Top 18 # Xem Nhiều Nhất Ung Thư Vú You Tube / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Facebook, Youtube Thanh Lọc Thông Tin Về Các Liệu Pháp Trị Ung Thư / 2023

Các thông tin độc hại và chưa được chứng minh tính khoa học về các liệu pháp chữa trị ung thư thay thế các phương pháp truyền thống như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị đôi lúc nhận được hàng triệu lượt xem trên Facebook và YouTube.

Giờ đây, cả hai công ty này cho biết họ đang tiến hành các biện pháp để ngăn chặn các tài khoản lan truyền những thông tin như vậy.

Facebook cho biết sẽ giảm các thông tin giả này bằng cách xem xét liệu một bài viết có thổi phồng hoặc gây hiểu lầm quá mức hay không đồng thời cân nhắc xem liệu một bài viết có quảng bá một sản phẩm hay một dịch vụ dựa vào các tuyên bố sai lệch hay không.

Travis Yeh, Giám đốc sản phẩm của Facebook, cho biết: “Chúng tôi biết mọi người không thích các bài viết có nội dung y học gây giật gân gây hiểu lầm đang tác động xấu đến cộng đồng của chúng ta”.

Tuy nhiên, cho đến ngày 1-7, các video đạt được hàng triệu lượt xem trên YouTube lại bao gồm một số video quảng bá việc sử dụng một loại mỡ được gọi là mỡ đen (black salve) để triệu trị ung thư da. Thành phần của mỡ đen thường bao gồm kẽm clorua, chiết xuất của lá cây chaparral và cây rễ máu (bloodroot), có khả năng gây hoại tử, hủy diệt các mô tế bào.

David Gorski, Giáo sư ngành phẫu thuật ở Trường Y khoa thuộc Đại học Wayne State ở Detroit (Mỹ), cho biết sử dụng mỡ đen có thể làm bỏng và hủy hoại da khỏe mạnh, dẫn đến nhiễm trùng và không giúp loại bỏ khối u bên dưới da như một lời quảng bá trong một số video trên YouTube.

Điều đáng nói là các bài viết và video quảng bá các liệu pháp điều trị ung thư gian dối trên mạng xã hội thường kèm theo các đường link dẫn đến các kênh trực tuyến bán sách, các chất bổ sung và các sản phẩm chưa được chứng minh tính khoa học.

Một trang Facebook có hơn 60.000 người “like” đã quảng bá các liều tiêm baking-soda (natri bicacbonat) và chế độ ăn kiềm hóa (tập trung vào trái cây, củ quả, các loại hạt, ngũ cốc) để điều trị các loại bênh ung thư của nhà kinh doanh chất bổ sung Robert O. Young.

Young là tác giả của cuốn sách bán khá chạy: “The pH Miracle: Balance Your Diet, Reclaim Your Health” (Phép màu pH – Cân bằng chế độ ăn, cải thiện sức khỏe). Trong cuốn sách, Young cho rằng tế bào ung thư có tính axit, do vậy ăn thực phẩm có tính kiềm đồng thời không ăn thịt cá, đường bột thì tế bào ung thư sẽ tự chết mà không cần sự can thiệp của y học hiện đại.

Young mở phòng khám và thuyết phục hàng chục bệnh nhân ung thư từ bỏ phương pháp điều trị ung thư truyền thống (phẫu thuật, xạ trị, hóa trị) để áp dụng chế độ ăn kiềm hóa của mình. Young sở hữu nhiều trang Facebook. Ông ta có một trang cá nhân và công ty liên kết của ông vận hành các trang khác để bán các sản phẩm và dịch vụ trị ung thư trong nước lẫn quốc tế. Các trang này cũng đăng các bài viết có chèn video và các đường link dẫn đến YouTube.

Tuy nhiên, năm 2016, một tòa án ở hạt San Diego, bang California, Mỹ kết án tù Young vì ông bị cáo buộc hành nghề chữa bệnh mà không có giấy phép.

Năm 2007, Kim Tinkham, một bệnh nhân ở Mỹ được chẩn đoán ung thư vú giai đoạn ba, đã áp dụng các phương pháp chữa trị ung thư của Young thay vì phẫu thuật và hóa xạ trị. Một năm sau, cô tuyên bố đã lành bệnh và sạch tế bào ung thư. Nhưng đến năm 2010, Tinkham qua đời vì ung thư vú.

Hồi tháng 11-2018, bồi thẩm đoàn của một tòa án ở San Diego, bang California, đã phán quyết Young phải bồi thường 105 triệu đô la Mỹ cho một bệnh nhân ung thư, người được Young thuyết phục từ bỏ các phương pháp chữa trị truyền thống để theo đuổi liệu pháp ăn kiêng kiềm hóa của ông, khiến bệnh ung thư của người này nhanh chóng chuyển sang giai đoạn bốn.

Cre: https://www.thesaigontimes.vn/291043/facebook-youtube-thanh-loc-thong-tin-ve-cac-lieu-phap-tri-ung-thu-.html

Phát Hiện Ung Thư Vú Và Ung Thư Vú Tái Phát / 2023

Ung thư vú là một trong những nguyên nhân tử vong hàng đầu ở nữ giới. Tuy nhiên, tỷ lệ chữa khỏi bệnh lên đến 80% nếu được phát hiện sớm ở giai đoạn đầu. Để bảo vệ sức khỏe của mình, chị em có thể kiểm tra vú tại nhà để phát hiện các dấu hiệu bệnh sớm nhất.

Có khối u ở gần vú hoặc nách là dấu hiệu phổ biến nhất ở những người bị ung thư vú. Khối u ác tính thường có đặc điểm là cứng, không đau khi chạm vào. Để phát hiện sớm các cục u ở vú, chị em nên sờ nắn, kiểm tra vú hàng tháng, sau khi sạch kinh bởi đó là thời điểm vú mềm nhất. Ngoài dấu hiệu khối u, chị em cần chú ý nếu vùng da ở vú dày hơn, bất thường so với bên vú còn lại, vì đây cũng là dấu hiệu cảnh báo ung thư vú.

Nhiều phụ nữ không sờ thấy khối u như thông thường mà họ thấy ngực to hơn, trễ thấp hơn, có hình dạng khác thường so với bên vú còn lại. Đây cũng là triệu chứng của ung thư vú, thường gặp ở những người có mô vú dày đặc. Có tới 50% phụ nữ có mô vú dày đặc, và điều này khiến cho việc phát hiện ung thư vú gặp khó khăn hơn.

Một trong những vị trí phổ biến nhất mà khối u thường xuất hiện là bên dưới núm vú, gây ra những thay đổi và cảm nhận ở núm vú. Ở những người mắc bệnh, núm vú thường dẹt hơn, tụt vào trong, tiết dịch hoặc máu. Da xung quanh núm vú có thể có vảy, viêm…

Ở một số phụ nữ mắc ung thư vú, họ cảm thấy đau ở lưng hay vai chứ không phải ở ngực hoặc vú. Cơn đau thường xảy ra ở phần lưng trên hoặc giữa 2 bả vai, dễ bị nhầm lẫn với chấn thương dây chằng, viêm xương khớp.

Nhiều người trải qua các triệu chứng như ngực nóng, hay ửng đỏ (thậm chí có màu tím), sưng đau… thường chỉ nghĩ đơn giản là nhiễm trùng, chẳng hạn nhu viêm vú. Tuy nhiên, đây cũng là dấu hiệu của ung thư vú viêm.

Đau ở bệnh nhân ung thư vú, được mô tả là cơn đau buốt, đến và đi nhanh chóng, giống như một luồng điện nhẹ đi từ ngực trái đến ngực phải.

– Triệu chứng tái phát tại chỗ:

+ Khối u cục cứng tại vùng vú đã phẫu thuật.

+ Da trên vú co rút hay phù nề, viêm đỏ.

+ Xuất hiện 1 hay nhiều khối u không đau sờ rắn dưới da.

+ Tiết dịch, rỉ nước hoặc sẹo mổ không liền.

– Khối u di căn:

+ Sờ thấy hạch vùng cổ, vùng trên xương đòn, cứng, ít di động.

+ Sờ thấy hạch vùng nách cùng bên hay đối bên.

+ Đau tức bụng, đau đầu, chóng mặt,rối loạn thị giác….

Khi phát hiện các dấu hiệu trên cần đi khám và điều trị bệnh kịp thời. Thực hiện khám sức khỏe định kỳ ít nhất 6 tháng 1 lần để phát hiện bệnh.

Bệnh Paget Vú Dạng Hiếm Gặp Của Ung Thư Vú / 2023

Bài viết này dành cho những người muốn biết thêm thông tin về bệnh Paget vú (còn được gọi là bệnh Paget của núm vú). Bài viết mô tả bệnh Paget là gì, các triệu chứng, chẩn đoán và cách điều trị. Chúng tôi hy vọng rằng bài viết này này sẽ giúp ích cho bạn trong việc đưa ra các câu hỏi cho bác sĩ của bạn cũng như được tham gia càng nhiều càng tốt vào việc đưa ra quyết định cho việc điều trị của mình. Chúng tôi khuyên bạn nên đọc bài viết này cùng với những bài viết khác của chúng tôi: Điều trị ung thư vú nguyên phát và Ung thư vú và bạn: đối diện với chẩn đoán, điều trị và tương lai.

Bệnh Paget vú là gì?

Bệnh Paget vú là một loại ung thư vú không phổ biến, biểu hiện sớm nhất thường là những thay đổi ở núm vú. Có chưa đến 5% nữ giới mắc ung thư vú ở thể này. Nam giới cũng có thể mắc bệnh Paget nhưng rất hiếm.Bệnh Paget của vú không giống với bệnh Paget của xương.

Các triệu chứng của bệnh Paget vú là gì?

Triệu chứng thường gặp nhất là núm vú đỏ, rát có vảy, có thể lan tới quầng vú. Các nốt này có thể gây ngứa hoặc gây ra cảm giác nóng rát. Núm vú có thể bị tụt vào trong và có thể tiết ra dịch bất thường.

Bệnh Paget có thể trông giống như các bệnh ngoài da khác như là bệnh chàm hoặc bệnh vảy nến, nhưng có những điều khác biệt. Ví dụ, bệnh Paget ảnh hưởng đến núm vú ngay từ khi bị bệnh trong khi bệnh chàm chỉ ảnh hưởng tới khu vực quầng vú và hiếm khi ảnh hưởng tới núm vú. Ngoài ra, bệnh Paget thường chỉ xảy ra ở một bên vú trong khi hầu hết các bệnh ngoài da khác có xu hướng ảnh hưởng đến cả hai bên vú.

Ung thư biểu mô ống tuyến vú tại chỗ (DCIS)

Hầu hết mọi người khi mắc bệnh Paget sẽ kết hợp cùng dạng ung thư vú giai đoạn sớm (được gọi là ung thư biểu mô ống tuyến vú tại chỗ (DCIS) – ở một vị trí nào đó trong vú.

DCIS được phân chia độ mô học từ thấp, trung bình hoặc cao, dựa trên các tế bào nhìn như thế nào dưới kính hiển chúng tôi có thêm bệnh Paget, chúng được coi là DCIS độ mô học cao.DCIS được hiểu là các tế bào ung thư phát triển bên trong lòng ống dẫn sữa, nhưng còn hoàn toàn tại chỗ (tại nơi xuất phát của chúng). Chúng vẫn chưa phát triển ra bên ngoài ống dẫn sữa, hoặc mô vú xung quanh hoặc lan tới các bộ phận khác của cơ thể. Do bị giới hạn trong các ống dẫn sữa, nên nếu được điều trị thì DCIS có tiên lượng tốt. Tuy nhiên, nếu DCIS không được điều trị thì các tế bào ung thư có khả năng phát triển lan từ ống dẫn sữa vào mô vú xung quanh và trở thành ung thư vú xâm lấn (xem phần dưới). Mặc dù phân loại, kích thước và độ mô học của DCIS có thể giúp dự báo liệu nó có trở thành ung thư xâm lấn hay không, nhưng hiện tại chưa có cách nào để biết chắc chắn rằng điều này có xảy ra hay không.Nếu bạn mắc DCIS, bạn có thể tìm được hữu ích khi đọc bài viết:

Đọc:Ung thư biểu mô tuyến ống vú tại chỗ (DCIS).

Ung thư vú xâm lấn

Một số người mắc bệnh Paget cũng sẽ phát triển thành ung thư vú xâm lấn. Trong nhiều trường hợp sẽ xuất hiện một khối u ở vú. Ung thư vú xâm lấn là ung thư vú có khả năng lan từ vú tới các bộ phận khác của cơ thể. Ngay cả khi không có khối u thì một số người có thể vẫn mắc ung thư vú xâm lấn.Để biết thêm thông tin về ung thư vú xâm lấn hãy

Bệnh Paget được chẩn đoán như thế nào?

Do bệnh Paget hiếm gặp và có thể trông giống như bệnh ngoài da khác nên nó thường không được chẩn đoán ngay lập tức. Một bác sĩ đa khoa có thể giới thiệu bạn tới khám bác sĩ chuyên khoa, và bạn có thể được thực hiện một vài xét nghiệm, gồm:

Chụp nhũ ảnh (X quang vú)

Siêu âm (sử dụng sóng âm tần số cao để tạo ra ảnh)

Sinh thiết

Sau đó bạn thường sẽ được sinh thiết để chẩn đoán xác định Sinh thiết là lấy ra một phần của mô để quan sát dưới kính hiển vi. Loại sinh thiết bạn cần làm sẽ phụ thuộc vào các triệu chứng của bạn. Ví dụ:

Cạo núm vú lấy các tế bào từ da của núm vú bị bệnh

Sinh thiết bấm lấy ra một miếng mô nhỏ từ da vú hoặc núm vú

Sinh thiết lõi lấy một mẫu mô nhỏ từ vùng nghi ngờ có u.

Nếu vị trí nghi ngờ có u chỉ có thể nhìn thấy được trên phim X quang hoặc siêu âm thì bạn có thể được sinh thiết dưới hướng dẫn của hình ảnh. Đấy là vị trí mà các mẫu mô vú được lấy ra bằng cách chụp XQ vú hoặc siêu âm để giúp định vị vị trí chính xác của vùng nghi ngờ có u.Các xét nghiệm này có thể được tiến hành bằng phương pháp gây tê tại chỗ. Các mẫu mô hoặc tế bào được gửi tới phòng xét nghiệm để quan sát dưới kính hiển vi để đưa ra chẩn đoán. Nếu bạn muốn biết thêm thông tin về các xét nghiệm và quy trình, bạn có thể đọc bài viết Cuộc hẹn khám vú của bạn

Bệnh Paget được điều trị như thế nào?

Phẫu thuậtPhẫu thuật là phương phán điều trị đầu tiên cho bệnh Paget vú. Loại phẫu thuật phụ thuộc vào vị trí khối u, kích thước của khối u so với kích thước vú của ban và liệu có nhiều hơn 1 vị trí vú bị bệnhBạn có thể được đề nghị phẫu thuật bảo tồn vú (phẫu thuật cắt bỏ u vú). Đây là phương pháp loại bỏ khối ung thư với diện cắt vú bình thường xung quanh vị trí ung thư. Đối với bệnh Paget vú thì phẫu thuật bảo tồn cũng gồm loại bỏ núm vú và quầng vú.Phẫu thuật cắt tuyến vú (loại bỏ tất cả mô vú cùng với khu vực núm vú) thường được cân nhắc nếu:

Ung thư đã ảnh hưởng đến 1 vùng lớn của vú

Không thể có được một diện cắt sạch của mô vú bình thường xung quanh khu vực

ung thư vú khi dùng phẫu thuật bảo tồn vú

Có từ hai khu vực ung thư vú trở lên

Phẫu thuật bảo tồn vú không mang lại kết quả thẩm mỹ do vị trí hoặc kích thước của khối u

Phẫu thuật tái tạo vú sau bệnh Paget vú

Nếu bạn được phẫu thuật cắt tuyến vú, bạn thường được hỏi về lựa chọn tái tạo vú để tạo hình dáng vú mới, cùng lúc với phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú (tái tạo tức thì) hoặc nhiều năm tháng sau đó (tái tạo trì hoãn). Có thể tái tạo núm vú sau phẫu thuật bệnh Paget vú, cho dù bạn được phẫu thuật bảo tồn hay phẫu thuật cắt bỏ tuyến vúĐể biết thêm thông tin, bạn hãy xem bài Tái tạo vú Việc lựa chọn tái tạo vú hoặc không là quyết định rất mang tính cá nhân. Một số phụ nữ cảm thấy cần thiết tái tạo vú để lấy lại sự tự tin. Nhiều người khác thích mang quả độn ngực, một số phụ nữ chọn không tái tạo vú và không mang quả độn ngực.Nếu bạn muốn có thêm thông tin về việc mang quả độn ngực, hãy đọc bài Quả độn ngực, áo ngực và quần áo sau phẫu thuật.

Phẫu thuật hạch bạch huyết

Nếu bạn bị ung thư vú xâm lấn có nguồn gốc từ bệnh Paget, thì bác sĩ chuyên khoa sẽ kiểm tra liệu các hạch bạch huyết dưới cánh tay (trong hố nách) có chứa tế bào ung thư hay không. Việc này cùng với các thông tin khác về ung thư vú sẽ giúp họ quyết định các điều trị bổ sung nào sau phẫu thuật là có lợi ích cho bạn. Để kiểm tra, bác sĩ sẽ đề nghị phẫu thuật để lấy ra một số hạch bạch huyết (lấy mẫu hạch bạch huyết hay là sinh thiết hạch bạch huyết) hoặc tất cả hạch bạch huyết (vét hết hạch bạch huyết).

Sinh thiết hạch gác

Sinh thiết hạch gác được sử dụng rộng rãi nếu các xét nghiệm trước phẫu thuật chưa cho thấy bằng chứng hạch bạch huyết có chứa các tế bào ung thư. Sinh thiết hạch gác (hạch bạch huyết đầu tiên mà các tế bào ung thư nhiều khả năng lan tới) để xác định hạch gác có tế bào ung thư hay không. Có thể có nhiều hơn 1 hạch gác. Nếu không cso tế bào ung thư thì thường có nghĩa rằng các hạch bạch huyết khác cũng không có tế bào ung thư nên không cần vét thêm hạch bạch huyết nữa. Sinh thiết hạch gác thường được thực hiện cùng lúc với phẫu thuật ung thư nhưng có thể được thực hiện trước phẫu thuật.Nếu kết quả sinh thiết hạch gác cho thấy hạch đầu tiên bị di căn thì bạn có thể đề nghị cần phẫu thuật thêm hoặc xạ trị vào các hạch bạch huyết còn lại.Sinh thiết hạch gác không phù hợp nếu các xét nghiệm trước phẫu thuật cho thấy rằng các hạch bạch huyết có chứa tế bào ung thư. Trong trường hợp này bác sĩ phẫu thuật có thể đề nghị vét hạch bạch huyết.Thường thì các hạch bạch huyết dưới cánh tay không cần được lấy ra nếu bạn mắc ung thư biểu mô tuyến ống vú tại chỗ (DCIS), điều này là do các tế bào ung thư chưa phát triển lan ra ngoài ống dẫn sữa vào mô vú xung quanh. Tuy nhiên phẫu thuật hạch bạch huyết có thể được khuyến nghị cho một số người mắc ung thư ống tuyến vú tại chỗ. Để biết thêm thông tin có thể xem bài viết Điều trị ung thư vú nguyên phát và Ung thư biểu mô ống tuyến vú tại chỗ (DCIS).Điều trị bổ trợ (bổ sung) là gì? Sau phẫu thuật bạn có thể cần điều trị các phương pháp khác và chúng được gọi là liệu pháp điều trị bổ trợ, và có thể bao gồm:

Mục đích của các điều trị này là để giảm nguy cơ ung thư vú tái phát ở cùng bên vú hoặc ở vú đối diện hay lan tới vị trí khác trong cơ thể bạn. Một số điều trị này có thể được thực hiện trước phẫu thuật và được gọi là điều trị tân bổ trợ.

Hóa trị

Hóa trị có được khuyến nghị hay không phụ thuộc nhiều vào đặc tính của ung thư như là độ mô học, kích thước khối u và sự di căn các hạch bạch huyếtHóa trị có thể được dùng nếu ung thư vú đang tiềm ẩn sự xâm lấn. Không sử dụng hóa trị để điều trị ung thư biểu mô tuyến ống vú tại chỗ (DCIS). Để biết thêm thông tin để nghị xem bài viết Hóa trị cho ung thư vú.

Xạ trị

Xạ trị là dùng tia X năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Nếu bạn được phẫu thuật bảo tồn vú, bạn thường sẽ được xạ trị để giảm nguy cơ ung thư vú tái phát tại chỗĐôi khi bạn có thể được cân nhắc xạ trị vào các hạch dưới cánh tay. Cũng có thể xạ trị vào thành ngực sau phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú trong một số trường hợp, ví dụ nếu một số hạch bạch huyết dưới cánh tay bị di căn.Để biết thêm thông tin đề nghị xem bài viết Xạ trị cho ung thư vú nguyên phát.

Liệu pháp nội tiết

Liệu pháp nhắm trúng đích (sinh học)

Đây là một nhóm các thuốc chặn sự tăng trưởng và phát triển của ung thư. Chúng nhắm trúng và can thiệp vào các quá trình trong tế bào, các quá trình làm cho ung thư tăng trưởng.Liệu pháp nhắm trúng đích được sử dụng rộng rãi nhất là trastuzumab Chỉ những người mà ung thư xâm lấn có bộc lộ HER2 cao (được gọi là Her2 dương tính) sẽ hưởng lợi ích từ việc điều trị bằng trastuzumab. HER2 là một protein làm tế bào ung thư tăng trưởng.Có nhiều xét nghiệm để đo mức độ bộc lộ HER2 được thực hiện trên mô vú lấy ra trong sinh thiết hoặc phẫu thuật. Nếu bạn mắc ung thư vú âm tính HER2 thì trastuzumab không có bất kỳ lợi ích gì..Để có thêm thông tin, đề nghị xem bài viết Trastuzumab hoặc website: chúng tôi để có thêm thông tin về các liệu pháp đích khác.

Các thuốc bisphospshonate

Các thuốc bisphosphonate là một nhóm các thuốc có thể làm giảm nguy cơ ung thư vú xâm lấn lan tỏa ở phụ nữ đã mãn kinh. Thuốc có thể được dùng cả với bệnh nhân mãn kinh tự nhiên hoặc mãn kinh do điều trị ung thư vú gây nên.Các thuốc bisphosphonate cũng có thể làm chậm hoặc ngăn ngừa những tổn thương xương. Thuốc thường được chỉ định cho những người đã hoặc có nguy cơ loãng xương (khi xương giảm độ chắc khỏe và nhiều khả năng bị gãy).Các thuốc bisphosphonate có thể được chỉ định đưới dạng viên nén hoặc truyền tĩnh mạch.Bác sĩ chuyên khoa có thể nói cho bạn biết liệu các thuốc bisphosphonate có thích hợp với bạn hay không.

Ung Thư Vú Dạng Viêm / 2023

Hiệu đính: chúng tôi Nguyễn Trần Bảo Chi Bài viết này mô tả ung thư vú dạng viêm, các triệu chứng, chẩn đoán và điều trị. Chúng tôi hi vọng rằng thông tin này giúp trả lời các thắc mắc của bạn và bạn được tham dự càng nhiều càng tốt vào các quyết định điều trị. Chúng tôi khuyến nghị đọc cùng với các cuốn sách “Điều trị ung thư vú nguyên phát” và “Ung thư vú và bạn: đối mặt với chẩn đoán, điều trị và tương lai”.

Ung thư vú dạng viêm là gì?

Ung thư vú dạng viêm là loại ung thư vú hiếm gặp và phát triển nhanh. Ung thư vú dạng viêm có tên như vậy vì da của vú thường nhìn có màu đỏ và bị viêm, gây ra bởi các tế bào ung thư vú làm tắc các mạch bạch huyết tí hon trong vú và da. Các mạch bạch huyết là một phần của hệ thống bạch huyết.

Hệ thống bạch huyết được hình thành từ một mạng lưới các mạch (tương tự các mạch máu) nối với các nhóm hạch bạch huyết nằm trong toàn cơ thể. Hệ thống bạch huyết làm việc gần gũi với hệ thống máu để duy trì sự cân bằng chất dịch trong các mô của cơ thể bằng cách thoát dịch, lọc và vận chuyển dịch bạch huyết đi khắp cơ thể.

Các dấu hiệu và triệu chứng của ung thư vú dạng viêm

Các triệu chứng ung thư vú dạng viêm có thể phát triển rất nhanh. Có thể có hiện diện khối bướu hoặc không có. Các triệu chứng có thể gồm:

Vú có màu đỏ, ấm hoặc sưng lên

Da của vú đổi màu hoặc trông giống bị bầm tím

Xuất hiện vết lõm hoặc dày da hoặc vú trông sần sùi giống như vỏ quả cam (hay còn gọi là dấu “da cam”)

Vú to lên

Vú đau hoặc nhạy cảm đau

Ngứa mãi không hết

Núm vú bị tụt xuống

Sưng hoặc có cục ở nách hoặc cung quanh xương đòn.

Ung thư vú dạng viêm được chẩn đoán như thế nào?

Ung thư vú dạng viêm đôi khi khó chẩn đoán, bởi vì những triệu chứng này tương tự như trạng thái lành tính (không phải ung thư) như viêm vú và áp xe vú – là các bệnh thường được điều trị bằng kháng sinh.

Nếu bạn được chỉ định thuốc kháng sinh nhưng các triệu chứng không giảm đi thì bạn sẽ được giới thiệu tới phòng khám vú, tại đó bạn có thể được làm vài xét nghiệm gồm:

Chụp X-quang tuyến vú

Siêu âm – sử dụng sóng âm cao tần để tạo ra ảnh

Sinh thiết – Lấy mô vú ra để quan sát dưới kính hiển vi. Có thể sinh thiết bằng kim. Bạn cũng có thể được sinh thiết bấm lấy ra một mẩu da tròn.

Nếu bạn bị chẩn đoán ung thư vú dạng viêm thì bạn có thể được làm thêm các xét nghiệm để kiểm tra xem ung thư đã lan ra ngoài vú hay chưa. Các xét nghiệm này gồm:

Chụp CT hay còn được gọi là CAT scan – sử dụng tia X để tạo ra các ảnh chi tiết toàn cơ thể

Xạ hình xương – kiểm tra toàn bộ bộ xương. Nó giúp nhận diện những thay đổi của xương gây ra bởi tổn thương, quá trình làm lành tổn thương hoặc bệnh như là ung thư.

Nếu bạn cần được làm các xét nghiệm này, nhóm bác sĩ điều trị sẽ giải thích thêm.

Ung thư vú dạng viêm vú được điều trị như thế nào?

Do ung thư vú dạng viêm có thể phát triển nhanh nên điều trị thường được bắt đầu càng sớm càng tốt. Điều trị thường bao gồm điều trị toàn cơ thể bằng các loại thuốc (điều trị toàn thân) cũng như điều trị vú bị ung thư và khu vực xung quanh vú (điều trị tại chỗ). Có thể sử dụng kết hợp hóa trị, phẫu thuật, xạ trị, điều trị nhắm trúng đích (đôi khi gọi là điều trị sinh học), nội tiết (hormone) và các thuốc bisphophonate phụ thuộc vào hiện trạng riêng từng cá nhân.

Hóa trị là điều trị dùng thuốc chống ung thư (thuốc độc tế bào) để tiêu diệt các tế bào ung thư. Đó là điều trị đầu tay cho ung thư vú dạng viêm trước phẫu thuật và gọi là hóa trị tân bổ trợ. Hóa trị được chỉ định để điều trị và làm giảm kích thước của khối u trong vú và để tiêu diệt các tế bào ung thư có thể đã lan tới nơi khác trong cơ thể.

Tiếp theo hóa trị, hầu hết mọi người sẽ được phẫu thuật. Thường thì cả vú được cắt bỏ kể cả khu vực núm vú (phẫu thuật đoạn nhũ). Bác sĩ phẫu thuật thường đồng thời sẽ vét tuyến bạch huyết tại hốc nách.

Nếu như bạn muốn tái tạo vú sau đoạn nhũ thì rất có thể bạn được tái tạo vú sau khi hoàn thành tất cả các điều trị, và được gọi là tái tạo vú trì hoãn.

Xạ trị sử dụng tia X năng lượng cao được tính toán và kiểm soát cẩn thận để tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại. Xạ trị thường được thực hiện sau hóa trị và phẫu thuật để điều trị ung thư vú dạng viêm. Khu vực điều trị thường bao gồm toàn bộ khu vực vú và cả khu vực phía trên xương đòn. Bạn cũng có thể được xạ trị vào nách và đôi khi vào hạch bạch huyết sau xương ức.

Để có thêm thông tin về xạ trị, đề nghị đọc cuốn sáchXạ trị cho ung thu vú nguyên phát.

Điều trị nhắm trúng đích (điều trị sinh học)

Đây là một nhóm thuốc chặn sự phát triển và lan rộng của ung thư. Chúng nhằm tới và can thiệp vào quá trình làm ung thư phát triển. Loại liệu pháp nhắm trúng đích bạn được chỉ định phụ thuộc vào các đặc điểm của ung thư vú.

Các liệu pháp nhắm trúng đích được sử dụng sử dụng phổ biến là cho ung thư vú dương tính HER2. HER2 là một protein giúp các tế bào ung thư phát triển.

Có nhiều xét nghiệm đo các mức độ HER2, được thực hiện trên mô vú lấy ra trong khi sinh thiết hoặc phẫu thuật. Chỉ những người mà ung thư vú có HER2 cao (gọi là dương tính HER2) sẽ được lợi từ liệu pháp đích.

Ví dụ về các liệu pháp đích cho ung thư vú dương tính HER2 gồm trastuzumab và pertuzumab.

Nếu ung thư vú của bạn âm tính HER2 thì các liệu pháp đích sẽ không có lợi ích.

Để có thêm thông tin đề nghị xem trên websitewww.breastcancenow.org/targeted-therapy.

Một số loại ung thư vú sử dụng chất estrogen trong cơ thể để giúp chúng phát triển và được gọi là ung thư vú dương tính thụ thể estrogen hay là ung thư vú ER+.

Các liệu pháp nội tiết chặn hoặc làm dừng ảnh hưởng của estrogen lên các tế bào ung thư vú. Các thuốc khác nhau của liệu pháp nội tiết làm việc này theo các cách khác nhau. Chỉ có thể chỉ định liệu pháp nội tiết nếu ung thư vú là ER+.

Nếu ung thư vú không được kích thích bằng estrogen thì gọi là âm tính thụ thể estrogen (ER-) và liệu pháp nội tiết không mang lại lợi ích.

Những phụ nữ tiền mãn kinh có ung thư vú dương tính thụ thể nội tiết cũng có thể được khuyến nghị ức chế buồng trứng. Ức chế buồng trứng là thuật ngữ dùng để mô tả các phương pháp điều trị làm buồng trứng dừng sản sinh ra estrogen, hoặc dừng tạm thời hoặc vĩnh viễn.

Các thuốc biphosphonate

Biphosphonate là nhóm thuốc có thể làm giảm nguy cơ ung thư vú lan tỏa ở những phụ nữ sau mãn kinh. Nhóm thuốc này có thể được dùng không tính đến mãn kinh xảy ra tự nhiên hay do điều trị ung thư vú.

Các thuốc bisphosphonate cũng có thể làm chậm hoặc ngăn ngừa tổn thương xương. Thuốc thường được chỉ định cho những người có nguy cơ bị loãng xương hoặc có nguy cơ loãng xương (khi mà xương mất sự chắc khỏe và trở nên dễ gãy).

Thuốc biphosphonate có thể được dùng ở dạng viên nén hoặc truyền tĩnh mạch.

Nhóm bác sĩ điều trị sẽ cho bạn biết thuốc biphosphonate có phù hợp với bạn hay không.

Bị chẩn đoán mắc ung thư vú dạng viêm có thể là một thời điểm khó khăn và thử thách. Có thể có nhiều thời điểm bạn cảm thấy cô đơn hoặc bị cô lập, đặc biệt ung thư vú dạng viêm là một dạng ung thư vú hiếm gặp. Nhiều người có thể hỗ trợ bạn, do vậy đừng ngại ngần yêu cầu giúp đỡ nếu bạn cần.

https://breastcancernow.org/sites/default/files/publications/pdf/bcc23_inflammatory_breast_cancer_2020_web.pdf