi mà họ không được điều trị hóa chất. Do điều này họ có thể cảm thấy khó có thể yêu cầu hỗ trợ. Nhưng có những người có thể hỗ trợ bạn và không nên lo sợ khi yêu cầu được giúp đỡ. Hãy để cho mọi người biết về cảm nhận của bạn, đặc biệt là gia đình mình và bạn bè có thể làm họ hỗ trợ thêm.

Tài liệu tham khảo

https://breastcancernow.org/sites/default/files/publications/pdf/bcc39_dcis_2018_web.pdf


【#8】U Tuyến Yên Không Phải Là Ung Thư

PGS.TS. Đồng Văn Hệ – Phó Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Giám đốc Trung tâm Phẫu thuật Thần kinh và Chủ tịch Hội phẫu thuật thần kinh Asean – cho biết, u tuyến yên thường không phải là ung thư và không di căn đến các bộ phận khác trong cơ thể.

Theo chúng tôi Đồng Văn Hệ, bệnh lý u tuyến yên thường hay gặp ở người trưởng thành. Nhiều nghiên cứu chỉ ra cứ 10 người trưởng thành thì có 1 người bị u tuyến yên. Phần lớn những khối u tuyến yên rất nhỏ, không có triệu trứng lâm sàng hoặc không bao giờ có dấu hiệu gì và không cần điều trị.

Vì thế, người có u tuyến yên phải điều trị chiếm tỷ lệ thấp. Khối u tuyến yên chiếm 25% khối u trong sọ được phẫu thuật.

PGS.TS. Đồng Văn Hệ khẳng định: U tuyến yên thường không phải là ung thư nên không di căn đến các bộ phận khác của cơ thể. Tuy nhiên, khi tăng trưởng, chúng có thể chèn ép lên các thần kinh và mạch máu quan trọng.

Khối u phát triển sẽ dẫn đến tình trạng mất thị lực hoàn toàn, thần kinh thị giác bị hủy hoại nặng. Bản thân khối u hoặc việc cắt bỏ khối u có thể dẫn đến mất cân bằng nội tiết vĩnh viễn. Trong trường hợp này, người bệnh có thể được điều trị bằng liệu pháp bổ sung hormon.

Hiện, có nhiều phương pháp đang được sử dụng để điều trị u tuyến yên. Khi khối u gây chèn ép thần kinh thị giác, người bệnh sẽ được chỉ định phẫu thuật để cắt bỏ khối u.

Với đa số trường hợp, u tuyến yên được cắt bỏ qua đường mũi hoặc qua các xoang. Tuy nhiên, một số u không thể phẫu thuật được qua các đường trên mà phải mổ cắt bỏ u xuyên qua sọ.

Xạ trị được sử dụng để giảm thể tích khối u. Có thể phối hợp xạ trị với phẫu thuật hoặc sử dụng xạ trị đơn độc ở những bệnh nhân không thể phẫu thuật.

Ngoài ra, người bệnh có thể sử dụng các loại thuốc sau giúp giảm thể tích khối u như: Bromocriptine hoặc cabergoline là trị liệu đầu tay cho các khối u tiết prolactin.

Các thuốc này sẽ giúp giảm lượng prolactin và làm teo nhỏ khối u; Octreotide hoặc pegvisomant đôi khi được dùng cho các khối u tiết hormone tăng trưởng (GH), đặc biệt khi việc phẫu thuật ít có khả năng chữa khỏi.

Đến với chương trình, người dân sẽ được khám và tư vấn miễn phí cùng các chuyên gia hàng đầu về thần kinh nhằm phát hiện sớm và có phương pháp điều trị kịp thời các bệnh lý như: U màng não, U thần kinh đệm, U tuyến yên, U sọ hầu, U nền sọ.

Đặc biệt, Bệnh viện sẽ miễn phí chụp MRI/Cộng hưởng từ cho 10 người đầu tiên đăng ký.

PV Minh Thuý/Báo Viettimes


【#9】Bệnh U Tuyến Yên Có Phải Là Ung Thư?

Đa số các khối u tuyến yên lành tính, phát triển chậm, không phải ung thư mà chỉ là u tuyến. U tuyến thường giới hạn trong tuyến yên hoặc các mô xung quanh mà không lan sang các bộ phận khác của cơ thể.

U tuyến yên có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, kể cả ở người cao tuổi. Đặc biệt những người có nguy cơ thường thuộc nhóm có tiền sử mắc các vấn đề di truyền, chẳng hạn như nội tiết nhiều, MEN I. Trong bệnh MEN I, nhiều khối u xuất hiện ở các tuyến khác nhau của hệ thống nội tiết. Hiện nay đã có những xét nghiệm di truyền để chẩn đoán các rối loạn này.

Không phải khối u tuyến yên nào cũng gây ra triệu chứng. Những khối u hoạt động (kích thích tiết hormon) gây nhiều dấu hiệu và triệu chứng khác nhau, phụ thuộc vào tác động của loại hormon tuyến yên sản xuất. Những khối u không hoạt động (không tiết hormon) thì gây ảnh hưởng do sự phát triển của nó gây áp lực lên phần não điều khiển các cấu trúc khác của cơ thể, chẳng hạn như mắt.

Dấu hiệu của bệnh u tuyến yên phụ thuộc nhiều vào loại nội tiết tố khối u tiết ra và kích thước, vị trí, mức độ phát triển của khối u. Khối u tuyến yên phát triển thường gây ra 3 nhóm dấu hiệu:

  • Tăng tiết prolactin làm chậm kinh nguyệt, rối loạn kinh nguyệt, vô sinh, tiết sữa ở vú. Ở nam giới thì suy giảm chức năng tình dục, cương dương, bất lực.
  • Tăng tiết nội tiết tố tăng trưởng (GH) làm xuất hiện các biểu hiện: to đầu chi, mắt to, cằm rộng, môi dày, da thô,…
  • U tuyến yên tăng tiết hormon ACTH gây bệnh Cushing thường biểu hiện tăng cân, rạn da ở bụng, đùi, tay… cơ nhão, bụng to, tay chân nhỏ
    Khi u tuyến yên lớn, chèn ép dây thần kinh thị giác gây ra các triệu chứng: nhìn mờ, bán manh (chỉ nhìn được một phía trong hay phía ngoài), giảm thị lực,…

Khi phát hiện bản thân có những triệu chứng và dấu hiệu của bệnh, bạn cần ngay lập tức đi khám và điều trị kịp thời để ngăn chặn những biến chứng xấu do khối u gây ra.

Bệnh u tuyến yên rất thường gặp. Theo các nghiên cứu, hiện nay cứ 10 người trưởng thành thì có 1 người mắc bệnh u tuyến yên. Tuy nhiên phần lớn những khối u tuyến yên này rất nhỏ, không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt và không cần thiết điều trị. Tỷ lệ bệnh nhân u tuyến yên phải điều trị chiếm tỷ lệ rất thấp.

Khối u tuyến yên thường lành tính và không lan rộng sang các phần khác của cơ thể. Tuy nhiên, do tuyến yên có vị trí nằm giữa nền não và có chức năng sản xuất hormon điều hòa rất nhiều hoạt động của cơ thể, nên khối u tuyến yên có thể gây ra:

Giảm thị lực: Khối u tuyến yên gây tăng áp lực lên các dây thần kinh thị giác, gây suy giảm thị lực hoặc mất thị lực ở 1 hoặc cả 2 bên mắt.

Thiếu hormone vĩnh viễn: Sự tồn tại của khối u tuyến yên hoặc phẫu thuật cắt bỏ khối u có thể gây ra những ảnh hưởng lâu dài đến việc sản xuất hormon. Nhiều nguy cơ bạn phải sử dụng các loại thuốc thay thế hormon suốt đời.

Xuất huyết tuyến yên là một biến chứng hiếm gặp nhưng rất nguy hiểm. Đây là tình trạng khối u bỗng nhiên xuất huyết, chảy máu. Bạn sẽ cảm thấy đau đầu rất trầm trọng. Tình trạng này có thể đe dọa đến tính mạng, cần phải được điều trị bằng corticosteroid và có thể phải phẫu thuật.

Điều trị các khối u tuyến yên bao gồm loại bỏ khối u hoặc kiểm soát sự tăng trưởng của nó. Trong một số trường hợp để điều chỉnh việc sản xuất hormon, bác sĩ có thể kê thêm thuốc.

Điều trị khối u tuyến yên phụ thuộc vào loại khối u, kích thước và tình trạng phát triển. Tuổi và sức khỏe của người bệnh cũng là yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp điều trị. Về cơ bản, có ba phương pháp:

Lối sống sinh hoạt lành mạnh là ưu tiên hàng đầu trong phòng chống bệnh u tuyến yên. Ngoài ra, bạn cần cẩn trọng hơn nếu như trong gia đình có người mắc bệnh. Trong trường hợp này, bạn cần phải đến gặp bác sĩ để khám và chẩn đoán kịp thời, đề phòng những biến chứng xảy ra.


【#10】Cùng Chuyên Gia Điều Dưỡng Tìm Hiểu Bệnh Ung Thư Tuyến Yên Là Gì?

Chia sẻ:

Cùng chuyên gia Điều dưỡng tìm hiểu bệnh ung thư tuyến yên là gì?

Theo các chuyên gia về sức khỏe tại Truong Cao dang Duoc Sai Gon cho biết: Ung thư tuyến yên là một bệnh mà khi đó có sự xuất hiện của các khối u ác tính tại tuyến yên. Các khối u này tác động làm cho lượng hoocmon trong tuyến yên tính ra nhiều hoặc ít hơn so với bình thường. Sự rối loạn hoocmon do tuyến yên tiết ra dẫn đến những rối loạn của các cơ quan khác trong cơ thể.

Ung thư tuyến yên có thể gặp ở bất kỳ lứa tuổi nào, trong đó phổ biến nhất ở lứa tuổi từ 30 – 40 tuổi.

Nguyên nhân chính gây nên ung thư tuyến yên

Nguyên nhân chính gây ra ung thư tuyến yên là do các tế bào bất thường tăng trưởng một cách không kiểm soát trong tuyến yên từ đó tạo thành các khối u bên trong tuyến này. Trong những khối u tạo thành có những khối u ác tính tạo nên bệnh ung thư. Ngoài nguyên nhân trên thì bệnh còn được gây ra bởi các yếu tố sau:

  • Do di truyền: đây là một yếu tố hiếm gặp tuy nhiên những người có tiền sử người thân mắc căn bệnh này cũng có nguy cơ bị mắc bệnh.
  • Do biến đổi gen: những nghiên cứu gần đây cho thấy ung thư tuyến yên có thể do sự biến đổi gen gây nên.
  • Mắc các bệnh nội tuyết khác như ung tuyến nội tiết …

Ung thư tuyến yên có những triệu chứng nào?

Ung thư tuyến yên giai đoạn đầu cũng giống như các căn bệnh ung thư khác nó có triệu chứng khá mờ nhạt hoặc giống với các căn bệnh thông thường khác nên người bệnh thường lơ là, chủ quan nên bỏ qua. Tuy nhiên, nếu chịu khó để ý và cẩn thận bạn sẽ có thể kịp thời phát hiện được bệnh từ đó cơ hội chữa khỏi cũng cao hơn. Nếu cơ thể có những triệu chứng sau đây bạn hãy cẩn thận vì rất có thể bạn đang mang trong người căn bệnh này:

  • Có cảm giác đau đầu, buồn nôn, nôn. Các chức năng khứu giác bị rối loạn, chảy nước mũi. Đôi khi có triệu chứng ngủ lịm. Nguyên nhân gây nên các triệu chứng này là do khối u tuyến yên phát triển nên gây chèn ép cho các vùng xuyên quanh hoặc đè lên các dây thần kinh nên các cơ quan khác cũng bị ảnh hưởng.
  • Các rối loạn về hệ nội tiết: núm vú tự nhiên tiết ra dịch, rối loạn kinh nguyệt đối với nữ hoặc chức năng tình dục bị suy giảm đối với nam.
  • Ảnh hưởng đến cơ quan thị giác như thị lực giảm xút, khi nhìn xuất hiện những hình đôi, sụp mí mắt…
  • Ngoài ra, ung thư tuyến giáp còn gây ảnh hưởng đến các cơ quan khác và gây ra các hội chứng nội tiết như: Cushing, cường giáp, hội chứng người khổng lồ hay bệnh to cực…

Thông báo tuyển sinh Cao đẳng Điều dưỡng cấp bằng chính quy năm 2021

Có thể điều trị ung thư tuyến yên theo những cách nào?

Việc lựa chọn phương pháp nào để điều trị ung thư tuyến yên phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: giai đoạn phát hiện bệnh, kích thước, đặc điểm và vị trí của khối u. Ngoài ra nó còn phụ thuộc vào thể trạng và tuổi tác của bệnh nhân. Đối với bệnh này thường có 2 phương pháp điều trị chính đó là phẫu thuật xạ trị.

Phương pháp này thường được lựa chọn điều trị trong các trường hợp khối u phát triển đè lên dây thần kinh và làm ảnh hưởng đến cơ quan thị giác hoặc trong các trường hợp khối u tăng sinh quá mức làm tăng tiết một số hoocmon trong cơ thể. Mức độ thành công của phương pháp này phụ thuộc vào kích thước, vị trí và mức độ lây lan của khối u.

Có 2 phương pháp phẫu thuật cắt bỏ khối u do ung thư tuyến yên gây ra, đó là:

+ Nội soi cắt bỏ khối u thông qua xoang mũi: phương pháp này giúp loại bỏ khối u ở tuyến yên thông qua mũi và hệ thống xoang. Kỹ thuật này không cần tạo ra vết cắt ngoài hộp sọ nên không gây ra sẹo và bệnh nhân cũng ít đau hơn sau phẫu thuật.

+ Cắt khối u xuyên qua hộp sọ: phương pháp này sẽ cắt bỏ khối u thông qua hộp sọ bằng cắt rạch da và mở hộp sọ. Kỹ thuật này thường được chỉnh định thực hiện khi khối u đã phát triển có kích thước lớn và cấu tạo phức tạp.

Với phương pháp này các bác sĩ sẽ sử dụng tia X để phá hủy các tế bào ung thư trong tuyến yên. Phương pháp này được chỉ định sau phẫu thuật để tiêu diệt các tế bào còn sót lại hoặc khi không thể sử dụng phương pháp phẫu thuật được.


Bạn đang xem chủ đề Ung Thu U Tuy trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!