Top 18 # Xem Nhiều Nhất Ung Thư Xương Triệu Chứng / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Triệu Chứng Của Ung Thư Xương. / 2023

Hầu hết các khối u xương là lành tính, không có triệu chứng và thường được phát hiện sau một chấn thương. Các khối u xương ác tính nguyên phát (ung thư xương) không phổ biến nhưng là một nguyên nhân đáng kể gây tử vong, đặc biệt ở những người trẻ tuổi. Việc phát hiện các dấu hiệu ung thư xương đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình điều trị, tăng khả năng bảo tồn chi, kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân.

Khi nghi ngờ có khối u xương, mục tiêu là chẩn đoán mô bệnh học, đánh giá mức độ bệnh và tính khả thi của phẫu thuật cắt bỏ dựa trên các nguyên tắc của phẫu thuật cắt cụt chi. Các dấu hiệu ung thư xương chủ yếu xảy ra tại chỗ, dễ nhầm lẫn với các bệnh lành tính khác của xương. Vì vậy cần phải kết hợp các triệu chứng lâm làng và cận lâm sàng để chẩn đoán xác định.

1.1. Triệu chứng lâm sàng.

–Đau tại chỗ: là dấu hiệu đầu tiên, triệu chứng đau chiếm 87,5% các sarcom xương. Đặc điểm đau ban đầu ít ngắt quãng sau đó đau liên tục và kéo dai, đau nhói kiểu gãy vụn xương. Vận động giảm ở giai đoạn muộn hoặc tổn thương xương nhiều vị trí.

-Biểu hiện toàn thân: Bệnh nhân ung thư xương biểu hiện mệt mỏi, mất ngủ do đau. Các biểu hiện như sốt thường ít gặp.

-Sờ thấy khổi u: Khổi u ở sâu, hình thoi hoặc hình cầu, cứng chắc, có ranh giới rõ. Da trên u nóng hơn phần da lành, đôi khi thấy các đám tĩnh mạch nổi tại chỗ. Khối u thường xuất hiện ở đầu các xương dài, ở hành xương. Thường gặp ở đầu trên xương chày, đầu dưới xương đùi, ít gặp hơn là đầu trên xương cánh tay, đầu trên xương đùi. Các xương dẹt hay bị tổn thương là xương châụ, xương bả vai.

-Teo cơ, sưng nề ở phần mềm hoặc u máu ở ngoài da cũng là một triệu chứng giúp chẩn đoán ung thư xương.

-Gãy xương tự nhiên gặp từ 1,1% đến 5% trường hợp.

1.2. Các triệu chứng cận lâm sàng.

-Chụp Xquang quy ước. Xquang quy ước đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán các khối u xương. Phim Xquang cung cấp nhiều thông tin qua trọng cho chẩn đoán. Cho biết số lượng, vị trí, ranh giới tổn thương, sự xâm lấn phần mềm. Hình ảnh tạo xương, tiêu xương hoặc hỗn hợp.

-Chụp cắt lớp vi tính. Đánh giá mức độ lan rộng của các tổn thương trong xương, trong tuỷ xương và ngoài xương. Phát hiện sự tiêu huỷ xương dưới vỏ và các gãy xương khó thấy.

-Chụp cộng hưởng từ (MRI). Đánh giá sự lan rộng của khối u trong tuỷ xương và mô mềm, xâm lấn mạch máu, thần kinh. MRI còn giúp đánh giá mức độ nhậy cảm với hoá trị dựa vào việc đo tỷ lệ hoại tử của mô u.

-Chụp xạ hình xương. Chụp xạ hình xương có thể xác định được giới hạn, cho phép theo dõi tiến triển của các tổn thương xương. Đánh giá hiệu quả của hoá trị, giúp tìm ra các ổ di căn, đặc biệt là di căn xương.

-Chụp PET/CT. Có thể dựa vào PET/CT để phát hiện các tổn thương xương, vi di căn xa mà các phương pháp khác không xác định được.

-Các xét nghiệm sinh hoá. Phosphatase kiềm có giá trị bình thường ở độ tuổi 1- 12 tuôi là 50= 140 U/l. Ở người trưởng thành là 20- 40 U/l. Chỉ số này không có giá trị nhiều trong chẩn đoán ung thư xương. Nhưng có giá trị cao trong việc theo dõi sau điều trị cắt bỏ chi hoặc sau hoá trị tiền phẫu. Nếu sau điều trị Photphastase kiềm tăng trở lại thì nghĩ nhiều đến tái phát hoặc di căn.

-Mô bệnh học: Là xét nghiệm có giá trị quyết định chẩn đoán, xác định loại mô bệnh học để có cách điều trị thích hợp.

2. Phân biệt ung thư xương với các bệnh dễ nhầm khác.

-Viêm tuỷ xương cấp di vi khuẩn sinh mủ.

Nguyên nhân chủ yếu do tụ cấu chiếm 75%, sau đó là liên cầu tan huyết nhóm A. Khởi phát bệnh ở người lớn thường không rầm rộ như trẻ em. Tăng cảm giác đau tại chỗ, sau đó có thể sưng đau phần mềm. Trên phim chụp X quang giai đoạn sớm thường không có gì đặc biệt. Giai đoạn sau có thể có hình ảnh mất ranh giới các mô, mất chất khoáng xương, thay đổi cấu trúc màng xương và viêm màng xương. Cần xét nghiệm chọc hút tuỷ xương và màng xương để cấy vi khuẩn giúp chẩn đoán.

Tuy viêm tuỷ xương bán cấp có triệu chứng trên phim Xquang và xạ hình xương giống với ung thư xương. Tuy nhiên trên lâm sàng thường kèm theo sốt, tốc độ máu lắng tăng. Chọc hút khối u có thể có mủ, có thể nuôi cấy mủ tìm vi khuẩn.

Đặc biệt những khối u phần mềm ở chi phát triển mạnh, kích thước lớn gây biến dạng tại chỗ, làm lệch sự đối xứng của chi. Khi khối u hoại tử, xâm lấn vào xương có thể gây đau nhiều, gãy xương bệnh lý. Chụp Xquang thường có dày màng xương, tiêu xương, gãy xương. Chụp MRI thấy hình ảnh các khối u phần mềm xâm lấn vào xương. Cần làm xét nghiệm mô bệnh học để chẩn đoán xác định.

Các triệu chứng thường gặp là đau, tổn thương thần kinh, gãy xương bệnh lý, khối u xương. Đôi khi phát hiện có tăng canxi máu. Các bệnh thường di căn xương là ung thư phổi, ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư đường tiêu hoá trên, ung thư thận.

Ung Thư Xương Có Triệu Chứng Gì ? / 2023

Ung thư xương rất nguy hiểm nếu bệnh tiến triển nặng mà không có phương pháp cấp cứu kịp thời sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, thậm chí tàn phế suốt đời.

Ung thư xương là ung thư liên kết (sacôm) xuất phát từ tế bào tạo xương, tạo sụn, tế bào mô liên kết của xương. Ung thư xương thường gặp ở gần gối, xa khuỷu, nghĩa là hay gặp ở đầu trên xương chày, đầu dưới xương đùi (gần gối), đầu trên xương cánh tay, đầu dưới xương quay (xa khuỷu).

Ung thư xương nguyên phát cần phải phân biệt với ung thư ở vị trí khác di căn tới xương.

Phân biệt các loại ung thư xương:

Sarcoma xương: loại ung thư này xuất hiện ở mô dạng xương. Loại ung thư này thường xảy ra ở đầu gối và cánh tay.

Sarcoma sụn: ung thư ở mô sụn.

Ung thư có tính chất gia đình Ewing Sarcoma (ESFTs): ung thư thường hiện diện ở xương, cũng có thể ở mô mềm (cơ, mô mỡ, mô sợi, mạch máu, hay mô nâng đỡ khác). Loại này thường xuất hiện ở dọc xương sống, xương chậu, ở cẳng chân hay cánh tay.

Ung thư xương đa phần là ung thư thứ phát do các tế bào ung thư của các cơ quan khác trong cơ thể di căn tới, chỉ có một số trường hợp là ung thư xương nguyên phát.

Ung thư xương thứ phát: Đa số ung thư xương là ung thư thứ phát do di căn từ vị trí khác của cơ thể (vú, phổi, tuyến giáp…)

Hiện nay, các nhà khoa học vẫn chưa chắc chắn về nguyên nhân đích xác gây bệnh ung thư xương nguyên phát, tất cả đều chỉ là những yếu tố nguy cơ. Một số người mắc bệnh Paget xương – một tổn thương có sự phát triển bất thường của những tế bào xương mới làm tăng nguy cơ mắc ung thư xương.

Ngoài ra, ung thư xương cũng có thể do yếu tố di truyền:

Mắc hội chứng Li -Fraumeni

Mắc hội chứng Rothmund – Thomson

U nguyên bào võng mạc di truyền

Cùng với đó, người thường xuyên tiếp xúc với bức xạ năng lượng cao cũng có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư xương, nhất là những người tiếp xúc từ khi còn trẻ.

Ngoài ra, những người bị rối loạn gene ức chế ung thư P53 hoặc bị chấn thương mãn tính ở đầu dưới xương đùi, đầu trên xương chày cũng có nhiều nguy cơ mắc bệnh ung thư xương.

Biểu hiện ung thư xương phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh.

Ung thư xương giai đoạn đầu

Triệu chứng mơ hồ, nếu không chú ý sẽ dễ bị bỏ qua

Ung thư xương giai đoạn tiến triển

Bệnh nhân mệt mỏi, gầy sút cân không rõ nguyên nhân, có thể sốt nhẹ

Đau xương tăng dần, cảm giác xương yếu đi rõ rệt. Đau liên tục, dùng thuốc giảm đau không đỡ.

Vị trí xương bị bệnh có thể sưng to lên.

Có thể gãy xương không do chấn thương

Nổi hạch ngoại vi rắn chắc, di động hạn chế

Vị trí hay gặp ung thư xương

Thường gặp ở “gần gối, xa khuỷu” (đầu trên xương chày, đầu dưới xương đùi, đầu trên xương cánh tay, đầu dưới xương quay)

Ung thư xương chủ yếu gặp ở xương dài, một số ở xương dẹt như xương chậu, xương bả vai.

Ung thư có hai nhóm giai đoạn chính, giai đoạn đầu và giai đoạn sau.

Ung thư xương giai đoạn đầu

Giai đoạn đầu tiên của ung thư xương gồm giai đoạn I và giai đoạn II.

Giai đoạn I: ung thư phát triển chỉ trong xương, chưa lan sang các khu vực khác của cơ thể. Sau khi thực hiện xét nghiệm sinh thiết, xác định ung thư xương giai đoạn I thuộc cấp độ nhẹ, không quá nguy hiểm đến tính mạng nếu được điều trị đúng cách.

Giai đoạn II: cấp độ trung bình, ung thư phát triển giới hạn ở trong xương, chưa lan ra hạch bạch huyết xung quanh hay các vị trí khác của cơ thể. Ở giai đoạn II, bệnh ung thư xương vẫn có tiên lượng tương đối tốt.

Ung thư xương giai đoạn sau

Giai đoạn III: ung thư xương xuất hiện ở 2 hoặc nhiều vị trí khác nhau trên cùng một xương và đã lan ra bề mặt của xương nhưng chưa phát triển hay xâm lấn vào các hạch bạch huyết xung quanh xương hoặc các mô lân cận.

Giai đoạn IV: ung thư đã lan rộng từ xương ra các hạch bạch huyết, mạch máu lớn để di căn đến gan, não, phổi,…

Các yếu tố nguy cơ của ung thư xương nguyên phát bao gồm:

Di truyền: Có người thân trong gia đình mắc các hội chứng Li-Fraumeni, Rothmund-Thomson, u nguyên bào võng mạc…

Bệnh Paget xương: do rối loạn tạo xương và hủy xương dẫn đến hình thành một tổ chức xương mới có cấu trúc bất thường.

Tiền sử phơi nhiễm phóng xạ

Chẩn đoán ung thư xương dựa vào các cận lâm sàng sau:

Chụp X-quang xương thẳng nghiêng: xác định số lượng, vị trí, ranh giới tổn thương và đánh giá sự xâm lấn phần mềm

Chụp cắt lớp vi tính: đánh giá mức độ lan rộng của tổn thương trong xương, trong tủy xương hay ngoài xương.

Chụp cộng hưởng từ MRI: đánh giá sự lan rộng của tổn thương trong xương, trong tủy xương, mô mềm, xâm lấn thần kinh, mạch máu

Chụp xạ hình xương: xác định giới hạn tổn thương, theo dõi tiến triển và đánh giá kết quả điều trị

Chụp PET/CT: phát hiện và theo dõi sarcoma phần mềm, sarcoma xương tái phát, di căn xa. Phân biệt các tổn thương ác tính và lành tính.

Sinh thiết: Sinh thiết mở hoặc sinh thiết kim lớn giúp chẩn đoán, phân loại và xác định độ ác tính của tổn thương.

Các xét nghiệm khác: Siêu âm ổ bụng, chụp X quang phổi giúp xác định tình trạng di căn

Có những phương pháp điều trị ung thư xương chính: Phẫu thuật, hóa chất và xạ trị.

Phẫu thuật: Hóa chất: Xạ trị:

Ung thư xương là một căn bệnh nguy hiểm khi mà nó có thể dễ dàng lấy đi một bộ phận trên cơ thể bạn cho dù có thể điều trị kịp thời và chữa khỏi bệnh. Chính vì thế, việc phòng ngừa bệnh một cách chủ động là giải pháp tối ưu để bảo vệ cơ thể.

Việc phòng ngừa tái phát và mắc mới ung thư xương có những điểm chung như sau:

Chế độ dinh dưỡng hợp lý: Khẩu phần bổ sung canxi, magie và stronti; giảm lượng chất béo, tăng cường trái cây, rau xanh, ăn nhiều cá..

Duy trì lối sống khỏe mạnh: tránh xa khói thuốc, thường xuyên giải tỏa căng thẳng..

Hạn chế tiếp xúc với không khí ô nhiễm và tia UV trong ánh nắng mặt trời.

Tập thể dục thể thao thường xuyên làm tăng khả năng miễn dịch, giúp xương luôn chắc khỏe.

Tránh tiếp xúc với hóa trị và xạ trị.

Cảnh giác với nguy cơ mắc bệnh như dấu hiệu, tiền sử bệnh gia đình.

Cùng với các chuyên gia nghiên cứu hàng đầu tại Mỹ, trong đó có nghiên cứu sinh của Việt Nam đó là B.sĩ, Th.sĩ Phan Đăng Bình đã nghiên cứu và tìm ra một loại sản phẩm tương tác lên bệnh lý của sụn khớp một cách hiệu quả đó là sản phẩm ” Bổ xương khớp Bi-JCare” phòng ngừa bệnh ung thư xương . Bi-Jcare phòng ngừa ung thư xương, phòng ngừa tái phát,được chiết xuất hoàn toàn từ thiên nhiên,tiêu diệt tế bào ung thư từ trong trứng nước và tăng cường khả năng miễn dịch.

Bi-Jcare là một công thức đặc biệt đáp ứng được nhu cầu cấp thiết trong công tác phòng chống và chữa trị các bệnh lý xương khớp ngày càng gia tăng. Sản phẩm đã nhiều năm nghiên cứu và kiểm nghiệm thành công và được cục quản lý dược, bộ y tế FDA Hoa Kỳ chứng nhận và công bố sản phẩm đạt tiêu chuẩn và được lưu hành trên thị trường Mỹ nhiều năm nay.

Triệu Chứng Của Bệnh Ung Thư Xương / 2023

Trẻ em và thiếu niên có nhiều khả năng mắc bệnh ung thư xương hơn người trưởng thành.

Ung thư xương nguyên phát được gọi là “sarcoma”. Có nhiều loại sarcoma, mỗi thể bắt đầu từ một loại mô xương khác nhau. Thường thấy nhất là: sarcoma xương, Ewing’s sarcoma, và sarcoma sụn.

Sarcoma xương là loại thường thấy nhất của ung thư xương ở thiếu niên. Bệnh thường xuất hiện khoảng từ 10 đến 25 tuổi. Nammắc bệnh nhiều hơn nữ. Sarcoma xương thường xuất hiện ở đầu xương, nơi đó mô xương mới được hình thành ở tuổi thiếu niên. Sarcoma xương ảnh hưởng chủ yếu xương dài của cánh tay và chân.

Ewing’s sarcoma thường thấy khoảng 10- 25 tuổi. Thiếu niên bị ảnh hưởng nhiều nhất. Ung thư này hình thành ở phần giữa (thân xương) của những xương lớn. Xương bị ảnh hưởng nhiều nhất là xương hông và xương dài ở đùi, tay. Ung thư này có thể xảy ra ở xương sườn.

Sarcoma sụn chủ yếu ở người lớn. Loại u này hình thành trong sụn (mô mềm dẻo xung quanh khớp).

Những loại ung thư xương khác bao gồm : sarcoma sợi, u tế bào khổng lồ ác tính, u sụn. Những người trên 30 tuổi hiếm khi mắc những loại này.

Ung thư xương nguyên phát thì hiếm. Mặt khác, ung thư xương thường do di căn từ các cơ quan khác. Khi điều này xảy ra, bệnh không được gọi là ung thư xương. Mỗi loại ung thư được đặt tên theo cơ quan hoặc mô bị ung thư nguyên phát. Điều trị ung thư xương thứ phát phụ thuộc vào loại ung thư nguyên phát và sự di căn của nó.

Ung thư bắt đầu từ cơ, mỡ, dây thần kinh, mạch máu, và những mô liên kết hay nâng đỡ khác trong có thể gọi là sarcoma mô mềm. Bệnh xảy ra ở người lớn và trẻ em. Nhưng không bàn luận ở đây.

Leukemia, đa u tuỷ, và u lympho là ung thư bắt nguồn từ tế bào ở tủy xương. Đây là những bệnh khác nhau và không phải là ung thư xương.

TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH UNG THƯ XƯƠNG

Cơ thể con người có khoảng hơn 200 chiếc xương với các hình dạng và kích thước khác nhau. Xương có các tế bào sống kết nối với nhau bởi một loại vật chất cứng như canxi. Vật chất này giúp cho bộ xương khoẻ và cứng. Xương có cấu tạo rỗng bên trong chứa một loại chất xốp gọi là tuỷ để sản xuất ra các tế bào máu.

Đầu các khớp xương được bao bọc bởi một lớp xương sụn. Đây là một chất cứng, có đàn hồi. Vì xương sụn có độ đàn hồi hơn xương nên nó giúp xương cử động một cách thoải mái giữa các khớp. Nó còn đóng vai trò là đệm ở khớp xương để ngăn không cho xương cọ xát với nhau.

Bộ xương có một số chức năng quan trọng. Bộ xương tạo cho cơ thể một điểm dựa vững chắc và các khớp xương đóng vai trò như những chiếc đòn bẩy giúp cơ thể di chuyển. Bộ xương còn giúp bảo vệ các cơ quan trong cơ thể, ví dụ như lồng ngực bảo vệ tim và phổi. Nó còn chứa một số loại chất khoáng quan trọng trong cơ thể, đặc biệt là canxi.

Nguyên nhân

Người ta chưa tìm ra được nguyên nhân chính xác gây ra bệnh ung thư xương này. Các nghiên cứu vẫn đang được tiếp tục tiến hành để tìm ra nguyên nhân. Vì bệnh ung thư xương xuất hiện nhiều ở lứa tuổi thiếu niên và những người trẻ tuổi nên ở một khía cạnh nào, người ta đó liên hệ nó với những sự thay đổi khi xương phát triển.

Bệnh lành tính của xương: có thể chuyển hóa thành ung thư – u tế bào khổng lồ, các chồi xương.

Tia xạ: một số trường hợp dùng tia xạ thấy ung thư tiến triển tại xương.

Chấn thương mãn tính: tỉ lệ ung thư xương cao hơn ở những bệnh nhân có chấn thương tại đầu dưới xương đùi, đầu trên xương chày do tai nạn. Những chấn thương mãn tính có thể kích thích tạo nên ung thư.

Rối loạn gen ức chế ung thư

Triệu chứng

Những cơn đau hoặc mềm mềm ở khu vực khối u: bắt đầu bằng những cơn đau kéo dài và đau nhiều vào ban đêm khi cơ bắp thư giãn. Đối với trẻ em, triệu chứng này có thể bị nhầm thành bong gân hoặc sự phát triển của xương lúc dậy thì. Nếu trẻ có các triệu chứng đau xương nhiều vào đêm thì tốt nhất bạn nên đưa trẻ đi khám bác sĩ.

Sưng vù xung quanh vùng xương bị ảnh hưởng: biểu hiện sẽ không rõ cho đến khi khối u phát triển tương đối to. Không phải lúc nào cũng nhìn thấy hoặc cảm nhận thấy khối u nếu phần xương bị ảnh hưởng nằm sâu trong các mô thịt.

Giảm khả năng cử động: nếu ung thư nằm ở gần khớp, khối u có thể làm khớp đó cử động khó khăn và do vậy ảnh hưởng đến sự di chuyển của toàn bộ chi này. Nếu ung thư nằm ở xương sống, nó sẽ tạo sức ép lên các dây chằng trong xương sống và làm các chi yếu đi, tê liệt hoặc đau nhói.

Gãy xương: Trong một số trường hợp, ung thư xương đôi khi được phát hiện ra khi một xương nào đó bị yếu đi do ung thư và gẫy khi bạn bị ngã nhẹ hoặc bị tai nạn.

Các triệu chứng trên toàn cơ thể: mệt mỏi, sốt cao hoặc ra mồ hôi, giảm cân.

CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ MẮC UNG THƯ XƯƠNG

Hầu hết các bệnh ung thư xương xảy ra ở những người có yếu tố nguy cơ có thể nhận dạng. Nó không được biết những gì gây ra ung thư xương, nhưng yếu tố làm tăng nguy cơ ung thư xương bao gồm:

Hội chứng di truyền

Một số hội chứng di truyền hiếm qua các gia đình làm tăng nguy cơ ung thư xương, bao gồm hội chứng Li- Fraumeni, hội chứng Rothmund – Thomson, retinoblastoma cha truyền con nối và exostoses.

Bệnh Paget xương

Tình trạng tiền ung thư này có ảnh hưởng đến người lớn tuổi làm tăng nguy cơ ung thư xương.

Xạ trị cho bệnh ung thư

Tiếp xúc với liều lượng lớn bức xạ, như là những người trong thời gian xạ trị ung thư, tăng nguy cơ ung thư xương trong tương lai.

CÁC GIAI ĐOẠN BỆNH UNG THƯ XƯƠNG

Ung thư xương là một bệnh ung thư thường bắt đầu ở xương. Ung thư xương có thể bắt đầu ở bất kỳ xương nào trong cơ thể, nhưng phổ biến nhất là ảnh hưởng đến xương dài tạo nên những cánh tay và chân.

Giai đoạn I

Ở giai đoạn này, ung thư xương được giới hạn trong xương và không lây lan sang các khu vực khác của cơ thể. Sau khi thử nghiệm sinh thiết, ung thư ở giai đoạn này được xem là cấp thấp và không được xem là tích cực.

Giai đoạn II

Giai đoạn này của bệnh ung thư xương được giới hạn trong xương và không lây lan sang các khu vực khác của cơ thể. Nhưng thử nghiệm sinh thiết cho thấy bệnh ung thư xương là loại cao cấp và được xem là tích cực.

Giai đoạn III

Ở giai đoạn này, ung thư xương xảy ra ở hai hoặc nhiều nơi trên cùng một xương.

Giai đoạn IV

Giai đoạn này của bệnh ung thư xương cho thấy rằng ung thư đã lan rộng từ xương tới các khu vực khác của cơ thể, chẳng hạn như não, gan hoặc phổi.

Để chẩn đoán ung thư xương, bác sĩ sẽ hỏi tiền sử của bản thân và gia đình, và khám lâm sàng toàn diện. Ngoài ra còn kiểm tra tổng trạng, xét nghiệm máu, chụp x quang. X quang có thể cho thấy vị trí, kích thước và hình dạng u: U lành thường tròn, bờ rõ; ung thư xương thường có nhiều hình dạng và bờ không đều.

Nếu x quang thấy nghi ngờ ung thư xương, một số xét nghiệm chuyên biệt sau có thể được làm. Những xét nghiệm này còn cho biết ung thư xương di căn hay chưa.

Xạ hình xương cho thấy kích thước, hình dạng, và vị trí của vùng bất thường trên xương. Một lượng nhỏ chất phóng xạ được tiêm vào máu. Xương hấp thu chất này và được phát hiện bởi một dụng cụ đặc biệt gọi là scan.

CT scan hay CAT scan là kỹ thuật x quang cho biết chi tiết những hình ảnh cắt ngang của CT, nhờ một máy vi tính.

MRI (hình ảnh cộng hưởng từ) cũng cho biết chi tiết những hình ảnh cắt ngang. MRI sử dụng từ trường rất mạnh liên kết với máy vi tính.

Chụp mạch máu là chụp x quang mạch máu. Chất cản quang được tiêm vào mạch máu vì vậy thấy chi tiết mạch máu, xét nghiệm này cũng được làm để giúp ích kế hoạch phẫu thuật.

Sinh thiết là cách chắc chắn để nói có ung thư hay không. Sinh thiết tốt nhất nên làm ở bệnh viện nơi có các bác sĩ kinh nghiệm về chẩn đoán ung thư xương. Bác sĩ lấy một mẫu mô từ u xương. Chuyên viên giải phẫu bệnh xem mẫu đó dưới kính hiển vi, nếu thấy ung thư thì anh ta có thể cho biết loại sarcoma và khả năng phát triển nhanh hay chậm.

Nếu đã chẩn đoán ung thư xương thì điều quan trọng cần xác định là nguyên phát hay thứ phát. Dữ kiện này rất quan trọng trong điều trị. Kết quả khám lâm sàng, xét nghiệm, x quang, chụp cắt lớp (scan), và sinh thiết được sử dụng để phân chia ung thư. Giai đoạn ung thư xác định ung thư đã di căn hay chưa và bao nhiêu mô bị ảnh hưởng.

ĐIỀU TRỊ BỆNH UNG THƯ XƯƠNG

Nhiều yếu tố được xem xét để quyết định phương pháp điều trị tốt nhất. Đó là : loại, vị trí, kích thước, sự lan rộng, tuổi tác, tổng trạng. Một kế hoạch điều trị được vạch ra phù hợp với nhu cầu mỗi bệnh nhân.

Các phương pháp điều trị

phẫu thuật xạ trị, hoá trị. Bác sĩ thường phối hợp phương pháp điều trị phụ thuộc sự cần thiết của bệnh nhân. Bệnh nhân có thể được giới thiệu đến những bác sĩ chuyên về điều trị các loại ung thư. Thường thường, các chuyên gia làm việc với nhau như một đội; gồm: phẫu thuật viên, chuyên gia ung thư ở nhi và chuyên gia xạ trị.

Phẫu thuật là một phần của điều trị ung thư xương. Bởi vì, bệnh có thể tái phát gần vị trí ban đầu, phẫu thuật viên lấy u và một phần xương lành và mô lành khác xung quanh u.

Khi ung thư xương ở một cánh tay hay chân, phẫu thuật viên cố gắng lấy u và một vùng mô lành xung quanh u. Thỉnh thoảng phẫu thuật viên có thể sử dụng một dụng cụ kim loại để thay thế phần xương bị lấy đi. Ở trẻ em, thay thế dụng cụ kim loại có thể kéo dài khi trẻ lớn. Cách thức bảo tồn chi này cần nhiều lần phẫu thuật để giữ sự kéo dài chi nhân tạo.

Tuy nhiên, khi u lớn có lẽ đoạn chi là cần thiết. Nếu đoạn chi thì cần làm chi giả: chân, cánh tay, bàn tay, bàn chân.

Hoá trị là dùng thuốc giết tế bào ung thư. Thường phối hợp từ 3 loại thuốc trở lên, thuốc có thể uống hay tiêm vào cơ hay mạch máu. Thuốc theo dòng máu đi khắp cơ thể. Hoá trị được tiến hành nhiều đợt: sau một đợt điều trị là một khoảng thời gian hồi phục, tiếp sau đó là một điều trị mới và tiếp tục nhiều đợt.

Một số bệnh nhân điều trị hoá trị ngoại trú bệnh viện, dưỡng đường, hay phòng khám tại nhà của bác sĩ. Tuy nhiên, tuỳ theo loại thuốc điều trị bệnh nhân cần phải ở trong bệnh viện một thời gian ngắn.

Hoá trị luôn phối hợp với phẫu thuật ung thư xương. Đôi lúc, hoá trị được dùng để thu nhỏ kích thước u trước khi phẫu thuật. Hoá trị còn là một điều trị hỗ trợ sau phẫu thuật để diệt hết những tế bào ung thư có thể còn sót lại trong cơ thể và phòng ngừa tái phát. Có khi bệnh nhân được hoá trị trước và sau phẫu thuật. Đối với vài loại ung thư xương hoá trị phối hợp với xạ trị. Hoá trị có thể được dùng để kiểm soát ung thư xương có di căn.

Xạ trị là dùng tia xạ năng lượng cao để làm tổn thương tế bào ung thư và ngăn chúng phát triển. Vài trường hợp, xạ trị dùng thay thế phẫu thuật để phá huỷ u hay những tế bào ung thư còn sót lại sau phẫu thuật.

Bệnh nhân cần phải đến bệnh viện hay dưỡng đường mỗi ngày để xạ trị. Thường điều trị 5 ngày một tuần, trong 5 đến 8 tuần.

Tác dụng phụ của điều trị ung thư xương ?

Các phương pháp điều trị ung thư xương rất mạnh. Thật khó khăn để hạn chế những ảnh hưởng của điều trị, không những tế bào ung thư bị phá hủy mà tế bào bình thường cũng bị tổn thương. Điều đó cho thấy tại sao việc điều trị gây ra nhiều tác dụng phụ. Tác dụng phụ tùy thuộc vào phương pháp điều trị và vị trí u.

Phẫu thuật ung thư xương là một đại phẫu. Vùng phẫu thuật phải được theo dõi cẩn thận về nhiễm trùng. Phục hồi chức năng là phần quan trọng sau phẫu thuật .

Tác dụng phụ của hoá trị phụ thuộc loại thuốc điều trị, và mỗi người có phản ứng khác nhau. Hoá trị ảnh hưởng tế bào đang phát triển, như tế bào tạo máu và tế bào lót đường tiêu hoá. Kết quả là bệnh nhân bị tác dụng phụ như: dễ nhiễm trùng, chán ăn, buồn nôn, ói, loét miệng, cảm giác yếu sức, rụng tóc. Những tác dụng phụ này ảnh hưởng trong thời gian ngắn và thường hết khi ngưng điều trị.

Trong thời gian xạ trị, bệnh nhân có thể rất mệt mỏi vì điều trị liên tục. Quan trọng là nghỉ ngơi càng nhiều càng tốt. Vùng điều trị trị thường có phản ứng da đỏ hay khô, và da nên được bảo vệ dưới ánh nắng mặt trời, chăm sóc cẩn thận, không sử dụng dung dịch hay kem thoa lên da mà không có ý kiến bác sĩ.

Đối với vài bệnh nhân, cần thiết phải khám răng miệng trước khi điều trị. Bởi vì, điều trị ung thư có thể làm miệng nhạy cảm và dễ nhiễm trùng.

Chán ăn có thể là vấn đề trong quá trình điều trị ung thư. Ăn uống giúp bệnh nhân có thể chống lại tác dụng phụ tốt hơn, vì vậy dinh dưỡng tốt là quan trọng. Ăn tốt nghĩa là đủ năng lượng để ngăn không sụt cân và đủ đạm phục hồi, tái tạo lại mô bình thường. Nhiều bệnh nhân nhận thấy ăn nhiều bữa nhỏ và ít tốt hơn là ba bữa lớn trong ngày.

Tác dụng phụ gặp phải trong điều trị thì thay đổi ở mỗi bệnh nhân. Thậm chí, khác nhau giữa những đợt điều trị. Nhiều nỗ lực để những tác dụng phụ này xảy ra ít nhất. May mắn thay, những tác dụng này là tạm thời. Bác sĩ, y tá, chuyên gia dinh dưỡng có thể giải thích tác dụng phụ do điều trị ung thư và đề nghị cách giải quyết.

Các nhà nghiên cứu quan tâm khả năng tác dụng phụ lâu dài ở người trẻ được điều trị với xạ trị và hoá trị, phụ thuộc vào vị trí u và cách điều trị. Vài loại hoá trị ảnh hưởng khả năng sinh sản của bệnh nhân. Nếu tác dụng phụ này thường xuyên nó có thể gây vô sinh, cả nam và nữ. Xạ trị có thể làm tăng khả năng u tái phát sẽ phát triển sau đó ở vùng đã điều trị. Bác sĩ có thể bàn bạc chi tiết với bệnh nhân và gia đình về những tác dụng phụ này.

Theo dõi đều đặn sau điều trị ung thư xương là điều quan trọng. Bác sĩ sẽ kiểm tra bệnh nhân chặt chẽ trong vài năm để chắc chắn ung thư không tái phát hay điều trị nhanh chóng nếu nó tái phát. Kiểm tra gồm: khám lâm sàng, xét nghiệm máu, X- quang, scan, và một số cận lâm sàng khác.

Điều trị ung thư có thể gây tác dụng phụ nhiều năm sau đó. Vì lý do này, bệnh nhân nên tiếp tục kiểm tra định kỳ và cho bác sĩ biết ngay bất cứ vấn đề nào mới xuất hiện.

Bệnh nhân bị đoạn chi cần trị liệu vật lý. Các nhà vật lý trị liệu và bác sĩ chuyên về phục hồi chức năng giúp bệnh nhân học cách thực hiện những hoạt động hằng ngày theo cách mới, cách sử dụng chi giả.

Chẩn đoán ung thư làm thay đổi cuộc sống bệnh nhân và người thân của họ. Những thay đổi này khó có thể điều khiển được. Bệnh nhân, gia đình họ và bạn bè có nhiều cảm xúc khác nhau và đôi lúc lại lo sợ, hoang mang khi nghe nói bị ung thư.

Lúc này, bệnh nhân và người thân cảm thấy sợ hãi, giận dữ, hay trầm cảm. Đây là phản ứng bình thường khi họ đối mặt với vấn đề sức khoẻ nghiêm trọng. Những bệnh nhân trẻ em và thiếu niên, thường có thể đương đầu những vấn đề này tốt hơn nếu họ có thể nói thoải mái về sức khoẻ và cảm xúc của họ với gia đình và bạn bè. Chia sẻ cảm xúc với người khác có thể giúp mọi người thấy dễ chịu hơn, đó là cách để người khác thấy sự lo âu và yêu cầu hỗ trợ của họ.

Mối quan tâm tương lai, như lo lắng về các kiểm tra, điều trị, nhập viện, viện phí. Việc nói với bác sĩ, y tá, nhân viên chăm sóc sức khoẻ có thể trấn an lo âu và cảm giác sợ hãi. Bệnh nhân có vai trò quyết định về việc chăm sóc và lựa chọn điều trị bằng cách đặt câu hỏi về ung thư xương. Họ có thể hỏi bất cứ điều gì mà họ thắc mắc, chưa tường tận. Bệnh nhân và gia đình có nhiều câu hỏi quan trọng và bác sĩ là người hợp lý nhất để trả lời.

Thỉnh thoảng, bệnh nhân dùng con số thống kê ước tính cơ hội chữa trị của họ. Tuy nhiên, nên nhớ rằng đây chỉ số liệu trung bình, chúng được tính dựa trên số lượng lớn và không có hai bệnh nhân ung thư nào hoàn toàn giống nhau. Chỉ bác sĩ theo dõi trực tiếp bệnh nhân mới hiểu rõ tình hình để bàn bạc về cơ hội hồi phục (tiên lượng). Bác sĩ thường dùng từ “sống sót” hay “lui bệnh” hơn là khỏi bệnh. Ngay cả nhiều bệnh nhân ung thư xương hoàn toàn hồi phục, bởi vì bệnh có thể tái phát.

Bệnh nhân ung thư xương có thể lo lắng về việc đoạn chi hay phẫu thuật khác sẽ ảnh hưởng đến không những vẻ bề ngoài của họ mà còn cảm nghĩ người khác về họ. Cha mẹ có thể lo lắng con họ không thể tham gia hoạt động bình thường ở trường học hay hoạt động xã hội. Người lớn (đã phẫu thuật lớn) lo âu về việc làm, tham gia hoạt động xã hội và chăm sóc gia đình.

Nhà vật lý trị liệu có thể giúp bệnh nhân thực hiện cách thức mới để làm việc. Đặc biệt quan trọng đối với những người mất một phần hay cả chi và học sử dụng chi giả.

Học cách sống với những thay đổi do bệnh ung thư xương sẽ dễ dàng hơn cho bệnh nhân và những người chăm sóc họ khi họ có sự trợ giúp thông tin và dịch vụ nâng đỡ. Nhiều bệnh nhân cảm thấy có ít khinói chuyện với những người có hoàn cảnh giống họ, họ có thể gặp những người này do tự liên lạc hay nhờ nhóm trợ giúp.

Ung Thư Xương: Nguyên Nhân, Triệu Chứng Và Chữa Khỏi Ung Thư Xương / 2023

Ung thư xương là gì? Nguyên nhân gây bệnh ung thư xương có lây không. Triệu chứng dấu hiệu bệnh ung thư xương. Các giai đoạn ung thư xương di căn sống được bao lâu. Phương pháp điều trị chữa khỏi ung thư xương. Chi phí khám chữa ung thư xương ở đâu. Hình ảnh ung thư xương. Cách chăm sóc bệnh ung thư xương ăn uống gì.

Ung thư xương là căn bệnh hiếm gặp, chiếm khoảng 0,5% trong toàn bộ ung thư. Bệnh ung thư xương thường xuất hiện ở các vị trí như gần gối, xa khuỷu. Bệnh thường xảy ra ở đầu trên xương chày, đầu dưới xương đùi (gần gối), đầu trên xương cánh tay, đầu dưới xương quay (xa khuỷu).

Ung thư xương là loại ung thư do xuất hiện những tế bào phát triển bất thường trong xương. Các khối u có thể xuất hiện ở bất cứ xương nào trong cơ thể, song thường thấy nhất ở các đốt xương dài như xương tay, xương chân. Khi khối u xuất hiện, xương sẽ yếu đi nhanh chóng, các khớp sưng tấy, có thể dẫn tới gãy xương bệnh lý, sốt, mệt mỏi, thiếu máu, sút cân nhanh…

Dựa trên các loại tế bào khối u – Nơi ung thư hình thành, bệnh ung thư xương được làm 3 loại riêng biệt:

– U xương ác tính (Sarcoma xương):

Đây là loại ung thư xương khởi phát ngay trong các tế bào xương. Trẻ em và trẻ vị thành niên là đối tượng dễ mắc ung thư xương loại này nhất. Khi qua tuổi dậy thì cấu trúc cơ xương, khớp phát triển mạnh là thời điểm dễ xảy ra các bất thường dẫn đến ung thư xương. Loại ung thư này thường xảy ra ở đầu gối và cánh tay.

– U sụn (Sarcoma sụn):

Loại ung thư này được tìm thấy trong các tế bào ở đầu các khớp xương. Khác với u xương ác tính, loại ung thư này thường xuất hiện ở nhóm người lớn tuổi (từ 40 tuổi trở lên). Loại này xuất hiện ở xương chậu, đùi và vai.

– U mô mềm (Ewing Sarcoma – ESFTs):

Dạng ung thư này có thể khởi phát từ mô thần kinh trong xương. U mô mềm là loại thường khó xác định chính xác nơi khối u bắt đầu. Các loại mô mềm ở đây có thể là cơ, mô mỡ, mô sợi, mạch máu, hay mô nâng đỡ khác. Đối tượng mắc bệnh của loại này cũng là trẻ em và trẻ vị thành niên.

Loại này thường xuất hiện ở dọc xương sống, xương chậu, ở cẳng chân hay cánh tay.

Bệnh ung thư xương rất nguy hiểm và hiếm gặp lại khó phát hiện. Nếu giả định trên thế giới có 20% số người mắc ung thư được chẩn đoán là ung thư xương thì chỉ có 1,5 % số người mắc ung thư xương được chữa khỏi. Bệnh ung thư xương có thể chữa được nếu được phát hiện sớm và điều trị đúng liệu trình.

Đây là một căn bệnh ung thư nguy hiểm nhất bởi khả năng lây lăn và di căn của các khối u. Chúng xâm lấn thường xuyên và liên tục để tiêu diệt các cơ quan xung quanh và có thể di căn đi cư trú ở rất xa. Nếu so với khối ung thư khác thì ung thư xương có tốc độ di căn nhanh gấp 3 – 4 lần.

Ung thư xương xảy ra ở phần xương mềm và tủy bên trong. Tủy xương là vị trí tạo máu cho nên các tế bào khối u dễ dàng theo dòng máu đi khắp nơi trong cơ thể. Nó có thể đi được một đoạn đường rất xa trước khi chúng ta tìm ra bệnh.

Bệnh ung thư xương có khả năng sống cao hơn khi khối u chưa di căn. Tuy nhiên, theo các bác sĩ, bệnh K di căn rất nhanh, nhanh đến mức khi chúng ta phát hiện bệnh thì các khối u ung thư đã di căn đến gần nửa cơ thể.

Nếu chăm sóc tốt và điều trị bệnh kiên trì, người bệnh có thể sống được từ 5 – 6 năm tính từ sau khi bị gãy tay, gãy chân do ung thư xương. Khi bị K xương, người bệnh có thể phải chặt tay, chặt chân để khối u không lây lan sang các bộ phận khác.

Nguyên nhân gây ung thư xương

Có những nguyên nhân nào dẫn đến bệnh ung thư xương? Khi xác định được nguyên nhân gây bệnh, bạn sẽ biết được bệnh ung thư này có lây hay không?

– Hội chứng Li – Fraumeni:

Hội chứng này có đặc điểm là làm tăng nguy cơ mắc ung thư của nhiều loại ung thư khác nhau gồm sarcom xương, ung thư vú, ung thư buồng trứng, ung thư máu…

– Hội chứng Rothmund – Thomson:

Gây ra tình trạng vóc dáng thấp bé, biến đổi xương, phát ban và làm tăng nguy cơ mắc ung thư xương.

– Bệnh u nguyên bào võng mạc di truyền:

– Những bệnh nhân ung thư xương thường có chồi xương sụn mọc tại vị trí nối bản sụn với đầu xương dài và đây được coi là bệnh di truyền. Các nhà nghiên cứu cho rằng sự rối loạn gene ức chế ung thư P53 là nguyên nhân khiến cơ thể không kiểm soát được sự phân chia và tạo thành tế bào ung thư của các tế bào mang gene biến dị.

Bức xạ ion hóa là khi các tác nhân vật lý từ bên ngoài tác động vào có thể làm biến đổi các cấu trúc cơ thể dẫn tới ung thư.

Phơi nhiễm bức xạ liều cao như tiến hành xạ trị để điều trị một bệnh ung thư có thể làm tăng nguy cơ ung thư xương.

Các khoáng chất phóng xạ như radium hay stronti được tích tụ trong xương lâu dần có thể gây bệnh ung thư xương nguyên phát. Theo thống kê ở Mỹ, có tới 18% bệnh nhân mắc ung thư xương do tia xạ.

Ung thư xương xuất hiện nhiều ở nhóm đối tượng là trẻ em và trẻ trong độ tuổi thanh thiếu niên, nên nguyên nhân của bệnh có mối liên hệ khá tương thích với những sự thay đổi về cấu trúc xương của cơ thể khi trưởng thành.

Khi đến tuổi dậy thì, hệ thống cơ bắp, xương khớp của cơ thể có những biến đổi đáng kể. Một số trường hợp chỉ cao 1,4m khi 14 tuổi, song chiều cao đã tăng lên đến 1,6m khi 16 tuổi. Điều này cho thấy tốc độ phát triển và sự thay đổi cực lớn trong cấu trúc xương. Chính ở giai đoạn này dễ xảy ra các bất thường trong cấu trúc xương của cơ thể và dẫn đến ung thư xương.

Ung thư xương được chia làm 2 nhóm:

Ung thư xương nguyên phát: Chưa có nguyên nhân rõ ràng.

Ung thư xương thứ phát: Nguyên nhân do chấn thương xương mãn tính.

Chấn thương xương là những va đập mạnh từ bên ngoài xương. Ví dụ như tai nạn giao thông, tai nạn lao động hoặc chấn thương do hoạt động thể thao… Tuy nhiên, lý do vì sao các trường hợp này lại được coi là tác nhân gây ung thư xương thì chưa thực sự được lý giải.

Trên thực tế, có một số loại ung thư xương phát triển ở vùng xương bị tổn thương, nhưng những chấn thương này là do ngẫu nhiên hay do các khối u trong xương phát triển khiến xương giòn, dễ gãy…

Tóm lại, bệnh ung thư xương xuất hiện do 2 nguyên nhân chính:

Chấn thương xương;

Thay đổi cấu trúc xương.

Từ những nguyên nhân nêu trên, có thể khẳng định bệnh ung thư xương không lây. Không có chứng minh về việc trong một gia đình, bố hoặc mẹ mắc ung thư xương khiến con gái cũng mắc bệnh.

Dấu hiệu nhận biết bệnh ung thư xương

Các triệu chứng chính của các khối u xương phát sinh sớm, bệnh ban đầu chỉ đau nhẹ, không liên tục. Cùng với sự tiến triển của bệnh, cơn đau có thể tăng dần lên. Sự phát triển của những cơn đau thường cố định.

Bệnh nhân đau nhiều hơn vào ban đêm, sự đau đớn diễn ra mơ hồ, bạn gần như không biết đau từ đâu.

Ở thời kỳ đầu, khối u có thể xuất hiện, khi sờ thấy có sự biến dạng xương. Khi sưng nhiều hơn các mô xương sẽ nhô ra ngoài, bề mặt trơn bóng hoặc lồi lõm bất thường. Sưng to ở khu vực có khối u, ấm hơn những nơi khác do khối u làm tăng sinh mạch máu và tăng tuần hoàn máu dưới da.

Khi bệnh nhân bị ung thư xương nặng vào giai đoạn muộn, bạn sẽ có cảm giác đau đớn, sưng và khó hoạt động. Có thể xuất hiện những triệu chứng teo cơ xương.

Biến dạng cơ thể là dấu hiệu cho biết bạn mắc ung thư xương

Khi các khối u phát triển mạnh lên, chúng sẽ làm ảnh hưởng lên hệ xương chi, gây ra các triệu chứng dị tật, cơ thể biến dạng, chi dưới thay đổi bất thường so với trước đó.

Một số triệu chứng khác của bệnh:

Tê liệt thần kinh, ảnh hưởng đến tiết niệu nếu khối u phát triển gần cột sống.

Xẹt đốt sống, ép tủy, chèn ép dây thần kinh cột sống làm suy yếu, tê nhói chân tay.

Các giai đoạn của bệnh ung thư xương

Theo các chuyên gia ung thư nghiên cứu, việc phân chia các giai đoạn của bệnh ung thư xương được căn cứ trên sự phát triển của khối u và tình hình di căn của các tế bào ung thư. Bệnh K xương có thể chia làm 4 giai đoạn hoặc 2 giai đoạn (giai đoạn đầu gồm giai đoạn 1 và 2, giai đoạn sau gồm giai đoạn 3 và 4).

Ở giai đoạn này, ung thư chỉ giới hạn ở tại xương và không lan ra các vùng khác của cơ thể. Tế bào ung thư ở giai đoạn này ít gây hại hơn và chưa cạnh tranh với những tế bào bình thường.

Ở giai đoạn này, các tế bào ung thư bắt đầu phát triển mạnh hơn trước, nhưng vẫn giới hạn tại xương.

Khi bệnh được phát hiện ở giai đoạn 1, 2, tỷ lệ sống trên 5 năm ở bệnh nhân ung thư này chiếm 90%. Phẫu thuật được coi là phương pháp điều trị chính ở giai đoạn này. Ngoài ra, xạ trị và hóa trị có thể được sử dụng kèm theo để tăng hiệu quả điều trị.

Ung thư xuất hiện từ hai đến ba vị trí ở cùng một vị trí trên xương. Khối u giai đoạn này có thể biệt hóa thấp hoặc cao tùy thuộc và cơ thể người bệnh và cấu trúc xương.

Ung thư di căn từ xương đến các nơi khác trong cơ thể. Ví dụ như xương khác hay cơ quan khác như gan, phổi… Lúc này tế bào ung thư tăng trưởng rất mạnh và có ảnh hưởng đến các tế bào bình thường.

Ung thư xương di căn có nguy hiểm không?

Ung thư xương sẽ di căn khi đến giai đoạn cuối (giai đoạn 4). Loại ung thư này di căn rất nhanh, chúng di chuyển theo đường máu ở tủy, do đó chúng sẽ di căn đến gan, phổi, não…

Ung thư xương di căn đến đâu sẽ gây hậu quả ở đó. Mỗi bộ phận chúng di căn đến sẽ gây những triệu chứng không giống nhau.

Bệnh K xương có thể di căn tới những vị trí/bộ phận sau:

Ung thư xương di căn phổi;

Ung thư xương di căn gan;

Ung thư xương di căn não;

Ung thư xương di căn mắt;

Ung thư xương di căn tim.

Ung thư xương khi đã di căn hết sức nguy hiểm, khả năng chữa khỏi ở giai đoạn di căn này có tỷ lệ cực thấp. Người bệnh thường khi điều trị tốt sẽ sống được khoảng 3 – 5 tháng.

Những ai dễ mắc bệnh ung thư xương

Ung thư xương là căn bệnh thường gặp phải ở những bệnh nhân trẻ tuổi. Những người ở trong trong giai đoạn xương và sụn phát triển. Trong những người mắc bệnh K xương có đến khoảng 75% nằm trong độ tuổi từ 10 đến 30 tuổi. Và nam giới sẽ có nguy cơ mắc bệnh nhiều hơn so với nữ giới.

Bệnh ung thư xương phổ biến nhất là ung thư xương cẳng chân ở nam giới trong giai đoạn dậy thì. Đặc biệt, những người có chiều cao vượt qua chiều cao ở mức trung bình.

Cách điều trị ung thư xương hiệu quả

Trước khi điều trị bệnh K xương hiệu quả, người bệnh cần tìm hiểu về nguyên tắc điều trị ung thư xương. Trước khi lựa chọn phương pháp điều trị bệnh ung thư xương sẽ có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị bệnh.

Các bác sĩ chuyên khoa sẽ xem xét về vấn đề: Tuổi tác, tình trạng sức khỏe tổng quát của bệnh nhân, vị trí, kích thước, sự lan tỏa của khối u và loại ung thư xương (loại u mềm, u sụn hay u xương).

Để điều trị căn bệnh này, không chỉ dùng một phương pháp điều trị mà có thể dùng kết hợp nhiều phương pháp.

Những phương pháp Tây y phổi biến hiện này là:

Phương pháp phẫu thuật điều trị ung thư xương

Theo các nghiên cứu, ung thư xương có thể tái phát ở gần vị trí ung thư ban đầu nên các bác sĩ phẫu thuật thường cắt bỏ cả khối u và những mô lành xung quanh khối u.

Phần xương mất đi có thể được thay thế bằng một công cụ bằng kim loại đặc biệt. Ở trẻ em, sau phẫu thuật ung thư xương, các bác sĩ sẽ liên tục thay thế dụng cụ bằng kim loại mỗi lần xương phát triển lớn – dài hơn.

Cách phẫu thuật này nhằm bảo tồn các chi để bệnh nhân có thể phối hợp vận động tốt với các chi nhân tạo.

Phương pháp phẫu thuật bảo tồn chi chỉ có thể áp dụng với khối u nhỏ, chưa phát triển ra bên ngoài và chưa lan ra những mô, tế bào hay hạch bạch huyết xung quanh. Nghĩa là phương pháp phẫu thuật chỉ được dùng cho ung thư xương giai đoạn đầu.

Hóa trị điều trị ung thư xương

Đây là phương pháp sử dụng thuốc để giết chết tế bào ung thư. Các bác sĩ sẽ tiến hành tiêm vào cơ thể (có thể là phần xương bị u) một thuốc hóa học để tiêu diệt tế bào ung thư. Ba loại thuốc sẽ được phối hợp cùng lúc tiêm vào cơ hay mạch máu hoặc uống để thuốc đi theo đường máu lan khắp cơ thể.

Với phương pháp này, các bác sĩ thường tiến hành làm nhiều đợt. Sau một đợt điều trị lại có một thời gian nghỉ ngơi và hồi phục. Khi cơ thể người bệnh đã bình phục lại sẽ tiếp tục tuân theo chu trình này.

Các bác sĩ thường kết hợp hóa trị với xạ trị để tăng khả năng các khối u không tái phát lại.

Phương pháp xạ trị trong điều trị K xương

Bác sĩ sẽ sử dụng nguồn năng lượng cao để tác động làm tổn thương các tế bào ung thư. Đôi khi, xạ trị được dùng để thu nhỏ kích thước khối u xương.

Sử dụng xạ trị thay cho phẫu thuật để phá hủy khối u và những tế bào ung thư còn sót lại sau khi quá trình phẫu thuật được tiến hành.

Ngoài ra, điều trị ung thư xương có có một số phương pháp như: điều trị bằng hóa chất, dùng hơi nước…

Phương pháp mới điều trị ung thư xương

Các chuyên gia cũng đang nghiên cứu tính khả thi của phương pháp hỗ trợ điều trị ung thư xương kết hợp với liệu pháp điều trị phóng xạ. Theo họ, phương pháp này điều trị ung thư bằng cách tiêm virus vào cơ thể đã được áp dụng từ những năm 50 của thế kỷ trước. Phương pháp này đã cứu sống hàng nghìn bệnh nhân. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên phương pháp “lấy độc trị độc” này có hiệu quả tuyệt đối với một bệnh nhân có các tế bào ung thư phát triển nhanh.

Có một dạng ung thư của các tế bào huyết tương trong tủy xương, gây ra các khối u xương và u mô mềm là bệnh đau tủy. Các nhà khoa học Mexico tuyên bố có thể chữa dứt điểm căn bệnh này bằng cách đưa hơi nước nóng trực tiếp vào vùng xương bị bệnh. Việc này nhằm đốt cháy các tế bào ung thư.

Doxorubicin và Ifosfamide

– Doxorubicin:

Là một loại kháng sinh thuộc nhóm Anthracyclin chuyên gây độc tế bào.

Thuốc Doxorubicin thường được chỉ định điều trị u xương ác tính (sarcoma xương) và ung thư xương liên kết Ewing.

Thuốc Doxorubicin không được dùng cho những người có biểu hiện suy giảm chức năng tủy xương, người bị suy tim, loét miệng hay quá mẫn cảm với bất kỳ thành phần nào của thuốc.

Tác dụng phụ như: Rụng tóc, buồn nôn, chèn ép tủy xương, tiêu chảy, tiểu ra máu, rối loạn tiểu tiện…

Người lớn: Liều lượng sử dụng phổ biến nhất của Doxorubicin là 40 – 60mg/m2 mỗi 21 – 28 ngày.

Trẻ em: 35 – 75mg/m2 lặp đi lặp lại mỗi 21 ngày, hoặc 20 – 30mg/m2 một lần mỗi tuần, hoặc 60 – 90mg/m2 truyền liên tục hơn 96 giờ mỗi 3 – 4 tuần.

Doxorubicin có những dạng và hàm lượng sau:

Dung dịch, thuốc tiêm: 2mg/mL (5ml, 10ml, 25ml, 100ml).

Dung dịch đã tái tạo, thuốc tiêm: 10mg, 20mg, 50mg.

– Ifosfamide:

Là loại thuốc có tác dụng cản trở và hạn chế sự phát triển của các tế bào ung thư.

Dùng để chữa u ác tính không thể mổ và nhạy cảm với Ifosfamide.

Loại thuốc này cũng có thể sử dụng kết hợp với một số thuốc chống ung thư khác.

Áp dụng cho những bệnh nhân mắc sarcoma xương.

Thuốc Ifosfamide có dạng dung dịch tiêm: 50mg/ml.

Methotrexate và Vincristine

– Methotrexate:

Là loại thuốc kháng acid folic có tác dụng chống ung thư.

Chỉ định để điều trị một số bệnh như ung thư vú, ung thư phổi, ung thư vùng đầu cổ, sarcoma xương, sarcoma sụn và sarcoma sợi…

Liều dùng đối với người lớn: Tiêm truyền tĩnh mạch 12g/m2 trong 4 giờ (kết hợp với các thuốc hóa trị liệu khác). Nếu liều dùng này không đủ để đạt được nồng độ đỉnh 1000 micromol trong huyết thanh vào giai đoạn cuối của quá trình truyền dịch, có thể tăng lên 15g/m2

Methotrexate có những dạng và hàm lượng sau:

Viên nén: 2,5mg.

Viên nén bao phim: 5mg; 7,5mg; 10mg; 15mg.

Dung dịch, đường tiêm: 25mg/ml.

Thuốc này không dùng cho những người:

Bị suy dinh dưỡng;

Suy thận nặng;

Rối loạn chức năng gan;

Người có hội chứng suy giảm miễn dịch;

Người bị rối loạn tạo máu trước như giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, thiếu máu;

Phụ nữ có thai và cho con bú…

Những phản ứng phụ khi sử dụng thuốc Methotrexate:

– Vincristine:

Loại thuốc chống ung thư được chiết xuất từ cây dừa cạn với tác dụng kích ứng mạnh các mô.

Có thể kết hợp với những loại thuốc khác để điều trị bệnh hodgkin, leukemia, sarcoma Ewing, sarcoma cơ vân, sarcoma mô mềm, ung thư xương, ung thư vú, ung thư phổi, ung thư trực tràng, ung thư tuyến giáp…

Vincristine Sulfate có những dạng và hàm lượng sau: Thuốc tiêm 5mg / 31ml.

Bên cạnh các phương pháp điều trị tân tiến từ Tây y, người bệnh có thể tham khảo cách điều trị từ Đông y. Trong dân gian có nhiều loại thảo dược có khả năng chữa ung thư cực tốt.

Bài thuốc 1 chữa bệnh K xương

– Nguyên liệu:

Bạch thược: 50g;

Đan bì: 30g;

Sa sâm: 30g;

Bạch hoa xà thiệt thảo: 80g;

Sinh địa: 20g;

Thục địa: 20g;

Sinh nam tinh: 20g;

Phục linh: 20g;

Trạch tả: 20g;

Miết giáp: 16g;

Do nhục: 15g;

Trần bì: 15g

Bán liên: 15g;

Hài nhi sâm: 15g.

– Cách làm:

Cho tất cả các nguyên liệu trên vào niêu, cho thêm 3 bát nước sạch, đậy vung và để nhỏ lửa. Đun sôi sắc đến khi nào còn 1 bát nước thì tắt bếp. Mỗi ngày phải uống hết 1 thang. Sau nước đầu tiên thì có thể cho thêm nước vào sắc lại, lần này chỉ cần để nước sôi khoảng 30 phút là dùng được.

– Công dụng của thuốc:

Bài thuốc giúp triệt tiêu các khối u phát triển trên tay, chân, làm giảm các cơn đau nhức do bệnh gây ra và giúp cho người bệnh khỏe mạnh hơn.

Bài thuốc Nam số 2 điều trị ung thư xương

– Nguyên liệu:

Xuyên sơn giáp chu: 30g;

Toàn yết: 20g;

Xạ hương: 3g;

Tam thất: 40g;

Con ngô công: 20g;

Nhân sâm: 20g.

– Cách làm:

Đem các nguyên liệu đã chuẩn bị rửa sạch, phơi khô rồi nghiền nát, nặn thành 60 viên thuốc thật đều nhau. Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 1 viên để giúp điều trị các cơn đau nhức do bệnh ung thư xương gây ra.

Bài thuốc số 3 chữa ung thư xương

– Nguyên liệu:

– Cách làm:

Đem trứng vịt ngâm với nước muối 7 ngày rồi vớt ra. Dùng que nhọn nhỏ đâm thủng một lỗ nhỏ trên vỏ trứng và cho bớt lòng trắng ra ngoài.

Thiên ma đem rửa sạch, nghiền nát rồi tán thành bột cho thật mịn rồi cho vào trong quả trứng. Tiếp theo, thêm bột mì trộn với nước để tạo thành hỗn hợp đặc quánh rồi cho quả trứng đã nhồi bột thiên ma. Đem trứng hầm cho thật chín.

Người bệnh ung thư xương nên ăn một quả trứng như vậy vào mỗi buổi sáng sau khi thức dậy. Bệnh sẽ được cải thiện rõ rệt.

Phòng tránh bệnh ung thư xương như thế nào?

Có nhiều cách để phòng bệnh ung thư này, tuy nhiên cách phòng bệnh tốt nhất là thay đổi thói quen. Thói quen đó có thể là thói quen sinh hoạt, thói quen ăn uống, thói quen vận động.

Boldsky đã liệt kê ra một vài biện pháp khắc phục để điều trị và ngăn ngừa bệnh ung thư xương hiệu quả từ những thực phẩm hàng ngày.

Nha đam tốt cho xương như thế nào?

Hợp chất trong nha đam có đặc tính chống ung thư. Nha đam có chứa các chất:

Antiproliferative (Có chứa Anthraquinone v.v);

Miễn dịch (Chứa Acemannan, Polysaccharide mannose);

Chất chống oxy hóa, kháng sinh, diệt khuẩn, virus và các thành phần khác.

Nghiên cứu đã chỉ ra Acemannan có thể kích thích các tế bào miễn dịch ở chuột để tạo ra các Cytokine (Một loại protein giết chết ung thư).

Trà xanh hỗ trợ phòng ngừa bệnh về xương

Trà xanh giàu hàm lượng EGCG – một hoạt chất chống oxy hóa. Chất này có tác dụng chống lại sự hình thành của các gốc tự do trong cơ thể. Từ đó phòng bệnh ung thư hiệu quả.

Khả năng chống oxy hóa của hoạt chất EGCG cao gấp 100 lần so với vitamin C và gấp 25 lần so với vitamin E.

Trà xanh giúp diệt trừ vi khuẩn, virus, làm chậm sự phát triển của các tế bào ung thư xương.

Cỏ ba lá đỏ tiêu diệt tế bào K xương hiệu quả

Với ung thư xương, cỏ ba lá đỏ phòng bệnh nhờ chứa chất chống oxy hóa Tocopherol có khả năng ngăn chặn sự hình thành và phát triển của tế bào ung thư.

Vitamin A – Chất tốt cho hệ xương và đẩy lùi bệnh ung thư

Vitamin A là nguyên liệu quan trọng chống lại ung thư xương. Bạn nên tăng cường các loại trái cây và rau quả để cung cấp, bổ sung vitamin A cho cơ thể.

Hoa quả tươi ngăn ngừa ung thư xương

Các loại hoa quả như cam, bưởi, dâu tây, quả lựu, đu đủ, xoài, việt quất… rất giàu chất chống oxy hóa, có hàm lượng cao chất xơ. Vitamin và khoáng chất giúp tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể, chống lại các tế bào ung thư. Ngoài ra, beta-carotene có trong mơ, xoài, quả anh đào… có thể làm giảm nguy cơ mắc ung thư xương.

Các tia UV của ánh nắng mặt trời giúp sản xuất vitamin D. Từ đó ngăn chặn sự phát triển của các tế bào ung thư.

Các loại thảo mộc như:

Gừng;

Bupleurum;

Đậu ván dại;

Nấm maitake;

Các thảo mộc này có tác dụng ngăn ngừa và điều trị bệnh ung thư xương cực tốt.

Thực đơn cho bệnh nhân ung thư xương

Mỗi ngày bạn phải bổ sung cho cơ thể bệnh nhân khoảng 1.885 – 2.175 đơn vị calo.

– Bổ sung chất đạm:

Đối với bệnh nhân, khẩu phần đạm cần tăng so với bình thường để cung cấp đầy đủ các loại acid amin. Nên cân đối giữa đạm động vật và đạm thực vật.

Thịt giàu đạm nhưng nếu khẩu phần ăn quá nhiều thịt sẽ là điều kiện thuận lợi cho tế bào ung thư phát triển. Bạn chỉ nên sử dụng thịt trắng như thịt gia cầm, bổ sung thêm sắt, kẽm từ thịt đỏ như thịt bò, thịt lợn nạc…

– Thực phẩm giàu chất xơ:

Các loại thực phẩm như:

Sữa bò;

Lòng đỏ trứng gà;

Rau ngót, rau đay, bắp cải, rau dền…

Khoai lang, cà chua, dưa leo…

Các dạng thực phẩm này sẽ bảo vệ hệ miễn dịch của cơ thể và ức chế sự phát triển của tế bào ung thư…

– 1 tô phở bò.

– 1 ly sữa đậu nành nguyên chất.

– 3 lát cam tươi

– 2 bát cơm trắng vừa.

– Thịt ức gà xé nhỏ rang nhạt.

– Canh rau dền.

– Tôm hấp bia sả.

– 1 hộp sữa chua nha đam ít đường.

– 1 củ khoai lang luộc.

– 1 ly nước trà xanh tươi mát.

– 1 quả dưa leo.

– 2 bát cơm trắng nhỏ.

– Bắp cải luộc.

– Thịt lợn nạc rang nhạt.

– Cá hồi sốt tiêu đen.

– 1 ly sữa bò không đường.

Ngoài những thực phẩm, trái cây cần thiết cho người bệnh ung thư xương, bạn cần tránh những thực phẩm không tốt cho quá trình điều trị bệnh cho bệnh nhân.

Bệnh ung thư xương không nên dùng rượu, café

Các chất kích thích như bia, rượu, cafe gây cản trở cho quá trình liền và tái tạo xương. Rượu bia làm rối loạn hoạt động của những tế bào xương và làm chúng nhanh chóng phát triển, di căn, thoái hóa xương. Café thì lại làm giảm lượng canxi mà cơ thể hấp thụ được khiến xương yếu đi và dễ bị tổn thương.

Trà đặc, nước ngọt có ga, thực phẩm nhiều dầu mỡ

Những chất béo có trong thực phẩm nhiều dầu mỡ có thể kết hợp với canxi để tạo thành một chất bọt mà cơ thể không hấp thụ được. Vì vậy, bệnh nhân ung thư xương không nên ăn quá 20% chất béo trong thực đơn mỗi ngày. Nếu muốn thì nên bổ sung từ các loại thực phẩm lành mạnh: Cá, bơ thực vật, các loại hạt và dầu thực vật.

Thịt chế biến sẵn không tốt cho bệnh nhân ung thư xương

Khi thịt được nấu chín ở nhiệt độ cao hoặc được xử lý bằng các chất như nitrat ảnh hưởng tới xương. Vậy nên, bạn cần ăn dưới 200g thịt đỏ mỗi ngày, hạn chế đến mức thấp nhất xúc xích, đồ hộp, thịt muối, cà muối, cá muối…

Đường và đồ ngọt tiềm ẩn nguy cơ mắc bệnh K xương

Đường là loại thực phẩm mà tế bào ung thư rất ưa thích. Đây là món ăn chính của chúng. Đường giúp các tế bào ung thư liên tục phân chia, phát triển và di căn. Do đó, bạn cần hạn chế đường, đồ ngọt, bánh mứt kẹo, chocolate, nước ngọt…

Thực phẩm chế biến bằng cách nướng

Nem nướng, xúc xích nướng… là những thực phẩm nên hạn chế vì chúng làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư và thúc đẩy tế bào ung thư phát triển. Trong quá trình nướng thức ăn sẽ sản sinh ra formol – một hóa chất gây ung thư.

Những người từng phẫu thuật ung thư xương

Không nên ăn những thực phẩm có thể gây kích thích vết mổ:

Thực phẩm chua, cay, nóng (chanh, cam, quýt, giấm, me, tiêu, ớt, bộ cari).

Những thức ăn nhiều dầu mỡ: Món xào, chiên, rán…

– Bệnh nhân K xương cần có tâm lý vững vàng và lạc quan.

Người nhà bệnh nhân cần làm công tác tâm lý thật tốt để bệnh nhân không rơi vào tuyệt vọng. Có thể mở những bản nhạc hay những bộ phim hay nhằm tác động tâm thức.

Các thành viên trong gia đình cần tránh mẫu thuẫn, bất hòa. Vì điều này sẽ khiến bệnh nhân mệt mỏi, chán nản và chấn động tâm lý.

Người thân, bạn bè cần tránh thái độ buồng xuôi, buồn bã hay kỳ thị người bệnh.

– Nấu những thực phẩm bổ dưỡng và đúng sở thích người bệnh.

Bệnh ung thư xương thường gây ra hiện tượng giảm chức năng tạo máu. Cho nên người thân nên dùng các thực phẩm giàu đạm, kích thích sinh tủy khi nấu thức ăn cho người bệnh.

Không nên nấu món ăn quá nhiều dầu mỡ, mặn, cay nóng. Người nhà bệnh nhân nên chế biến món ăn thanh đạm, bổ sung canxi, vitamin và tốt cho máu.

– Rèn luyện thể chất, hòa nhập cuộc sống.

Hầu hết các bệnh nhân ung thư đều bi quan và tìm đến cái chết. Một là để kết thúc sự đau đớn hiện tại. Hai là để không biến mình thành gánh nặng cho gia đình và có cảm giác vô dụng. Do đó, người nhà bệnh nhân cần gần gũi, an ủi và thực hiện nhiều hoạt động ngoại khóa cho cả gia đình.

Hãy sắm ngay chiếc xe lăn hoặc đôi lạng cho bệnh nhân. Nhờ đó, họ có thể tự đi lại, thấy bản thân có ích hơn, không gây phiền đến ai. Tổ chức trò chơi đơn giản, vận động ít nhưng giúp cơ thể bệnh nhân bớt thụ động hơn.