Top 20 # Xem Nhiều Nhất X Quang Ung Thu Xuong / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Chụp X Quang Tuyến Vú / 2023

Chụp X quang tuyến vú (còn gọi là chụp nhũ ảnh) là một phương pháp chụp hình ảnh chuyên biệt sử dụng một hệ thống x quang chuyên dụng cho việc kiểm tra ngực . Chụp x quang tuyến vú,được sử dụng như một phương pháp tầm soát để phát hiện ung thư vú giai đoạn sớm ở những phụ nữ không có triệu chứng và để phát hiện, chẩn đoán bệnh lý vú ở phụ nữ có các triệu chứng như u , đau hoặc tiết dịch ở đầu núm vú

Tại sao chụp X quang tuyến vú lại quan trọng?

Chụp X quang tuyến vú có vai trò chính trong việc phát hiện sớm ung thư vú vì phương pháp này có thể cho thấy những thay đổi ở vú trong vòng hai năm trước khi người bệnh hoặc bác sĩ có thể nhận thấy những thay đổi này. Ung thư vú là loại ung thư phổ biến thứ hai trên thế giới, và cho đến nay là loại ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ. Hiệp Hội Ung Thư Hoa Kỳ khuyến cáo phụ nữ từ 40 tuổi trở lên nên chụp X quang tuyến vú để tầm soát ung thư vú. Nghiên cứu cho thấy chụp X quang tuyến vú hàng năm giúp phát hiện sớm ung thư vú, là giai đoạn hầu như có thể chữa khỏi và có những phương pháp điều trị để bảo tồn vú.

Dù chụp X quang tuyến vú là phương pháp tầm soát ung thư vú tốt nhất hiện nay, nhưng phương pháp này không giúp phát hiện tất cả các trường hợp ung thư vú.

Thực hiện tầm soát X quang tuyến vú thường xuyên như thế nào?

Hiệp Hội Ung Thư Hoa Kỳ (ACS) và Cục Phòng Bệnh Hoa Kỳ (USPSTF) khuyến cáo phụ nữ từ 40-49 tuổi nên chụp X quang tuyến vú thường xuyên hàng năm và phụ nữ trên 50 tuổi nên chụp X quang tuyến vú hai năm một lần.

Những phụ nữ có nguy cơ bị ung thư vú cao nên gặp bác sĩ để được tư vấn. Có thể bạn cần phải thực hiện tầm soát sớm hơn và thường xuyên hơn.

Hình ảnh kỹ thuật số thu được nhờ sử dụng hệ thống vi tính chụp X quang tuyến vú. Hệ thống này có phơi nhiễm bức xạ thấp. Một kỹ thuật viên hình ảnh thông thạo tay nghề sẽ đặt và ép vú giữa hai bản ép. Sau đó, thiết bị X quang chuyên dụng sẽ chụp hai ảnh của mỗi vú từ hai hướng. Hầu hết bệnh nhân nữ chụp X quang tuyến vú đều cảm thấy hơi khó chịu và một số người có thể cảm thấy đau. Nhưng kỹ thuật ép vú là cần thiết để làm dẹp và giảm được độ dày của vú. Càng ít lớp mô nằm chồng lên nhau, chùm tia X càng cho ra hình ảnh rõ.

Hình ảnh chụp X quang tuyến vú được đưa vào máy vi tính, sau đó sẽ được phóng to hoặc làm cho nổi bật . Nếu có một khu vực nghi ngờ, bác sĩ sẽ sử dụng máy vi tính để quan sát hình ảnh gần hơn.

Trước khi chụp x quang tuyến vú bệnh nhân nên chuẩn bị như thế nào?

Không hẹn chụp x quang tuyến vú vào tuần lễ trước khi bạn có kinh, vú của bạn thường trở nên căng hơn trong thời gian này. Thời gian tốt nhất để chụp nhũ ảnh là ngày cuối cùng của kỳ kinh cho đến hai tuần sau kể từ ngày đầu tiên của kỳ kinh vừa rồi của bạn.

Phải luôn nhớ thông báo cho bác sĩ hoặc kỹ thuật viên hình ảnh nếu có bất kỳ khả năng có thai nào.

Vào ngày khám, mặc đồ rộng rãi thoải mái có áo và quần không dính liền nhau, không sử dụng chất khử mùi, nước hoa, không thoa xức phấn hoặc dầu ở nách hoặc vú.

Vui lòng đem theo tất cả những phim chụp nhũ ảnh trước đây để bác sĩ có thể so sánh với phim hiện tại.

Bạn sẽ được yêu cầu trả lời một bảng câu hỏi trước khi chụp nhũ ảnh. Nếu bạn không biết rõ phải trả lời ra sao cho bất cứ câu hỏi nào, xin vui lòng hỏi kỹ thuật viên hình ảnh.

Chụp x quang tuyến vú được thực hiện như thế nào?

Chụp x quang tuyến vú được thực hiện bởi một kỹ thuật viên hình ảnh được đào tạo chuyên sâu, thường là một nữ kỹ thuật viên hình ảnh.

Trong phòng chụp, bệnh nhân sẽ được yêu cầu thay áo choàng và đứng tại máy chụp X quang.

Kỹ thuật viên hình ảnh sẽ đặt vú của bạn vào máy chụp x quang. Vú của bạn sẽ được đặt vào một mặt phẳng đặc biệt và được ép bằng một tấm ép (thường làm bằng nhựa Plexiglas trong suốt hoặc loại nhựa khác). Bạn sẽ cảm thấy tức ở vú khi vú bị siết bởi máy ép. Một số người có vú nhạy cảm có thể cảm thấy khó chịu. Trong trường hợp này, bạn nên lên lịch chụp nhũ ảnh khi vú của bạn ít căng nhất.

Việc ép vú là cần thiết vì:

Ép dẹp bề dày của vú để có thể nhìn thấy được tất cả các mô.

Dàn trải mô vú ra để cho những bất thường nhỏ không bị che khuất bởi vùng mô vú phủ bên ngoài,

Chỉ cần sử dụng một liều tia X thấp vì phần mô vú được chụp bị ép mỏng hơn,

Giữ vú cố định nhằm tránh bị nhòe hình do cử động gây ra,

Giảm sự khuếch tán cuả tia X để hình ảnh được rõ nét hơn.

Kỹ thuật viên hình ảnh sẽ đứng sau một tấm chắn bằng kính trong khi phát tia X. Bệnh nhân sẽ được yêu cầu thay đổi tư thế chút ít giữa các lần chụp ảnh. Thường chụp từ trên xuống dưới và chụp xéo. Qui trình này được lặp lại để chụp vú bên kia.

Chụp X quang tuyến vú kéo dài trong bao lâu?

Mỗi lần chụp cần khoảng ba mươi phút. Khi chụp X quang tuyến vú thực hiện xong, bạn sẽ được yêu cầu chờ cho đến khi kỹ thuật viên hình ảnh kiểm tra các hình ảnh để xác định xem có cần phải chụp bổ sung thêm hình ảnh hay không.

Bệnh nhân có đặt túi ngực cũng thực hiện theo các hướng dẫn tương tự để kiểm tra vú như những trường hợp không đặt túi ngực..

Sự khác biệt khi chụp x quang tuyến vú có và không có đặt túi ngực như sau:

Đặt túi ngực (vú có túi tạo hình) có thể mất nhiều thời gian hơn vì cần phải chụp theo nhiều hướng hơn.

Đặt túi ngực cũng có thể làm cho việc đọc nhũ ảnh trở nên khó khăn hơn vì cáccấy ghép bằng silicon hoặc bằng dung dịch nước muối đều không cho tia X đi qua và có thể cản trở không nhìn thấy rõ những mô bên dưới túi ngực, nhất là khi cấy ghép được đặt ở phía trước thay vì ở phía dưới các cơ ngực. Ước tính có khoảng 25% mô vú sẽ không nhìn thấy được trên hình chụp nhũ ảnh do phần cấy ghép che lấp. Kỹ thuật viên hình ảnh sẽ sử dụng kỹ thuật đặc biệt để chụp X quang rõ hơn hai vú của bệnh nhân . Khi thực hiện kỹ thuật này, bệnh nhân có thể cảm thấy khó chịu.

Đối với chụp x quang tuyến vú, kỹ thuật ép vú là việc quan trọng. Kỹ thuật viên hình ảnh sẽ rất cẩn thận và chỉ đè ép tối thiểu trên vú cấy ghép trong suốt quá trình chụp X quang vú. Kỹ thuật đè ép vú có thể gây ra tình trạng rỉ silicon hoặc làm nặng thêm hoặc làm thay đổi hình dạng hoặc kết cấu của vú, trường hợp này rất hiếm nhưng vẫn có thể xảy ra.

Khi nào thì bệnh nhân nhận được kết quả?

Bác sĩ chẩn đoán hình ảnh sẽ kiểm tra kết quả chụp x quang tuyến vú của bệnh nhân và sẽ thông báo ngay cho bác sĩ chỉ định khi có bất kỳ nghi ngờ nào . Bệnh nhân sẽ nhận được kết quả trong ngày hoặc trong vòng hai (2) ngày tùy theo các yêu cầu lâm sàng và chẩn đoán.

Để biết thêm thông tin và đặt hẹn, xin vui lòng liên hệ Khoa Chẩn Đoán Hình Ảnh của Bệnh Viện FV: (08) 54 11 34 00

Chụp X Quang Phát Hiện Ung Thư Phổi / 2023

Ung thư phổi đứng đầu về tỷ lệ mắc trong số các bệnh ung thư ở nhiều nước trên thế giới. Để chẩn đoán bệnh ung thư phổi, bác sĩ thường kết hợp nhiều phương pháp khác nhau. Vậy, chụp X quang phát hiện ung thư phổi không?

Chụp X quang phát hiện ung thư phổi không?

Chụp X quang phổi là phương pháp phổ biến để chẩn đoán các bệnh lý ở phổi bao gồm ung thư hoặc nhiễm trùng ở phổi, thủng phế quản, phù phổi… Đây là phương pháp có độ nhạy tương đối cao vì vậy thường được áp dụng trong sàng lọc ung thư phổi.

Chụp X quang phát hiện ung thư phổi không? Ung thư phổi thường bắt đầu từ các vị trí tiền ung thư trong phổi. Ở giai đoạn ung thư rất sớm, khi khối u có kích thước rất nhỏ hoặc chưa hình thành mà chỉ có sự thay đổi đầu tiên trong gen. Lúc này, các triệu chứng bệnh cũng thường chưa xuất hiện. Chỉ chụp X quang khó có thể phát hiện bệnh ở giai đoạn này.

Đến giai đoạn ung thư tiến triển, khi khối u có kích thước lớn hơn, chụp X quang có thể cho phép phát hiện ung thư bao gồm cả vị trí, kích thước, ranh giới và sự xâm lấn của chúng. Tuy nhiên, kết quả xét nghiệm cũng có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố nên đây chỉ là phương pháp mang tính chất gợi ý, kết hợp với nhiều xét nghiệm khác để chẩn đoán chính xác tình trạng bệnh.

Chẩn đoán ung thư phổi như thế nào?

Chẩn đoán ung thư phổi thường kết hợp nhiều phương pháp khác nhau để chẩn đoán chính xác tình trạng bệnh. Ngoài chụp X quang phổi, các phương pháp có thể chỉ định bao gồm:

Sinh thiết mô bất thường nghi ngờ ung thư được thực hiện dưới sự hướng dẫn của X quang hay CT nhằm loại bỏ một hoặc nhiều mô phổi, đem quan sát dưới kính hiển vi để xác định chính xác tình trạng bệnh, loại ung thư.

Một số chẩn đoán hình ảnh chuyên sâu như chụp cắt lớp vi tính ngực, cộng hưởng từ, cắt lớp phát xạ có thể phát hiện các khối u có kích thước nhỏ, chỉ khoảng 1 mm – dấu hiệu ung thư phổi giai đoạn sớm mà chụp X quang phổi rất dễ bỏ sót.

Các dấu hiệu cảnh báo ung thư phổi không nên bỏ qua

Ung thư phổi giai đoạn đầu có ít biểu hiện, đa số các triệu chứng chỉ xuất hiện ở giai đoạn ung thư tiến triển. Hãy cảnh giác với một số triệu chứng bệnh như:

Ho ra máu

Khó thở

Đau ngực, thở khò khè, khàn tiếng

Đau tức vùng ngực

Mệt mỏi, sút cân, da nhợt nhạt…

Cấu Tạo Máy Chụp X Quang / 2023

Máy chụp X quang là thiết bị chẩn đoán hình ảnh thông dụng, phổ biến trong các phòng khám cơ sở y tế. Thiết bị hoạt động dựa trên bản chất của tia X, giúp tái tạo hình ảnh các bộ phận được chụp trong cơ thể, qua đó giúp các bác sĩ có thêm cơ sở để chẩn đoán tình hình sức khoẻ của bệnh nhân. Vậy cấu tạo của máy chụp X quang như thế nào?

Bóng phát tia X

Bóng X quang có thể xem như dạng đặc biệt của diot chỉnh lưu chân không, bóng X – quang bao gồm các bộ phận chủ yếu sau

Nguồn bức xạ điện từ – cathode (âm cực)

Nguồn bức xạ tia X – Anode (dương cực)

Vỏ thuỷ tinh (vỏ trong) bao quanh ande và cathode, đã được hút chân không để loại trừ các phân tử khí cản trở trên đường đi trùm điện từ

Vỏ bóng (vỏ ngoài) thường làm bằng hợp kim nhôm phủ chì để ngăn ngừa tia X bức xạ theo những hướng không mong muốn ra môi trường xung quanh và có tác dụng tản nhiệt. Ngoài ra trên vỏ còn bố trí cửa sổ tia X nơi ghép nối ới hộp chuẩn trực và các vị trí đầu nối

Hiện nay, có hai loại bóng thường được ứng dụng phổ biến trong các máy X quang là bóng sử dụng Anode quay và bóng sử dụng Anode cố định

Ống phát tia X

Là ống tia cathode ở áp suất 10 -3 mmHg có 3 cực.

Cathode C hình chỏm cầu, electron được cung cấp bằng dây kim loại (wonfram, constantan,..) nung nóng với bộ nguồn riêng

Đối âm cực nằm giữa anode A và cathode C bằng kim loại có nguyên tử lượng lớn và khó nóng chảy (Platin, wolfram,..) để chắn dòng tia cathode. Đối âm cực thường được nối với anode A

Anode: Trong một bóng chân không, thường làm bằng thủy tinh, có hai điện cực. Cathode có sợi đốt giống như trong bóng đèn điện. Khi sợi đốt bị đốt nóng thì đám mây electron xuất hiện. Anode thường được làm bằng vật liệu dẫn nhiệt tốt, ví dụ như đồng. Ở trênanode có một điểm để hội tụ và nhận tương tác của chùm electron đến từ Cathode, thường là Vonfram được gọi là bia.Khi đặt một điện áp cao thế, thường trong khoảng từ 25.000 V (25 kV) đến 150.000 V (150 kV), lên cathode và anode thì electron từ sợi đốt sẽ được gia tốc hướng về bia. Diện tích của bia ở đó các electron bắn phá vào và tia X phát ra gọi là tiêu điểm hay điểm tiêu cự. Cao áp đặt lên hai điện cực thường được đặc trưng bằng giá trị cực đại hay giá trị đỉnh vì điện áp đặt vào là biến đổi. Vì vậy mà chúng ta sử dụng ký hiệu kVp (giá trị điện áp cực đại – kilovolt peak) và chất lượng tia X phát ra thường được xác định thông qua kVp.Dòng điện chạy qua bóng phát tia X, tính bằng miliampe (mA) được điều khiển bằng dòng qua sợi đốt. Suất liều tính bằng miliampe-giây (mAs) phụ thuộc vào tích số dòng qua bóng phát và thời gian chiếu. Chất lượng của tia X trực tiếp phụ thuộc vào giá trị mAs.

Tia X đặc trưng tạo ra các electron bắn phá bia làm bật electron trên các quỹ đạo bên trong ra khỏi nguyên tử vật liệu làm bia. Tia X này được gọi là tia X đặc trung vì nó đặc trưng cho từng loại nguyên tố làm bia.

Trong vùng năng lượng tia X dùng cho chẩn đoán thì hầu hết là bức xạ hãm. Chỉ một vài phần trăm năng lượng tia X là của tia X đặc trưng vì nó đặc trưng riêng cho từng loại nguyên tố làm bia

Trong vùng năng lượng tia X dùng cho chẩn đoán thì hầu hết là bức xạ hãm. Chỉ một vài phần trăm năng lượng tia X là của tia X đặc trưng. Vào khoảng 99% động năng của electron biến đổi thành năng lượng nhiệt cần phải giải phóng cho bóng phát tia X. Do đó chúng ta có thể nói rằng kiểu tạo tia X này chỉ đạt hiệu suất là 1%

Hình Ảnh X Quang Dạ Dày / 2023

Kỹ thuật khám X quang dạ dày

Để khám dạ dày trên hình ảnh X quang ta cho bệnh nhân uống baryte với số lượng từ 250 – 300ml. Tùy theo tuổi của bệnh nhân và tình trạng bệnh lý của dạ dày số lượng này sẽ thay đổi. Để xem niêm mạc ta chỉ cần cho bệnh nhân uống 50 – 100ml là đủ. Ta cũng có thể bơm hơi để làm đối quang kép với lượng hơi từ 500 – 600ml O2 hoặc không khí. Với phương pháp này có thể phát hiện được nhiều khối u, ổ loét mặt khá rõ rệt. Sau đó cho bệnh nhân chụp ở nhiều tư thế khác nhau: đứng thẳng nghiêng, nằm ngữa, sấp, anti-trendelenbourg để bộc lộ mọi chi tiết của dạ dày và tổn thương.

Cần lưu ý rằng hình ảnh thấy được trên phim X quang thường quy là hình thấy được bên trong lòng dạ dày, muốn đánh giá thành dạ dày và các tạng chung quanh cần phải bổ sung bằng các phương pháp chụp cắt lớp như siêu âm, cắt lớp vi tính. Ngày nay xu hướng chẩn đoán bệnh lý dạ dày được nhường chổ cho nội soi.

Dạ dày bình thường

Hình thể: trên X quang, hình dáng dạ dày tương tự như ở giải phẫu bình thường.

Ở tư thế đứng chụp thẳng, dạ dày có hình chữ J đối với người bình thường. Phần túi hơi ở trên cùng và có mức baryte nằm ngang.

Nằm ngữa, hình ảnh dạ dày giống như trên giải phẫu hoàn toàn.

Nằm sấp, nó lại giống như một chiếc giày.

Trương lực: là sức căng của cơ lúc nghỉ, khi co bóp làm gia tăng trương lực này (sức căng của cơ), trương lực chịu ảnh hưởng của dây X là chủ yếu. Khi:

Trương lực bình thường dạ dày có hình chữ J.

Tăng trương lực dạ dày ngắn có hình sừng bò.

Giảm trương lực dạ dày dài thòng xuống hình bít tất.

Mất trương lực dạ dày giãn to hình đaúy chậu.

Hình thể và trương lực không đơn thuần chịu ảnh hưởng tại chổ của thành mà còn tùy thuộc vào:

Thể tạng bệnh nhân: béo phì dạ dày bị đẩy lên cao, hang vị bị kéo ra sau. Ở phụ nữ có thai cũng có thể bị tương tự.

Độ căng cứng của thành bụng có ảnh hưởng đến tương quan của các cơ quan trong ổ bụng, thành bụng nhão làm giảm toàn bộ trương lực này.

Tình trạng của các cơ quan lân cận: gan, lách, ruột non, ruột già.

Tương quan của dạ dày phần này, trước hết chúng ta phải nắm chắc giải phẫu học. Sau đó nhờ các hình ảnh cắt lớp trên siêu âm, cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ sẽ cho thấy sự tương quan trực tiếp giữa dạ dày với các tạng lân cận.

Nhu động của dạ dày:

Tức là sự co bóp của các cơ thành dạ dày biểu hiện dưới dạng những làn sóng khởi phát ở bờ cong lớn rồi đến bờ cong nhỏ. Sóng khởi đầu ở giữa bờ cong lớn thường là nông và sau đó sâu dần, sâu nhất ở ở phần hang tiền môn vị, có khi 2 sóng ở 2 bờ gần sát nhau tạo nên hình giả hành tá tràng. Thường 2 – 3 sóng đi liền nhau và cách nhau khoảng 1/10gy.

Vận động của dạ dày:

Dạ dày di động theo nhịp thở, vận động của thành bụng, sự ép nắn ngoài thành bụng.

Bài xuất:

Bình thường sau 2 giờ kể từ khi ăn xong dạ dày đã bài xuất hết barít. Thời gian này còn thay đổi tùy theo chất ăn hoặc uống vào, và còn tùy thuộc vào nhiệt độ của thức ăn. Ứng dụng tính chất này để tăng gia tốc bài xuất ngâm thuốc: lạnh.

Niêm mạc:

Niêm mạc thay đổi tùy theo vùng (nhìn trên phim X quang thường quy hoặc trên hình nội soi):

Ở phình vị niêm mạc không đều, thô và ngắn, có xoang.

Ở tâm vị đi suốt dọc theo bờ cong nhỏ niêm mạc mịn xếp song song nhau cho đến tận môn vị, thỉnh thoảng có vài niêm mạc bắt chéo qua bờ cong lớn ở vùng hang vị.

Ở hai mặt niêm mạc to hơn xếp song song nhau ở phần thân ở hang vị có nếp bắt chéo.

Ở bờ cong lớn niêm mạc thô các nếp chạy thẳng góc với bờ này tạo nên hình răng cưa.

Ở môn vị niêm mạc ít hơn và nối song song cho đến tá tràng.

Niêm mạc không thay đổi theo nhu động, nhưng lại thay đổi theo trương lực: khi tăng thể hiện niêm mạc dẹt và không rõ; khi giảm niêm mạc rõ, nếp sâu.

Các dấu hiệu bệnh lý dạ dày

Thoát vị hoành là một phần dạ dày chui ra khỏi ổ bụng lên lồng ngực.

Liệt cơ hoành trái : dạ dày di động nghịch lý.

Xoắn dạ dày (hiếm).

Các khối u làm đẩy.

Cổ chướng, phụ nữ có thai.

Hơi trong ruột.

Kéo dài trục đứng (bình thường chiều dài dạ dày 23cm, đáy ở trên mào chậu) làm sa quá mào chậu gọi là sa dạ dày.

Giãn rộng khi tắc hẹp không bài xuất được.

Dạ dày teo nhỏ gọi là dạ dày Squirrheux (Linite gastrique)

Hình ấn lõm vào (soustraction):

Gọi là hình khuyết: ở đây các tổ chức ở thành bình thường (gọi là hình đẩy), nếu tổ chức ở thành bất thường gọi là khuyết có cuống hay không.

Tùy mức độ thành dạ dày có bị tổn thương hay không ta có:

Hình khuyết do các khối u ở bên ngoài chèn ép vào: tụy, gan, lách, ruột chướng hơi, các hình khuyết này sẽ thay đổi khi thay đổi tư thế, bờ mềm mại, được gọi là hình khuyết nhạt (nébuleux).

Hình khuyết của các khối u lành tính : có bờ tròn đều, khá thường xuyên trên nhiều phim khác nhau : polype, myome, schwannome, trichobézoat.

Hình khuyết của ung thư dạ dày : hình khuyết thường xuyên có bờ nhiễm cứng nham nhở không thay đổi trên tất cả các phim.

Hình khuyết nhỏ kiểu răng cưa : gặp trong viêm dạ dày, loét nhỏ, viêm quanh dạ dày.

Hình giả khuyết : đó là những hình khuyết không tồn tại thường xuyên mất đi khi nắn ép, thường ở bên trong dạ dày : thức ăn, ổ đọng thuốc giả.

Hình ngấn co thắt: tùy mức độ có nhiều loại.

Ngấn nông : 2 – 3cm đo sóng nhu động thay đổi thường xuyên.

Ngấn cơ năng do sự co thắt của các sợi cơ vòng dạ dày, chỉ thấy được ở bờ cong lớn vì bó sợi dọc ở đây yếu hơn ở bờ cong nhỏ. Ngấn này thường đi kèm với một ổ loét ở bờ cong nhỏ, tồn tại khá thường xuyên chỉ mất đi khi chích atropin.

Ngấn thực thể : do sự co rút xơ sẹo của ổ loét ở bờ cong nhỏ hoặc sự thâm nhiễm K tạo nên hình khuyết dạng ống. Ngấn này không mất đi mà còn phát triển thêm khi chích atropin.

Hình lồi hay túi thừa: Tức là ổ đọng thuốc, do tổn thương hoặc dị dạng của thành dạ dày:

Hình lồi cố định, thường xuyên: do tổn thương khoét sâu vào thành dạ dày tạo nên ổ loét.

Hình lồi cố định vị trí nhưng thay đổi về kích thước: Túi thừa dạ dày thường thấy ở phần trên của dạ dày, thực quản và điển hình nhất là có cuống.

Các bệnh lý dạ dày thường gặp

Hình ảnh trực tiếp:

Ổ loét điển hình của Haudek : ổ loét là do sự phá hủy tại chổ của niêm mạc dạ dày tạo nên một ổ khuyết. Khi chụp X quang thuốc sẽ chui vào ổ loét đó. Trên phim thẳng chụp ở bờ ta thấy một hình lồi ra ngoài thành dạ dày, chụp ở bề mặt ta thấy được ổ đọng thuốc. Tùy theo kích thước mức độ nông sâu ta thấy có nhiều hình ảnh : hình gai hồng, hình trái dâu hoặc nửa quả cầu, hình nấm, hình ngón tay, mũi mác, hình ổ loét khổng lồ.

Vị trí của ổ loét : thường thấy nhất là ở bờ cong nhỏ; ít hơn là ở mặt sau dạ dày, phát hiện được nhờ chụp ép, chụp niêm mạc hoặc chụp nghiêng. Ôø loét ở ngay dưới tâm vị và ở mặt trước thường hiếm hơn.

Các ổ loét ở vùng tiền môn vị và của ống môn vị thường rất nhỏ, có phù nề ở chung quanh dưới dạng gai hồng.

Loét ở bờ cong lớn lại rất hiếm ta thấy có hình ngấn lõm ở bờ cong lớn và ổ loét thường lồi ra ở tâm của ngấn đó, ổ loét thường có bờ không đều nhưng luôn luôn ác tính.

Ổ loét cũng có khi thủng vào một cơ quan phụ cận : lách, tụy, gan, đại tràng.

Theo Gutmann thì ổ loét phần đứng ở hai bờ đều là lành tính, loét ở phần ngang có thể có khả năng ác tính, vì thế cần phẩu thuật cắt dạ dày khi có ổ loét ở đây.

Tất nhiên nội soi sinh thiết để có chẩn đoán chắc chắn hơn.

Thành ổ loét “ulcus wall” thường có phù nề làm gồ lên trên mặt, ngoài ra những ổ loét lâu ngày có thể có dấu niêm mạc hội tụ, dày lên các nếp và có thể co kéo.

Hình: So sánh hình ảnh đại thể và x quang của ổ loét dạ dày. (a. hình ảnh đại thể; b. hình ảnh tổng thể; c. hình ảnh x quang).

Hình ảnh gián tiếp chỉ có giá trị hàng thứ yếu mà thôi, nếu không có ổ loét thì không thể lết luận có hay không loét được.

Làm mất nhu động một phần, hay nhiễm cứng giới hạn (rectitude segmentaire) của bờ cong nhỏ. Đây là một dấu hiệu có trước khi có ổ loét, do sự suy giảm tính mềm mại của thành, tiếp theo là sự phù nề giới hạn của niêm mạc. Biểu hiện trên phim X quang là sóng nhu động không đi qua vùng này một cách bình thường được. Mất sóng nhu động là một triệu chứng gián tiếp rất trung thành, nhưng khó phát hiện. Cần so sánh nhiều phim, nhiều lần chụp ngay cả chụp chồng nhiều lần (polygraphie) mới phát hiện được.

Ngấn lõm ở bờ cong lớn do sự thắt của bó sợi vòng vùng có ổ loét. Luôn luôn được tìm thấy ở bờ đối diện tức là bờ cong lớn gọi là ngón tay chỉ.

Co thắt ống môn vị:

Tăng nhu động : để thắng được sự co thắt ở môn vị (do viêm) các cơ dạ dày phải tăng nhu động lên làm các sóng sâu hơn, nhịp độ tăng hơn. Lúc đầu sự cố gắng này còn đem lại hiệu quả trong bài xuất của dạ dày. Càng về sau thành dạ dày mệt, các cơ co bóp yếu dẫn đến :

Chậm bài xuất dạ dày nhất là các ổ loét gần môn vị:

Dạ dày còn nhiều dịch cặn tiết thấy được một lớp dịch cản quang nhạt gần túi hơi, đó là dịch tiết.

Đau khi ấn vào, triệu chứng này ít quan trọng. Nếu ổ loét ở môn vị lại có thêm những triệu chứng nhưng chỉ mang tính tương đối.

Gập góc ống môn vị.

Kéo dài ống môn vị.

Lệch trục ống môn vị hành tá tràng, trục qua ống môn vị không đối xứng của thành tá tràng.

Chẩn đoán phân biệt;

Ổ loét lành tính và ổ loét ác tính :

Ổ loét với ổ đọng thuốc giả đặc biệt ở phần trên của bờ cong nhỏ.

Góc Treitz, túi thừa : mất đi khi nắn ép, không cố định.

Biến chứng của loét dạ dày:

Dạ dày thắt hai túi.

Loét gây thủng dạ dày thể nhiễm cứng.

Co rút ở góc bờ cong nhỏ cho hình dạ dày ốc sên.

Hẹp môn vị: dạ dày hình đáy chậu có hình ảnh tuyết rơi (l’image en chute de neige).

Ung thư dạ dày

Chủ yếu là ung thư thể tuyến (Adenocarcinoma), đây là loại K thường gặp nhất.

Ở giai đoạn sớm chỉ khu trú ở lớp niêm mạc không ăn sâu vào lớp cơ niêm, giai đoạn nầy kín đáo rất khó thấy.

Ở giai đoạn tiến triển có sự xâm lấn vào các lớp cơ niêm bên trong thành dạ dày, đồng thời xâm nhập vào lòng dạ dày với các triệu chứng như sau:

Thể nhiễm cứng: ta thấy được hình ảnh mất sóng nhu động trên một đoạn hoặc nhiều đoạn của các bờ cong.

Thể sùi: tương ứng với các hình khuyết bờ nham nhở

Thể loét: là các hình lồi, có chân nhiễm cứng, đáy nham nhở, hình thấu kính.

Thể hỗn hợp.

Hình: Các thể và vị trí ung thư dạ dày. 1 và 2: Nhiễm cứng giới hạn. 3: Dạ dày teo nhỏ trong ung thư toàn phát dạ dày (Linite gastrique). 4: Ung thư thể loét ở góc bờ cong nhỏ. 5: Ung thư ở phình vị. 6: Ung thư thể sùi dạng vòng ở thân dạ dày. 7: Ung thư hang vị gây hẹp “hình lõi táo”. 8: Hẹp môn vị, giãn dạ dày. 9: Ung thư thể loét gây co rút ở góc bờ cong nhỏ. 10: Ung thư thể nhiễm cứng bề mặt gây mở rộng góc bờ cong nhỏ.