Top 18 # Xem Nhiều Nhất Ung Thu Xuong Dau Nhu The Nao / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Chua Chua Lanh Ung Thu Xuong Thoi Ky Cuoi :: Chúa Chữa Lành Ung Thư Xương Thời Kỳ Cuối :: Cảm Nghiệm Vinh Danh Chúa :: Memaria / 2023

CHÚA CHỮA LÀNH UNG THƯ XƯƠNG THỜI KỲ CUỐIvà CỨU GIA ĐÌNH BÊN BỜ VỰC TAN VỠ.

Vào khoảng tháng 8-2014, gia đình tôi xào xáo nặng nề. Chồng tôi bỏ nhà cửa, vợ con quay về sống với Bố Mẹ của anh. Một hai tuần sau, tôi phôn cho Anh và nhỏ nhẹ, xuống nước, khuyên xin anh nghĩ lại và quay về với “bốn Mẹ con chúng em”, thì Anh tuyên bố:

“Một là ly dị, hai là cô phải bỏ job, bán nhà, quay về Dallas sống với Bố Mẹ tôi. Tôi phải báo hiếu và lo cho Bố Mẹ tôi”.

Chương trình của Anh là chúng tôi sẽ bán căn nhà mà hai vợ chồng dành dụm mua được dù còn thiếu nợ nhà băng một phần, Anh định là sau khi trừ mọi chi phí thì đưa cho Bố Mẹ Anh giữ hết để các Ngài sắp xếp mọi sự theo ý, đại gia đình sẽ quây quần trong một mái nhà. Anh thực là một người con chí hiếu.

Thực tế này là một nan giải cho tôi, biết làm sao mà chọn lựa bây giờ đây, vì cũng giống như Anh, tôi đang có Job tốt ở Houston, nay về Dallas thì làm sao mà sống ? Đồng lương của Anh đang từ 25 dollar một giờ đã bị giảm đi còn có 15 đô vì công việc mới ở Dallas, là công việc thường không đòi kỹ năng của nghề tiện máy như là công việc cũ ở Houston. Phần tôi thì đang làm Nail được gần một ngàn một tuần, bỏ sang Dallas lần trước, lương bị giảm còn có chưa tới 400 dollars một tuần. Nhà cửa thì ở trong nhà Bố Mẹ của Anh, hai vợ chồng, ba đứa con thơ sẽ phải chui ra chui vào cái garage sửa lại làm phòng ở. Cả nhà sẽ không còn được tiện nghi như khi ở nhà riêng tại Houston, nhất là sự bất tiện ăn ở, học hành cho cả ba cháu bé mới có từ sáu đến tám tuổi rất tội nghiệp. Đó là chưa kể, sống chung trong một mái nhà với Ba Mẹ và Các Em thì rất e dè tinh thần tôi căng thẳng và dễ bị mệt nhọc.

Giải pháp sống chung trong đại gia đình ở Dallas đã được thử một lần và không có kết quả, nay chúng tôi đã ổn định ở Houston mà lại quay về con đường xưa thì thật là rủi ro nhiều…

Họa vô đơn chí, trong lúc tôi đang bấn loạn vì cuộc chia tay và ly dị sắp xẩy đến, nhìn các con thơ dại, tôi không biết làm sao để lo cho chúng, trong lúc hốt hoảng, tôi lái xe loạng quạng và bị tai nạn, đụng xe phải đi nhà thương và tại đó, Bác sĩ đã khám phá ra một chuyện động trời khác, đó là … bác sĩ trong khi chụp hình chẩn đoán tai nạn đã khám phá và cho biết rằng tôi bị ung thư xương, …tệ hại hơn nữa, Ung thư đã phát tác đến thời kỳ cuối. Thông thường thì một khi ung thư xương đã lan sang các bộ phận khác của cơ thể, tỉ lệ sống sót trong vòng 5 năm là dưới 25 phần trăm, huống hồ chi sự nghiêm trọng của bệnh trong thân thể tôi còn nặng hơn mức độ của thống kê y khoa này nhiều! Bác sĩ khuyên tôi nên lo liệu gấp bảo hiểm và các loại an sinh khác, để có thể yên tâm vào giờ phút chót của hành trình Đời. Tôi không còn hồn vía và tâm trí nào, tôi chỉ biết xin Chúa cho tôi được một cơ hội thứ hai để tôi có sức khỏe hầu có thể lo liệu cho các cháu, mấy mẹ con quây quần với nhau sống qua ngày tháng.

Tiền nong, chồng tôi đã lấy và quản lý hết, tôi chỉ còn vỏn vẹn tiền lương tháng trước gần hai ngàn đô thì phải dùng để trả nợ nhà hàng tháng và các sở hụi khác, hoàn cảnh gần như trắng tay trong khi tôi phải nuôi ba đứa con thơ. Tôi đã không biết phải trả lời ra sao khi chúng ngước mắt ngây thơ và hỏi mẹ “sao Ba đi thăm Ông Bà Nội lâu quá chừng mà không thấy về nhà?”

Túng thiếu, tôi định đi ra FoodBank xin thực phẩm tạm thời cầm cự qua ngày, chỉ cần Chúa cho tôi khỏi đau nhức, có sức khỏe thì tôi có thể đi làm và có tiền ngay, nhưng mà lực bất tòng tâm, trong tình trạng cạn kiệt cả về tinh thần lẫn thể xác. Tôi ngơ ngẩn như người đang trong cơn mơ, không còn sức để phấn đấu làm việc nuôi con tôi.

Trong khi đó, Chồng tôi liên tục hối thúc tôi xúc tiến đơn ly dị, anh hằn học, lạnh lùng làm tim tôi đau nhói và tâm trí bấn loạn, thêm vào đó, người thân, bạn bè khuyên tôi thế này thế khác, phần tôi không biết phải nói sao với Anh vì chồng tôi vốn đã hơn mười năm bỏ Chúa, bỏ các quan hệ tốt lành với Cộng Đoàn và không đi nhà thờ, không xưng tội;

Bí thế và quá tuyệt vọng, sợ mất hết và không còn gì để nuôi các con thơ dại, tôi đã đi gặp luật sư để xúc tiến thủ tục ly dị. Điều kỳ diệu Chúa đã quan phòng, mặc dù nhìn từ bên ngoài, nó giống như là sự tình cờ. Khi ấy, do bạn bè giới thiệu, tôi đã tìm đến gặp một luật sư Công Giáo, vị luật sư này, thay vì xúi xiểm kiện tụng và làm giấy tờ ly dị cho tôi với các thủ thuật tình tiết éo le để kiếm chác được nhiều tiền, thì lại khuyên tôi nên nghĩ đến tương lai của các con tôi và tìm kiếm giải pháp tốt nhất cho toàn gia đình, Luật sư nói “ly dị tức là tan vỡ hết, mất mát hầu hết, nhất là làm trái ý muốn của Chúa, Ngài chỉ muốn chúng ta tha thứ cho nhau và cứu vãn, tạo cơ hội cho con cái lớn lên trong mái ấm gia đình theo đúng như tinh thần trách nhiệm của bậc Cha Mẹ ” rồi cô mời tôi cầu nguyện với Chúa Giê Su, vị luật sư cho tôi biết là Chúa rất yêu thương tôi và muốn cứu gia đình tôi khỏi tan vỡ, chúng tôi cùng nhau thưa chuyện với Chúa kính yêu. Khi vị luật sư cầu nguyện thì tinh thần tôi thấy phấn khởi và nhất là chấn thương vốn đau buốt ở nơi vai phải tôi, đã có từ hai mươi năm trước, cũng như phần xương cốt bị ung thư của tôi, chúng có cảm giác nóng rần, rất nóng như là có luồng điện mạnh đang chạy vào đó, còn nói theo siêu linh thì giống như là một sự đụng chạm của Chúa, tôi mang máng cảm thấy và tự nhủ rằng có phải chăng, là Chúa đang chạnh lòng thương và chữa lành cho tôi đây ?

Rồi vị luật sư này giới thiêu tôi dến với Nhóm Thánh Linh Houston.

Các Anh Chị Em Thánh Linh ân cần lo lắng cho tôi giống như là người thân trong một đại gia đình đầm ấm, cả Nhóm Thánh Linh đã đặt tay cầu nguyện cho tôi và gia đình tôi. Về vật chất, dù không có nhiều nhưng các Anh Chị Em cũng chia sẻ phần vật chất cho mấy mẹ con chúng tôi. Đang trong hoàn cảnh tứ cố cô đơn, nay có cả một gia đình ôm ấp, thăm hỏi và chia sẻ. Có các Anh, Chị đã đến thì thầm với tôi, “Chị ơi, Chúa yêu thương Chị và các cháu lắm, Ngài không khi nào bỏ rơi chị đâu!”

Một vài Anh, Chị trong Nhóm Thánh Linh ngay lập tức khuyến khích tôi hãy tham gia ” đường giây cầu nguyện Lòng Thương Xót Chúa và Mẹ Medju ” qua số phone 605-562-3140, (bấm mật mã, 460922#).

Ngay lập tức tôi được Các Anh Chị khác và nhất là Cha Lê Thanh Quang cầu nguyện ngày đêm cho bệnh tật hiểm nghèo của tôi và xin Chúa một giải pháp tốt đẹp cho gia đình tôi. Trong các buổi cầu nguyện như thế này, các bệnh nhân suy yếu về phần hồn, phần xác đều được dâng lên cho Lòng Thương Xót Chúa, mọi người tin tưởng và căn cứ vào lời Chúa hứa với thánh nữ Fostina:

“Vào lúc 3 giờ chiều con hãy khẩn cầu Lòng Thương Xót của Ta cho các tội nhân cách riêng, và nếu có thể trong giây lát, con hãy trầm mình vào cuộc khổ nạn của Ta, đặc biệt lúc Ta bị bỏ rơi trong cơn hấp hối. Đây là giờ cao điểm của Lòng Thương Xót vĩ đại tuôn đổ xuống trên thế giới… Trong giờ này, Ta sẽ chẳng từ chối bất cứ điều gì với các linh hồn kêu van Ta nhân danh cuộc tử nạn của Ta” (Hồi ký đoạn số 1320).

Kể từ lúc gặp luật sư và được dẫn tới sự cầu nguyện với Lòng Thương Xót Chúa qua phôn, cho đến lúc tôi tái khám để trị liệu, do quá bối rối và bận rộn, thời gian đã kéo dài đến 1 tháng rưỡi. Tôi được gặp một Bác sĩ chuyên môn khác để xúc tiến việc điều trị bệnh ung thư, sau khi trải qua các đợt xét nghiệm, chẩn đoán mới, Bác sĩ đi đến kết luận rằng các tế bào ung thư đã không còn tìm thấy, chúng đã hoàn toàn biến mất trong các mô xương của tôi. Thật là kỳ diệu và tuyệt vời, sự chữa lành của Chúa khi ta kêu cầu danh cực trọng của Đức Chúa Giê Su kết hợp với việc kính nhớ Lòng Thương Xót Chúa.

Điều còn khó khăn hơn, và có lẽ khó khăn hơn nhiều, đó là làm sao thay đổi quyết định rất cứng rắn của Chồng tôi, điều này là khó khăn vì Chúa cần sự cộng tác của người trong cuộc qua tâm tình ăn năn, sám hối, họ phải chịu để cho Chúa chữa lành vì Ngài vốn rất tôn trọng sự tự do chọn lựa của con người. Nếu ta quyết đinh không đi theo hướng dẫn của Chúa thì rất khó. Nhưng rồi, với sự hiệp lại cầu nguyện mạnh mẽ của mọi người trong cả hai nhóm, “Thánh LInh” và “Lòng Thương Xót” thì Chúa đã ra tay. “Ở đâu có hai, ba người họp lại vì danh Ta, thì có Ta ở đó, giữa họ” (Matthêu18:19-20)

Vài tuần sau cuộc nói chuyện qua phôn, thì Anh đòi giấy ly dị có chữ ký ưng thuận của tôi, tôi tìm cách mời Anh đến văn phòng luật sư của tôi để ký giấy, đang khi Vị Luật Sư e dè nhìn khuôn mặt rất lạnh lùng của Anh và ngại ngần khuyên giải về lợi ích cho con cái trong một gia đình có Bố có Mẹ ruột, khi vị Luật sư mời Anh cầu nguyện, thì Chúa làm cho lòng Anh mềm dịu lại và chấp nhận cùng cầu nguyện, rồi Chúa làm cho Anh chạnh thương vợ con và cảm thấy lòng phân vân khi nghe lời khuyên… Sau đó, anh đã hứa với vợ sẽ quay về “mái nhà xưa” nơi chúng tôi, Bốn Mẹ con ngày đêm mong ngóng chờ Anh. Thật là một niềm vui lớn lao cho mấy mẹ con chúng tôi!

Chúa Giê Su vị bác sĩ đại tài, chữa bệnh phần hồn, phần xác. Trong trường hợp của tôi và gia đình tôi, Ngài không dừng lại ở đó, Ngài còn muốn cho tôi nhiều hơn nữa khi Ngài đã chữa thêm cho tôi được khỏi bệnh đau khớp vai phải, đã hành hạ tôi trong suốt hơn hai mươi năm qua, mỗi khi tôi nâng đỡ vật gì dù nặng hay nhẹ nó rất buốt nhức. Nay vai tôi không còn đau nữa cho dù tôi thử nâng vác vật nặng. Cám đội ơn Vị Bác Sĩ đại tài, Đức Chúa Giê Su Ki tô. Cám ơn các con chiên của Ngài đã hiệp lại và cầu khấn Ngài cùng với tôi và cho tôi.

Tôn vinh Chúa của Lòng chạnh xót thương vì Ngài luôn trung thành giữ lời hứa với loài người chúng ta.

Chính thánh nữ Fostina đã ghi rõ lời Chúa hứa, như sau:

“Này con, Ta nhắc cho con nhớ, cứ mỗi lần nghe đồng hồ điểm 3 tiếng, con hãy gieo mình ngụp lặn vào Lòng Thương Xót của Ta. Hãy bái thờ và tôn dương Lòng Thương Xót. Hãy khẩn cầu quyền năng vô hạn của Lòng Thương Xót cho các tội nhân khốn nạn cách riêng. Bởi chính vào giờ điểm này, Lòng Thương Xót được mở rộng cho hết mọi linh hồn. Vào giờ này, con có thể nhận được bất cứ ân huệ nào cho chính mình và cho người khác qua lời cầu xin của con. Đây là giờ ân sủng của toàn thế giới. Lòng Thương Xót vượt thắng cả công lý.”

Bạn biết không, tôi tin rằng cầu nguyện Lòng Thương Xót Chúa không chỉ có thể cứu gia đình tôi đâu, mà còn có thể cứu gia đình của chính Bạn nữa, Lòng Thương Xót Chúa có thể cứu Gia Đình của mọi người toàn Thế Giới bất kể họ tội lỗi nặng nề đến đâu.

Trong một thế giới bên bờ vực thẳm của sự tan vỡ vì bạo lực giết chóc, tra tấn tàn ác kinh hoàng xảy ra khắp nơi dù là ở Âu Mỹ, Á hay Phi Châu, vì gian dối, tham lam, bất công đầy dẫy, vì đam mê ngút ngàn trong nhục thú và nghiện ngập, vì thù hận thăm thẳm thì chúng ta càng cần đến ơn tuôn trào dạt dào của Lòng Thương Xót Chúa Giê Su đến mức độ nào. Hơn bao giờ hết, Giáo hội, Nhân Loại vô cùng cần đến thần dược của sự Cầu nguyện Lòng Thương Xót Chúa và sự chuyển cầu của Mẹ Maria.

Tôi xin mạn phép chia sẻ rằng mình hãy để giờ báo thức trên phôn vào lúc 15 giờ chiều và mỗi ngày nghe tiếng chuông báo thì ta cầu nguyện Lòng Thương xót Chúa, càng tuyệt vời hơn nếu ta có thể cầu nguyện với các Anh Chị Em khác qua phôn mỗi khi thuận tiện, Bạn có thể tham khảo chi tiết ở trang Web sau đây: http://thanhlinh.net/node/83833

Hẹn gặp và hiệp thông với quý Bác, quý Bạn trong giờ cầu nguyện Lòng Thương Xót Chúa.

Lời chứng của chị Ann, Houston, TX.

Ung Thu Khoang Mieng, Ung Thu, Dieu Tri Ung Thu Khoang Mieng, Benh Ung Thu Khoang Mieng, Nguyen Nhan Mac Benh Ung Thu, Phuong Phap Dieu Tri Ung Thu / 2023

Khái niệm về ung thư khoang miệng: bệnh ung thư khoang miệng là một loại bệnh có khối u ác tính trong khoang miệng thường hay gặp. Ung thư vòm họng trong giai đoạn đầu khá giống với bệnh viêm loét khoang miệng, có rất nhiều bệnh nhân khi mắc bệnh ung thư vòm họng trong giai đoạn đầu thường lầm tưởng là mình bị nhiệt miệng, loét miệng đơn thuần hoặc chỉ là một căn bệnh về miệng nào đó, chính điều này đã làm bỏ lỡ mất cơ hội điều trị bệnh sớm nhất và tốt nhất.

Nguy cơ gây ung thư khoang miệng:

Các nguyên nhân dẫn đến ung thư khoang miệng cho đến nay vẫn chưa được xác định rõ ràng, nhưng trong đó vẫn có các yếu tố sau: hút thuốc lá và uống bia rượu là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến mắc bệnh trong một thời gian dài: niêm mạc miệng bị kích thích bởi một chiếc răng nhọn hoặc đôi khi do xương cá đâm vào hoặc bị tác động do ăn trầu thuốc sau một thời gian dài. Ở Việt Nam, những người ăn trầu thuốc (thuốc lào) trong thời gian dài cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư này. Thói quen ăn trầu thuốc, răng lệch lạc, vệ sinh răng miệng kém… có thể gây nên những tổn thương cơ học trong khoang miệng tạo điều kiện thuận lợi cho ung thư phát triển. Bệnh cũng thường gặp ở nhóm nam giới trên 40 tuổi;…

Ung thư khoang miệng có những triệu chứng

1. Đau đớn: giai đoạn đầu thông thường không đau hoặc chỉ một chỗ nào đó trong miệng có cảm giác bất thường khi chạm vào, nếu như xuất hiện vết loét da miệng gây cảm giác đau, theo đà xâm lấn của khối u tới những dây thần kinh xung quanh, có thể dẫn đến đau trong tai và khoang mũi họng.

2. Thay đổi sắc da: Niêm mạc khoang miệng nếu như thay đổi màu sắc, màu nhợt hoặc màu đen lại, có nghĩa là khi đó tế bào biểu mô niêm mạc miệng đang thay đổi. Đặc biệt là niêm mạc miệng chuyển thô, dày hơn hoặc xơ cứng lại, xuất hiện niêm mạc miệng trắng bợt hoặc ban đỏ, rất có thể là biến chứng của ung thư.

3. Loét không khỏi: Vết loét miệng thông thường không thể quá 2 tuần mà không khỏi, nếu như có cảm giác nóng rát, đau quá thời gian 2 tuần vẫn không đỡ nên cảnh giác với ung thư khoang miệng.

4. Sưng hạch: ung thư hạch thường di căn đến vùng hạch cổ gần đó, có khi ổ bệnh nguyên phát rất nhỏ, thậm chỉ triệu chứng còn chưa rõ, nhưng hạch vùng cổ đã bị di căn. Do đó, khi hạch vùng cổ đột ngột sưng to, cần đi kiểm tra chụp CT, để kiểm tra có phải hạch do ung thư hay không.

5. Bên trong khoang miệng chảy máu: Chảy máu là một tín hiệu nguy hiểm lớn của bệnh ung thư khoang miệng. Vì khối u phát triển trong khoang miệng tiếp xúc nhẹ cũng sẽ gây chảy máu.

6. Chức năng gặp trở ngại: Khối u có thể xâm lấn cơ đóng mở miệng và xương cằm làm cho vận động đóng mở của cơ miệng bị giới hạn, gây ra hiện tượng ngậm mở miệng khó khăn.

7. Xương hàm và răng: một vị trí nào đó tại xương hàm sưng to, làm cho mặt bị lệch. Đột nhiên xuất hiện hiện tượng răng lung lay, rụng, khi nhai đồ ăn khó khăn, có cảm giác khó nhai như người lắp răng giả, vùng khoang mũi họng tê, đau, sau khi điều trị thì bệnh không có chuyển biến, nên cảnh giác là căn bệnh ung thư khoang miệng.

8. Vận động của lưỡi và tri giác: tính linh hoạt của lưỡi bị hạn chế, dẫn đến nhai, nuốt hoặc nói khó khăn, hoặc một bên lưỡi mất cảm giác, tê, tất cả đều cần kiểm tra xác định nguyên nhân sớm.

Ngoài ra còn xuất hiện các hiện tượng khác như sự bất thường ở thần kinh mặt, cảm giác tê, chảy máu mũi không rõ nguyên nhân…, cũng phải lập tức đến bệnh viện sớm để kiểm tra tìm nguyên nhân chính xác.

Điều trị sớm, hiệu quả cao

Ung thư khoang miệng được chia làm 4 giai đoạn, trong đó giai đoạn 1 và 2 được coi là giai đoạn sớm. Tùy theo giai đoạn của khối u mà bệnh nhân sẽ được điều trị các biện pháp thích hợp. Ở giai đoạn sớm, việc điều trị ung thư khoang miệng sẽ đơn giản và đạt hiệu quả cao, người bệnh có thể bảo tồn được chức năng của khoang miệng cũng như đảm bảo về mặt thẩm mỹ. Còn ở giai đoạn muộn, việc điều trị sẽ khó khăn hơn rất nhiều, hiệu quả điều trị kém, gây ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sống của người bệnh.

Do đó khi thấy một trong các dấu hiệu đã nêu trên, người bệnh nên đến cơ sở y tế chuyên khoa để khám. Ngoài ra để phòng và hạn chế nguy cơ gây ung thư khoang miệng cần thường xuyên giữ vệ sinh răng miệng, không nên hút thuốc lá, uống rượu, ăn trầu,… giữ cho cơ thể luôn khỏe mạnh.

Phương pháp chẩn đoán ung thư miệng

1. Kiểm tra hình ảnh học

(1) Kiểm tra đồng vị phóng xạ có thể cho biết tình trạng tuyến giáp và di căn xương của ung thư miệng.

(2) Chụp Xquang và chụp cắt lớp, có thể giúp bác sỹ nắm được thông tin tương đối có giá trị về tình trạng bệnh khi ung thư miệng di căn đến xương hàm trên, hàm dưới, xoang mũi và các khoang cạnh mũi.

2. Xét nghiệm tế bào học và sinh thiết

(1)Xét nghiệm tế bào học phù hợp cho tiền ung thư chưa có triệu chứng hoặc ung thư giai đoạn đầu mà phạm vi xâm lấn của ung thư chưa rõ ràng, sử dụng cho những trường hợp kiểm tra sàng lọc, sau đó đối với những kết quả dương tính và hoài nghi ung thư sẽ tiếp tục tiến hành sinh thiết xác định chính xác bệnh.

(2)Đối với chuẩn đoán ung thư miệng biểu mô tế bào vảy thông thường áp dụng chọc hút hoặc cắt một phần khối u đi sinh thiết. Vì niêm mạc bề mặt thường loét hoặc không bình thường, vị trí nông, nên tránh tổ chức hoại tử, lấy tế bào tại nơi tiếp xúc giữa tổ chức ung thư với các tổ chức bình thường xung quanh, khiến cho những tiêu bản lấy được vừa có tế bào ung thư vừa có tế bào thường.

3. Tự kiểm tra

(1)Kiểm tra vùng đầu: Tiến hành quan sát sự đối xứng, chú ý sự thay đổi màu sắc da với vùng đầu và cổ.

(2) Kiểm tra vùng cổ: dùng tay kiểm tra, từ sau tai sờ đến xương hàm, chú ý khi sờ có thấy đau và sưng hay không.

(3) Kiểm tra môi: Trước tiên lật bên trong môi dưới, quan sát môi và niêm mạc trong môi, dùng ngón tay trỏ và ngón tay cái lật môi dưới từ trong ra ngoài, từ bên trái qua bên phải, sau đó kiểm tra môi trên cũng giống như vậy, sờ xem có khối u hay không, quan sát xem có tổn thương gì hay không. Tiếp đó dùng phương pháp tương tự kiểm tra bên trong môi trên.

(4) Kiểm tra lợi: Kéo môi ra, quan sát lợi, và kiểm tra bằng cách sờ vùng má xem có bất thường gì không.

(5) Kiểm tra lưỡi: đưa lưỡi ra, quan sát màu sắc và kết cấu lưỡi, dùng gạc vô trùng bọc đầu lưỡi lại sau đó kéo lưỡi hướng sang phải, rồi sang trái để quan sát 2 bên cạnh của lưỡi.

(6) Kiểm tra vòm miệng phía trên : đối với kiểm tra vòm miệng cần dùng phần tay cầm của bàn chải đánh răng đè lưỡi bẹt xuống, đầu hơi ngả về phía sau, quan sát màu sắc và hình thái của ngạc mềm và ngạc cứng.

Nhu Mô Gan Thô Có Phải Là Xơ Gan / 2023

Nhu mô gan thô không phải là bệnh mà là biến chứng của nhiều bệnh khác nhau. Người bệnh khi mắc chứng gan thô có thể do nhiều nguyên nhân mắc các bệnh về gan khác nhau. Bài viết sau đây do Bác sĩ Nguyễn Ngọc Thanh của Vạn Xuân biên soạn để cung cấp kiến thức đúng nhất cho độc giả.

Nhu mô gan thô là gì?

Là tình trạng cấu trúc gan có sự thay đổi, chức năng gan kém đi, gan không còn tồn tại ở dạng bình thường nữa. Lúc này, gan đã không còn đủ khả năng duy trì các chức năng thông thường. Người bệnh có thể gặp phải nguy hiểm đến sức khỏe thậm chí tính mạng nếu không được điều trị.

Nguyên nhân

Viêm gan do virus, hầu hết các bệnh viêm gan do virus như viêm gan B và C mãn tính. Thường được phát hiện và chữa trị ở giai đoạn muộn. Chính vì thế, khi phát hiện gan thô do các bệnh viêm gan gây nên cũng là lúc, bệnh viêm gan đã ở giai đoạn nặng nề.

Người mắc bệnh gan nhiễm mỡ, xơ gan sẽ dễ dàng kéo theo chứng bệnh gan này. Thông thường, khi phát hiện ra những bệnh lý về gan nguy hiểm cũng là lúc phát hiện ra chứng bệnh gan này.

Do các chất độc hại như rượu bia, thuốc lá. Các chất độc hại vào cơ thể sẽ là những có nguy cơ dẫn tới chứng gan thô cao.

Những nguyên nhân này chính là tác nhân lớn khiến cho các tế bào nhu mô gan bị thô. Làm thay đổi cấu trức của gan khiến tình trạng sức khỏe của người bệnh bị đe dọa nghiêm trọng.

Dấu hiệu cảnh báo

Gan thô là do những biến chứng của các bệnh lý nguy hiểm về gan. Vì vậy, những dấu hiệu về bệnh gan này là dấu hiệu cảnh báo chức năng gan đang suy giảm:

Cơ thể mệt mỏi, xanh sao, suy nhược

Vàng da, vàng mắt

Rối loạn tiêu hóa: chán ăn, ăn không ngon, buồn nôn, nôn, sụt cân

Nước tiểu sẫm màu, phân bạc màu

Thường xuyên mất ngủ, khó ngủ

Mẩn ngứa, mụn nhọt

Những nguyên nhân này chính là tác nhân lớn khiến cho các tế bào nhu mô gan bị thô. Làm thay đổi cấu trúc của gan khiến tình trạng sức khỏe của người bệnh bị đe dọa nghiêm trọng. Không chỉ là dấu hiệu cảnh báo gan thô, mà còn là dấu hiệu cảnh báo chức năng gan suy giảm.

Điều trị nhu mô gan thô

Để điều trị nhu mô gan thô Phòng khám chúng tôi đã nghiên cứu tạo ra sản phẩm Dr.Liver.

DR.LIVER đặc trị các bệnh lý về gan, ức chế và đào thải tế bào viêm gan, xơ gan, mô sẹo, giải độc gan. Tăng cường tái tạo tế bào gan mới để thay thế tế bào gan bị viêm, xơ hóa, bảo vệ tế bào gan.

Điều trị giảm nhanh các triệu chứng vàng da, vàng mắt, mệt mỏi, chán ăn, đau tức hạ sườn, chướng bụng do bệnh gan gây ra. Tăng cường hệ miễn dịch cho cơ thể.

100% thảo dược tự nhiên, an toàn, lành tính, đặc biệt không có tác dụng phụ

CAM KẾT HIỆU QUẢ SAU 14 NGÀY SỬ DỤNG – HOÀN TIỀN 100% NẾU KHÔNG HIỆU QUẢ

Đội ngũ bác sĩ cam kết đồng hành theo sát bệnh nhân trong suốt quá trình sử dụng.

Sản phẩm có đầy đủ giấy chứng nhận, tem chống hàng giả, mã QR và xét nghiệm tiêu chuẩn.

CHI TIẾT LIÊN HỆ

0943.783.111/0944.375.111

Hoặc INBOX để được BÁC SĨ TƯ VẤN MIỄN PHÍ

Cac Dau Hieu Va Hinh Anh X Quang Nguc / 2023

Published on

Cac dau hieu va hinh anh x quang nguc http://chiaseykhoa.com/sach-thuc-hanh-x-quang-nguc/

1. 27 PHẦN 2. CÁC DẤU HIỆU VÀ HÌNH ẢNH X-QUANG NGỰC Trong phần trước chúng ta đã đi qua những khái niệm cơ bản trong phân tích X-quang ngực thường quy và CT ngực. Khi khám lâm sàng trước tiên chúng ta cần phải biết ghi nhận các dấu hiệu, triệu chứng của bệnh rồi từ đó mới đi đến chẩn đoán bệnh (chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt). Cũng như vậy trong phân tích X-quang, chúng ta cũng cần biết các dấu hiệu (sign), các hình ảnh (pattern) bất thường – triệu chứng học X-quang, trước khi quyết định chẩn đoán. Bước phát hiện triệu chứng X-quang là bước quan trọng. X-quang là ngành khoa học mô tả nên để dễ nhận biết và dễ nhớ, người ta thường gán các dấu hiệu, hình ảnh bất thường phổ biến với hình ảnh thường gặp trong cuộc sống hàng ngày (thí dụ hình tổ ong, hình ria mép viên cảnh binh, hình lục lạc ngựa, kính mờ…). Các triệu chứng X-quang này cũng luôn cần được phân tích dưới đôi mắt của người nắm vững cơ chế sinh bệnh học để giải thích sự hình thành và tiến triển của các hình ảnh bất thường. Mặc dù việc đặt tên cho các dấu hiệu và hình ảnh X-quang sẽ đề cập sau đây có thể làm chúng ta khó nhớ nhưng đây là các thuật ngữ đã được chấp nhận và với các thuật ngữ này, chúng ta sẽ dễ dàng giao tiếp, trao đổi thông tin giữa những người làm lâm sàng và chuyên khoa X-quang ở tất cả mọi nơi. Trong phần này chúng ta sẽ kết hợp phát hiện, phân tích các dấu hiệu, hình ảnh X-quang trên cả phim ngực thường quy và phim CT ngực. 1. Dấu hiệu phế quản hơi (Air bronchogram sign) Chúng ta thường nói đến dấu hiệu này trong các tổn thương lấp đầy phế nang.

2. Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực: THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC 28 Hình 2.1. Dấu hiệu phế quản hơi trên X-quang thường quy (A) và CT (B).CT ngực cho thấy mờ nhu mô dưới màng phổi hai bên với hình phế quản hơi (mũi tên) trong một trường hợp viêm phổi. Đây là dấu hiệu có dạng vệt sáng, chia nhánh, thể hiện hình ảnh phế quản hay tiểu phế quản đi qua một vùng nhu mô phổi mờ, không có không khí (hình 2.1). Dấu hiệu phế quản hơi cho thấy là hình mờ quanh nó có bản chất là nhu mô phổi chứ không phải là trung thất hay màng phổi. Các tổn thương nhu mô phổi có thể thấy hình ảnh này là viêm phổi nhiễm khuẩn (thường chỉ thấy ở giai đoạn đầu), ho máu, phù phổi, sarcoidosis… Cũng có thể thấy trong xẹp phổi không do tắc nghẽn phế quản trung tâm. Mặc dù ung thư có khuynh hướng tạo các tổn thương dạng u đặc nhưng hình phế quản hơi cũng có thể thấy và là đặc trưng của u lymphoma và ung thư tế bào phế quản-phế nang. 2. Dấu hiệu hình liềm hơi (Air crescent sign) Một khối phát triển trong một hang có sẵn, hoặc một vùng viêm phổi đang hoại tử và tạo hang, có thể tạo một khoảng khí giữa nội dung bên trong và thành hang và cho hình ảnh liềm hơi (hình 2.2). Khối bên trong thông thường là khối u nấm. Hình 2.2. Hình dấu hiệu liềm hơi. CT cho thấy tổn thương phổi dạng nốt ưu thế dưới màng phổi do thuyên tắc nhiễm khuẩn. Một số tổn thương nốt hóa hang và tạo ra hình ảnh liềm hơi (mũi tên).

3. THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC: Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực 29 3. Dấu hiệu phồng rãnh liên thùy (Bulging fissure sign) Kinh điển đây là hình ảnh viêm phổi thùy do K.pneumonia. Sự lan rộng toàn bộ một thùy của tổn thương làm cho rãnh liên thùy phồng. Hình 2.3. Hình dấu hiệu rãnh liên thùy phồng. Trên phim thẳng (A) và nghiêng (B) là hình ảnh viêm phổi thùy, thường do K.pneumonia. Trên phim nghiêng thấy ranh giới dưới là kết hợp của hai đoạn rãnh liên thùy (rãnh liên thùy nhỏ phía trước – mũi tên ngắn và đoạn trên của rãnh liên thùy lớn phía sau – mũi tên dài). 4. Dấu hiệu ranh giới cơ hoành liên tục (Continuous diaphragm sign) Bình thường theo nguyên lý dấu hiệu bóng, phần cơ hoành dưới bóng tim không nhìn thấy vì tim, cơ hoành và gan cùng nằm trên một mặt phẳng và cùng cản tia dạng nước. Trong trường hợp giữa tim và cơ hoành có một khoảng khí chúng ta sẽ thấy bờ của gan liên tục dưới bóng tim hay là dấu hiệu ranh giới cơ hoành liên tục. Dấu hiệu này cho phép chúng ta chẩn đoán có tràn khí trung thất. Hình 2.4. Dấu hiệu cơ hoành liên tục. Trên phim ngực thẳng có hình ảnh tràn khí trung thất, cơ hoành nhìn thấy liên tục (mũi tên). Khí trung thất cũng được nhìn thấy ở vùng cổ hai bên (mũi tên không liền nét). 5. Dấu hiệu mạch đồ trên CT (CT angiogram sign) Dấu hiệu mạch đồ trên CT dùng để chỉ hình ảnh mạch máu có thuốc cản quang trong một vùng phổi kém thông khí. Các mạch máu được

4. Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực: THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC 30 nhìn thấy ưu thế tương phản với nền phổi mờ kém cản tia hơn (hình 2.5). Hình ảnh này gặp trong ung thư tế bào phế quản-phế nang, lymphoma và cũng có thể thấy trong trong các bệnh lý khác, trong đó có viêm phổi nhiễm khuẩn. Hình 2.5. Hình dấu hiệu mạch máu đồ. Trên phim CT có cản quang chúng ta thấy hình ảnh ung thư tế bào phế quản-phế nang thùy dưới trái. Các mạch máu phổi (mũi tên) thấy rõ trên nền nhu mô phổi cản tia kém hơn. 6. Dấu hiệu rãnh sâu (Deep sulcus sign) Dấu hiệu này chỉ hiện tượng tràn khí màng phổi trên phim chụp tư thế nằm. Ở tư thế này khoang khí màng phổi sẽ không giống như trên phim thẳng đứng (khoảng khí nằm dọc thành bên lồng ngực). Chúng ta sẽ thấy vùng tràn khí lấn sâu vào phía trong lồng ngực, không mang hình dạng tràn khí thông thường, thường làm cho góc sườn và tâm hoành nhìn rõ trên phim. Hình 2.6. Hình dấu hiệu rãnh sâu. (A) Trên phim ngực thẳng tư thế nằm có hình ảnh tràn khí màng phổi hai bên. Khoang khí hai bên rộng, lấn sâu vào trong thành ngực (mũi tên). (B) Cũng trên phim ngực thẳng tư thế nằm của một bệnh nhân thở máy bị tràn khí màng phổi do khí áp. Trên phim chúng ta thấy mở rộng góc sườn hoành phải, tràn khí trung thất, dưới da ngực và cổ. 7. Dấu hiệu phổi rơi (Fallen lung sign) Dấu hiệu này chỉ một trường hợp phổi xẹp (thường do chấn thương

5. THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC: Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực 31 ngực gây xẹp phổi) kèm theo gãy phế quản làm cho phổi không còn được treo ở vị trí bình thường tương xứng với rốn phổi mà như bị rơi xuống thấp và ra ngoài (tư thế đứng) hay ra sau (tư thế nằm thấy trên CT). Hình ảnh này cần phân biệt với xẹp phổi do tràn khí màng phổi. Trong trường hợp tràn khí màng phổi, phổi xẹp và co lại theo hướng về rốn phổi. Hình 2.7. Dấu hiệu phổi rơi. Trên phim thẳng tư thế nằm một bệnh nhân chấn thương do tai nạn. Có tràn khí màng phổi ở bên phải tồn tại dai dẳng mặc dù đã được mở màng phổi đặt ống dẫn lưu. Điều này cho thấy khoảng trống màng phổi bên ngực phải không phải là do tràn khí màng phổi mà do xẹp phổi hậu quả của gãy một phế quản lớn. Phổi bị xẹp lại, rơi xuống dưới và ra ngoài thay vì co lại về phía trong, rốn phổi. 8. Dấu hiệu phẳng đoạn eo thắt (Flat waist sign) Dấu hiệu này chỉ hiện tượng trở nên phẳng ở bờ ngoài của hình lồi quai động mạch chủ và của động mạch phổi kế cận trên hình trung thất phim ngực thẳng. Hình ảnh này gặp trong trường hợp xẹp nặng thùy dưới bên trái và tạo ra sự dịch chuyển về phía bên trái và xoay tròn của tim. Hình 2.8. Dấu hiệu phẳng đoạn eo. Trên phim thẳng cho thấy vùng thùy dưới bên trái trở nên mờ do xẹp. Chúng ta không còn thấy đường cong cơ hoành trái ở khoảng giữa (kết quả của hiện tượng dấu hiệu bóng). Phế quản thùy dưới trái trở nên đứng hơn bình thường (mũi tên ngắn). Sự dịch về phía trái và xoay của tim ở vùng xẹp phổi tạo ra hiện tượng phẳng của đường cong hình lồi quai động mạch chủ và đoạn động mạch phổi tiếp nối bên dưới (mũi tên dài). 9. Dấu hiệu ngón tay trong găng (Finger- in- glove sign) Trong bệnh nấm phổi – phế quản do Aspergillus. Biểu hiện bằng dị ứng thứ phát do quá mẫn, phế quản chứa dịch nhầy phế quản, xác tế bào, bạch cầu ái toan, sợi nấm. Phế quản tổn thương biểu hiện trên X-quang bằng những hình mờ hình dạng dễ nhận biết.

6. Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực: THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC 32 Hình 2.9. Dấu hiệu ngón tay trong găng. (A) Trên phim thẳng bệnh nhân bị xơ hóa nang và nấm dị ứng phổi – phế quản. Phế quản tiếp cận vùng tổn thương bị giãn căng chứa dịch nhầy, nhiều bạch cầu ái toan, tế bào thoái hóa và sợi nấm tạo nên hình ảnh ống và hơi giống khối u (mũi tên). Hình ảnh này có thể khu trú, thường ở đáy. Có thể lan tỏa dạng giãn phế quản. (B) Trên phim CT có hình giãn phế quản thùy dưới trái trong lòng chứa đầy dịch. 10. Dấu hiệu chữ S (Golden S sign) Khi một thùy bị xẹp quanh một khối u trung tâm sẽ làm cho nhu mô phổi vùng xẹp tăng đậm độ, co lại hướng về phía khối u trung tâm tạo thành một hình ảnh có chu vi lõm. Ở vùng trung tâm, khối u là hình ảnh có chu vi lồi. Liên kết hai bất thường tăng đậm độ cản tia này sẽ cho hình ảnh mờ có chu vi hình chữ S xuôi hoặc ngược. Dấu hiệu này khá quan trọng vì nó có ý nghĩa là có tắc nghẽn trung tâm và ở người lớn thì nhiều khả năng là ung thư phế quản. Hình 2.10. Dấu hiệu chữ S. (A) Phim thẳng của một bệnh nhân ung thư phế quản thùy trên phải. (B) CT cho thấy: khối u nội lòng phế quản làm xẹp thùy trên phổi phải và làm dịch chuyển rãnh liên thùy nhỏ (mũi tên không liền nét) về phía rốn phổi. Khối u tạo ra hình ảnh ranh giới lồi về phía nhu mô phổi (mũi tên liền nét). Bờ ngoài của các bất thường trên phim tạo thành hình chữ S ngược.

7. THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC: Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực 33 11. Dấu hiệu quầng sáng (Halo sign) Dấu hiệu này để chỉ một quầng mờ nhạt trên phim CT. Quầng mờ này bao quanh hoặc có dạng như vầng mờ đều quanh một tổn thương nốt hay vùng đông đặc mờ đậm hơn. Mặc dù hầu hết các nốt phổi gây chảy máu đều có thể tạo ra dấu hiệu này nhưng trên bệnh nhân leukemia, nếu thấy dấu hiệu trên thì cần nghĩ đến hiện tượng xâm nhiễm sớm của nấm Aspergillus. Hình 2.11. Dấu hiệu quầng sáng. Trên CT cắt ngang vùng đỉnh phổi cho thấy có nốt mờ và vùng đông đặc hai bên với quầng sáng mờ nhạt hơn (dạng kính mờ) bao quanh (mũi tên). Bệnh nhân leukemia và hình ảnh này gợi ý nhiễm nấm Aspergillus. 12. Dấu hiệu lồi Hampton (Hampton hump sign) Nhồi máu phổi sau thuyên tắc phổi tạo ra một vùng mờ bất thường trên X-quang ngực. Hình mờ này luôn tiếp xúc với màng phổi và có nhiều dạng khác nhau. Khi đường ranh giới trong có dạng tròn, nó được gọi là dấu hiệu lồi mà Hampton và Castleman mô tả. Hình 2.12. Dấu hiệu lồi Hampton. Trên CT cửa sổ phổi (A) chúng ta thấy một hình mờ ngay dưới màng phổi thùy dưới phổi trái (mũi tên). Hình mờ dạng lồi này là nhồi máu phổi sau thuyên tắc động mạch phổi. Chúng ta cũng thấy có tràn dịch màng phổi hai bên, hình ảnh hay gặp trong thuyên tắc động mạch phổi cấp. Trên

8. Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực: THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC 34 CT cửa sổ trung thất (B) chúng ta thấy hình ảnh mờ nhạt trong động mạch phổi trái dạng khuyết yên ngựa nối từ phân thùy lưỡi xuống thùy dưới (mũi tên) giải thích nguyên nhân tổn thương dạng lồi ở cửa sổ phổi. 13. Dấu hiệu móc bờ cơ hoành (Juxtaphrenic peak sign) Dấu hiệu này chỉ một hình ảnh bất thường nhỏ dạng tam giác làm mất đi hình dạng bình thường của bờ hoành. Đây là hình ảnh thứ phát sau tổn thương gây xẹp phổi ở phía trên. Hình ảnh này được tạo nên bởi hiện tượng kéo màng phổi hoặc rãnh liên thùy lớn và dây chằng dưới màng phổi. Hình 2.13. Dấu hiệu móc bờ cơ hoành: Trên phim thẳng một bệnh nhân đã được điều trị xạ trị cho thấy bên cạnh trung thất có hiện tượng xơ hóa trung thất hai bên và kéo rút vị trí rốn phổi cao hơn bình thường (mũi tên không liền nét). Cơ hoành trái cao hơn bình thường và có dấu hiệu móc nguyên nhân do mất thể tích phổi phía trên (mũi tên liền nét). 14. Dấu hiệu liềm khí (Luftsichel sign) Khi xẹp thùy trên trái, phân thùy đỉnh của thùy dưới là nơi nằm giữa quai động mạch chủ và thùy trên bị xẹp, có hiện tượng tăng ứ khí (hyperinflated). Khu vực này trở nên sáng hơn bình thường và có dạng hình liềm do bờ ngoài của quai động mạch chủ nằm ở phía trước che đi một phần phía trong của khu vực tăng ứ khí này. Dấu hiệu này thường thấy ở bên trái do tính chất giải phẫu hai bên khác nhau và bên phải có rãnh liên thùy nhỏ. Khi thấy dấu hiệu này cần nghĩ đến xẹp thùy trên và nhiều khả năng là ung thư phế quản ở người lớn. Hình 2.14. Dấu hiệu liềm khí: Trên phim thẳng (A) thấy một quầng sáng hình liềm

9. THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC: Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực 35 tiếp giáp với quai động mạch chủ (mũi tên). Chúng ta cũng thấy phổi trái mờ hơn, mất ranh giới bên trái của tim và cơ hoành trái cao hơn bình thường do xẹp thùy trên trái và dấu hiệu bóng. Trên phim nghiêng (B) chúng ta thấy rõ có dịch chuyển vị trí rãnh liên thùy lớn ra phía trước và mờ toàn bộ thùy trên trái (mũi tên). 15. Dấu hiệu bề mặt khối băng tan chảy (Melting ice cube sign) Dấu hiệu này để chỉ sự xuất hiện của hiện tượng đang hồi phục (resolving) của nhồi máu phổi trên phim thẳng và CT, nhìn giống như hình ảnh tan chảy bề mặt khối băng từ ngoài dần vào trong. Hình ảnh này cần phân biệt với hình mờ do viêm phổi đang hồi phục. Trong trường viêm phổi hình mờ hồi phục có dạng lốm đốm. Hình 2.15. Dấu hiệu bề mặt khối băng tan chảy: (A) Hình ngực thẳng một bệnh nhân nam 69 tuổi có bệnh sử 6 tuần ho, đau ngực, ho máu cho thấy mờ khoảng dưới màng phổi hai bên, gần góc sườn hoành (mũi tên) do nhồi máu phổi. (B) Phim CT ngực 2 tuần sau đó cho thấy có hình mờ ngoại vi hai bên (mũi tên), hình ảnh điển hình của nhồi máu phổi đang hồi phục. Hình ảnh này không có dạng hình nêm hoặc tròn của nhồi máu cấp. Sự hồi phục của nhồi máu từ ngoại vi vào trung tâm tạo ra hình ảnh giống như bề mặt băng đang tan chảy. 16. Dấu hiệu hình nhẫn quanh động mạch (Ring around the artery sign) Dấu hiệu này để chỉ một hình tròn sáng rõ bao quanh động mạch phổi phải được nhìn thấy ở tư thế chếch trước trong một trường hợp tràn khí màng phổi.

10. Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực: THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC 36 Hình 2.16. Dấu hiệu hình nhẫn quanh động mạch: (A) Hình ngực chếch trước đứng của một bệnh nhân có suy hô hấp cấp cho thấy có hình vành tròn sáng quanh động mạch phổi phải (mũi tên) nguyên nhân do tràn khí màng phổi trung thất. (B) Trên CT hình ảnh này thấy rõ hơn. 17. Dấu hiệu dầy màng phổi (Split pleural sign) Bình thường màng phổi tạng và màng phổi thành mỏng và sát nhau không nhìn thấy được trên CT ngực. Khi tràn dịch màng phổi dịch tiết, khoang màng phổi có dịch, màng phổi bị dầy lên tạo ra hình ảnh màng phổi rõ trên phim. Hình 2.17. Dấu hiệu dầy màng phổi trên CT ngực: Phim CT ngực có cản quang cho thấy màng phổi có dịch và hình ảnh lá thành, lá tạng màng phổi dầy và tách nhau. 18. Dấu hiệu Westermark (Westermark sign) Dấu hiệu này dùng để chỉ hiện tượng thiếu máu của phổi ở phía sau một động mạch phổi bị tắc do thuyên tắc động mạch phổi.

11. THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC: Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực 37 Hình 2.18. Dấu hiệu Westermark: (A) Trên phim ngực thẳng cho thấy hiện tượng thiếu máu của phổi phải, gọi là dấu hiệu Westermark. Phổi phải mạch máu giảm nhiều so với phổi trái và làm cho phổi phải trở nên sáng hơn. (B) CT cửa sổ phổi cho thấy rõ hơn hiện tượng giảm mạch máu phổi bên phải. Chúng ta cũng thấy có tràn dịch màng phổi bên phải. (C) CT cửa sổ trung thất cho thấy có huyết khối phát triển động mạch phổi lan sang cả nhánh phải (mũi tên). 19. Dấu hiệu cột sống (spine sign) Tổn thương ở thùy dưới phổi có thể sẽ không nhìn rõ trên phim thẳng. Trong trường hợp này phim nghiêng thường giúp nhìn rõ hơn khi có dấu hiệu cột sống. Bình thường các thân đốt sống trên phim nghiêng trở nên sáng dần từ trên xuống dưới. Khi có tổn thương phổi, sự sáng dần này trở nên bị gián đoạn. Hình 2.19. Dấu hiệu cột sống: (A) Phim thẳng của một bệnh nhân viêm phổi thùy dưới phổi trái. Chúng ta thấy đáy phổi trái mờ hơn bình thường. (B) Nhìn nghiêng cho thấy hình mờ này che lấp cột sống làm mất đi hiện tượng tăng sáng dần của cột sống từ trên xuống dưới. Đây là dấu hiệu điển hình của bất thường của thùy dưới, thường là viêm phổi, gọi là dấu hiệu cột sống.

14. Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực: THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC 40 Hình 2.22. Hình ảnh nang: (A) Hình ảnh nang trên một bệnh nhân bệnh u cơ trơn- bạch huyết (lymphangioleiomyomatosis): các nang thành mỏng phân bố đồng đều xen kẽ với những vùng phổi lành. (B) Hình ảnh dạng nang trên một bệnh nhân khí thũng phổi dạng trung tâm tiểu thùy. Ở đây ranh giới các hình tăng sáng không rõ, ở một số chỗ có hình ảnh động mạch trung tâm tiểu thùy (mũi tên). Tổn thương dạng này điển hình thường tập trung ở phần trên phổi. 23. Hình ảnh nốt (Nodular pattern) Hình ảnh nốt dùng để chỉ những hình mờ dạng tròn, đa dạng, thông thường kích thước 1mm-1cm. Trên X-quang ngực thường quy thường khó phân tách các nốt riêng rẽ do hình ảnh của chúng chồng lên nhau nhưng trên CT ngực chúng ta có thể thấy rõ các nốt riêng rẽ. Tùy theo kích thước, hình ảnh mờ dạng nốt có thể được mô tả như là các hạt kê (1-2mm), các nốt nhỏ, các nốt trung bình hoặc các nốt lớn. Các nốt có thể có thêm các đặc tính khác về ranh giới của chúng (đều hay không đều), có hay không hang, có dạng kính mờ hay không, có vôi hóa không, phân bố ở trung tâm hay ngoại vi… Hình 2.23. Hình ảnh nốt và dầy thành. (A) CT cho thấy hình ảnh nốt và dầy thành (mũi tên). Các nốt rải rác và các vùng mờ dạng kính mờ ở phổi phải. Dạng tổn

15. THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC: Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực 41 thương như vậy gợi ý nhiều tới ung thư phế quản nguyên phát lan theo đường bạch mạch một bên phổi. Nếu ung thư nguyên phát ngoài phổi lan theo đường bạch mạch thì tổn thương thường cả hai bên. (B) Hình ảnh nốt quanh mạch bạch huyết: CT một bệnh nhân trẻ bị sarcoidosis. Các nốt nhỏ đa dạng phân bố dọc theo phân chia mạch máu và phế quản (mũi tên liền nét). Đây là dạng phân bố quanh mạch bạch huyết điển hình của sarcoidosis. (C) Hình ảnh nốt trung tâm tiểu thùy phổi: Hình ảnh CT trên một thanh niên bị viêm phổi quá mẫn (còn gọi là bệnh viêm phế nang dị ứng) cho thấy có nhiều nốt mờ kiểu kính mờ ở trung tâm tiểu thùy phổi. (D) Hình ảnh nốt lao kê: Hình ảnh kê trên bệnh nhân bị lao lan tràn đường máu. Hình ảnh này cũng có thể gặp trong nấm phổi hoặc di căn ung thư. Hình ảnh nốt không đồng đều phân bố quanh mạch bạch huyết là đặc trưng của sarcoidosis. Trong bệnh này các nốt tụ lại mà trên vi thể tạo thành các u hạt không bã đậu hóa, phân bố dọc theo bó phế quản- mạch máu, vách liên tiểu thùy phổi, khu vực dưới màng phổi. Cũng có thể thấy hình ảnh này trong bệnh silicosis hoặc bụi phổi, tuy nhiên hiếm thấy ở giai đoạn muộn. Khi bệnh silicosis hoặc bụi phổi tiến triển, các nốt silic có thể tập trung lại và tạo thành xơ hóa mảng. Nhiều nốt nhỏ mờ kiểu kính mờ ở trung tâm tiêu thùy phổi là hình ảnh đặc trưng của viêm phế nang dị ứng cấp hoặc bán cấp. Những hình ảnh nốt nhỏ dạng kê có đường kính từ 1-3mm, ranh giới thường không đều thường là hình ảnh lao lan tràn theo đường máu, nấm phổi, ung thư di căn (thường là ung thư tế bào gai), u hạt Wegener, bệnh thấp phổi. Hình ảnh nốt phổi không đều phân bố dạng phế quản mạch máu là đặc trưng của lymphoma, leukemia, Kaposi sarcoma (hình 2. 23). 24. Hình ảnh mờ kiểu kính mờ (Ground-glass pattern) Hình ảnh kính mờ được định nghĩa như là hình ảnh mờ rất nhạt như mù sương làm giảm sáng hình ảnh phổi bình thường nhưng vẫn còn giữ ranh giới phế quản-mạch máu. Nguyên nhân là do khoảng khí ngoại vi bị lấp đầy một phần, mô kẽ bị dầy lên và xẹp phế nang. Hình ảnh này không nên nhầm với hình ảnh kết đặc phổi (consolidation). Trong trường hợp kết đặc phổi thì ranh giới phế quản-mạch máu bị mờ đi. Hình ảnh kính mờ có thể kết hợp với hình phế quản hơi. Hình ảnh kính mờ thông thường là không đặc hiệu. Trong một nghiên cứu bệnh nhân bị thâm nhiễm mạn tính được thực hiện sinh thiết khu vực có hình ảnh kính mờ cho thấy bệnh lý mô kẽ ưu thế chiếm 54%, tổn thương như nhau ở mô kẽ và phế nang chiếm 32% và tổn thương phế nang chiếm ưu thế là 14% (Leung AN và cs. Radiology 1993). Trong bệnh cảnh phổi cấp tính thì hình ảnh kính mờ là hình ảnh đặc trưng viêm phổi, xuất huyết phổi, phù phổi. Với bệnh nhân có suy giảm miễn dịch mắc phải thì hình ảnh

16. Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực: THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC 42 kính mờ khu trú hay tản mạn gợi ý nhiều viêm phổi do P.carinii. Ở những bệnh nhân ghép (ghép phổi, ghép tủy) thì hình ảnh này có thể là nhiễm khuẩn hoặc xuất huyết phế nang. Hình ảnh kính mờ tản mạn hay dạng đốm có thể thấy trong viêm phế nang dị ứng, viêm phổi kẽ, báo hiệu hiện tượng xâm nhập vào phế nang, mô kẽ dịch viêm, tế bào viêm. Hình ảnh kính mờ đơn độc ở một khu vực nhỏ có thể thấy trong ung thư phế quản-phế nang giai đoạn sớm, dị sản biểu mô tuyến không điển hình. Hình 2.24. Hình ảnh kính mờ: CT trên một bệnh nhân viêm phổi lan tỏa cho thấy hình ảnh kính mờ hai bên. Hình ảnh phế quản và mạch máu còn nhìn thấy rõ. 25.Hìnhảnhphổimờdạngkhảm(Mosaicpatternoflungattenuation) Bình thường phổi mờ đi trong thì thở ra. Khi có hiện tượng tắc nghẽn và khí cạm, phổi còn sáng ở thì thở ra và cho thấy hình ảnh những mảng mờ không theo nguyên tắc giải phẫu trên mặt cắt ngang khác so với hình phổi bình thường. Trên CT ở khu vực khí cạm, phổi có vẻ sáng hơn ở thì thở ra. Bệnh lý tạo ra khí cạm ở thùy phổi hay phổi là ở các phế quản lớn trong khi khí cạm ở tầm phân thùy hay dưới phân thùy là ở các phế quản nhỏ. Bệnh lý giãn các tiểu phế quản thường thấy kết hợp với hiện tượng tạo hình ảnh dạng khảm này. Hình ảnh dạng khảm cũng còn được thấy trong các bệnh lý mạch máu như trong bệnh huyết khối-thuyên tắc (thromboembolic) mạn tính, co mạch phản xạ, gây ra hiện tượng giảm tưới máu từng khu vực phổi. Hình 2.25. Hình ảnh mờ dạng khảm: Hình mờ dạng khảm thì thở ra trên bệnh

18. Các dấu hiệu và hình ảnh X-quang ngực: THỰC HÀNH X-QUANG NGỰC 44 Hình 2.26. Hình ảnh cành cây mọc chồi: (A) Hình cành cây mọc chồi trên CT ngực bệnh nhân viêm tiểu phế quản nhiễm khuẩn: các nốt nhỏ xen kẽ các vệt mờ dạng cành cây, có nhiều ở vùng ngoại vi (mũi tên). (B) Hình cành cây mọc chồi trên CT ngực bệnh nhân xơ hóa nang cho thấy giãn phế quản, tiểu phế quản hai bên với hình mờ dạng cành cây mọc chồi ở ngoại vi phổi phải (mũi tên). Các hình mờ tạo nên từ sự ứ tích dịch tiết ở các tiểu phế quản. (C) Hình cành cây mọc chồi cả hai bên trên CT ngực bệnh nhân phổi hít (mũi tên). (D) Hình cành cây mọc chồi trên CT ngực bệnh nhân viêm tiểu phế quản toàn bộ tiểu thùy (mũi tên liền nét) và hình ảnh giãn phế quản (mũi tên không liền nét).