Top 16 # Xem Nhiều Nhất Ung Thư Xoang Biểu Mô Dạng Hiếm / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Ung Thư Biểu Mô Thận Dạng Nhú Di Truyền / 2023

HPRC được di truyền như thế nào?

Thông thường, mỗi tế bào có 2 bản sao của một gen: 1 được thừa hưởng từ mẹ và 1 được thừa hưởng từ cha. HPRC tuân theo quy luật di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, trong đó đột biến chỉ cần xảy ra trong 1 bản sao của gen thì đã có nguy cơ mắc bệnh. Điều này có nghĩa là cha hoặc mẹ có đột biến gen có thể truyền lại một bản sao của gen bình thường hoặc một bản sao của gen có đột biến. Do đó, một đứa trẻ có cha hoặc mẹ bị đột biến có 50% khả năng thừa hưởng đột biến này. Anh, chị, em, cha hoặc mẹ của người bị đột biến cũng có 50% khả năng có đột biến tương tự.

Đối với những người mang đột biến gen làm tăng nguy cơ mắc ung thư di truyền nhưng vẫn mong muốn có con hoàn toàn khỏe mạnh thì vẫn có một số lựa chọn. Chẩn đoán di truyền tiền làm tổ (PGD) là một thủ thuật y khoa được thực hiện kết hợp với thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Phương pháp này cho phép những người mang đột biến gen giảm bớt khả năng con cái sẽ thừa hưởng bệnh lý này. Trứng của một người phụ nữ được lấy ra và thụ tinh trong phòng thí nghiệm. Khi phôi đạt đến một kích thước nhất định, 1 tế bào sẽ được tách ra kiểm tra tình trạng di truyền về gen đột biến. Sau đó, cha mẹ có thể chọn chuyển phôi không mang đột biến. PGD ​​đã được áp dụng trong hơn 2 thập kỷ, đặc biệt cho một số hội chứng có thể gây ung thư di truyền. Tuy nhiên, đây là một thủ thuật phức tạp với nhiều yếu tố cần phải xem xét như tài chính và sức khỏe về cả thể chất lẫn tinh thần. Để biết thêm thông tin, hãy tham vấn với bác sỹ chuyên khoa hỗ trợ sinh sản.

HPRC là một bệnh hiếm gặp. Số lượng người và gia đình mắc HPRC chưa được xác định chính xác.

HPRC được chẩn đoán như thế nào?

Cần nghĩ đến HPRC khi nhiều thành viên trong gia đình bị ung thư tế bào thận dạng nhú loại 1 hoặc ung thư tế bào thận đa ổ loại 1 hai bên. Xét nghiệm di truyền để tìm kiếm đột biến gen MET cần được thực hiện cho những người nghi ngờ có HPRC.

Nguy cơ cụ thể đối với ung thư tế bào thận dạng nhú loại 1 ở những gia đình có người mắc HPRC là cao và hầu hết những người bị mắc bệnh sẽ hình thành khối u trong suốt cuộc đời của họ. Nếu được chẩn đoán ung thư thận, bạn cần trao đổi với bác sĩ về các lựa chọn điều trị. Hiện nay, phẫu thuật là phương pháp chính để điều trị khối u cục bộ ở những người bị HPRC. Một loại thuốc tên là Foretinib cho thấy bằng chứng hiệu quả trong một nghiên cứu nhỏ nhưng hiện tại chưa được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ chấp thuận. Các loại thuốc khác trong lĩnh vực này cũng đang được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng.

Phương tiện tầm soát HPRC?

Không có hướng dẫn sàng lọc cụ thể cho những gia đình nghi ngờ có HPRC. Các thành viên trong những gia đình này được khuyến khích tham vấn bác sĩ về lựa chọn thích hợp tầm soát ung thư thận, bao gồm:

Chụp cắt lớp vi tính (CT hoặc CAT), sử dụng tia X để tạo ra hình ảnh 3 chiều bên trong cơ thể. Sau đó, một máy tính kết hợp những hình ảnh này thành lát cắt ngang chi tiết cho thấy những điểm bất thường hoặc khối u.

Hình ảnh cộng hưởng từ (MRI), sử dụng từ trường thay vì tia X, để tạo ra hình ảnh chi tiết của cơ thể. Một số bác sĩ đề nghị rằng những cá nhân có HPRC, hoặc tiền căn gia đình gợi ý HPRC, nên được kiểm tra hàng năm bắt đầu ở tuổi 30 hoặc sớm hơn.

Siêu âm ngoài CT và/hoặc MRI. Siêu âm sử dụng sóng âm thanh để tạo ra hình ảnh của các cơ quan bên trong.

Các phương tiện sàng lọc có thể thay đổi theo thời gian khi các công nghệ mới được phát triển và nhiều kiến thức mới về HPRC được cập nhật. Điều quan trọng là tham vấn ý kiến bác sỹ về các xét nghiệm tầm soát phù hợp.

Tìm hiểu thêm về Những kết quả mong đợi khi thực hiện xét nghiệm, thủ thuật và hình ảnh học thông thường.

Bạn cần hỏi bác sỹ những gì?

Nếu bạn lo lắng về nguy cơ ung thư thận, hãy nói chuyện với các nhân viên y tế. Bạn có thể hỏi những câu hỏi sau

Nguy cơ ung thư thận của tôi như thế nào?

Tôi có thể làm gì để giảm nguy cơ ung thư?

Tôi có thể lựa chọn những phương tiện nào để tầm soát ung thư?

Nếu bạn lo lắng về tiền căn gia đình và nghĩ rằng bạn hoặc các thành viên khác trong gia đình có thể có HPRC, bạn có thể hỏi những câu hỏi sau :

Tiền căn gia đình có làm tăng nguy cơ xuất hiện ung thư thận của tôi hay không?

Tôi có cần tham vấn chuyên gia di truyền hay không?

Tôi có cần thực hiện các xét nghiệm di truyền?

Di truyền học của ung thư Những gì mong đợi khi bạn gặp một cố vấn di truyền Thu thập tiền sử ung thư gia đình bạn Chia sẻ kết quả xét nghiệm di truyền với gia đình bạn Viện ung thư quốc gia Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ

Để tìm một cố vấn di truyền trong khu vực của bạn, hãy tham vấn bác sĩ của bạn hoặc truy cập các trang web sau:

Hiệp hội cố vấn di truyền quốc gia https://www.cancer.net/cancer-types/hereditary-papillary-renal-carcinoma

Hình Ảnh Học Trong Ung Thư Đại Tràng Dạng Biểu Mô Tuyến / 2023

TỔNG QUAN:

Ung thư biểu mô của manh tràng. Khối to ở manh tràng dạng polyp dính ở van hồi manh tràng, gây tắc ruột.

Ung thư đại tràng là ung thư phổ biến nhất của đường tiêu hóa (GI) và có tiên lượng tốt nhất. Tỉ lệ sống sót sau 5 năm khoảng 50%, có thể cải thiện bằng cách sàng lọc và loại bỏ các polyp dạng tuyến.

Khám lâm sàng:

Bắt đầu đánh giá bằng việc hỏi bệnh sử, khám thực thể, gồm cả thăm khám hậu môn – trực tràng. Quan sát phân, làm xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân.

Xét nghiệm máu gồm công thức máu, chức năng gan, nồng độ CEA

Nội soi đại tràng xích ma (ống soi cứng hoặc mềm), chụp X-quang đại tràng có bơm thuốc cản quang, nội soi đại tràng đều nên thực hiện. Chụp CT đại tràng hoặc CT nội soi đại tràng (còn gọi là nội soi đại tràng ảo) nên thực hiện để đánh giá toàn bộ đại tràng.

Nội soi đại tràng sigma bằng ống soi mềm 60cm có phạm vi quan sát lớn hơn soi với ống soi cứng – tốt nhất chỉ soi tới đoạn xa đại tràng sigma (20cm). Chụp x-quang đại tràng cản quang phát hiện được hầu hết các khối u đại tràng (80 – 95%), tuy nhiên nên nội soi đại tràng sigma bằng ống soi mềm trước, vì nội soi có thể phát hiện được các tổn thương nhỏ. Chụp x-quang đại tràng cản quang có tỉ lệ thủng ruột thấp (1/25000)

Nội soi đại tràng phát hiện được nhiều polyp dạng tuyến hơn so với chụp x-quang đại tràng cản quang, và polyp có thể được cắt bỏ trong khi thực hiện thủ thuật. Nội soi đại tràng đắt hơn gấp 3 lần, và có tỉ lệ thủng cao hơn (1/1700) chụp x-quang đại tràng cản quang, và không thể soi được tới manh tràng trong 5-30% bệnh nhân.

X-QUANG:

X-quang bụng thẳng hữu ích đối với BN có tắc ruột già, hoặc thủng ruột. Hơi tự do dưới hoành được phát hiện tốt nhất bằng X-quang bụng đứng thẳng. Hiếm khi, K đại tràng sinh chất mucin cho thấy hình ảnh vôi hóa ở u nguyên phát, ở gan và lắng đọng thứ phát trong phúc mạc.

Chụp đại tràng đối quang kép phát hiện được khoảng 90% các khối u đại tràng

50% khối u bị bỏ qua trên phim x-quang có cản quang được cho là do lỗi người đọc; nhờ một người khác đọc lại phim lần thứ hai có thể giảm các lỗi như vậy. Khi có viêm túi thừa đại tràng sigma trầm trọng, tỉ lệ bỏ lỡ các sang thương ung thư tăng lên. Những sang thương nhỏ có thể không thấy được trong môi trường dầy đặc chất baryt.

Phân còn sót lại có thể che khuất một ung thư biểu mô (carcinoma), trường hợp này cần kiểm tra lại hoặc cho nội soi đại tràng. Phân còn sót có thể dính vào thành ruột và cho hình ảnh giả giống khối u.

Van hồi manh tràng có thể cho ảnh giả giống khối u manh tràng Một khối dưới niêm mạc như: u mỡ, u tuyến niêm mạc lành tính, hoặc polyp tăng sản có thể không phân biệt được với ung thư dạng polyp.

Bệnh viêm ruột, viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ, viêm đại tràng do tia xạ và do lao đều có thể cho hình ảnh giả giống một chỗ hẹp ác tính. Đè ép từ bên ngoài đại tràng do khối u gần kề có thể giả như u nguyên phát tại đại tràng. Carcinoma buồng trứng hoặc lạc nội mạc tử cung tiến triển có thể giả như khối u đại tràng nguyên phát. Sang thương thứ hai có nhiều khả năng bị bỏ qua (do hài lòng vì đã phát hiện được khối u, không tìm tiếp nữa)

Khoảng 5% bệnh nhân K đại tràng có nhiều hơn 1 khối u tại thời điểm chẩn đoán(hình dưới)

Carcinoma hình vòng đồng dạng ở đại tràng lên và đại tràng góc lách

Khoảng 35% BN K đại tràng có 1 polyp dạng tuyến (hình dưới)

Carcinoma dạng vòng ở đại tràng ngang kết hợp với polyp 2cm ở đại tràng sigma

Ba dạng hình thái học:

Hầu hết K đại tràng đều tiến triển, đường kính đo được khoảng 3-4 cm ở thời điểm chẩn đoán. Hình dạng đại thể của khối u trên phim x-quang đại tràng cản quang gồm: dạng polyp, dạng vòng và dạng phẳng.

Carcinoma dạng polyp. 1 khối to, nhiều thùy bất thường hiện diện ở chỗ giao nhau của đại tràng sigma và trực tràng.

Các sang thương dạng vòng là do khối gây chít hẹp lòng đại tràng. Sự không đều của niêm mạc và một lòng ống bất thường với phần vai nhô ra (sang thương hình lõi táo). Những nếp gấp niêm mạc trong phần hẹp bị phá hủy, loét hiện diện (hình dưới)

Carcinoma dạng vòng của đại tràng sigma. Lòng đại tràng bị hẹp nghiêm trọng bởi khối có lớp niêm mạc bị phá hủy, bờ nhô ra.

Sang thương dạng phẳng, hiếm gặp, được thấy như một tổn thương ở một bên, diện rộng. Loét có thể hiện diện (hình dưới). Sang thương loét có thể thâm nhiễm thành ruột, nếu lan rộng, sẽ gây ra một vùng không căng phồng được.

Carcinoma dạng phẳng ở đại tràng ngang. Tổn thương có diện rộng với loét ở trung tâm.

Các ung thư biểu mô nhỏ thường là một khối có dạng polyp với bề mặt mịn; thường không thể phân biệt với một polyp lành tính. Hiếm khi chúng hiện diện như một sang thương phẳng nhỏ.

Hình ảnh trên X-Quang:

Một polyp không cuống có thể có bóng hình bán nguyệt (hoặc vòng nhẫn) trên thành ruột (hình dưới)

Chụp đối quang kép: polyp không cuống 18mm ở đại tràng sigma cho dấu hiệu hình bán nguyệt

Sang thương dạng polyp đường kính lớn hơn 2cm thường phân thùy.

Chụp đối quang kép: polyp có cuống dài 15mm ở đại tràng sigma

Nguy cơ ác tính:

Nguy cơ ác tính của polyp tăng theo kích thước của nó. Nguy cơ dưới 1% ở polyp đường kính dưới 1cm. Nguy cơ lên đến 5% ở các ung thư tế bào tuyến có đường kính 1 – 2 cm. Bệnh nhân có polyp lớn hơn 2cm có nguy cơ ác tính 11 – 50%. Do đó, tất cả sang thương dạng polyp từ 0.5 – 3 cm đều cần nội soi cắt đi và làm giải phẫu bệnh lý.

Biến chứng tại chỗ:

Các khối u nguyên phát có thể gây ra các biến chứng sau:

–          Tắc ruột già thường do carcinoma dạng vòng ở đại tràng sigma hoặc đại tràng xuống. Ung thư biểu mô tuyến của đại tràng là nguyên nhân gây ra 75% trường hợp tắc ruột già ở người lớn. Tắc ruột non có thể do các sang thương vùng manh tràng bao gồm cả van hồi manh tràng (hình dưới)

Carcinoma manh tràng. Khối to dạng polyp ở manh tràng, dính vào van hồi manh tràng và gây tắc ruột non

–          Viêm đại tràng là biến chứng hiếm gặp, xảy ra ở chỗ gần với khối u gây tắc nghẽn. Phù nề niêm mạc đại tràng do tăng áp lực trong lòng ruột, gần chỗ bị tắc (hình dưới)

Phù nề niêm mạc đại tràng lên gần chỗ khối u gây tắc ở đại tràng góc gan.

–          Lồng ruột hiếm xảy ra ở người lớn, thường xảy ra ở các khối u manh tràng dạng polyp.

–          Thủng ruột khu trú do hoại tử khối u có thể dẫn đến khối áp xe cạnh đại tràng, có thể lầm với một quá trình viêm nhiễm (hình dưới). Thủng có thể xảy ra gần khối u gây tắc, thường ở manh tràng

Thủng khu trú và tụ dịch cạnh đại tràng trong carcinoma dạng vòng của đại tràng xuống

–          Khối u có thể xâm lấn qua thành ruột, ăn lan vào các cơ quan kế cận, hình thành lỗ dò.

CT SCAN:

CT scan dùng để phân giai đoạn khối u trước phẫu thuật, để đánh giá khả năng tái phát, phát hiện các di căn xa. K đại tràng được chẩn đoán trên CT đôi khi chỉ là phát hiện ngẫu nhiên. CT scan trước phẫu thuật được chỉ định nếu trên lâm sàng nghi ngờ có di căn xa hoặc có u xâm lấn các cơ quan lân cận, thành ruột.

Bệnh nhân lớn tuổi không thể nội soi hoặc chụp xquang đại tràng cản quang được thì có thể dùng CT để phát hiện u đại trực tràng.

Phân giai đoạn K đại tràng dựa trên CT:

Giai đoạn

Mô tả

T1

Khối dạng polyp trong lòng ruột, không dày thành ruột

T2

T3a

Dày thành đại tràng kèm xâm lấn cơ và các cơ quan lân cận

T3b

Dày thành đại tràng kèm xâm lấn thành bên chậu hoặc thành bụng

T4

Di căn xa: gan, phổi, tuyến thượng thận

* Hiệu chỉnh bởi Thoeni

Các phát hiện:

Một khối u khu trú trên CT là một khối có mật độ của mô mềm, trong lòng ruột hoặc trong thành ruột tiếp giáp với lòng ruột chứa đầy hơi hoặc chất cản quang; đó là hình ảnh của khối u giai đoạn A. Không có dày thành ruột hoặc xâm nhiễm mỡ quanh đại tràng.

CT trước mổ. Dày thành manh tràng và thâm nhiễm mỡ xung quanh.

Carcinoma dạng vòng được phát hiện bởi dày thành đại tràng và hẹp lòng ruột. Sự dày này đồng tâm nếu mặt phẳng quét vuông góc với trục dài của ruột (hình dưới).

CT trước mổ. Carcinoma manh tràng ăn lan vào thành manh tràng.

Xâm lấn của khối u ra bên ngoài đại tràng là hình ảnh mất mô mỡ giữa đại tràng và cấu trúc xung quanh (hình bên dưới). Cơ bị xâm lấn có thể to ra (hình thứ 2 bên dưới). So sánh với hình chụp x-quang đại tràng cản quang (hình thứ 3 bên dưới). Khối u đại tràng có thể xâm lấn vô thành bụng trước, gan, tụy, lách và dạ dày.

CT trước mổ. Khối mô mềm bất thường dính ở đại tràng sigma. Kết hợp với bệnh lý túi thừa

Khối 6x4cm do carcinoma tái phát. Chú ý cơ chậu bên trái to ra hơn, do xâm lấn ác tính.

X-quang đại tràng cản quang. Carcinoma dạng vòng điển hình ở gần đại tràng sigma với bệnh lý túi thừa kế bên.

Biến chứng của khối u nguyên phát:

Tắc ruột, thủng, tạo lỗ dò có thể thấy trên CT scan. Một khối u đại tràng gây lồng ruột có thể có hình bia điển hình với các vòng luân phiên mô mềm và mô mỡ trên CT, nếu mỡ mạc treo ở giữa các phần ruột bao bên ngoài và phần ruột bị lồng vào trong.

Thủng khu trú của carcinoma có thể kết hợp tụ dịch bên ngoài ruột.

Giai đoạn N:

Hạch to ra có thể thấy ở mạc treo ruột và sau phúc mạc (hình dưới). Thỉnh thoảng, hạch to ra ở quanh tĩnh mạch cửa của gan (hình thứ 2 bên dưới)

Hạch to ra ở sau phúc mạc, từ carcinoma manh tràng.

Hạch phì đại quanh tĩnh mạch cửa (quan sát chỗ giữa tĩnh mạch chủ dưới và tĩnh mạch cửa); di căn gan

K đại tràng sigma – trực tràng có thể di căn đến nhóm hạch chậu ngoài.

Giai đoạn M:

Di căn gan là vị trí khối u lan ra xa thường gặp nhất. Sau khi tiêm cản quang (hình dưới), CT phát hiện gan bị di căn là những vùng giảm đậm độ (so với nhu mô gan binh thường) ở thì tĩnh mạch. Ở đầu thì động mạch, di căn gan có thể cho hình vành nổi bật, hoặc là những vùng tăng đậm độ hoặc cùng đậm độ với mô gan xung quanh

CT cản quang cho hình ảnh di căn gan. Nhiều vùng giảm đậm độ di căn từ khối u nguyên phát ở đại tràng tới cả 2 thùy gan.

Khối di căn gan có thể phẫu thuật cắt bỏ nếu kích thước dưới 3cm, số lượng ít hơn 3 và ở vị trí phù hợp (hình dưới), những trường hợp khác hóa trị hoặc xạ trị sẽ thích hợp hơn.

CT scan sau khi đã cắt bỏ một phần gan do di căn vào thùy gan phải.

Vị trí di căn khác thường gặp là phổi, tuyến thượng thận, phúc mạc và mạc nối.

Dù di căn phổi có thể được phát hiện bởi x-quang ngực thẳng (hình dưới), CT vẫn có độ nhạy cao hơn đối với các di căn nhỏ (<10mm).

X-quang ngực. Di căn phổi từ K đại tràng.

Di căn xương và não không thường gặp (hình dưới)

Di căn não từ K đại tràng trên CT. Vị trí di căn này hiếm gặp.

CT scan trong K đại tràng tái phát:

CT scan được thực hiện lại 3 tháng sau khi phẫu thuật cắt bỏ khối u. Ung thư tái phát được phân loại giống như ung thư nguyên phát đã nói ở trên. Tỉ lệ tái phát khu trú khoảng 20 – 40%, tỉ lệ di căn xa khoảng 35% sau phẫu thuật. Hầu hết các di căn xa xảy ra trong vòng 2 năm sau khi phẫu thuật.

Mặc dù nội soi đại tràng và chụp x-quang đại tràng cản quang phát hiện thay đổi ở niêm mạc chỗ tái phát u tốt hơn, CT vẫn có thể phát hiện sự tái phát thông qua hình ảnh thông nối mạch máu cũng như phát hiện hạch to và di căn xa. Khối u tái phát thường to điển hình, thường nằm ngoài thành ruột (hình dưới). Tiêu chuẩn khối u tái phát trên CT gồm: u xâm lấn vào các cơ quan lân cận, to ra kèm theo phì đại các hạch bạch huyết.

Khối kích thước 6x4cm do carcinoma tái phát. Chú ý sự phì đại cơ chậu bên trái.

Khối ở bao cơ thẳng bụng do di căn từ K đại tràng.

Một khối viêm sau phẫu thuật hoặc xạ trị có thể giả giống khối u tái phát, cần phải sinh thiết để phân biệt. Khối mô mềm sau phẫu thuật thường do mô hạt phát triển, nhưng cũng có thể do máu tụ hoặc ap-xe. Những trường hợp này, 60% sẽ thuyên giảm, 40% khối vẫn không thay đổi sau 2 năm. Cả khối u tái phát lẫn khối viêm đều có thể gây thận ứ nước do làm tắc nghẽn niệu quản (hình dưới)

Khối viêm sau khi xạ trị ở hố chậu trái. Chú ý phần mỡ quanh đại tràng se sợi và mô mềm trước xương cùng phù nề.

Niệu quản trái dãn do khối viêm

Độ tin cậy:

Sang thương đại tràng < 2cm thường không được phát hiện. Độ chính xác và chất lượng của CT có thể được tăng lên bằng cách sử dụng hơi cản quang (hơi bơm trực tràng), thuốc giãn cơ trơn và thuốc nhuận tràng. CT scan đánh giá chính xác hơn đối với ung thư giai đoạn T4. Độ phân giải của CT quá thấp để phân biệt tổn thương từ T2 đến T3.

K đại tràng có thể không phân biệt được với khối u lành tính kích thước lớn cũng như ung thư di căn từ nơi khác đến đại tràng (thường là K buồng trứng nguyên phát)

Dấu hiệu K đại tràng trên CT không đặc hiệu, có thể do bất kỳ bệnh lý nào gây dày thành đại tràng khu trú: viêm túi thừa, bệnh Crohn, viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ và viêm đại tràng do lao.

Tụ dịch quanh đại tràng có thể do viêm túi thừa, cũng như thủng ruột khu trú do carcinoma.

Khối u ở đại tràng ngang và đại tràng góc gan, góc lách có thể không thấy rõ hoàn toàn. Carcinoma dạ dày nguyên phát xâm lấn đại tràng có thể không phân biệt được với K đại tràng lan ra dạ dày.

Sang thương giảm đậm độ của gan có thể gây ra bởi các nang gan đơn giản hơn là do di căn ung thư. Các bướu máu cũng có thể gây nhầm lẫn.

SIÊU ÂM:

Vai trò chính của siêu âm ở các bệnh nhân K đại tràng là phát hiện di căn gan. Tỉ lệ phát hiện di căn gan của siêu âm khoảng 70 – 90%, tùy thuộc vào người vận hành, kích thước khối di căn.

Siêu âm thường không thể phát hiện khối u đại tràng nhỏ hơn 2cm, và khó phát hiện sang thương ở đại tràng sigma – trực tràng. Nó có tỉ lệ âm tính giả cao để phát hiện các khối u đại tràng, với độ nhạy là 31 – 80%, phụ thuộc vào kích thước khối u, và không thể sử dụng như một phương tiện sàng lọc. Ngược lại, tỉ lệ dương tính giả thấp, với độ đặc hiệu trên 90%.

Siêu âm giúp giảm việc thực hiện các thủ thuật xâm lấn không cần thiết đối với bệnh nhân lớn tuổi, bệnh tiến triển nặng.

Di căn gan từ khối u đại tràng nguyên phát thường tăng âm hơn so với mô gan bình thường, nhưng đôi khi cũng có giảm âm.

Siêu âm quét qua thùy phải của gan cho thấy hình ảnh khối tăng âm do di căn từ K đại tràng

Trên siêu âm, khối u đại tràng điển hình có echo kém với phần trung tâm tăng âm, tức dấu hiệu hình bia (hình dưới). Các phát hiện khác bao gồm dày thành đại tràng bất thường khu trú, đường viền không đều, thiếu nhu động ruột bình thường.

Siêu âm carcinoma manh tràng cho thấy dầy đồng tâm của thành đại tràng giảm âm bởi khối u

Khối u đại tràng lồng ruột có hình bia điển hình gồm những vòng đồng tâm của mô mềm và mỡ mạc treo (hình dưới)

Carcinoma manh tràng gây lồng ruột trên siêu âm

Nguồn: http://emedicine.medscape.com/article/367061-overview#showall

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Bệnh Paget Vú Dạng Hiếm Gặp Của Ung Thư Vú / 2023

Bài viết này dành cho những người muốn biết thêm thông tin về bệnh Paget vú (còn được gọi là bệnh Paget của núm vú). Bài viết mô tả bệnh Paget là gì, các triệu chứng, chẩn đoán và cách điều trị. Chúng tôi hy vọng rằng bài viết này này sẽ giúp ích cho bạn trong việc đưa ra các câu hỏi cho bác sĩ của bạn cũng như được tham gia càng nhiều càng tốt vào việc đưa ra quyết định cho việc điều trị của mình. Chúng tôi khuyên bạn nên đọc bài viết này cùng với những bài viết khác của chúng tôi: Điều trị ung thư vú nguyên phát và Ung thư vú và bạn: đối diện với chẩn đoán, điều trị và tương lai.

Bệnh Paget vú là gì?

Bệnh Paget vú là một loại ung thư vú không phổ biến, biểu hiện sớm nhất thường là những thay đổi ở núm vú. Có chưa đến 5% nữ giới mắc ung thư vú ở thể này. Nam giới cũng có thể mắc bệnh Paget nhưng rất hiếm.Bệnh Paget của vú không giống với bệnh Paget của xương.

Các triệu chứng của bệnh Paget vú là gì?

Triệu chứng thường gặp nhất là núm vú đỏ, rát có vảy, có thể lan tới quầng vú. Các nốt này có thể gây ngứa hoặc gây ra cảm giác nóng rát. Núm vú có thể bị tụt vào trong và có thể tiết ra dịch bất thường.

Bệnh Paget có thể trông giống như các bệnh ngoài da khác như là bệnh chàm hoặc bệnh vảy nến, nhưng có những điều khác biệt. Ví dụ, bệnh Paget ảnh hưởng đến núm vú ngay từ khi bị bệnh trong khi bệnh chàm chỉ ảnh hưởng tới khu vực quầng vú và hiếm khi ảnh hưởng tới núm vú. Ngoài ra, bệnh Paget thường chỉ xảy ra ở một bên vú trong khi hầu hết các bệnh ngoài da khác có xu hướng ảnh hưởng đến cả hai bên vú.

Ung thư biểu mô ống tuyến vú tại chỗ (DCIS)

Hầu hết mọi người khi mắc bệnh Paget sẽ kết hợp cùng dạng ung thư vú giai đoạn sớm (được gọi là ung thư biểu mô ống tuyến vú tại chỗ (DCIS) – ở một vị trí nào đó trong vú.

DCIS được phân chia độ mô học từ thấp, trung bình hoặc cao, dựa trên các tế bào nhìn như thế nào dưới kính hiển chúng tôi có thêm bệnh Paget, chúng được coi là DCIS độ mô học cao.DCIS được hiểu là các tế bào ung thư phát triển bên trong lòng ống dẫn sữa, nhưng còn hoàn toàn tại chỗ (tại nơi xuất phát của chúng). Chúng vẫn chưa phát triển ra bên ngoài ống dẫn sữa, hoặc mô vú xung quanh hoặc lan tới các bộ phận khác của cơ thể. Do bị giới hạn trong các ống dẫn sữa, nên nếu được điều trị thì DCIS có tiên lượng tốt. Tuy nhiên, nếu DCIS không được điều trị thì các tế bào ung thư có khả năng phát triển lan từ ống dẫn sữa vào mô vú xung quanh và trở thành ung thư vú xâm lấn (xem phần dưới). Mặc dù phân loại, kích thước và độ mô học của DCIS có thể giúp dự báo liệu nó có trở thành ung thư xâm lấn hay không, nhưng hiện tại chưa có cách nào để biết chắc chắn rằng điều này có xảy ra hay không.Nếu bạn mắc DCIS, bạn có thể tìm được hữu ích khi đọc bài viết:

Đọc:Ung thư biểu mô tuyến ống vú tại chỗ (DCIS).

Ung thư vú xâm lấn

Một số người mắc bệnh Paget cũng sẽ phát triển thành ung thư vú xâm lấn. Trong nhiều trường hợp sẽ xuất hiện một khối u ở vú. Ung thư vú xâm lấn là ung thư vú có khả năng lan từ vú tới các bộ phận khác của cơ thể. Ngay cả khi không có khối u thì một số người có thể vẫn mắc ung thư vú xâm lấn.Để biết thêm thông tin về ung thư vú xâm lấn hãy

Bệnh Paget được chẩn đoán như thế nào?

Do bệnh Paget hiếm gặp và có thể trông giống như bệnh ngoài da khác nên nó thường không được chẩn đoán ngay lập tức. Một bác sĩ đa khoa có thể giới thiệu bạn tới khám bác sĩ chuyên khoa, và bạn có thể được thực hiện một vài xét nghiệm, gồm:

Chụp nhũ ảnh (X quang vú)

Siêu âm (sử dụng sóng âm tần số cao để tạo ra ảnh)

Sinh thiết

Sau đó bạn thường sẽ được sinh thiết để chẩn đoán xác định Sinh thiết là lấy ra một phần của mô để quan sát dưới kính hiển vi. Loại sinh thiết bạn cần làm sẽ phụ thuộc vào các triệu chứng của bạn. Ví dụ:

Cạo núm vú lấy các tế bào từ da của núm vú bị bệnh

Sinh thiết bấm lấy ra một miếng mô nhỏ từ da vú hoặc núm vú

Sinh thiết lõi lấy một mẫu mô nhỏ từ vùng nghi ngờ có u.

Nếu vị trí nghi ngờ có u chỉ có thể nhìn thấy được trên phim X quang hoặc siêu âm thì bạn có thể được sinh thiết dưới hướng dẫn của hình ảnh. Đấy là vị trí mà các mẫu mô vú được lấy ra bằng cách chụp XQ vú hoặc siêu âm để giúp định vị vị trí chính xác của vùng nghi ngờ có u.Các xét nghiệm này có thể được tiến hành bằng phương pháp gây tê tại chỗ. Các mẫu mô hoặc tế bào được gửi tới phòng xét nghiệm để quan sát dưới kính hiển vi để đưa ra chẩn đoán. Nếu bạn muốn biết thêm thông tin về các xét nghiệm và quy trình, bạn có thể đọc bài viết Cuộc hẹn khám vú của bạn

Bệnh Paget được điều trị như thế nào?

Phẫu thuậtPhẫu thuật là phương phán điều trị đầu tiên cho bệnh Paget vú. Loại phẫu thuật phụ thuộc vào vị trí khối u, kích thước của khối u so với kích thước vú của ban và liệu có nhiều hơn 1 vị trí vú bị bệnhBạn có thể được đề nghị phẫu thuật bảo tồn vú (phẫu thuật cắt bỏ u vú). Đây là phương pháp loại bỏ khối ung thư với diện cắt vú bình thường xung quanh vị trí ung thư. Đối với bệnh Paget vú thì phẫu thuật bảo tồn cũng gồm loại bỏ núm vú và quầng vú.Phẫu thuật cắt tuyến vú (loại bỏ tất cả mô vú cùng với khu vực núm vú) thường được cân nhắc nếu:

Ung thư đã ảnh hưởng đến 1 vùng lớn của vú

Không thể có được một diện cắt sạch của mô vú bình thường xung quanh khu vực

ung thư vú khi dùng phẫu thuật bảo tồn vú

Có từ hai khu vực ung thư vú trở lên

Phẫu thuật bảo tồn vú không mang lại kết quả thẩm mỹ do vị trí hoặc kích thước của khối u

Phẫu thuật tái tạo vú sau bệnh Paget vú

Nếu bạn được phẫu thuật cắt tuyến vú, bạn thường được hỏi về lựa chọn tái tạo vú để tạo hình dáng vú mới, cùng lúc với phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú (tái tạo tức thì) hoặc nhiều năm tháng sau đó (tái tạo trì hoãn). Có thể tái tạo núm vú sau phẫu thuật bệnh Paget vú, cho dù bạn được phẫu thuật bảo tồn hay phẫu thuật cắt bỏ tuyến vúĐể biết thêm thông tin, bạn hãy xem bài Tái tạo vú Việc lựa chọn tái tạo vú hoặc không là quyết định rất mang tính cá nhân. Một số phụ nữ cảm thấy cần thiết tái tạo vú để lấy lại sự tự tin. Nhiều người khác thích mang quả độn ngực, một số phụ nữ chọn không tái tạo vú và không mang quả độn ngực.Nếu bạn muốn có thêm thông tin về việc mang quả độn ngực, hãy đọc bài Quả độn ngực, áo ngực và quần áo sau phẫu thuật.

Phẫu thuật hạch bạch huyết

Nếu bạn bị ung thư vú xâm lấn có nguồn gốc từ bệnh Paget, thì bác sĩ chuyên khoa sẽ kiểm tra liệu các hạch bạch huyết dưới cánh tay (trong hố nách) có chứa tế bào ung thư hay không. Việc này cùng với các thông tin khác về ung thư vú sẽ giúp họ quyết định các điều trị bổ sung nào sau phẫu thuật là có lợi ích cho bạn. Để kiểm tra, bác sĩ sẽ đề nghị phẫu thuật để lấy ra một số hạch bạch huyết (lấy mẫu hạch bạch huyết hay là sinh thiết hạch bạch huyết) hoặc tất cả hạch bạch huyết (vét hết hạch bạch huyết).

Sinh thiết hạch gác

Sinh thiết hạch gác được sử dụng rộng rãi nếu các xét nghiệm trước phẫu thuật chưa cho thấy bằng chứng hạch bạch huyết có chứa các tế bào ung thư. Sinh thiết hạch gác (hạch bạch huyết đầu tiên mà các tế bào ung thư nhiều khả năng lan tới) để xác định hạch gác có tế bào ung thư hay không. Có thể có nhiều hơn 1 hạch gác. Nếu không cso tế bào ung thư thì thường có nghĩa rằng các hạch bạch huyết khác cũng không có tế bào ung thư nên không cần vét thêm hạch bạch huyết nữa. Sinh thiết hạch gác thường được thực hiện cùng lúc với phẫu thuật ung thư nhưng có thể được thực hiện trước phẫu thuật.Nếu kết quả sinh thiết hạch gác cho thấy hạch đầu tiên bị di căn thì bạn có thể đề nghị cần phẫu thuật thêm hoặc xạ trị vào các hạch bạch huyết còn lại.Sinh thiết hạch gác không phù hợp nếu các xét nghiệm trước phẫu thuật cho thấy rằng các hạch bạch huyết có chứa tế bào ung thư. Trong trường hợp này bác sĩ phẫu thuật có thể đề nghị vét hạch bạch huyết.Thường thì các hạch bạch huyết dưới cánh tay không cần được lấy ra nếu bạn mắc ung thư biểu mô tuyến ống vú tại chỗ (DCIS), điều này là do các tế bào ung thư chưa phát triển lan ra ngoài ống dẫn sữa vào mô vú xung quanh. Tuy nhiên phẫu thuật hạch bạch huyết có thể được khuyến nghị cho một số người mắc ung thư ống tuyến vú tại chỗ. Để biết thêm thông tin có thể xem bài viết Điều trị ung thư vú nguyên phát và Ung thư biểu mô ống tuyến vú tại chỗ (DCIS).Điều trị bổ trợ (bổ sung) là gì? Sau phẫu thuật bạn có thể cần điều trị các phương pháp khác và chúng được gọi là liệu pháp điều trị bổ trợ, và có thể bao gồm:

Mục đích của các điều trị này là để giảm nguy cơ ung thư vú tái phát ở cùng bên vú hoặc ở vú đối diện hay lan tới vị trí khác trong cơ thể bạn. Một số điều trị này có thể được thực hiện trước phẫu thuật và được gọi là điều trị tân bổ trợ.

Hóa trị

Hóa trị có được khuyến nghị hay không phụ thuộc nhiều vào đặc tính của ung thư như là độ mô học, kích thước khối u và sự di căn các hạch bạch huyếtHóa trị có thể được dùng nếu ung thư vú đang tiềm ẩn sự xâm lấn. Không sử dụng hóa trị để điều trị ung thư biểu mô tuyến ống vú tại chỗ (DCIS). Để biết thêm thông tin để nghị xem bài viết Hóa trị cho ung thư vú.

Xạ trị

Xạ trị là dùng tia X năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Nếu bạn được phẫu thuật bảo tồn vú, bạn thường sẽ được xạ trị để giảm nguy cơ ung thư vú tái phát tại chỗĐôi khi bạn có thể được cân nhắc xạ trị vào các hạch dưới cánh tay. Cũng có thể xạ trị vào thành ngực sau phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú trong một số trường hợp, ví dụ nếu một số hạch bạch huyết dưới cánh tay bị di căn.Để biết thêm thông tin đề nghị xem bài viết Xạ trị cho ung thư vú nguyên phát.

Liệu pháp nội tiết

Liệu pháp nhắm trúng đích (sinh học)

Đây là một nhóm các thuốc chặn sự tăng trưởng và phát triển của ung thư. Chúng nhắm trúng và can thiệp vào các quá trình trong tế bào, các quá trình làm cho ung thư tăng trưởng.Liệu pháp nhắm trúng đích được sử dụng rộng rãi nhất là trastuzumab Chỉ những người mà ung thư xâm lấn có bộc lộ HER2 cao (được gọi là Her2 dương tính) sẽ hưởng lợi ích từ việc điều trị bằng trastuzumab. HER2 là một protein làm tế bào ung thư tăng trưởng.Có nhiều xét nghiệm để đo mức độ bộc lộ HER2 được thực hiện trên mô vú lấy ra trong sinh thiết hoặc phẫu thuật. Nếu bạn mắc ung thư vú âm tính HER2 thì trastuzumab không có bất kỳ lợi ích gì..Để có thêm thông tin, đề nghị xem bài viết Trastuzumab hoặc website: chúng tôi để có thêm thông tin về các liệu pháp đích khác.

Các thuốc bisphospshonate

Các thuốc bisphosphonate là một nhóm các thuốc có thể làm giảm nguy cơ ung thư vú xâm lấn lan tỏa ở phụ nữ đã mãn kinh. Thuốc có thể được dùng cả với bệnh nhân mãn kinh tự nhiên hoặc mãn kinh do điều trị ung thư vú gây nên.Các thuốc bisphosphonate cũng có thể làm chậm hoặc ngăn ngừa những tổn thương xương. Thuốc thường được chỉ định cho những người đã hoặc có nguy cơ loãng xương (khi xương giảm độ chắc khỏe và nhiều khả năng bị gãy).Các thuốc bisphosphonate có thể được chỉ định đưới dạng viên nén hoặc truyền tĩnh mạch.Bác sĩ chuyên khoa có thể nói cho bạn biết liệu các thuốc bisphosphonate có thích hợp với bạn hay không.

Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Đáy (Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Đáy) / 2023

Tất cả nội dung của iLive đều được xem xét về mặt y tế hoặc được kiểm tra thực tế để đảm bảo độ chính xác thực tế nhất có thể.

Chúng tôi có các hướng dẫn tìm nguồn cung ứng nghiêm ngặt và chỉ liên kết đến các trang web truyền thông có uy tín, các tổ chức nghiên cứu học thuật và, bất cứ khi nào có thể, các nghiên cứu đã được xem xét về mặt y tế. Lưu ý rằng các số trong ngoặc đơn ([1], [2], v.v.) là các liên kết có thể nhấp vào các nghiên cứu này.

Nếu bạn cảm thấy rằng bất kỳ nội dung nào của chúng tôi không chính xác, lỗi thời hoặc có thể nghi ngờ, vui lòng chọn nội dung đó và nhấn Ctrl + Enter.

Ung thư biểu mô tế bào đáy (đồng nghĩa: ung thư biểu mô tế bào đáy, biểu mô tế bào đáy, ulcus Rodens, biểu mô basocellulare) là một khối u da phổ biến với sự phát triển phá hủy rõ rệt, theo xu hướng, không di căn, do đó, không di căn. Thuật ngữ “basalioma”.

[ 1], [ 2], [ 3], [ 4], [ 5], [ 6], [ 7], [ 8], [ 9], [ 10], [ 11], [ 12], [ 13], [ 14]

Nguyên nhân ung thư biểu mô tế bào đáy

Câu hỏi về sự phát sinh không được giải quyết, hầu hết các nhà nghiên cứu tuân thủ một lý thuyết về nguồn gốc dysontogenetic, theo đó ung thư biểu mô tế bào cơ bản phát triển từ các tế bào biểu mô đa năng. Họ có thể phân biệt theo các hướng khác nhau. Trong sự phát triển của ung thư, tầm quan trọng gắn liền với các yếu tố di truyền, rối loạn miễn dịch, các tác động bên ngoài bất lợi (sâu sắc, tiếp xúc với các chất gây ung thư). Nó có thể phát triển trên da không thay đổi trên lâm sàng, cũng như trên nền tảng của các bệnh lý da khác nhau (viêm giác mạc do tuổi già, viêm da cơ địa, lupus ban đỏ, nevi, bệnh vẩy nến, v.v.).

Basalioma là một ung thư biểu mô tế bào đáy di căn chậm và hiếm khi xảy ra trong lớp biểu bì hoặc nang lông có các tế bào tương tự như các tế bào cơ bản của lớp biểu bì. Nó được coi không phải là một bệnh ung thư hoặc một khối u lành tính, mà là một loại khối u đặc biệt với sự phát triển phá hủy cục bộ. Đôi khi, dưới ảnh hưởng của các chất gây ung thư mạnh, chủ yếu là tia X, ung thư biểu mô xâm nhập vào ung thư biểu mô tế bào đáy. Câu hỏi về sự phát sinh chưa được giải quyết. Một số người tin rằng ung thư biểu mô tế bào đáy phát triển từ chồi biểu mô nguyên phát, những người khác từ tất cả các cấu trúc biểu mô của da, bao gồm cả chồi phôi và dị tật.

[ 15], [ 16], [ 17], [ 18], [ 19], [ 20], [ 21]

Các yếu tố rủi ro

Các yếu tố kích động là phơi nắng, tia cực tím, tia X, bỏng, lượng thạch tín. Do đó, basalioma thường được tìm thấy ở những người có loại I và II của da và bạch tạng, những người tiếp xúc lâu với sự xấc xược dữ dội. Nó đã được chứng minh rằng sự xấc xược quá mức trong thời thơ ấu có thể trong nhiều năm dẫn đến sự phát triển của một khối u.

[ 22], [ 23], [ 24], [ 25], [ 26], [ 27], [ 28]

Sinh bệnh học

Lớp biểu bì hơi teo, đôi khi bị loét, có sự tăng sinh của các tế bào basophilic khối u, tương tự như các tế bào của lớp cơ bản. Anaplasia ít rõ rệt, có ít nguyên phân. Basalioma hiếm khi di căn, vì các tế bào khối u bị mắc kẹt trong máu không có khả năng tăng sinh do thiếu yếu tố tăng trưởng được tạo ra bởi khối u mô đệm.

[ 29], [ 30], [ 31], [ 32], [ 33], [ 34], [ 35], [ 36], [ 37], [ 38]

Bệnh lý của ung thư biểu mô tế bào đáy

Về mặt mô học, ung thư biểu mô tế bào đáy được chia thành không phân biệt và biệt hóa. Nhóm không phân biệt bao gồm ung thư biểu mô tế bào đáy rắn, sắc tố, giống hình thái và bề mặt, biệt hóa – keratotic (với biệt hóa piloid), cystic và adeno (với biệt hóa tuyến) và với biệt hóa mỡ.

Trong phân loại quốc tế của WHO (1996), các biến thể hình thái sau đây của ung thư biểu mô tế bào đáy được phân biệt: đa trung tâm bề mặt, mã hóa (rắn, adenocystosis), thâm nhiễm, không xơ cứng, xơ cứng (desmoplastic, morpho) với sự phân biệt ruột thừa – nang, eccrine, metatypical (basosquamous), keratotic. Tuy nhiên, ranh giới hình thái của tất cả các giống là mờ. Do đó, trong một khối u chưa trưởng thành có thể có cấu trúc adeno và ngược lại, với cấu trúc organoid của nó, người ta thường tìm thấy các tế bào chưa trưởng thành. Ngoài ra, không có sự tương ứng hoàn toàn giữa các hình ảnh lâm sàng và mô học. Thông thường chỉ có một sự tương ứng trong các hình thức như bề ngoài, xơ hóa, giống như xơ cứng và sắc tố.

Đối với tất cả các loại u nguyên bào, tiêu chí mô học chính là sự hiện diện của các phức hợp điển hình của các tế bào biểu mô với các hạt hình bầu dục tối màu ở phần trung tâm và nằm dọc theo ngoại vi của các phức hợp. Về ngoại hình, các tế bào này giống như các tế bào biểu mô cơ bản, nhưng khác với các tế bào sau bởi sự vắng mặt của các cầu nối giữa các tế bào. Hạt nhân của chúng thường đơn hình và không chịu sự bất thường. Các mô liên kết mô tăng sinh cùng với thành phần tế bào của khối u, nằm ở dạng bó giữa các chuỗi tế bào, chia chúng thành các thùy. Các stroma rất giàu glycosaminoglycans, nhuộm màu xanh toluidine metachromatically. Nó chứa nhiều basophils mô. Khoảng trống rút lại thường xuất hiện giữa nhu mô và stroma, điều mà nhiều tác giả coi là một vật cố định, mặc dù xác suất tiếp xúc với sự tiết quá mức của hyaluronidase không bị từ chối.

Ung thư biểu mô tế bào đáy rắn trong số các dạng không phân biệt là phổ biến nhất. Về mặt mô học, nó bao gồm nhiều hình dạng và kích cỡ khác nhau của dây và tế bào của các tế bào basaloid nằm gọn với ranh giới mờ, giống như synytium. Các phức hợp tương tự của các tế bào biểu mô cơ bản được bao quanh bởi các yếu tố kéo dài tạo thành một đường viền đặc trưng. Các tế bào ở trung tâm của các phức hợp có thể trải qua những thay đổi dystrophic với sự hình thành các khoang nang. Do đó, cùng với các cấu trúc rắn, cấu trúc nang có thể tồn tại, tạo thành một biến thể nang rắn. Đôi khi các khối phá hủy dưới dạng các mảnh vụn của tế bào được nạm muối canxi.

Ung thư tế bào đáy sắc tố có đặc điểm mô học là do sắc tố lan tỏa và do sự hiện diện của melanin trong các tế bào của nó. Trong lớp nền của khối u có một số lượng lớn melanophages với hàm lượng hạt melanin cao.

Một lượng sắc tố tăng lên thường được phát hiện trong biến thể nang, ít thường xuyên hơn với đa trung tâm rắn và bề ngoài. Basaliomas với sắc tố rõ rệt chứa rất nhiều melanin trong các tế bào biểu mô phía trên khối u, trong toàn bộ độ dày của nó xuống đến lớp sừng.

Ung thư biểu mô tế bào đáy bề mặt thường là nhiều. Về mặt mô học, nó bao gồm các phức chất nhỏ, nhiều liên kết với lớp biểu bì, như thể “lơ lửng” với nó, chỉ chiếm phần trên của lớp hạ bì đến lớp võng mạc. Xâm nhập lympho thường được tìm thấy trong stroma. Sự đa dạng của các tiêu điểm cho thấy một genesis đa trung tâm của khối u này. U bướu bề mặt thường tái phát sau khi điều trị dọc theo ngoại vi của vết sẹo.

Ung thư biểu mô tế bào đáy giống như Scleroderma, hay kiểu mor morphea, được phân biệt bởi sự phát triển phong phú của mô liên kết bởi một loài giống như xơ cứng, trong đó các dải hẹp của các tế bào biểu mô cơ bản, như được đặt vào lớp hạ bì. Cấu trúc Polysad chỉ có thể được nhìn thấy trong các chuỗi và tế bào lớn. Xâm nhập phản ứng xung quanh các phức hợp khối u nằm trong khối mô liên kết lớn, theo quy luật, ít ỏi và rõ rệt hơn ở vùng tăng trưởng tích cực ở ngoại vi. Sự tiến triển hơn nữa của những thay đổi mang tính hủy diệt dẫn đến sự hình thành các khoang nhỏ (dạng crybroso) và khoang nang lớn hơn. Đôi khi các khối phá hủy dưới dạng các mảnh vụn của tế bào được nạm muối canxi.

Ung thư biểu mô tế bào đáy với sự biệt hóa tuyến, hoặc loại adeno, được đặc trưng bởi sự hiện diện, ngoài các vùng rắn, của các dây biểu mô hẹp, bao gồm một số, và đôi khi 1-2 hàng tế bào, tạo thành cấu trúc hình ống hoặc phế nang. Các tế bào biểu mô ngoại biên của cái sau có dạng hình khối, với kết quả là nhân vật poly-caddis không có hoặc ít khác biệt. Các tế bào bên trong lớn hơn, đôi khi có lớp biểu bì rõ rệt, khoang của các ống hoặc cấu trúc phế nang chứa đầy chất nhầy biểu mô. Một phản ứng với một kháng nguyên carcinoembryonic cho nhuộm mucin ngoại bào tích cực trên bề mặt của các tế bào lót các cấu trúc giống như ống dẫn.

Ung thư biểu mô tế bào đáy với sự biệt hóa tế bào chất được đặc trưng bởi sự hiện diện của các keratin hóa trong các phức hợp của các tế bào biểu mô cơ bản được bao quanh bởi các tế bào tương tự như gai. Sự sừng hóa trong những trường hợp này xảy ra bỏ qua giai đoạn keratohyaline, giống như vùng ierhogen keratogenous của nang lông bình thường và có thể có sự phân biệt trichoid. Đôi khi có những người chưa trưởng thành dưới các nang với các dấu hiệu ban đầu của sự hình thành các thanh tóc. Trong một số phương án, các cấu trúc giống như chồi tóc phôi được hình thành, cũng như các tế bào biểu mô có chứa glycogen tương ứng với các tế bào của lớp ngoài của nang lông. Đôi khi có thể khó phân biệt với hamartoma basaloid nang.

Loại u nguyên bào sợi (đồng nghĩa: Pincus fibroepithelioma), một loại ung thư biểu mô tế bào đáy hiếm gặp xảy ra thường xuyên nhất ở vùng thắt lưng, có thể kết hợp với keratosis seborrheic và ung thư biểu mô tế bào đáy. Trên lâm sàng, nó có thể trông giống như u nguyên bào sợi. Các trường hợp tổn thương nhiều được mô tả.

Về mặt mô học, trong lớp hạ bì, chúng tiết lộ các chuỗi tế bào biểu mô cơ bản hẹp và dài, kéo dài từ lớp biểu bì, được bao quanh bởi một lớp mô tăng sinh, thường bị biến đổi chất nhầy với một số lượng lớn các nguyên bào sợi. Các stroma rất giàu mao mạch và basophils mô. Các biểu mô dây anastomose giữa chúng, bao gồm các tế bào tối nhỏ với một lượng nhỏ tế bào chất và tròn hoặc hình bầu dục, hạt nhân nhuộm màu mạnh mẽ. Đôi khi các nang nhỏ chứa đầy nội dung bạch cầu ái toan đồng nhất hoặc khối sừng được tìm thấy trong các dây như vậy.

Những thay đổi mô học trong hội chứng này hầu như không thể phân biệt được với các loại u nguyên bào được liệt kê ở trên. Trong khu vực của palmar và plantar, trầm cảm, có những khiếm khuyết của lớp sừng với sự mỏng đi của các lớp khác và sự xuất hiện của các quá trình biểu mô bổ sung từ các tế bào basaloid điển hình nhỏ. Ung thư tế bào đáy lớn ở những nơi này hiếm khi phát triển. Các tổ chức tế bào cơ bản riêng lẻ có bản chất tuyến tính bao gồm tất cả các biến thể của basaliomas.

[ 39], [ 40], [ 41], [ 42], [ 43], [ 44], [ 45], [ 46], [ 47], [ 48]

Ung thư biểu mô tế bào đáy

Basalioma có thể phát triển cả từ các tế bào biểu mô và từ biểu mô của phức hợp pilosebateum. Trên các phần nối tiếp M. Hundeiker và N. Berger (1968) cho thấy trong 90% trường hợp khối u phát triển từ lớp biểu bì. Một nghiên cứu mô hóa học về các loại ung thư khác nhau cho thấy glycogen, glycosaminoglycans trong chất nền của khối u được tìm thấy trong hầu hết các tế bào, đặc biệt là trong các hình ảnh adamantinoid và hình trụ. Glycoprotein liên tục được phát hiện trong màng đáy.

Kính hiển vi điện tử tiết lộ rằng hầu hết các tế bào của phức hợp khối u đều chứa một bộ bào quan chuẩn: ty thể nhỏ với ma trận tối và polyribosome tự do. Tại các điểm tiếp xúc, các cầu nối giữa không có, nhưng các kết quả giống như ngón tay và một số lượng nhỏ các liên hệ giống như Desmosome được tìm thấy. Ở những nơi keratin hóa, có các lớp tế bào với các cầu nối nội bào còn nguyên vẹn và một số lượng lớn các chất tonofilaments trong tế bào chất. Đôi khi, các khu vực của các tế bào chứa phức hợp màng tế bào được tìm thấy, có thể được hiểu là một biểu hiện của sự biệt hóa tuyến. Sự hiện diện của melanosome trong một số tế bào cho thấy sự phân biệt sắc tố. Trong các tế bào biểu mô cơ bản, các bào quan đặc trưng của các tế bào biểu mô trưởng thành không có, cho thấy sự non nớt của chúng.

[ 49], [ 50], [ 51], [ 52], [ 53], [ 54], [ 55], [ 56], [ 57], [ 58], [ 59]

Triệu chứng ung thư biểu mô tế bào đáy

Basalioma của da có sự xuất hiện của một hình dạng đơn độc, hình dạng bán cầu, thường tròn, hơi cao trên da, màu hồng hoặc đỏ xám với một bóng ngọc trai, nhưng có thể không khác với da bình thường. Bề mặt của khối u nhẵn, ở trung tâm thường có một vết lõm nhẹ, được bao phủ bởi lớp vỏ máu mỏng, liền kề, khi bị loại bỏ, thường có biểu hiện xói mòn. Các cạnh của phần tử bị loét dày lên, bao gồm các nốt nhỏ màu trắng, thường được gọi là “ngọc trai” và có giá trị chẩn đoán. Ở trạng thái này, khối u có thể tồn tại trong nhiều năm, tăng chậm.

Bazalioma có thể là nhiều. Dạng số nhiều, theo K.V. Daniel Beck và A.A. Kolobyakova (1979), được tìm thấy trong 10% các trường hợp, số lượng khối u có thể lên tới vài chục hoặc nhiều hơn, đây có thể là biểu hiện của hội chứng neobasocellular Gorlin-Goltz.

Tất cả các triệu chứng của ung thư biểu mô tế bào đáy da, bao gồm hội chứng Gorlin-Holtz, cho phép chúng ta phân biệt các dạng sau: loét nút thắt (ulcus Rodens), bề ngoài, giống như xơ cứng (morpheus), sắc tố và xơ hóa. Với nhiều tổn thương, các loại lâm sàng có thể được quan sát trong các kết hợp khác nhau.

[ 60], [ 61], [ 62], [ 63], [ 64], [ 65]

Các hình thức

Bề mặt bắt đầu với sự xuất hiện của một vết hồng bong tróc hạn chế. Sau đó, các điểm trở thành đường viền rõ ràng, hình bầu dục, hình tròn hoặc không đều. Dọc theo rìa của tiêu điểm, các nốt sần dày, nhỏ, lấp lánh xuất hiện, chúng kết hợp với nhau và tạo thành một cạnh giống như con lăn nâng cao trên da. Trung tâm của lò sưởi hơi chìm xuống. Màu của lò sưởi trở thành màu hồng đậm, nâu. Các tổn thương có thể đơn độc hoặc nhiều. Trong số các hình thức bề ngoài, có một basalioma tự đâm hoặc pedzhoidnoy với một vùng teo (hoặc sẹo) ở trung tâm và một chuỗi các yếu tố nhỏ, dày đặc, mờ đục, giống như khối u dọc theo ngoại vi. Các tổn thương đạt đến một lượng đáng kể. Thường có nhiều ký tự và dòng chảy liên tục. Tăng trưởng rất chậm. Trên lâm sàng, nó có thể giống với bệnh Bowen.

Trong trường hợp sắc tố, màu của tổn thương có màu hơi xanh, tím hoặc nâu sẫm. Loại này rất giống với khối u ác tính, đặc biệt là nốt sần, nhưng có độ đặc cao hơn. Kiểm tra da liễu có thể cung cấp hỗ trợ đáng kể trong những trường hợp như vậy.

Sự xuất hiện của khối u được đặc trưng bởi sự xuất hiện của một nốt sần, tăng dần kích thước, đạt đường kính 1,5-3 cm trở lên, có được vẻ ngoài tròn trịa, màu hồng tù đọng. Bề mặt của khối u mịn màng với telangiectasia nghiêm trọng, đôi khi được phủ vảy màu xám. Đôi khi phần trung tâm của nó loét và trở nên phủ lớp vỏ dày đặc. Hiếm khi, khối u nhô lên trên mức da và có một chân (loại nguyên bào sợi). Tùy thuộc vào kích thước, có các hình thức nhỏ và lớn.

Hình thức loét xảy ra như một biến thể chính hoặc là kết quả của loét các hình thức bề ngoài hoặc khối u của tân sinh. Một đặc điểm đặc trưng của dạng loét là vết loét hình phễu, có một thâm nhiễm lớn (thâm nhiễm khối u) với các đường viền không rõ ràng liên kết với các mô bên dưới. Kích thước của thâm nhiễm lớn hơn nhiều so với bản thân vết loét (ulcus Rodens). Có xu hướng loét sâu và phá hủy các mô bên dưới. Đôi khi các hình thức loét được đi kèm với tăng trưởng nhú, mụn cóc.

Loại giống như xơ cứng, hay sẹo, là một tổn thương nhỏ, được xác định rõ ràng với một con dấu ở gốc, gần như không nâng lên trên da, có màu trắng hơi vàng. Thay đổi teo, khó thở có thể được phát hiện ở trung tâm. Theo định kỳ, xung quanh ngoại vi của một yếu tố, có thể xảy ra sự xói mòn ở các kích cỡ khác nhau, được bao phủ bởi lớp vỏ dễ tháo rời, rất quan trọng trong chẩn đoán tế bào học.

Khối u xơ của Pincus được phân loại là u nguyên bào, mặc dù khóa học của nó là thuận lợi hơn. Trên lâm sàng, nó biểu hiện dưới dạng một nốt sần hoặc mảng màu da, với độ đặc đàn hồi dày đặc, và thực tế không bị xói mòn.

[ 66], [ 67]

Những gì cần phải kiểm tra? Làm thế nào để kiểm tra?

Chẩn đoán phân biệt

Basalioma phải được phân biệt với keratoacanthoma, zpiteliomy tế bào cột sống, shankriformnogo pyoderma, bệnh Bauen, keratosis seborrheic, lichen xơ cứng, u ác tính da, u lympho ác tính.

[ 68], [ 69], [ 70], [ 71], [ 72], [ 73], [ 74], [ 75], [ 76], [ 77], [ 78]

Điều trị ung thư biểu mô tế bào đáy

Điều trị ung thư biểu mô tế bào đáy là phẫu thuật cắt bỏ khối u trong làn da khỏe mạnh. Trong thực tế, cryodestrraction thường được sử dụng. Xạ trị được sử dụng trong trường hợp phẫu thuật dẫn đến khiếm khuyết thẩm mỹ.

Sử dụng bên ngoài thuốc mỡididovovu, thuốc mỡ Victhaminovuyu.

Thông tin thêm về cách điều trị