Top 13 # Xem Nhiều Nhất Vì Sao Ung Thư Cổ Tử Cung / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Vì Sao Phải Tầm Soát Ung Thư Cổ Tử Cung / 2023

Ung thư cổ tử cung là loại ung thư đứng hàng thứ hai sau ung thư vú ở nữ giới. Trên thế giới, mỗi năm có khoảng 500.000 trường hợp mới mắc và khoảng 274.000 người tử vong vì ung thư cổ tử cung, phần lớn thuộc các nước đang phát triển ( 85%). Thế giới, cứ mỗi 2 phút có 01 người chết vì ung thư cổ tử cung, ở Châu Á Thái Bình Dương mỗi 4 phút có một người chết vì ung thư cổ tử cung. Theo dự đoán của cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế đến năm 2050, trên thế giới hàng năm có hơn 1 triệu trường hợp mới mắc ung thư cổ tử cung.

Tại Việt Nam, ước tính mỗi năm cả nước có hơn 13.500 ca mắc mới ung thư cổ tử cung; tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi của ung thư cổ tử cung trên cả nước là 15,7/100.000 dân. Đây là số liệu của Dự án Phòng chống ung thư quốc gia của Việt Nam tổng kết sau 2 năm 2008 – 2010.

Thủ phạm hàng đầu gây ung thư cổ tử cung là nhiễm virus HPV. Một số yếu tố được xem là tăng nguy cơ nhiễm HPV và phát triển ung thư cổ tử cung như: * Phụ nữ có quan hệ tình dục sớm (trước 18 tuổi) hoặc quan hệ với nhiều người * Dùng thuốc tránh thai kéo dài; Sinh đẻ nhiều (từ trên 4 lần); hút thuốc lá * Tình trạng suy giảm miễn dịch như nhiễm HIV, mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là viêm sinh dục do nhiễm Trichomonas, Chlamydia trachomatis, Herpes simplex virus type 2 (HSV2)… * Các yếu tố khác như: nghèo nàn, lạc hậu, vệ sinh kém, thực phẩm nghèo chất dinh dưỡng (sinh tố A, C, acid folic, trái cây, rau tươi…)

***Để tầm soát ung thư cổ tử cung cần phải khám phụ khoa định kỳ sáu tháng một lần cùng với phối hợp các biện pháp xét nghiệm sau:TẦM SOÁT UNG THƯ CỔ TỬ CUNG TA PHẢI LÀM GÌ? * Phết tế bào cổ tử cung. * Xét nghiệm tầm soát HPV. * Quan sát cổ tử cung với acid acetic.

Vì Sao Bệnh Nhân Ung Thư Cổ Tử Cung Dễ Bị Tái Phát? / 2023

Ung thư cổ tử cung có thể chữa khỏi nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Tuy nhiên, 1/3 bệnh nhân đối mặt nguy cơ tái phát.

Ung thư cổ tử cung là bệnh nguy hiểm với phụ nữ nhưng có thể chữa khỏi. Năm 2018, Việt Nam có khoảng 4.200 ca mắc mới ung thư cổ tử cung. Hơn 2.400 người tử vong vì bệnh này. Phần lớn bệnh nhân được phát hiện ở giai đoạn muộn khiến việc điều trị khó khăn.

Theo Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh (NHS), ung thư cổ tử cung thường ảnh hưởng phụ nữ đã quan hệ tình dục ở độ tuổi từ 30 đến 45. Bệnh có thể tái phát, ảnh hưởng nhiều tới sức khỏe và cuộc sống của bệnh nhân.

Các giai đoạn của ung thư cổ tử cung

Theo Mayo Clinic, ung thư cổ tử cung xuất hiện khi các tế bào khỏe mạnh trong cơ quan này có đột biến ở DNA. Các tế bào khỏe mạnh phát triển và nhân lên với tốc độ nhất định, sau đó, chúng tự chết đi.

Những đột biến khiến các tế bào phát triển vượt tầm kiểm soát và không thể tự hủy. Tế bào ung thư xâm lấn các mô lân cận và vỡ ra khỏi khối u, di căn đến những cơ quan khác trong cơ thể.

Ung thư cổ tử cung chia thành 4 giai đoạn. Trong đó, ở giai đoạn I, tế bào ung thư chỉ phát triển trong tử cung, chưa lan ra ngoài. Giai đoạn II của bệnh hình thành khi các khối u đã “ăn” ra ngoài cổ tử cung nhưng chưa đến khung chậu hoặc phần dưới âm đạo. Trong giai đoạn này, bệnh chưa di căn đến các hạch bạch huyết hoặc vị trí xa.

Nếu tế bào ung thư lan đến phần dưới của âm đạo hoặc khung chậu, bệnh nhân đã ở giai đoạn III. Khi đó, tế bào ung thư chưa lan đến các vị trí xa. Cuối cùng, ở giai đoạn IV, bệnh đã di căn sang các cơ quan lân cận hoặc bộ phận khác của cơ thể.

Ung thư cổ tử cung có thể chữa khỏi nếu được phát hiện sớm. (Ảnh: Freepik).

Hiện nay, nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung vẫn chưa có kết luận. Dấu hiệu đầu tiên của người mắc ung thư cổ tử cung là chảy máu âm đạo bất thường. Nó gây hiện tượng xuất huyết trong hoặc sau khi quan hệ, giữa các kỳ kinh hoặc ở độ tuổi mãn kinh.

Ngoài ra, người mắc ung thư cổ tử cung còn gặp tình trạng đau rát, khó chịu khi quan hệ, tiết dịch âm đạo bất thường, có mùi. Vùng lưng dưới, xương chậu đau.

Bệnh nhân ung thư cổ tử cung còn có thể gặp dấu hiệu: Đau tức lưng dưới, xương chậu và thận dữ dội; táo bón; không kiểm soát được tiểu hoặc đại tiện; tiểu ra máu; sưng phù chân…

Hiện nay, ung thư cổ tử cung được chia làm 2 loại chính là ung thư biểu mô tế bào vảy và ung thư biểu mô tuyến.

Trong đó, loại đầu tiên sẽ khởi phát khối u ở tế bào vảy lót bên ngoài của tử cung, sau đó tiến sâu vào âm đạo. Hầu hết bệnh nhân mắc ung thư cổ tử cung là loại này. Ung thư biểu mô tuyến ít gặp hơn. Nó khởi phát từ tế bào tuyến hình cột nằm trong ống cổ tử cung.

Nữ giới nên tầm soát ung thư để phát hiện bệnh sớm. (Ảnh: Freepik).

Gần 35% bệnh nhân có nguy cơ tái phát ung thư

Theo Cancer Treatment Centers of America, triệu chứng tái phát ung thư cổ tử cung có thể xảy ra vài tháng hoặc vài năm sau khi điều trị. Tổ chức này ước tính, thế giới có gần 35% trường hợp bị tái phát ung thư cổ tử cung hoặc mắc bệnh dai dẳng. Hầu hết ca tái phát đều xảy ra trong vòng 2 năm sau khi điều trị.

Ung thư cổ tử cung và nhiều loại khác có thể tái phát do các vùng nhỏ của tế bào ác tính vẫn còn sót trong cơ thể sau khi điều trị. Theo thời gian, những tế bào này có thể nhân lên và phát triển gây các triệu chứng. Ung thư tái phát khi nào và ở đâu phụ thuộc từng loại bệnh. Bệnh có 3 loại tái phát phổ biến. Đó là tái phát cục bộ, khu vực và tái phát xa.

Các khối u ác tính có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào trên cơ thể, bao gồm cả khung chậu, khoang bụng hoặc phổi, gan, xương. Theo Trung tâm Ung thư Cổ tử cung của Đại học Columbia, Mỹ, các vị trí tái phát phổ biến nhất là vòng bít âm đạo, khung chậu, hạch cạnh động mạch chủ, phổi và hạch thượng đòn.

Các triệu chứng tái phát ung thư cổ tử cung ở mỗi bệnh nhân là khác nhau. Với trường hợp tái phát tại chỗ, bệnh nhân bị chảy máu âm đạo bất thường sau khi quan hệ tình dục hoặc thời kỳ mãn kinh.

Âm đạo cũng tiết dịch bất thường như nước, màu hồng, có mùi hôi. Cùng đó, người bệnh bị đau vùng chậu khi làm “chuyện ấy”, rò rỉ nước tiểu từ âm đạo.

Nếu tái phát ung thư thể đã di căn, bệnh nhân có các dấu hiệu như: giảm cân, mệt mỏi, đau lưng, đau hoặc sưng chân, nhức xương…

Hơn 35% bệnh nhân có nguy cơ tái phát ung thư cổ tử cung. (Ảnh: Mayo Clinic).

Tổ chức này ước tính người mắc ung thư cổ tử cung giai đoạn đầu có 20% khả năng tái phát. Giai đoạn càng nặng, khả năng tái phát càng cao, lên đến 75%. Do đó, sau khi điều trị hoặc được chẩn đoán, bệnh nhân nên tái khám và theo dõi ít nhất 5 năm.

Tương tự như lần phát hiện đầu, ung thư cổ tử cung khi tái phát sẽ được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật triệt căn, hóa trị, xạ trị. Tùy vào giai đoạn của bệnh, bác sĩ sẽ đưa phác đồ điều trị phù hợp.

Trong đó, phẫu thuật là phương pháp phổ biến trong giai đoạn sớm. Cách này sẽ khoét chóp cổ tử cung hoặc cắt toàn bộ cơ quan này để loại bỏ các khối u, tế bào ác tính.

Ung thư cổ tử cung là bệnh có thể chữa khỏi nên yếu tố then chốt là chúng ta phát hiện bệnh sớm. Theo tổ chức Dịch vụ Y tế Quốc gia của Anh, ung thư cổ tử cung cũng như những bệnh hiểm nghèo khác không có cách ngăn ngừa tuyệt đối. Tuy nhiên, chúng ta có cách để giảm nguy cơ mắc bệnh. Tổ chức trên khuyến cáo phụ nữ nên kiểm tra cổ tử cung thường xuyên để phát hiện sớm các bất thường của tế bào trong cơ quan này.

Vì Sao Virus Hpv 16 Và 18 Là Nguyên Nhân Hàng Đầu Gây Ung Thư Cổ Tử Cung? / 2023

Trên toàn thế giới, ung thư cổ tử cung là bệnh ung thư thường gặp thứ tư ở phụ nữ với ước tính khoảng 570000 ca mắc mới trong năm 2018, chiếm 7,5% tổng số ca tử vong do ung thư nữ. Trong số ước tính hơn 311 000 ca tử vong do ung thư cổ tử cung mỗi năm, hơn 85% trong số này xảy ra ở các khu vực kém phát triển.

Mặc dù hầu hết các trường hợp nhiễm HPV đều tự khỏi và hầu hết các tổn thương tiền ung thư tự khỏi, nhưng có nguy cơ cho tất cả phụ nữ rằng nhiễm trùng HPV có thể trở thành tổn thương mãn tính và tiền ung thư tiến triển thành ung thư cổ tử cung xâm lấn.

Phải mất 15 đến 20 năm để ung thư cổ tử cung phát triển ở những phụ nữ có hệ miễn dịch bình thường. Chỉ có thể mất từ ​​5 đến 10 năm ở những phụ nữ có hệ miễn dịch yếu, chẳng hạn như những người nhiễm HIV không được điều trị.

Một số yếu tố nguy cơ đối với sự tồn tại và phát triển của ung thư cổ tử cung:

Loại HPV – tính gây ung thư;

Tình trạng miễn dịch – những người bị suy giảm miễn dịch, chẳng hạn như những người nhiễm HIV, có nhiều khả năng bị nhiễm vi rút HPV dai dẳng;

Đồng nhiễm với các tác nhân lây truyền qua đường tình dục khác, chẳng hạn như những tác nhân gây ra mụn rộp, chlamydia và lậu;

Hút thuốc lá

Nhiễm các loại HPV 16, 18, 31 và 45 được coi là có nguy cơ cao phát triển cổ tử cung

HPV nhiễm các tế bào keratinocytes của lớp tế bào cơ bản, thường ở các tổn thương vi mô của da hoặc niêm mạc. Quần thể các tế bào bị nhiễm virus lây lan sang một bên khi chúng phân chia và một số tế bào di chuyển vào supra phân biệt các lớp tế bào cơ bản, nơi các gen virus được kích hoạt, sao chép DNA của virus và protein capsid được hình thành.

Các hạt virus được giải phóng, do đó lan rộng dân số của các tế bào bị nhiễm bệnh. Harald zur Hausen đã chứng minh rằng mô từ chứng loạn sản cổ tử cung cũng như từ các tổn thương cung điện tiền liệt tuyến chứa DNA-DNA episomal, và các nghiên cứu trong tương lai cho thấy khoảng 90% HPV 16 và 18 các mô dương tính trở nên âm tính trong vòng hai năm

Nghiên cứu trên 3000 phụ nữ từ 25 quốc gia đã tìm thấy HPV 16 và 18 với trên 70% các trường hợp ác tính. Năm loại phổ biến nhất tiếp theo chiếm 20% khác, trong khi đó 10% còn lại là do nhiều loại HPV gây ra. Xét nghiệm PCR nhạy cảm kể từ đó cải thiện việc phát hiện DNA virus và dữ liệu dịch tễ học tích lũy đã xác nhận zur Hausen những khám phá ban đầu. Thật vậy, có tới 99,7% ca ung thư cổ tử cung được nghiên cứu đã được phát hiện dương tính với HPV trong một số báo cáo, trong đó cung cấp bằng chứng thuyết phục về căn nguyên của bệnh HPV. Cổ tử cung các mô ung thư chứa DNA virus được tích hợp vào bộ gen của tế bào chủ với các chuỗi virus mã hóa các gen đầu E6 và E7.

Điểm đặc biệt của virus HPV 16 và HPV 18 là chúng không gây ra triệu chứng gì khi mắc phải cũng như khi xuất hiện tiền ung thư, cho đến khi khối u trong cổ tử cung phát triển và xâm lấn các cơ quan khác trong cơ thể. Bên cạnh đó, virus HPV không bùng phát ngay mà chúng diễn tiến âm thầm trong cơ thể, cụ thể để virus HPV hình thành ung thư phải mất 10-20 năm ở người có hệ miễn dịch bình thường và 5-10 năm với những người có hệ miễn dịch suy yếu như người nhiễm HIV. Đây cũng là lý do vì sao, nhiều phụ nữ khi phát hiện bệnh đã ở giai đoạn muộn, lúc này quá trình điều trị khó khăn và tốn kém hơn, đặc biệt là tỷ lệ sống không cao.

Virus HPV 16, 18 gây hơn 70% các trường hợp ung thư cổ tử cung. HPV 16 có thể gây ung thư dương vật. Dùng bao cao su tránh được lây nhiễm HPV qua đường tình dục nhưng không hoàn toàn vì những vùng tiếp xúc ngoài bao cao su vẫn có thể bị nhiễm.

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là một trong những bệnh viện không những đảm bảo chất lượng chuyên môn với đội ngũ y bác sĩ đầu ngành, hệ thống trang thiết bị công nghệ hiện đại mà còn nổi bật với dịch vụ khám, tư vấn và chữa bệnh toàn diện, chuyên nghiệp; không gian khám chữa bệnh văn minh, lịch sự, an toàn và tiệt trùng tối đa.

Bài viết tham khảo nguồn: chúng tôi chúng tôi .cdc.gov XEM THÊM:

Ung Thư Cổ Tử Cung Biểu Hiện Ra Sao? Cách Điều Trị U Tử Cung / 2023

Ung thư cổ tử cung biểu hiện, triệu chứng, dấu hiệu nhận biết bệnh như thế nào? Ung thư tử cung là một trong những căn bệnh nguy hiểm ở nữ giới. Dựa trên biểu hiện để phát hiện ung thư cổ tử cung. Từ đó người bệnh được điều trị kịp thời bằng các phương pháp phù hợp. Điều trị ung thư cổ tử cung giúp phòng ngừa di căn.

Ung thư cổ tử cung là một trong những căn bệnh nguy hiểm hiện nay. Xảy ra chủ yếu ở phụ nữ trên thế giới. Với ung thư cổ tử cung thì chủ yếu do các tế bào ở cổ tử cung phát triển một cách mạnh mẽ, mất kiểm soát gây ra. Và dần tạo nên các khối u bên trong tử cung.

Tuy nhiên thì mọi người cũng cần biết về vấn đề Ung thư cổ tử cung biểu hiện ra sao? Để có thể phát hiện sớm và điều trị kịp thời thì sẽ có khả năng chữa khỏi.

Ung thư cổ tử cung biểu hiện ra sao?

Ung thư cổ tử cung biểu hiện ở giai đoạn đầu thường khó có thể phát hiện được. Chỉ đến khi các khối u bắt đầu hình thành và phát triển dần. Ảnh hưởng đến các bộ phận khác thì mới dễ phát hiện. Tuy nhiên cũng sẽ có một số biểu hiện cụ thể sau.

Nếu tự nhiên cảm thấy đau vùng xương chậu đột ngột, thường xuyên thì có nguy cơ bị ung thư cổ tử cung. Nếu những lúc tới ngày thì cũng có tình trạng đau xương chậu là bình thường. Nhưng những ngày bình thường mà cũng đau ở vùng xương chậu thì cần phải chú ý. Cần đến ngay bác sĩ để kiểm tra và xét nghiệm để chuẩn đoán một cách chính xác nhất.

Nếu thấy âm đạo tiết ra những dịch có màu bất thường như vàng, xanh, có lẫn thêm màu hồng của máu và có mùi. Thì trường hợp này bạn đã gặp một số vấn đề về phụ khoa. Có thể là ung thư buồng trứng và nguy hiểm hơn là ung thư cổ tử cung.

Triệu chứng của bệnh ung thư da đầu giai đoạn đầu như thế nào?

Nếu chưa tới ngày mà bị chảy máu một cách bất thường thì cần phải cảnh giác ngay. Nếu thấy lạ thì cần phải đi kiểm tra và xét nghiệm ngay vì đây cũng chính là một trong những biểu hiện của bệnh ung thư cổ tử cung.

Nếu hỏi Ung thư cổ tử cung biểu hiện ra sao thì không thể bỏ qua triệu chứng này. Chu kì kinh nguyệt của bạn thường không đến đúng ngày so với trước đây. Muộn hơn hay trễ hơn trong thời gian quá lâu, hay máu kinh nguyệt có màu đen sẫm…thì cần phải đi kiểm tra ngay.

Nếu lúc đi tiểu chảy máu, hay hắt hơi mà bị són tiểu, đay thì nên đi khám ngay. Vì đây là một trong những triệu chứng của ung thư cổ tử cung không nên bỏ qua. Và triệu chứng này rất nguy hiểm, vì lúc này thì các tế bào ung thư có thể đã lan rộng ra nhiều bộ phận khác.

Vì khi cơ thể mắc bệnh thì thiếu máu một các nghiêm trọng. Lúc này số lượng tế bào hồng cầu khỏ mạnh đang bị giảm đi rất nhiều. Và thay vào đó là các tế bào bạch cầu nên khiến năng lượng bị hao mòn. Dẫn tới cơ thể bị mệt mỏi, xanh xao, giảm cân, chán ăn,…

Thuốc phòng ngừa ung thư cổ tử cung được tin dùng hiện nay là gì?

Các phương pháp và cách điều trị u tử cung

Nhưng những phương pháp điều trị thường được áp dụng hiện nay như phẫu thuật, xạ trị, hóa trị.

Khi phẫu thuật thì bác sĩ thường sẽ cắt bỏ những khối u của ung thư như:

Cắt bỏ cổ tử cung: Nhưng mô xung quanh phần trên của âm đạo, vẫn giữ nguyên tử cung.

Cắt bỏ tử cung: Bao gồm cả cổ tử cung và tử cung. Nên có thể sẽ cắt bỏ cả buồng trứng và ống dẫn trứng nếu là giai đoạn cuối. Nên nếu cắt bỏ tử cung sẽ không thể có con.

Đoạn chậu: Một khi đã phẫu thuật đoạn chậu có nghĩa là phải cắt bỏ cả tử cung và buồng trứng. Nên nguy cơ vô sinh sẽ rất cao, cũng như khó có thể chữa khỏi.

Với hóa trị liệu thì thường được áp dụng sau khi phẫu thuật. Hoặc kết hợp với xạ trị để điều trị các tế bào ung thư còn xót lại sau khi phẫu thuật, hay xạ trị.

Xạ trị là phương pháp chiếu các chùm tia năng lượng vào các tế bào ung thư. Nhằm tiêu diệt các tế bào ung thư đang phát triển đối với các bệnh nhân giai đoạn muộn, hay không thể phẫu thuật được.