Top 17 # Xem Nhiều Nhất Ung Thư Xương Sọ / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Tổng Quan Về Xương Sọ / 2023

Xương sọ là gì?

Hộp sọ cung cấp cấu trúc cho đầu và khuôn mặt trong khi cũng bảo vệ bộ não. Xương trong hộp sọ có thể được chia thành các xương sọ, hình thành xương sọ, và xương mặt, tạo nên khuôn mặt.

Có một số loại xương trong cơ thể của bạn, bao gồm:

Có hai loại trong hộp xọ của bạn:

Xương phẳng. Như tên gọi của chúng, các xương này mỏng và phẳng, mặc dù một số xương có đường cong nhỏ.

Xương không đều. Đây là những xương có hình dạng phức tạp không phù hợp với bất kỳ loại nào khác.

Giải phẫu và chức năng

Có tám xương sọ, mỗi xương có hình dạng độc đáo:

Xương trán. Đây là xương phẳng tạo nên trán của bạn. Nó cũng tạo thành phần trên của ổ cắm mắt của bạn.

Xương đỉnh đầu. Đây là một cặp xương phẳng nằm ở hai bên đầu, phía sau xương trán.

Xương thái dương. Đây là một cặp xương bất thường nằm dưới mỗi xương đỉnh.

Xương chẩm. Đây là một xương phẳng nằm ở phía sau đầu lâu của bạn. Nó có một mở cho phép tủy sống của bạn để kết nối với bộ não của bạn.

Xương sphenoid. Đây là một xương bất thường nằm bên dưới xương trán. Nó kéo dài chiều rộng của hộp sọ của bạn và tạo thành một phần lớn của cơ sở của hộp sọ của bạn.

Xương mũi. Đây là một xương bất thường nằm ở phía trước của xương sphenoid. Nó tạo nên một phần khoang mũi của bạn.

Xương sọ của bạn được tổ chức với nhau bởi các khớp độc đáo được gọi là chỉ khâu, được làm bằng mô liên kết dày. Chúng có hình dạng bất thường, cho phép chúng liên kết chặt chẽ với tất cả các xương sọ hình duy nhất. Các chỉ khâu không kết hợp cho đến khi trưởng thành, cho phép bộ não của bạn tiếp tục phát triển trong thời thơ ấu và tuổi vị thành niên.

Sơ đồ cấu tạo xương sọ

Khám phá sơ đồ 3-D có thể tương tác bên dưới để tìm hiểu thêm về xương sọ.

Một số chấn thương và tình trạng sức khỏe có thể ảnh hưởng đến xương sọ của bạn, bao gồm gãy xương và các tình trạng bẩm sinh di truyền.

Gãy xương Một gãy xương đề cập đến bất kỳ loại gãy xương nào. Có một số loại gãy xương sọ có thể ảnh hưởng đến xương sọ, chẳng hạn như:

Suy sụp. Điều này đề cập đến một gãy xương làm cho một phần của hộp sọ của bạn xuất hiện chìm.

Tuyến tính. Một gãy xương tuyến tính trong một xương sọ có nghĩa là có một break trong xương, nhưng bản thân xương đã không di chuyển.

Basilar. Loại này bao gồm một sự phá vỡ ở một trong những xương gần gốc sọ của bạn, chẳng hạn như xương sphenoid. Đây là một tình trạng nghiêm trọng cần điều trị ngay lập tức.

Diastatic. Một gãy xương di căn xảy ra dọc theo một trong những mũi sọ của bạn, làm cho nó rộng hơn bình thường. Nó thường thấy ở trẻ sơ sinh.

Trong nhiều trường hợp, gãy xương sọ không phải là đau đớn như cách chúng ta vẫn tưởng tượng, và hầu hết xương thường tự lành mà không cần phẫu thuật. Tuy nhiên, gãy xương nghiêm trọng hơn có thể yêu cầu phẫu thuật.

Có một số loại craniosynostosis, tùy thuộc vào chỉ khâu mà chúng ảnh hưởng đến:

Bicostonal synostosis. Trẻ sơ sinh với loại này có thể có một trán phẳng và trán.

Viêm khớp thần kinh. Loại này có thể làm phẳng ở một bên trán và ảnh hưởng đến hình dạng của hốc mắt và mũi.

Bệnh võng mạc cừu. Điều này có thể dẫn đến làm phẳng ở một bên mặt sau của hộp sọ. Nó cũng có thể ảnh hưởng đến vị trí của tai hoặc làm cho hộp sọ nghiêng nghiêng.

Metostic synostosis. Điều này có thể gây ra một hộp sọ hình tam giác hoặc trán nhọn. Nó cũng có thể làm cho đôi mắt xuất hiện gần nhau hơn.

Sagostal synostosis. Loại này có thể làm trán phình ra. Khu vực xung quanh đền thờ cũng có thể xuất hiện rất hẹp, làm cho đầu trông dài.

Craniosynostosis đòi hỏi phải điều trị phẫu thuật để tránh biến chứng sau này.

Các bệnh lý khác Một số bệnh khác có thể ảnh hưởng đến xương sọ bao gồm:

Loạn sản Cleidocranial. Các đột biến đối với một gen cụ thể gây ra sự phát triển bất thường của răng và xương, bao gồm cả xương sọ. Các triệu chứng thường gặp bao gồm trán nghiêng, xương thêm trong các đường khâu sọ và một hộp sọ mở rộng.

Loạn sản Craniometaphyseal. Đây là một tình trạng di truyền gây ra sự dày lên của xương sọ, có thể dẫn đến trán nhô ra và đôi mắt to.

Bệnh Paget của xương. Mô xương mới nhanh chóng được thực hiện do hành vi bất thường của tế bào xương, đó là một loại tế bào xương. Những người mắc bệnh này dễ bị gãy xương hơn vì xương bị ảnh hưởng thường yếu hơn.

Loạn sản xơ. Điều này gây ra sự phát triển của mô sẹo thay vì mô xương do đột biến trong các tế bào tạo xương. Nó có xu hướng chỉ ảnh hưởng đến một xương duy nhất tại một thời điểm, mặc dù nhiều hơn có thể được tham gia trong một số trường hợp.

Osteomas. Một osteoma là một sự phát triển quá mức của xương trên hộp sọ. Những người mắc bệnh osteomas thường không có triệu chứng. Tuy nhiên, nếu sự tăng trưởng gây áp lực lên dây thần kinh, nó có thể gây ra vấn đề về nghe và thị lực. Những điều này thường giải quyết một khi sự tăng trưởng được loại bỏ.

Các triệu chứng của tình trạng xương sọ Với tất cả các cấu trúc trong đầu và cổ của bạn, đôi khi rất khó để xác định khi nào các triệu chứng đến từ một vấn đề với xương sọ.

Các triệu chứng gợi ý một số loại gãy xương sọ bao gồm:

Bầm tím quanh mắt hoặc sau tai

Chất lỏng hoặc máu chảy ra từ tai hoặc mũi của bạn

Một cảm giác yếu đuối trong khuôn mặt của bạn

Các triệu chứng của vấn đề về cấu trúc với xương sọ bao gồm:

Một cơn đau nhức

Tê hoặc ngứa ran trên khuôn mặt của bạn

Vấn đề về nghe hoặc thị lực

Hình dạng đầu hoặc mặt bất thường

Lời khuyên cho xương sọ khỏe mạnh

Xương sọ của bạn là hệ thống phòng thủ chính bảo vệ cho não của bạn, vì vậy điều quan trọng là duy trì sức khỏe của họ bằng cách:

Đội mũ bảo hiểm. Luôn đội mũ bảo hiểm khi cưỡi bất cứ thứ gì trên bánh xe, kể cả xe đạp, ván trượt và xe tay ga. Thay thế mũ bảo hiểm bị hỏng hoặc bị rách và đảm bảo chúng phù hợp.

Buộc dây an toàn của bạn. Luôn đeo dây an toàn khi đi trong xe hơi.

Giảm nguy cơ rơi. Bảo mật bất cứ thứ gì, chẳng hạn như dây điện lỏng, có thể khiến ai đó đi du lịch. Nếu bạn gặp vấn đề về di chuyển, hãy cân nhắc lắp đặt tay vịn và thanh nắm trong khu vực, chẳng hạn như vòi sen hoặc cầu thang.

Nếu bạn có một trẻ sơ sinh, hãy chắc chắn để theo dõi đầu của họ cho bất cứ điều gì bất thường. Bạn cũng có thể đảm bảo rằng con bạn không ở trong một vị trí quá lâu. Một số cách để thực hiện điều này bao gồm:

Xen kẽ hướng đầu của bé khi đặt chúng lên giường

Giữ em bé của bạn khi họ thức dậy thay vì đặt chúng trong giường cũi, xích đu hoặc tàu sân bay, khi có thể

Thay đổi cánh tay bạn giữ em bé khi cho ăn

Cho phép con bạn chơi đùa trên bụng dưới sự giám sát chặt chẽ

Nhân Một Trường Hợp Ung Thư Tế Bào Vảy Phôi Di Căn Xương Sọ / 2023

Thứ bảy – 09/08/2014 05:16

Phùng Hưng*, Hoàng Minh Lợi**

(*) Khoa CĐHA BVĐK Quảng Trị, (**) Khoa CĐHA ĐHYD Huế

ĐẶT VẤN ĐỀ

BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP

Bệnh nhân nữ Dương Thị Q. 77 tuổi, ở xã Trung Giang huyện Gio Linh tỉnh Quảng Trị nhập viện khoa Nội Tổng hợp bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị ngày 30/9/2013 với triệu chứng đau đầu, đau ngực và sờ có khối lùng nhùng ở dưới da vùng đỉnh phải. Bệnh nhân có tiền sử hút thuốc lá 40 gói/năm, triệu chứng đau ngực xuất hiện đã lâu (4-5 năm), thỉnh thoảng có ho ra máu, bệnh nhân phát hiện khối lùng nhùng ở vùng đỉnh phải xuất hiện cách đây khoảng 6 tháng, sụt cân 4 tháng nay. Khám thực thể vùng đỉnh phải có khối đẩy lồi da đầu lên, sờ thấy lùng nhùng, bệnh nhân không có tiền sử chấn thương vùng đầu. Bệnh nhân được cho chụp X-quang sọ não và phổi và trên hình ảnh X-quang sọ não phát hiện nhiều ổ khuyết xương sọ rãi rác, tập trung nhiều ở vùng đỉnh phải (Hình 2), trên X-quang phổi phát hiện khối mờ dạng phế bào vùng đỉnh phải, được kết luận theo dõi u phổi trái (Hình 5). Bệnh nhân được chụp CLVT sọ não không tiêm thuốc cản quang và CLVT phổi có tiêm thuốc cản quang. Trên CLVT sọ não không tiêm thuốc cản quang: nhu mô não không thấy tổn thương, phát hiện nhiều khối choán chỗ tỷ trọng mô mềm trong các ổ tiêu xương sọ, tập trung nhiều ở vùng đỉnh phải, đẩy lồi da đầu và màng cứng, chưa thấy xâm lấn nhu mô não, khối lớn nhất ở đỉnh phải KT# 3,3×3,4×3,6 cm.

Hình 1. X-quang sọ nghiêng, các ổ tiêu xương sọ rãi rác, tập trung nhiều ở vùng đỉnh phả i.

Trên siêu âm sọ tai vị trí tổn thương ở vùng đỉnh phải phát hiện khối choán chỗ giới hạ rõ, cấu trúc giảm âm trong xương sọ đẩy lồi ra ngoài, KT # 3,1×3,3 cm. Các cuộn não bên dưới không thấy tổn thương (Hình 2).

Hình 2. Siêu âm sọ có khối choán chỗ giảm âm trong xương sọ

Trên hình ảnh MRI sọ não có tiêm gado tĩnh mạch phát hiện nhiều khối choán trương mô xương sọ tăng tính hiệu nhẹ so với mô xương xốp sọ não cả trên T1W, T2W và FLAIR, sau tiêm gado T1 ngấm thuốc mức độ vừa, khối lớn nhất ở vùng đỉnh phải đẩy lồi da đầu lên và KT tổn thương # 2,2×2,3×3,1, không thấy tổn thương nhu mô não màng não (Hình 4).

Hình 3. CLVT sọ não, các ổ tiêu xương vùng đỉnh phải.

Hình 4. Khối choán chỗ và phá hũy mô xương xốp vùng đỉnh trái trên sagittal T1 post gado

Hình 5. X-quang phổi thẳng phát hiện khối mờ phế bào vùng đỉnh trái (*): td u phổi trái.

BÀN LUẬN

Ung thư biểu mô tế bào vảy (SqCC) hay xuất hiện ở các phế quản trung tâm và thường được chẩn đoán bằng tế bào học đờm, chải phế quản. Về tế bào học được phân thành 4 loại (WHO 2004): tế bào sang, tế bào nhỏ, dạng nhú và dạng đáy [8], [11],[14]. Giai đoạn tổn thương thường được phân theo TNM của ISS (International Staging System) [2]. Việc phân giai đoạn của khối u có ý nghĩa quan trọng trong tiên lượng bệnh và là yếu tố quyết định để hướng dẫn điều trị [ 7].

Hình 6. CVVT phổi, phát hiện khối choán chỗ đỉnh phổi trái.

Ca bệnh trên là một trong nhưng trường hợp hiếm gặp của ung thư biểu mô tế bào vảy phổi có phá hủy xương sọ đa ổ do di căn. Tại Việt Nam chưa ghi nhận báo cáo về trường hợp nào tương tự, trên y văn thế giới ghi nhận hai trường hợp, trên y văn thế giới ghi nhận một trường hợp tương tự có di căn xương đỉnh trái ở bệnh nhân nam người Úc 80 tuổi của tác giả người anh Imran Kader và một trường hợp K biểu mô tuyến phổi di căn xương trán của tác giả Foco [1], [4]. Một số tổn thương di căn xương sọ từ K vú, tiền liệt tuyến, tuyến giáp, sarcome Ewing và u nguyên bào thần kinh có thể gặp nhưng rất hiếm [3], [20]. Cơ chế tổn thương xương do di căn cũng chưa được giải thích một cách rõ ràng và đầy đủ. Mô xương có độ bền cao trước sự phá hủy, đa phần tổn thương xương là từ K vú, đa u tủy xương, tiền liệt tuyến và thường gặp phá hủy xương trực tiếp hơn là di căn [18 ]. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy xuất hiện di căn xương do sự mất cân bằng giữa hoạt hóa các tạo cốt bào (tế bào sản xuất xương) và hoạt hóa các hủy cốt bào (các tế bào phá hủy xương) với vai trò của Interleukin 6 và 7 [10], [13]. Tiên lượng trên bệnh nhân này với giai đoạn IV là rất xấu, theo y văn thế giới thì bất kì một tổn thương di căn nội sọ nào từ một loại ung thư bất kì thì thời gian sống chỉ vài tháng [2], [12]. Và vấn đề hướng điều trị ở giai đoạn này cũng rất khó khăn, một số tác giả điều trị phẩu thuật loại bỏ các tổn thương kết hợp xạ trị [5]. Hóa trị liệu với tác nhân Platinum nền, chẳng hạn như cisplatin và carboplatin, được báo cáo là có một tỷ lệ đáp ứng 29% so với tổn thương nội sọ di căn phát sinh từ SqCC và có thể được sử dụng ở bệnh nhân có triệu chứng thần kinh được kiểm soát tốt [ 17]. Các điều trị hữu hiệu như cải thiện chức năng thần kinh, giảm phù nề quanh thương tổn, và một số tác giả đề nghị chỉ điều trị triệu chứng kết hợp giảm đau [21]. Điều trị đau trong ung thư di căn xương: sử dụng theo 3 bậc thang giảm đau của Tổ chức Y tế Thế giới. Thuốc giảm đau sử dụng ưu tiên loại đường uống. Đau rất mạnh sử dụng ngay bậc 3. Thuốc chống viêm không steroide hiệu quả trong những trường hợp đau xương. Thuốc corticoide có hiệu quả giảm đau trên đau xương, nội tạng và thần kinh, nhưng không có ưu tiên loại corticoide nào hay liều nào được xác định [5]. Bệnh nhân trên được điều trị giảm đau và đã ra viện.KẾT LUẬN Tổn thương phá hủy xương sọ do di căn từ ung biểu mô tế bào vảy ở phổi rất hiếm gặp trọng y văn ở Việt Nam và trên thế giới. Các xét nghiệm hình ảnh như X quang, Cắt lớp vi tính và Cộng hưởng từ rất quan trọng trọng việc chẩn đoán cung như đưa ra cái nhìn tổng thể về các tổn thương.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. OpenURLFoco F, Dizdarevic-Spago D, Efendic R, Dizdarevic D, Babajic E, Sarajlic L:Adenocarcinoma metastaticum of the frontal region. Med Arh 2011, 65:61-62. 2. Groome P, Bolejack V, Crowley J, Kennedy C, Krasnik M, Sobin L, Goldstraw P: The IASLC lung cancer staging project: validation of the proposals for revision of the T, N, and M descriptors and consequent stage groupings in the forthcoming (seventh) edition of the TNM classification of malignant tumours. J Thorac Oncol 2007, 2:694. OpenURL3. Healy J, Marshall W, Brahme F, White F: CT of intracranial metastases with skull and scalp involvement. Am J Neuroradiol 1981, 2:335-336. OpenURL4. Kader. I, Strong. M, George. M.. Skull destruction from intracranial metastasis arising from pulmonary squamous cell carcinoma: a case report. Journal of Medical Case Reports 2013, 7:28.5. Lê Trung Thọ. Nghiên cứu Y học: Chẩn đoán tế bào học một số ung thư phế quản. Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh. Tế Bào Bệnh Học 17. Y Học TP. Hồ Chí Minh. Tập 11. Phụ bản Số 3-2007.6. OpenURLMeyers C: Neurocognitive dysfunction in cancer patients. Oncology (Huntington) 2000, 14:75-79. OpenURL7. Nair A, Klusmann M, Jogeesvaran K, Grubnic S, Green S, Vlahos I: Revisions to the TNM staging of non-small cell lung cancer: rationale, clinicoradiologic implications, and persistent limitations. RG 2011, 31:215-238.8. Ngô Thế Quân, Phạm Thị Thái Hà, Nguyễn Chi Lăng, Nguyễn Công Định. Phân loại mô bệnh học ung thư phế quản. Theo phân loại của WHO-1999. Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh. Tế Bào Bệnh Học 17. Y Học TP. Hồ Chí Minh. Tập 11. Phụ bản Số 3-2007.9. Nonaka D: A study of ΔNp63 expression in lung non-small cell lung carcinomas. Am J Surg Pathol 2012, 36:895-899. OpenURL10.Okamoto M, Hiura K, Ohe G, Ohba Y, Terai K, Oshikawa T, Furuichi S, Nishikawa H, Moriyama K, Yoshida H, Sato M: Mechanism for bone invasion of oral cancer cells mediated by interleukin-6 in vitro and in vivo. Cancer 2000, 89:1966-1975. 11. Perez-Moreno P, Brambilla E, Thomas R, Soria J: Squamous cell carcinoma of the lung: molecular subtypes and therapeutic opportunities. Clin Cancer Res 2012, 18:2443-2451. OpenURL12. Platta C, Khuntia D, Mehta M, Suh J: Current treatment strategies for brain metastasis and complications from therapeutic techniques: a review of current literature. Am J Clin Oncol 2010, 33:398-407. 13. Roato I, Caldo D, Godio L, D’Amico L, Giannoni P, Morello E, Quarto R, Molfetta L, Buracco P, Mussa A, Ferracini R: Bone invading NSCLC cells produce IL-7: mice model and human histologic data. BMC Cancer 2010, 10:12. 14. Rossi G, Marchioni A, Sartori G, Longo L, Piccinini S, Cavazza A: Histotype in non-small cell lung cancer therapy and staging: the emerging role of an old and underrated factor. Curr Respir Med Rev 2007, 3:69-77. OpenURL15. Ruysscher D, Wanders R, Baardwijk A, Dingemans A, Reymen B, Houben R, Bootsma G, Pitz C, Eijsden L, Geraedts W, Baumert B, Lambin P: Radical treatment of non-small-cell lung cancer patients with synchronous oligometastases: long-term results of a prospective phase II trial. J Thoracic Oncol 2012, 7:1547-1555. 16.Schellinger P, Meinck H, Thron A: Diagnostic accuracy of MRI compared to CCT in patients with brain metastases. J Neurooncol 1999, 44:275-281. OpenURL17. Soffietti R, Ruda R, Trevisan E: Brain metastases: current management and new developments. Curr Opin Oncol 2008, 20:676-684. 18. Sohara Y, Shimada H, DeClerck Y: Mechanisms of bone invasion and metastasis in human neuroblastoma. Cancer Lett 2005, 228:203-209. OpenURL19.Tachasuttirut K, Hasegawa S, Yoshino N, Ito D, Omura K: Effect of irradiation on malignant tumour invasion into bone. Asian J Oral Maxillofac Surg 2008, 20:117-123. 20. Turgut M, Colak A, Gurcay O: Multiple intracranial metastases with skull and scalp involvement in Ewing’s sarcoma. Cent Afr J Med 1994, 40:104-106. OpenURL21. OpenURLVogelbaum M, Suh J: Resectable brain metastases. J Clin Oncol 2006, 24:1289-1294. OpenURL

Những tin mới hơn Những tin cũ hơn

Cao Khoai Sọ Chữa U Xơ Tử Cung / 2023

Thông tin về cao khoai sọ chữa u xơ tử cung

Thời gian gần đây rất nhiều thông tin được chia sẻ về bài thuốc chữa u xơ tử cung, ung thư từ cao khoai sọ. Với thông tin khoai sọ chứa chất tái tạo tế bào, tăng cường sự trao đổi chất. Vì vậy, khi dùng khoai sọ đắp vào các vi trí u bướu, mụn nhọt, trong 10 ngày khiến khối u teo hoàn toàn.

☛ Tìm hiểu thêm: Thông tin về u xơ tử cung

Bài thuốc chữa u xơ tử cung, u bướu từ cao khoai sọ cụ thể như sau:

Làm cao: Dùng 200g khoai sọ hoặc củ nhánh của khoai môn, mục đích dùng vỏ và lông ngoài vỏ khoai nhiều hơn, nó là chất thuốc đặc biệt, 200g gừng già có vỏ. Cả hai rửa sạch đất, đem xay hay giã nát nhuyễn, không cho nước. Sau đó cho 1 muổng bột (mì hay gạo…) nhào chung cho thành một chất dính kết. Lấy ra đổ lên trên một miếng nylon, khoảng chừng 1 tấc vuông, dầy 1cm.

Chất xúc tác: Lấy 1 củ gừng chừng 50g đập nát, bỏ vào nồi nưóc nấu sôi vừa. Dùng khăn dầy, nhúng vào nước gừng rồi vắt khô,chờ giảm nóng còn khoảng 60 độ, đắp trên chỗ sưng đau ở bụng dưới cho đến khi hết nóng, đắp lại vài lần như thế. Mục đích tác động trên chỗ bướu làm mềm, giảm đau, làm cho bướu nóng lên sẽ tăng tính hấp thụ thuốc của miếng cao, và làm giảm ngứa của cao khoai sọ khi đắp lên bướu.

Cách dùng: Mỗi tối, trước khi đi ngủ, nằm trên giường, đắp chất xúc tác chừng nửa giờ, rồi đặt miếng cao lên, dùng băng cột buộc cho khỏi rớt thuốc khi ngủ. Đắp khoảng 10 tối, khi nào thấy sáng ngủ dậy cao thuốc vẫn còn chất nhão mà không khô, là bướu không còn, nên hết rút chất thuốc của miếng cao. Phản ứng của thuốc rất ngứa và sẽ không có kết quả nếu không dùng chất xúc tác. Nhờ đắp chất xúc tác, đêm đỡ cảm thấy ngứa, nhưng cảm thấy như có kiến bò.

Đây chính là bài thuốc thần dược được lưu truyền và đồn thổi với tác dụng giảm đau nhanh chóng, nếu kiên trì đắp cao khoai sọ 10 ngày thì khối u sẽ giảm rõ rệt. Người tung tin còn khẳng định rằng khoai sọ có tác dụng tán khối kết, tiêu u kể cả u xơ tử cung trong đó có khối ung thư.

Phân tích về khoai sọ và thông tin về thành phần

Như chúng ta đã biết, khoai sọ là một loại củ được dùng để chế biến món ăn như canh sườn khoai sọ, canh rau rút khoai sọ….. Khoai sọ được trồng nhiều ở các địa phương ở nước ta.

Theo y học hiện đại thì:

Lượng kali trong khoai sọ khá lớn (354mg/ 100g khoai sọ), nó giúp kiểm soát mức huyết áp đồng thời cũng hạn chế nguy cơ bị cao huyết áp.

Chất xơ dồi dào có trong khoai sọ giúp nhuận tràng, thải cặn bã ra khỏi cơ thể nhanh nhất. Chất xơ này giúp làm giảm nguy cơ mắc các bệnh ung thư ruột, đại tràng, thải độc và đào thải lượng cholesterol xấu trong cơ thể.

Hàm lượng vitamin C và B6 phong phú trong khoai sọ giúp cơ thể tăng đề kháng, chống lão hóa.

Trong khoai sọ chứa hơn 17 loại acid amin cần thiết cho cơ thể.

Khoai sọ còn chứa omega-3 và 6 rất tốt cho tim mạch, góp phần ngăn ngừa ung thư cũng như phòng tránh các bệnh tật nói chung.

Theo đông y:

Khoai sọ là thực phẩm lành tính, vị cay ngọt, bổ dưỡng có tính bình, vào 3 kinh tỳ (lá lách), vị (dạ dày) và đại tràng.

Khoai sọ được dùng để chữa các bệnh lý về tiêu hóa như đau dạ dày, tiêu hóa kém, chán ăn, ợ hơi, đầy bụng, đi ngoài phân lỏng, hay bị đau bụng….

Khoai sọ bổ tỳ, vị nên giúp tăng chất lượng dịch vị tiêu hóa, lượng chất xơ phong phú trong khoai sọ sẽ giúp quét sạch ruột, ngăn ngừa nguy cơ ung thư đại, trực tràng.

Khoai sọ có tác dụng tiêu độc ở các khối u nhọt vì vậy cao khoai sọ được nhiều nhiều để chữa chỗ sưng đau.

Như vậy theo cả y học hiện đại và đông y thì Khoai sọ cung cấp nhiều chất dinh dưỡng và được đánh giá là thực phẩm tốt cho sức khỏe con người.

Vậy chuyên gia nói gì về dùng cao khoai sọ chữa u xơ tử cung

Theo, Phó Chủ tịch Hội Đông y Ba Đình Lương y Bùi Hồng Minh cho hay, bài thuốc dùng cao khoai sọ chữa u xơ tử cung, u bướu chỉ là bài thuộc truyền miệng. Trong bài thuốc dân gian của đông y thì khoai sọ được dùng để đắp để tiêu các nhọt, giảm đau nhỏ như chín mé. Nói về khả năng chữa ung thư, chữa u xơ tử cung của cao khoai sọ, Lương y Bùi Hồng Minh khẳng định hoàn toàn là những thông tin bịa đặt, không có cơ sở khoa học. Cơ chế phát triển của khối u ác tính rất phức tạp. Người bệnh không nên tin theo những thông tin cơ sở không có cơ sở khoa học, không nên bỏ điều trị để áp dụng theo.

Còn Tiến Sĩ Từ Ngữ – Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Dinh dưỡng Việt Nam cho biết, không có chuyện khoai sọ có thể chữa khỏi được ung thư. Tất cả những thông tin chia sẻ về tác dụng của khoai sọ chỉ là đồn thổi. Để diệt được tế bào ung thư cần phải có những chất phải tương đương với (xạ trị, hóa trị). Cho tới nay việc điều trị ung thư vẫn là là một thức thách đối với y học hiện đại.

Tiến Sĩ Từ Ngữ đặt ra giả định trường hợp bệnh nhân đắp cao khoai sợ lên khối u teo đi thì trường hợp đó có thể bị chẩn đoán ung thư nhầm hoặc tự cho rằng bản thân bị ung thư.

“Ở góc độ là một nhà chuyên môn về dinh dưỡng, tôi khẳng định khoai sọ chữa khỏi được ung thư là thông tin vô lý. Những thông tin thất thiệt này tuyệt đối không nên chia sẻ rộng rãi trên cộng đồng. Việc tin theo những thông tin vô căn cứ sẽ phải đánh đổi bằng tính mạng của con người”, Tiến Sĩ. Từ Ngữ nói.

Theo chuyên gia, khoai sọ là món ăn dinh dưỡng tốt cho sức khỏe, nhưng không nên “thần thánh hóa” biến nó trở thành thuốc chữa các loại bệnh. Khi cơ thể có nhưng bất thường, xuất hiện khối u, nổi hạch nên đi khám chuyên khoa sớm để đảm bảo được điều trị sớm.

Tóm lại

Khoai sọ là một thực phẩm giàu chất dinh dưỡng và rất tốt cho sức khỏe con người. Tuy nhiên không nên thần thánh hóa biến khoai sọ thành tiên dược điều trị bách bệnh đặc biệt là u bướu. Hiện chưa có cơ sở khoa học nào khẳng định khoai sọ có tác dụng chữa u xơ tử cung!

Ung Thư Xương: Nguyên Nhân, Triệu Chứng Và Chữa Khỏi Ung Thư Xương / 2023

Ung thư xương là gì? Nguyên nhân gây bệnh ung thư xương có lây không. Triệu chứng dấu hiệu bệnh ung thư xương. Các giai đoạn ung thư xương di căn sống được bao lâu. Phương pháp điều trị chữa khỏi ung thư xương. Chi phí khám chữa ung thư xương ở đâu. Hình ảnh ung thư xương. Cách chăm sóc bệnh ung thư xương ăn uống gì.

Ung thư xương là căn bệnh hiếm gặp, chiếm khoảng 0,5% trong toàn bộ ung thư. Bệnh ung thư xương thường xuất hiện ở các vị trí như gần gối, xa khuỷu. Bệnh thường xảy ra ở đầu trên xương chày, đầu dưới xương đùi (gần gối), đầu trên xương cánh tay, đầu dưới xương quay (xa khuỷu).

Ung thư xương là loại ung thư do xuất hiện những tế bào phát triển bất thường trong xương. Các khối u có thể xuất hiện ở bất cứ xương nào trong cơ thể, song thường thấy nhất ở các đốt xương dài như xương tay, xương chân. Khi khối u xuất hiện, xương sẽ yếu đi nhanh chóng, các khớp sưng tấy, có thể dẫn tới gãy xương bệnh lý, sốt, mệt mỏi, thiếu máu, sút cân nhanh…

Dựa trên các loại tế bào khối u – Nơi ung thư hình thành, bệnh ung thư xương được làm 3 loại riêng biệt:

– U xương ác tính (Sarcoma xương):

Đây là loại ung thư xương khởi phát ngay trong các tế bào xương. Trẻ em và trẻ vị thành niên là đối tượng dễ mắc ung thư xương loại này nhất. Khi qua tuổi dậy thì cấu trúc cơ xương, khớp phát triển mạnh là thời điểm dễ xảy ra các bất thường dẫn đến ung thư xương. Loại ung thư này thường xảy ra ở đầu gối và cánh tay.

– U sụn (Sarcoma sụn):

Loại ung thư này được tìm thấy trong các tế bào ở đầu các khớp xương. Khác với u xương ác tính, loại ung thư này thường xuất hiện ở nhóm người lớn tuổi (từ 40 tuổi trở lên). Loại này xuất hiện ở xương chậu, đùi và vai.

– U mô mềm (Ewing Sarcoma – ESFTs):

Dạng ung thư này có thể khởi phát từ mô thần kinh trong xương. U mô mềm là loại thường khó xác định chính xác nơi khối u bắt đầu. Các loại mô mềm ở đây có thể là cơ, mô mỡ, mô sợi, mạch máu, hay mô nâng đỡ khác. Đối tượng mắc bệnh của loại này cũng là trẻ em và trẻ vị thành niên.

Loại này thường xuất hiện ở dọc xương sống, xương chậu, ở cẳng chân hay cánh tay.

Bệnh ung thư xương rất nguy hiểm và hiếm gặp lại khó phát hiện. Nếu giả định trên thế giới có 20% số người mắc ung thư được chẩn đoán là ung thư xương thì chỉ có 1,5 % số người mắc ung thư xương được chữa khỏi. Bệnh ung thư xương có thể chữa được nếu được phát hiện sớm và điều trị đúng liệu trình.

Đây là một căn bệnh ung thư nguy hiểm nhất bởi khả năng lây lăn và di căn của các khối u. Chúng xâm lấn thường xuyên và liên tục để tiêu diệt các cơ quan xung quanh và có thể di căn đi cư trú ở rất xa. Nếu so với khối ung thư khác thì ung thư xương có tốc độ di căn nhanh gấp 3 – 4 lần.

Ung thư xương xảy ra ở phần xương mềm và tủy bên trong. Tủy xương là vị trí tạo máu cho nên các tế bào khối u dễ dàng theo dòng máu đi khắp nơi trong cơ thể. Nó có thể đi được một đoạn đường rất xa trước khi chúng ta tìm ra bệnh.

Bệnh ung thư xương có khả năng sống cao hơn khi khối u chưa di căn. Tuy nhiên, theo các bác sĩ, bệnh K di căn rất nhanh, nhanh đến mức khi chúng ta phát hiện bệnh thì các khối u ung thư đã di căn đến gần nửa cơ thể.

Nếu chăm sóc tốt và điều trị bệnh kiên trì, người bệnh có thể sống được từ 5 – 6 năm tính từ sau khi bị gãy tay, gãy chân do ung thư xương. Khi bị K xương, người bệnh có thể phải chặt tay, chặt chân để khối u không lây lan sang các bộ phận khác.

Nguyên nhân gây ung thư xương

Có những nguyên nhân nào dẫn đến bệnh ung thư xương? Khi xác định được nguyên nhân gây bệnh, bạn sẽ biết được bệnh ung thư này có lây hay không?

– Hội chứng Li – Fraumeni:

Hội chứng này có đặc điểm là làm tăng nguy cơ mắc ung thư của nhiều loại ung thư khác nhau gồm sarcom xương, ung thư vú, ung thư buồng trứng, ung thư máu…

– Hội chứng Rothmund – Thomson:

Gây ra tình trạng vóc dáng thấp bé, biến đổi xương, phát ban và làm tăng nguy cơ mắc ung thư xương.

– Bệnh u nguyên bào võng mạc di truyền:

– Những bệnh nhân ung thư xương thường có chồi xương sụn mọc tại vị trí nối bản sụn với đầu xương dài và đây được coi là bệnh di truyền. Các nhà nghiên cứu cho rằng sự rối loạn gene ức chế ung thư P53 là nguyên nhân khiến cơ thể không kiểm soát được sự phân chia và tạo thành tế bào ung thư của các tế bào mang gene biến dị.

Bức xạ ion hóa là khi các tác nhân vật lý từ bên ngoài tác động vào có thể làm biến đổi các cấu trúc cơ thể dẫn tới ung thư.

Phơi nhiễm bức xạ liều cao như tiến hành xạ trị để điều trị một bệnh ung thư có thể làm tăng nguy cơ ung thư xương.

Các khoáng chất phóng xạ như radium hay stronti được tích tụ trong xương lâu dần có thể gây bệnh ung thư xương nguyên phát. Theo thống kê ở Mỹ, có tới 18% bệnh nhân mắc ung thư xương do tia xạ.

Ung thư xương xuất hiện nhiều ở nhóm đối tượng là trẻ em và trẻ trong độ tuổi thanh thiếu niên, nên nguyên nhân của bệnh có mối liên hệ khá tương thích với những sự thay đổi về cấu trúc xương của cơ thể khi trưởng thành.

Khi đến tuổi dậy thì, hệ thống cơ bắp, xương khớp của cơ thể có những biến đổi đáng kể. Một số trường hợp chỉ cao 1,4m khi 14 tuổi, song chiều cao đã tăng lên đến 1,6m khi 16 tuổi. Điều này cho thấy tốc độ phát triển và sự thay đổi cực lớn trong cấu trúc xương. Chính ở giai đoạn này dễ xảy ra các bất thường trong cấu trúc xương của cơ thể và dẫn đến ung thư xương.

Ung thư xương được chia làm 2 nhóm:

Ung thư xương nguyên phát: Chưa có nguyên nhân rõ ràng.

Ung thư xương thứ phát: Nguyên nhân do chấn thương xương mãn tính.

Chấn thương xương là những va đập mạnh từ bên ngoài xương. Ví dụ như tai nạn giao thông, tai nạn lao động hoặc chấn thương do hoạt động thể thao… Tuy nhiên, lý do vì sao các trường hợp này lại được coi là tác nhân gây ung thư xương thì chưa thực sự được lý giải.

Trên thực tế, có một số loại ung thư xương phát triển ở vùng xương bị tổn thương, nhưng những chấn thương này là do ngẫu nhiên hay do các khối u trong xương phát triển khiến xương giòn, dễ gãy…

Tóm lại, bệnh ung thư xương xuất hiện do 2 nguyên nhân chính:

Chấn thương xương;

Thay đổi cấu trúc xương.

Từ những nguyên nhân nêu trên, có thể khẳng định bệnh ung thư xương không lây. Không có chứng minh về việc trong một gia đình, bố hoặc mẹ mắc ung thư xương khiến con gái cũng mắc bệnh.

Dấu hiệu nhận biết bệnh ung thư xương

Các triệu chứng chính của các khối u xương phát sinh sớm, bệnh ban đầu chỉ đau nhẹ, không liên tục. Cùng với sự tiến triển của bệnh, cơn đau có thể tăng dần lên. Sự phát triển của những cơn đau thường cố định.

Bệnh nhân đau nhiều hơn vào ban đêm, sự đau đớn diễn ra mơ hồ, bạn gần như không biết đau từ đâu.

Ở thời kỳ đầu, khối u có thể xuất hiện, khi sờ thấy có sự biến dạng xương. Khi sưng nhiều hơn các mô xương sẽ nhô ra ngoài, bề mặt trơn bóng hoặc lồi lõm bất thường. Sưng to ở khu vực có khối u, ấm hơn những nơi khác do khối u làm tăng sinh mạch máu và tăng tuần hoàn máu dưới da.

Khi bệnh nhân bị ung thư xương nặng vào giai đoạn muộn, bạn sẽ có cảm giác đau đớn, sưng và khó hoạt động. Có thể xuất hiện những triệu chứng teo cơ xương.

Biến dạng cơ thể là dấu hiệu cho biết bạn mắc ung thư xương

Khi các khối u phát triển mạnh lên, chúng sẽ làm ảnh hưởng lên hệ xương chi, gây ra các triệu chứng dị tật, cơ thể biến dạng, chi dưới thay đổi bất thường so với trước đó.

Một số triệu chứng khác của bệnh:

Tê liệt thần kinh, ảnh hưởng đến tiết niệu nếu khối u phát triển gần cột sống.

Xẹt đốt sống, ép tủy, chèn ép dây thần kinh cột sống làm suy yếu, tê nhói chân tay.

Các giai đoạn của bệnh ung thư xương

Theo các chuyên gia ung thư nghiên cứu, việc phân chia các giai đoạn của bệnh ung thư xương được căn cứ trên sự phát triển của khối u và tình hình di căn của các tế bào ung thư. Bệnh K xương có thể chia làm 4 giai đoạn hoặc 2 giai đoạn (giai đoạn đầu gồm giai đoạn 1 và 2, giai đoạn sau gồm giai đoạn 3 và 4).

Ở giai đoạn này, ung thư chỉ giới hạn ở tại xương và không lan ra các vùng khác của cơ thể. Tế bào ung thư ở giai đoạn này ít gây hại hơn và chưa cạnh tranh với những tế bào bình thường.

Ở giai đoạn này, các tế bào ung thư bắt đầu phát triển mạnh hơn trước, nhưng vẫn giới hạn tại xương.

Khi bệnh được phát hiện ở giai đoạn 1, 2, tỷ lệ sống trên 5 năm ở bệnh nhân ung thư này chiếm 90%. Phẫu thuật được coi là phương pháp điều trị chính ở giai đoạn này. Ngoài ra, xạ trị và hóa trị có thể được sử dụng kèm theo để tăng hiệu quả điều trị.

Ung thư xuất hiện từ hai đến ba vị trí ở cùng một vị trí trên xương. Khối u giai đoạn này có thể biệt hóa thấp hoặc cao tùy thuộc và cơ thể người bệnh và cấu trúc xương.

Ung thư di căn từ xương đến các nơi khác trong cơ thể. Ví dụ như xương khác hay cơ quan khác như gan, phổi… Lúc này tế bào ung thư tăng trưởng rất mạnh và có ảnh hưởng đến các tế bào bình thường.

Ung thư xương di căn có nguy hiểm không?

Ung thư xương sẽ di căn khi đến giai đoạn cuối (giai đoạn 4). Loại ung thư này di căn rất nhanh, chúng di chuyển theo đường máu ở tủy, do đó chúng sẽ di căn đến gan, phổi, não…

Ung thư xương di căn đến đâu sẽ gây hậu quả ở đó. Mỗi bộ phận chúng di căn đến sẽ gây những triệu chứng không giống nhau.

Bệnh K xương có thể di căn tới những vị trí/bộ phận sau:

Ung thư xương di căn phổi;

Ung thư xương di căn gan;

Ung thư xương di căn não;

Ung thư xương di căn mắt;

Ung thư xương di căn tim.

Ung thư xương khi đã di căn hết sức nguy hiểm, khả năng chữa khỏi ở giai đoạn di căn này có tỷ lệ cực thấp. Người bệnh thường khi điều trị tốt sẽ sống được khoảng 3 – 5 tháng.

Những ai dễ mắc bệnh ung thư xương

Ung thư xương là căn bệnh thường gặp phải ở những bệnh nhân trẻ tuổi. Những người ở trong trong giai đoạn xương và sụn phát triển. Trong những người mắc bệnh K xương có đến khoảng 75% nằm trong độ tuổi từ 10 đến 30 tuổi. Và nam giới sẽ có nguy cơ mắc bệnh nhiều hơn so với nữ giới.

Bệnh ung thư xương phổ biến nhất là ung thư xương cẳng chân ở nam giới trong giai đoạn dậy thì. Đặc biệt, những người có chiều cao vượt qua chiều cao ở mức trung bình.

Cách điều trị ung thư xương hiệu quả

Trước khi điều trị bệnh K xương hiệu quả, người bệnh cần tìm hiểu về nguyên tắc điều trị ung thư xương. Trước khi lựa chọn phương pháp điều trị bệnh ung thư xương sẽ có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị bệnh.

Các bác sĩ chuyên khoa sẽ xem xét về vấn đề: Tuổi tác, tình trạng sức khỏe tổng quát của bệnh nhân, vị trí, kích thước, sự lan tỏa của khối u và loại ung thư xương (loại u mềm, u sụn hay u xương).

Để điều trị căn bệnh này, không chỉ dùng một phương pháp điều trị mà có thể dùng kết hợp nhiều phương pháp.

Những phương pháp Tây y phổi biến hiện này là:

Phương pháp phẫu thuật điều trị ung thư xương

Theo các nghiên cứu, ung thư xương có thể tái phát ở gần vị trí ung thư ban đầu nên các bác sĩ phẫu thuật thường cắt bỏ cả khối u và những mô lành xung quanh khối u.

Phần xương mất đi có thể được thay thế bằng một công cụ bằng kim loại đặc biệt. Ở trẻ em, sau phẫu thuật ung thư xương, các bác sĩ sẽ liên tục thay thế dụng cụ bằng kim loại mỗi lần xương phát triển lớn – dài hơn.

Cách phẫu thuật này nhằm bảo tồn các chi để bệnh nhân có thể phối hợp vận động tốt với các chi nhân tạo.

Phương pháp phẫu thuật bảo tồn chi chỉ có thể áp dụng với khối u nhỏ, chưa phát triển ra bên ngoài và chưa lan ra những mô, tế bào hay hạch bạch huyết xung quanh. Nghĩa là phương pháp phẫu thuật chỉ được dùng cho ung thư xương giai đoạn đầu.

Hóa trị điều trị ung thư xương

Đây là phương pháp sử dụng thuốc để giết chết tế bào ung thư. Các bác sĩ sẽ tiến hành tiêm vào cơ thể (có thể là phần xương bị u) một thuốc hóa học để tiêu diệt tế bào ung thư. Ba loại thuốc sẽ được phối hợp cùng lúc tiêm vào cơ hay mạch máu hoặc uống để thuốc đi theo đường máu lan khắp cơ thể.

Với phương pháp này, các bác sĩ thường tiến hành làm nhiều đợt. Sau một đợt điều trị lại có một thời gian nghỉ ngơi và hồi phục. Khi cơ thể người bệnh đã bình phục lại sẽ tiếp tục tuân theo chu trình này.

Các bác sĩ thường kết hợp hóa trị với xạ trị để tăng khả năng các khối u không tái phát lại.

Phương pháp xạ trị trong điều trị K xương

Bác sĩ sẽ sử dụng nguồn năng lượng cao để tác động làm tổn thương các tế bào ung thư. Đôi khi, xạ trị được dùng để thu nhỏ kích thước khối u xương.

Sử dụng xạ trị thay cho phẫu thuật để phá hủy khối u và những tế bào ung thư còn sót lại sau khi quá trình phẫu thuật được tiến hành.

Ngoài ra, điều trị ung thư xương có có một số phương pháp như: điều trị bằng hóa chất, dùng hơi nước…

Phương pháp mới điều trị ung thư xương

Các chuyên gia cũng đang nghiên cứu tính khả thi của phương pháp hỗ trợ điều trị ung thư xương kết hợp với liệu pháp điều trị phóng xạ. Theo họ, phương pháp này điều trị ung thư bằng cách tiêm virus vào cơ thể đã được áp dụng từ những năm 50 của thế kỷ trước. Phương pháp này đã cứu sống hàng nghìn bệnh nhân. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên phương pháp “lấy độc trị độc” này có hiệu quả tuyệt đối với một bệnh nhân có các tế bào ung thư phát triển nhanh.

Có một dạng ung thư của các tế bào huyết tương trong tủy xương, gây ra các khối u xương và u mô mềm là bệnh đau tủy. Các nhà khoa học Mexico tuyên bố có thể chữa dứt điểm căn bệnh này bằng cách đưa hơi nước nóng trực tiếp vào vùng xương bị bệnh. Việc này nhằm đốt cháy các tế bào ung thư.

Doxorubicin và Ifosfamide

– Doxorubicin:

Là một loại kháng sinh thuộc nhóm Anthracyclin chuyên gây độc tế bào.

Thuốc Doxorubicin thường được chỉ định điều trị u xương ác tính (sarcoma xương) và ung thư xương liên kết Ewing.

Thuốc Doxorubicin không được dùng cho những người có biểu hiện suy giảm chức năng tủy xương, người bị suy tim, loét miệng hay quá mẫn cảm với bất kỳ thành phần nào của thuốc.

Tác dụng phụ như: Rụng tóc, buồn nôn, chèn ép tủy xương, tiêu chảy, tiểu ra máu, rối loạn tiểu tiện…

Người lớn: Liều lượng sử dụng phổ biến nhất của Doxorubicin là 40 – 60mg/m2 mỗi 21 – 28 ngày.

Trẻ em: 35 – 75mg/m2 lặp đi lặp lại mỗi 21 ngày, hoặc 20 – 30mg/m2 một lần mỗi tuần, hoặc 60 – 90mg/m2 truyền liên tục hơn 96 giờ mỗi 3 – 4 tuần.

Doxorubicin có những dạng và hàm lượng sau:

Dung dịch, thuốc tiêm: 2mg/mL (5ml, 10ml, 25ml, 100ml).

Dung dịch đã tái tạo, thuốc tiêm: 10mg, 20mg, 50mg.

– Ifosfamide:

Là loại thuốc có tác dụng cản trở và hạn chế sự phát triển của các tế bào ung thư.

Dùng để chữa u ác tính không thể mổ và nhạy cảm với Ifosfamide.

Loại thuốc này cũng có thể sử dụng kết hợp với một số thuốc chống ung thư khác.

Áp dụng cho những bệnh nhân mắc sarcoma xương.

Thuốc Ifosfamide có dạng dung dịch tiêm: 50mg/ml.

Methotrexate và Vincristine

– Methotrexate:

Là loại thuốc kháng acid folic có tác dụng chống ung thư.

Chỉ định để điều trị một số bệnh như ung thư vú, ung thư phổi, ung thư vùng đầu cổ, sarcoma xương, sarcoma sụn và sarcoma sợi…

Liều dùng đối với người lớn: Tiêm truyền tĩnh mạch 12g/m2 trong 4 giờ (kết hợp với các thuốc hóa trị liệu khác). Nếu liều dùng này không đủ để đạt được nồng độ đỉnh 1000 micromol trong huyết thanh vào giai đoạn cuối của quá trình truyền dịch, có thể tăng lên 15g/m2

Methotrexate có những dạng và hàm lượng sau:

Viên nén: 2,5mg.

Viên nén bao phim: 5mg; 7,5mg; 10mg; 15mg.

Dung dịch, đường tiêm: 25mg/ml.

Thuốc này không dùng cho những người:

Bị suy dinh dưỡng;

Suy thận nặng;

Rối loạn chức năng gan;

Người có hội chứng suy giảm miễn dịch;

Người bị rối loạn tạo máu trước như giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, thiếu máu;

Phụ nữ có thai và cho con bú…

Những phản ứng phụ khi sử dụng thuốc Methotrexate:

– Vincristine:

Loại thuốc chống ung thư được chiết xuất từ cây dừa cạn với tác dụng kích ứng mạnh các mô.

Có thể kết hợp với những loại thuốc khác để điều trị bệnh hodgkin, leukemia, sarcoma Ewing, sarcoma cơ vân, sarcoma mô mềm, ung thư xương, ung thư vú, ung thư phổi, ung thư trực tràng, ung thư tuyến giáp…

Vincristine Sulfate có những dạng và hàm lượng sau: Thuốc tiêm 5mg / 31ml.

Bên cạnh các phương pháp điều trị tân tiến từ Tây y, người bệnh có thể tham khảo cách điều trị từ Đông y. Trong dân gian có nhiều loại thảo dược có khả năng chữa ung thư cực tốt.

Bài thuốc 1 chữa bệnh K xương

– Nguyên liệu:

Bạch thược: 50g;

Đan bì: 30g;

Sa sâm: 30g;

Bạch hoa xà thiệt thảo: 80g;

Sinh địa: 20g;

Thục địa: 20g;

Sinh nam tinh: 20g;

Phục linh: 20g;

Trạch tả: 20g;

Miết giáp: 16g;

Do nhục: 15g;

Trần bì: 15g

Bán liên: 15g;

Hài nhi sâm: 15g.

– Cách làm:

Cho tất cả các nguyên liệu trên vào niêu, cho thêm 3 bát nước sạch, đậy vung và để nhỏ lửa. Đun sôi sắc đến khi nào còn 1 bát nước thì tắt bếp. Mỗi ngày phải uống hết 1 thang. Sau nước đầu tiên thì có thể cho thêm nước vào sắc lại, lần này chỉ cần để nước sôi khoảng 30 phút là dùng được.

– Công dụng của thuốc:

Bài thuốc giúp triệt tiêu các khối u phát triển trên tay, chân, làm giảm các cơn đau nhức do bệnh gây ra và giúp cho người bệnh khỏe mạnh hơn.

Bài thuốc Nam số 2 điều trị ung thư xương

– Nguyên liệu:

Xuyên sơn giáp chu: 30g;

Toàn yết: 20g;

Xạ hương: 3g;

Tam thất: 40g;

Con ngô công: 20g;

Nhân sâm: 20g.

– Cách làm:

Đem các nguyên liệu đã chuẩn bị rửa sạch, phơi khô rồi nghiền nát, nặn thành 60 viên thuốc thật đều nhau. Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 1 viên để giúp điều trị các cơn đau nhức do bệnh ung thư xương gây ra.

Bài thuốc số 3 chữa ung thư xương

– Nguyên liệu:

– Cách làm:

Đem trứng vịt ngâm với nước muối 7 ngày rồi vớt ra. Dùng que nhọn nhỏ đâm thủng một lỗ nhỏ trên vỏ trứng và cho bớt lòng trắng ra ngoài.

Thiên ma đem rửa sạch, nghiền nát rồi tán thành bột cho thật mịn rồi cho vào trong quả trứng. Tiếp theo, thêm bột mì trộn với nước để tạo thành hỗn hợp đặc quánh rồi cho quả trứng đã nhồi bột thiên ma. Đem trứng hầm cho thật chín.

Người bệnh ung thư xương nên ăn một quả trứng như vậy vào mỗi buổi sáng sau khi thức dậy. Bệnh sẽ được cải thiện rõ rệt.

Phòng tránh bệnh ung thư xương như thế nào?

Có nhiều cách để phòng bệnh ung thư này, tuy nhiên cách phòng bệnh tốt nhất là thay đổi thói quen. Thói quen đó có thể là thói quen sinh hoạt, thói quen ăn uống, thói quen vận động.

Boldsky đã liệt kê ra một vài biện pháp khắc phục để điều trị và ngăn ngừa bệnh ung thư xương hiệu quả từ những thực phẩm hàng ngày.

Nha đam tốt cho xương như thế nào?

Hợp chất trong nha đam có đặc tính chống ung thư. Nha đam có chứa các chất:

Antiproliferative (Có chứa Anthraquinone v.v);

Miễn dịch (Chứa Acemannan, Polysaccharide mannose);

Chất chống oxy hóa, kháng sinh, diệt khuẩn, virus và các thành phần khác.

Nghiên cứu đã chỉ ra Acemannan có thể kích thích các tế bào miễn dịch ở chuột để tạo ra các Cytokine (Một loại protein giết chết ung thư).

Trà xanh hỗ trợ phòng ngừa bệnh về xương

Trà xanh giàu hàm lượng EGCG – một hoạt chất chống oxy hóa. Chất này có tác dụng chống lại sự hình thành của các gốc tự do trong cơ thể. Từ đó phòng bệnh ung thư hiệu quả.

Khả năng chống oxy hóa của hoạt chất EGCG cao gấp 100 lần so với vitamin C và gấp 25 lần so với vitamin E.

Trà xanh giúp diệt trừ vi khuẩn, virus, làm chậm sự phát triển của các tế bào ung thư xương.

Cỏ ba lá đỏ tiêu diệt tế bào K xương hiệu quả

Với ung thư xương, cỏ ba lá đỏ phòng bệnh nhờ chứa chất chống oxy hóa Tocopherol có khả năng ngăn chặn sự hình thành và phát triển của tế bào ung thư.

Vitamin A – Chất tốt cho hệ xương và đẩy lùi bệnh ung thư

Vitamin A là nguyên liệu quan trọng chống lại ung thư xương. Bạn nên tăng cường các loại trái cây và rau quả để cung cấp, bổ sung vitamin A cho cơ thể.

Hoa quả tươi ngăn ngừa ung thư xương

Các loại hoa quả như cam, bưởi, dâu tây, quả lựu, đu đủ, xoài, việt quất… rất giàu chất chống oxy hóa, có hàm lượng cao chất xơ. Vitamin và khoáng chất giúp tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể, chống lại các tế bào ung thư. Ngoài ra, beta-carotene có trong mơ, xoài, quả anh đào… có thể làm giảm nguy cơ mắc ung thư xương.

Các tia UV của ánh nắng mặt trời giúp sản xuất vitamin D. Từ đó ngăn chặn sự phát triển của các tế bào ung thư.

Các loại thảo mộc như:

Gừng;

Bupleurum;

Đậu ván dại;

Nấm maitake;

Các thảo mộc này có tác dụng ngăn ngừa và điều trị bệnh ung thư xương cực tốt.

Thực đơn cho bệnh nhân ung thư xương

Mỗi ngày bạn phải bổ sung cho cơ thể bệnh nhân khoảng 1.885 – 2.175 đơn vị calo.

– Bổ sung chất đạm:

Đối với bệnh nhân, khẩu phần đạm cần tăng so với bình thường để cung cấp đầy đủ các loại acid amin. Nên cân đối giữa đạm động vật và đạm thực vật.

Thịt giàu đạm nhưng nếu khẩu phần ăn quá nhiều thịt sẽ là điều kiện thuận lợi cho tế bào ung thư phát triển. Bạn chỉ nên sử dụng thịt trắng như thịt gia cầm, bổ sung thêm sắt, kẽm từ thịt đỏ như thịt bò, thịt lợn nạc…

– Thực phẩm giàu chất xơ:

Các loại thực phẩm như:

Sữa bò;

Lòng đỏ trứng gà;

Rau ngót, rau đay, bắp cải, rau dền…

Khoai lang, cà chua, dưa leo…

Các dạng thực phẩm này sẽ bảo vệ hệ miễn dịch của cơ thể và ức chế sự phát triển của tế bào ung thư…

– 1 tô phở bò.

– 1 ly sữa đậu nành nguyên chất.

– 3 lát cam tươi

– 2 bát cơm trắng vừa.

– Thịt ức gà xé nhỏ rang nhạt.

– Canh rau dền.

– Tôm hấp bia sả.

– 1 hộp sữa chua nha đam ít đường.

– 1 củ khoai lang luộc.

– 1 ly nước trà xanh tươi mát.

– 1 quả dưa leo.

– 2 bát cơm trắng nhỏ.

– Bắp cải luộc.

– Thịt lợn nạc rang nhạt.

– Cá hồi sốt tiêu đen.

– 1 ly sữa bò không đường.

Ngoài những thực phẩm, trái cây cần thiết cho người bệnh ung thư xương, bạn cần tránh những thực phẩm không tốt cho quá trình điều trị bệnh cho bệnh nhân.

Bệnh ung thư xương không nên dùng rượu, café

Các chất kích thích như bia, rượu, cafe gây cản trở cho quá trình liền và tái tạo xương. Rượu bia làm rối loạn hoạt động của những tế bào xương và làm chúng nhanh chóng phát triển, di căn, thoái hóa xương. Café thì lại làm giảm lượng canxi mà cơ thể hấp thụ được khiến xương yếu đi và dễ bị tổn thương.

Trà đặc, nước ngọt có ga, thực phẩm nhiều dầu mỡ

Những chất béo có trong thực phẩm nhiều dầu mỡ có thể kết hợp với canxi để tạo thành một chất bọt mà cơ thể không hấp thụ được. Vì vậy, bệnh nhân ung thư xương không nên ăn quá 20% chất béo trong thực đơn mỗi ngày. Nếu muốn thì nên bổ sung từ các loại thực phẩm lành mạnh: Cá, bơ thực vật, các loại hạt và dầu thực vật.

Thịt chế biến sẵn không tốt cho bệnh nhân ung thư xương

Khi thịt được nấu chín ở nhiệt độ cao hoặc được xử lý bằng các chất như nitrat ảnh hưởng tới xương. Vậy nên, bạn cần ăn dưới 200g thịt đỏ mỗi ngày, hạn chế đến mức thấp nhất xúc xích, đồ hộp, thịt muối, cà muối, cá muối…

Đường và đồ ngọt tiềm ẩn nguy cơ mắc bệnh K xương

Đường là loại thực phẩm mà tế bào ung thư rất ưa thích. Đây là món ăn chính của chúng. Đường giúp các tế bào ung thư liên tục phân chia, phát triển và di căn. Do đó, bạn cần hạn chế đường, đồ ngọt, bánh mứt kẹo, chocolate, nước ngọt…

Thực phẩm chế biến bằng cách nướng

Nem nướng, xúc xích nướng… là những thực phẩm nên hạn chế vì chúng làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư và thúc đẩy tế bào ung thư phát triển. Trong quá trình nướng thức ăn sẽ sản sinh ra formol – một hóa chất gây ung thư.

Những người từng phẫu thuật ung thư xương

Không nên ăn những thực phẩm có thể gây kích thích vết mổ:

Thực phẩm chua, cay, nóng (chanh, cam, quýt, giấm, me, tiêu, ớt, bộ cari).

Những thức ăn nhiều dầu mỡ: Món xào, chiên, rán…

– Bệnh nhân K xương cần có tâm lý vững vàng và lạc quan.

Người nhà bệnh nhân cần làm công tác tâm lý thật tốt để bệnh nhân không rơi vào tuyệt vọng. Có thể mở những bản nhạc hay những bộ phim hay nhằm tác động tâm thức.

Các thành viên trong gia đình cần tránh mẫu thuẫn, bất hòa. Vì điều này sẽ khiến bệnh nhân mệt mỏi, chán nản và chấn động tâm lý.

Người thân, bạn bè cần tránh thái độ buồng xuôi, buồn bã hay kỳ thị người bệnh.

– Nấu những thực phẩm bổ dưỡng và đúng sở thích người bệnh.

Bệnh ung thư xương thường gây ra hiện tượng giảm chức năng tạo máu. Cho nên người thân nên dùng các thực phẩm giàu đạm, kích thích sinh tủy khi nấu thức ăn cho người bệnh.

Không nên nấu món ăn quá nhiều dầu mỡ, mặn, cay nóng. Người nhà bệnh nhân nên chế biến món ăn thanh đạm, bổ sung canxi, vitamin và tốt cho máu.

– Rèn luyện thể chất, hòa nhập cuộc sống.

Hầu hết các bệnh nhân ung thư đều bi quan và tìm đến cái chết. Một là để kết thúc sự đau đớn hiện tại. Hai là để không biến mình thành gánh nặng cho gia đình và có cảm giác vô dụng. Do đó, người nhà bệnh nhân cần gần gũi, an ủi và thực hiện nhiều hoạt động ngoại khóa cho cả gia đình.

Hãy sắm ngay chiếc xe lăn hoặc đôi lạng cho bệnh nhân. Nhờ đó, họ có thể tự đi lại, thấy bản thân có ích hơn, không gây phiền đến ai. Tổ chức trò chơi đơn giản, vận động ít nhưng giúp cơ thể bệnh nhân bớt thụ động hơn.