Top 15 # Xem Nhiều Nhất Xạ Trị Trong Ung Thư Vú / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Điều Trị Xạ Trị Trong Ung Thư Vú / 2023

Ung thư vú (UTV) là bệnh ung thư (UT) phổ biến nhất và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do ung thư ở nữ giới. Theo GLOBOCAN 2012, trên toàn thế giới có 1.671.149 trường hợp ung thư vú mới được chẩn đoán và 521.907 phụ nữ tử vong do UTV, đứng hàng thứ 5 trong số các nguyên nhân gây tử vong do ung thư, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 39/100.000 phụ nữ. Tại Mỹ, năm 2016 có khoảng 249.260 ca mới mắc và 40.890 ca tử vong vì UTV. Các phương pháp chính điều trị ung thư vú kinh điển hiện nay bao gồm: Phẫu thuật, hóa chất, xạ trị, nội tiết. Trong thời gian gần đây, một số bệnh nhân ung thư vú có thể được chỉ định điều trị đích hoặc điều trị miễn dịch. Để đạt hiệu quả điều trị tối ưu, ung thư vú cần được điều trị đa mô thức kết hợp các phương pháp điều trị nêu trên.

Chỉ định xạ trị với bệnh nhân ung thư vú

Xạ trị là một trong những phương pháp chính điều trị ung thư vú sau khi đã điều trị phẫu thuật, hóa chất. Xạ trị được chỉ định trong một số các trường hợp:

Sau phẫu thuật bảo tồn tuyến vú, giúp giảm nguy cơ tái phát tại chỗ và hạch vùng.

Ung thư đã có di căn xa đến các vị trí khác như xương hoặc não.

Trong đó, kỹ thuật xạ trị được sử dụng phổ biến nhất là xạ trị chiếu ngoài (EBRT).

Thể tích điều trị

Xạ trị chiếu ngoài là loại xạ trị phổ biến trong điều trị ung thư vú. Chùm tia xạ phát ra từ một máy gia tốc tuyến tính sẽ chiếu vào các khu vực cần xạ trị theo chỉ định của bác sỹ chuyên khoa xạ trị. Thể tích cần điều trị phụ thuộc vào phương pháp phẫu thuật (phẫu thuật bảo tồn hay cắt bỏ toàn bộ tuyến vú), tình trạng di căn hạch nách, và giai đoạn bệnh.

Nếu đã cắt bỏ toàn bộ vú và không di căn hạch nách thì sẽ thể tích chiếu xạ bao gồm thành ngực, sẹo mổ và những vị trí chân dẫn lưu khi mổ.

Nếu phẫu thuật bảo tồn tuyến vú thì thể tích chiếu xạ bao gồm toàn bộ vú và nâng liều xạ vào khu vực giường khối u ( nơi khối u đã bị cắt bỏ) để giúp ngăn chặn tái phát tại chỗ.

Nếu có di căn hạch nách thì khu vực này cần được chiếu xạ. Trong hầu hết các trường hợp, khu vực xạ trị cũng bao gồm cả vùng hạch thượng đòn và hạch vú trong.

Thời gian điều trị

Xạ trị cho những bệnh nhân có chỉ định thường được thực hiện khi bệnh nhân đã hoàn tất quá trình điều trị phẫu thuật cho đến khi vết mổ đã lành, hoặc sau khi kết thúc hóa trị 4 -8 tuần và kéo dài trong 3 – 6 tuần.

Bệnh viện Trung ương quân đội 108 có trang bị các hệ thống máy xét nghiệm sàng lọc ung thư vú như siêu âm, chụp Xquang tuyến vú 3D (mammography), sinh thiết kim giúp phát hiện chẩn đoán sớm ung thư vú cho các phụ nữ có nguy cơ cao bị ung thư vú. Bệnh nhân sau đó được hội chẩn tiểu ban ung thư vú – phụ khoa để thống nhất chẩn đoán và kế hoạch điều trị. Viện Ung thư tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 được thành lập từ tháng 10/2028 đã giúp nâng cao chất lượng điều trị đa mô thức cho bệnh nhân ung thư vú.

Sau khi được phẫu thuật và hóa trị, nếu có chỉ định xạ trị bổ trợ, bệnh nhân ung thư vú sẽ được chuyển đến điều trị ngoại trú tại Khoa Xạ trị – Xạ phẫu. Bệnh nhân được hội chẩn tia xạ và chỉ định điều trị:

Xạ trị toàn bộ vú (trường hợp phẫu thuật bảo tồn): Xạ trị thường là 5 buổi 1 tuần, từ thứ 2 đến thứ 6 trong khoảng 5 – 6 tuần.

Xạ trị toàn bộ thành ngực: nếu đã phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn vú và không có hạch bạch huyết di căn thì thể tích xạ bao gồm toàn bộ thành ngực, có thể bao gồm cả sẹo mổ và chân dẫn lưu. Thời gian điều trị thường 5 ngày 1 tuần và kéo dài 5 – 6 tuần.

Xạ trị bổ trợ hạch vùng: Trong cả hai trường hợp phẫu thuật toàn bộ vú hay phẫu thuật bảo tồn tuyến vú, nếu có di căn hạch nách thì cần chiếu xạ vú/thành ngực và thượng đòn và/hoặc hạch vú trong cùng bên. Thời gian điều trị cũng thường 5 ngày một tuần trong 5 – 6 tuần.

Tại Khoa Xạ trị – Xạ phẫu, Viện Ung thư, Bệnh viện Trung ương quân đội 108 đã áp dụng kỹ thuật xạ trị giảm phân liều giúp thời gian điều trị rút ngắn chỉ còn 3 tuần, giảm chi phí điều trị và tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân điều trị ngoại trú. Với những bệnh nhân phẫu thuật bảo tồn và không di căn hạch nách, xạ trị giảm phân liều đã được chứng minh có tác dụng tương đương với xạ trị liều thông thường trong kiểm soát tái phát tại chỗ và đồng thời tác dụng phụ cũng ít hơn.

Một số tác dụng phụ của xạ trị trong ung thư vú

Viêm da do tia xạ.

Mệt mỏi.

Viêm phổi do tia xạ.

Bệnh mạch vành do tia xạ (ung thư vú trái).

Trong quá trình điều trị, bệnh nhân cần trao đổi mọi thắc mắc với bác sỹ và đội ngũ nhân viên y tế để được tư vấn về quy trình xạ trị và cách dự phòng, khắc phục những biến chứng do xạ trị ung thư vú.

Một số kĩ thuật xạ trị ung thư vú đang được sử dụng hiện nay tại Khoa Xạ trị – Xạ phẫu, Viện Ung thư, Bệnh viện Trung ương quân đội 108:

Kỹ thuật xạ trị 3D- CRT.

Kỹ thuật xạ trị field in filed, xạ trị điều biến liều (IMRT).

Kỹ thuật xạ trị quay điều biến thể tích (VMAT): với độ chính xác cao, giảm liều tia xạ cho cơ quan lành, thời gian điều trị nhanh. Đặc biệt kỹ thuật này được chỉ định trong ung thư vú trái để giảm liều chiếu xạ lên tim.

Một số bệnh nhân ung thư vú trái được điều trị bằng kĩ thuật xạ trị hít sâu nín thở (DIBH – Deep Inhale Breath Hold), giúp điều trị chính xác, giảm thiểu tối đa tác dụng phụ lên cơ quan lành đặc biệt là trên tim. Đây là một kỹ thuật cao, đòi hỏi hệ thống máy xạ trị tiên tiến đồng bộ cho phép thực hiện kỹ thuật beam hold, đồng thời đội ngũ bác sỹ, kĩ sư, kĩ thuật viên được đào tạo có trình độ chuyên môn cao. Kỹ thuật này đã được đưa vào điều trị tại khoa Xạ trị – Xạ phẫu từ năm 2018 trên hệ thống máy xạ trị -xạ phẫu TrueBeam STx với hệ thống theo dõi bề mặt quang học (OSMS – Optical Surface Monitoring System) và kính lười tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân theo dõi nhịp thở của mình và phối hợp tốt hơn trong điều trị. Khoa Xạ trị – Xạ phẫu, Viện Ung thư, Bệnh viện Trung ương quân đội 108 là một trong những trung tâm đầu tiện tại Việt Nam thực hiện thành công kỹ thuật này. Hiện nay kỹ thuật xạ trị hít sâu nín thở đã được thực hiện thường quy cho các bệnh nhân ung thư vú trái nhằm nâng cao chất lượng điều trị, giảm tác dụng phụ trên tim, phổi cho bệnh nhân.

Bệnh nhân ung thư vú trái được điều trị bằng kĩ thuật xạ trị hít sâu nín thở (DIBH) trên máy xạ trị – xạ phẫu TrueBeam STx tại khoa Xạ trị – Xạ phẫu, Viện Ung thư, Bệnh viện Trung ương quân đội 108

Bệnh nhân cần tư vấn về xạ trị ung thư vú xin liên hệ Khoa Xạ trị – Xạ phẫu, Tầng hầm B2 Tòa nhà Trung tâm, Viện Ung thư, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Số 1 Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng, Hà Nội. Điện thoại: 024.62784163

Website: https://benhvien108.vn/gioi-thieu-khoa-xa-tri-xa-phau.htm

Fanpage: https://www.facebook.com/xatri108

Người viết bài: BS Nguyễn Thị Hà- Khoa Xạ trị – Xạ phẫu, Viện Ung thư, Bệnh viện Trung Ương Quân đội 108

Nguồn:

https://www.cancer.org/cancer/breast-cancer/treatment/radiation-for-breast-cancer.html

Xạ Trị Ung Thư Vú / 2023

Xạ trị là một trong những biện pháp quan trọng trong điều trị ung thư vú. Cùng tìm hiểu về phương pháp này trong bài viết cũng như biết cách chuẩn bị kỹ càng về tâm lý, tài chính cũng như các biện pháp giảm tác dụng phụ, nâng cao sức đề kháng giúp cơ thể nhanh chóng thích nghi phương pháp điều trị:

1. Xạ trị ung thư vú là gì?

Điều trị ung thư bằng xạ trị sử dụng tia X-quang mạnh để tiêu diệt tế bào ung thư. Điều trị xạ trị là liệu pháp điều trị phổ biến được sử dụng trong điều trị ung thư vú. Sử dụng các bức xạ chiếu đúng vị trí của khối u, các hạch bạch huyết hoặc thành ngực để ngăn chặn ung thư lan rộng, hoặc giảm nguy cơ tái phát.

Bác sĩ có thể khuyên người bệnh ung thư vú nên thực hiện xạ trị bên trong cơ thể (brachytherapy). Đây là phương pháp điều trị trong đó các mảnh nhỏ chất phóng xạ đặt xung quanh khối u. Tổng thời gian điều trị dao động chỉ từ vài giờ đến khoảng một tuần. Tác dụng phụ của phương pháp điều trị này ít hơn phương pháp xạ trị bên ngoài, và có thể giữ được nhiều mô khỏe mạnh tránh khỏi bị tác động xấu của tia xạ.

2. Tác dụng phụ xạ trị ung thư vú

Người bệnh thực hiện xạ trị ung thư vú có thể phải đối mặt với các tác dụng phụ của xạ trị ung thư sau:

Tác dụng phụ ngắn hạn của xạ trị ung thư vú

Các tác dụng phụ này thường chỉ là tạm thời, và thường mất đi trong vài tuần điều trị cuối cùng bao gồm:

Kích ứng da ở vùng sau điều trị. Sau vài lần điều trị đầu tiên, da sẽ cảm thấy nhạy cảm và bắt đầu chuyển sang màu hồng; cuối cùng có thể bị như cháy nắng, ngứa, bong tróc hoặc bị phồng rộp, thường gây đau nhức. Kích thích có thể tồi tệ hơn khi tiếp tục điều trị.

Rụng lông dưới cánh nếu bức xạ mục tiêu tới khu vực dưới cánh tay của bạn.

Cảm thấy rất mệt mỏi sau những tuần điều trị.

Tác dụng phụ dài hạn

Do bức xạ chỉ hướng đến một khu vực xác định trên cơ thể, nên các bác sĩ sẽ dành nhiều thời gian để “đánh dấu” trước khi thực hiện lần điều trị đầu tiên. Nghĩa là bác sĩ sẽ đo đạc cẩn thận để xem và kiểm tra bức xạ có nhắm trúng vào khu vực ung thư cần điều trị chưa và có ảnh hưởng đến các mô khác xung quanh không. Sau đó, họ sẽ đánh một dấu mực nhỏ trên da để hướng dẫn cho các đợt điều trị sau này. Vết đánh dấu thường được xăm lên da của bạn vĩnh viễn.

Có thể mất nhiều tháng hoặc nhiều năm để làn da trở lại màu sắc bình thường nếu vị trí bức xạ xạm hơn nhiều những vùng khác. Trong một số trường hợp, sự thay đổi màu sắc có thể sẽ là vĩnh viễn, hoặc đôi khi da sẽ săn chắc hơn hoặc dày hơn. Da nhạy cảm hoặc đau đôi khi có thể kéo dài nhiều tháng.

Bên cạnh đó, một số phụ nữ có thể thấy rằng sau xạ trị ung thư vú, vú trở nên nhỏ hơn và săn chắc hơn. Những phụ nữ đã điều trị xạ trị ung thư vú có thể gặp nhiều vấn đề cho con bú sau này.

Tác dụng phụ hiếm gặp

Trong trường hợp người bệnh phải loại bỏ hạch bạch huyết trước khi bức xạ, người bệnh có nguy cơ tắc nghẽn hạch bạch huyết cao (phù do mạch bạch huyết), gây ra sưng cánh tay nơi các hạch bị loại bỏ.

Bên cạnh đó, một số biến chứng hiếm gặp khác người bệnh có thể phải đối mặt bao gồm:

Xương sườn bị gãy do bị suy yếu trong quá trình xạ trị

Mô phổi bị viêm

Bị tổn thương tim khi bức xạ bên trái ngực

Ung thư thứ phát bởi bức xạ

Biện pháp đối phó với tác dụng phụ của xạ trị ung thư vú

Khi thực hiện điều trị xạ trị ung thư vú, người bệnh không thể tránh hoàn toàn tác dụng phụ của xạ trị, tuy nhiên vẫn có thể giảm thiểu các tác dụng phụ, bằng cách:

Mặc quần áo rộng rãi nếu bạn đang kích ứng da. Hãy lựa chọn loại áo ngực không có gọng.

Hãy hỏi bác sĩ các loại mỹ phẩm bạn nên sử dụng trên da khi tắm. Hãy hỏi bác sĩ trước những thứ kem hay thuốc mỡ bạn bôi lên da có ảnh hưởng gì đến quá trình điều trị hay không. Cố gắng không chà xát, gãi và chườm nước đá hay miếng đắp nóng lên vùng điều trị.

Chống mệt mỏi bằng cách nghỉ ngơi nhiều. Cung cấp cho cơ thể bạn các chất dinh dưỡng cần thiết để tự phục hồi. Báo lại với bác sĩ bất kỳ tác dụng phụ nào đang xảy ra.

Tăng cường sức đề kháng, hễ miễn dịch bằng chế độ dinh dưỡng, tâm lý tích cực, tập luyện các bài tập theo chỉ định và sử dụng thực phẩm bảo vệ sức khỏe Fucoidan

King Fucoidan & Agaricus là sự kết hợp tuyệt vời của Fucoidan Nhật Bản từ tảo Mozuku và nắm Agaricus là một sản phẩm cho tác dụng như vậy. Hai thành phần này kết hợp tạo nên tác dụng hiệp đồng giúp tăng khả năng tiêu diệt tế bào ung thư lên một cách đáng kể.

Viện Nghiên cứu Fucoidan Nhật Bản (NPO) đã khẳng định sự phối hợp giữa Fucoidan và Betaglucan trong nấm Agaricus kết hợp cùng các biện pháp điều trị ung thư hiện đại sẽ cho hiệu quả mạnh mẽ nhất, hạn chế các tác dụng không mong muốn trong quá trình hóa, xạ trị, hạn chế di căn và nâng cao chất lượng cuộc sống trong thời gian người bệnh chiến đấu với ung thư

King Fucoidan & Agaricus là sản phẩm Fucoidan Nhật Bản đầu tiên được Bộ Y tế cấp phép lưu hành, là sản được các bác sĩ bệnh viện Ung Bướu hàng đầu Việt Nam khuyên bệnh nhân ung thư nên sử dụng trước, trong và sau quá trình điều trị, giúp hỗ trợ điều trị ung thư, nâng cao sức đề kháng, giảm tác dụng phụ của hóa trị – xạ trị, giúp người bệnh ăn ngon hơn, ngủ ngon hơn, kiểm soát và kéo dài thời gian sống.

King Fucoidan giúp người bệnh giảm được những triệu chứng khó chịu khi điều trị bằng xạ trị

HOTLINE MIỄN CƯỚC 24/7 18000069 (miễn cước), để được tư vấn và mua hàng trực tiếp từ nhà nhập khẩu chính thức sản phẩm.

Dược sĩ: Nguyễn Thị Lan Anh

Lưu ý sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng chữa bệnh. Đây là sản phẩm được khuyên dùng trong xạ trị bởi các bác sĩ điều trị ung thư các bệnh viện chuyên khoa lớn tại Việt Nam

Xạ Trị Trong Chọn Lọc Điều Trị Ung Thư Gan Bằng Vi Cầu Phóng Xạ Y / 2023

SUMMARY

Selective Internal Radiation Therapy (SIRT) for liver cancer is a method to inject Y-90 labeled resin microsphere into the hepatic arteries supplying the tumor. Cancer cells will be annihilate by irradiation with ionizing radiation emitted from Y-90. Theprocedure has been standardized and applied in treatment of liver cancer patients at the Nuclear Medicine & Oncology Center, Bach Mai hospital.

Aims of study:

To establish and standardize the procedure of SIRT with Y-90 microsphere for liver cancer.

– To assess initial results of SIRT for liver cancer at The Nuclear medicine & Oncology Center, Bach Mai hospital.

Subject and method: 36 patients with primary or secondary liver cancer confirmation. These patients had been treated with Y-90 microsphere and follow-up assessments after treatment 1 and 3 months. Descriptive and propective study. Establishing a standard SIRT with Y-90 microsphere for liver cancer.

Results of study: Procedure of SIRT with Y-90 microsphere for liver cancer has been standardized. Contents of protocol included indications and contraindications; workflow: Arteriographic assessment to map tumor-perfusing vessels and assess portal vein patency; SPECT with Tc 99m MAA to optimize the treatment planning (by dosimetric evaluation) and evaluate hepatopulmonary shunting; inject Y-90 microsphere into the vessels supplying the tumor, SPECT or PET/CT to evaluate the distribution of Y-90 microsphere; Evaluate the outcomes and safety.

The initial treatment results of SIRT forprimary liver cancer patients: more than 80% patients responded with treatment, no patient had complication. AFP level reduced in 77.8% and no change in 22.2% patients, AFP reduced from 4660.3ng/ml to 248.4ng/ml; 72.2% patients mean tumor size was decreased from 7.2 cm to 4.3 cm and was stable in 27.8% chúng tôi patient with secondary liver cancer from colon cancer: CEAreducedfrom1000 ng/ml to 40ng/ml, tumor size 7.0 cm reduced to 3,0 cm.

Conclusion: Selective internal radiation therapy with Y-90 microsphere for liver cancer is a new, effective and safe method. Procedure of the technique was standardized and applied for liver cancer treatment at the Nuclear medicine & Oncology Center, Bach Mai hospital. The initial results show the efficacy and safety of the technique and it should be disseminated for primary and secondary liver cancer treatment.

Keywords: Y-90 microsphere, liver cancer, Selective Internal Radiation Therapy: SIRT.

TÓM TẮT

Xạ trị trong chọn lọc (Selective Internal Radiation Therapy: SIRT) ung thư gan (UTG) là phương pháp điều trị đưa các hạt vi cầu Resin gắn đồng vị phóng xạ Y-90 vào mạch máu nuôi khối u ác tính trong gan. Tế bào ung thư sẽ bị tiêu diệt do bức xạ ion hóa của Y-90 phát ra. Quy trình kỹ thuật đã được chuẩn hóa, áp dụng điều trị cho các bệnh nhân UTG tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (YHHN&UB) Bệnh viện Bạch Mai.

Mục tiêu nghiên cứu:

– Hoàn thiện quy trình kỹ thuật xạ trị trong chọn lọc UTG bằng vi cầu Y-90.

– Đánh giá kết quả ban đầu điều trị UTG bằng vi cầu phóng xạ Y-90 tại Bệnh viện Bạch Mai.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 36 bệnh nhân chẩn đoán xác định là UTG nguyên phát hoặc thứ phát. Những bệnh nhân này được điều trị bằng vi cầu phóng xạ, theo dõi đánh giá kết quả sau điều trị 1 tháng và mỗi 3 tháng. Nghiên cứu mô tả, tiến cứu.

Kết quả nghiên cứu: Đã hoàn thiện được quy trình kỹ thuật xạ trị trong chọn lọc bằng vi cầu Y-90 để điều trị UTG, bao gồm cả chỉ định và chống chỉ định; Các bước tiến hành gồm: chụp mạch đánh giá hệ mạch máu gan và mạch nuôi UTG, chụp SPECT với 99mTc-MAA đánh giá Shunt gan phổi, chuẩn liều phóng xạ Y-90 điều trị, bơm vi cầu Y-90 vào mạch máu nuôi UTG, chụp SPECT hoặc PET/CT đánh giá phân bố vi cầu Y-90; Đánh giá hiệu quả và tính an toàn.

Kết quả điều trị 36 bệnh nhân UTG nguyên phát bằng hạt vi cầu Y-90 cho thấy: trên 80% bệnh nhân có đáp ứng điều trị, triệu chứng lâm sàng được cải thiện, không có bệnh nhân bị biến chứng. Nồng độ AFP giảm ở 77,8% bệnh nhân, 22,2% bệnh nhân có AFP không tăng hơn trước điều trị, AFP giảm từ 4660,3 ng/ml xuống còn 248,4ng/ ml; 72,2% bệnh nhân có u gan giảm kích thước, đường kính khối u gan trung bình giảm từ 7,2cm xuống còn 4,3, 27,8% bệnh nhân có kích thước khối u không thay đổi; 80,3% bệnh nhân có u gan không còn tăng sinh mạch. Bệnh nhân ung thư đại tràng di căn gan có chỉ chất chỉ điểm khối CEA trước điều trị là 1000 ng/ml, sau khi điều trị giảm còn 40ng/ml. Kích thước khối u di căn từ 7,0 cm giảm xuống còn 3,0 cm. Thể trạng bệnh nhân được cải thiện tốt.

Kết luận: Điều trị ung thư UTG bằng vi cầu Y-90 là phương pháp điều trị mới. Quy trình điều trị đã được chuẩn hóa, áp dụng thường quy tại Bệnh viện Bạch Mai. Kết quả điều trị bệnh nhân UTG cho thấy rất hiệu quả và an toàn. Kỹ thuật cần được phổ biến để áp dụng điều trị cho các bệnh nhân UTG nguyên phát và cả UTG thứ phát.

Từ khóa: vi cầu Y-90, ung thư gan, xạ trị trong chọn lọc.

Tác giả: Mai Trọng Khoa*, Trần Đình Hà*, Trần Hải Bình*, PhạmVăn Thái*, Lê Chính Đại*, Phạm Cẩm Phương*, Nguyễn Thanh Hùng*, Trần Văn Thống* và CS, Phạm Minh Thông**, Vũ Đăng Lưu**, Nguyễn Xuân Hiền**, Ngô Lê Lâm**, Trịnh Hà Châu** và cs

Địa chỉ: TT. Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai **Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Bạch Mai

Theo tạp chí điện quang Việt Nam số 23 – 03/2016

Những Tác Dụng Phụ Của Xạ Trị Ung Thư Vú / 2023

Ung thư vú là bệnh ung thư phổ biến nhất ở nữ giới cùng với ung thư tử cung và ung thư tuyến giáp. Một trong những phương pháp điều trị ung thư vú được lựa chọn hàng đầu là xạ trị với hiệu quả tiêu diệt khối u ác tính nhanh và mạnh. Tuy nhiên, bệnh nhân vẫn không thể tránh khỏi tác dụng phụ của xạ trị ung thư vú.

1. Ung thư vú là bệnh như thế nào?

Về mặt sinh học, vú làm nhiệm vụ tạo sữa mẹ, cung cấp nguồn dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ khi mẹ sinh em bé.

Khi các bộ phận nằm trong bầu vú tăng sinh bất thường quá giới hạn sẽ gây ra bệnh ung thư vú.

Theo nghiên cứu, những phụ nữ thuộc nhóm sau khả năng bị ung thư vú cao hơn nhóm con lại:

Tuổi cao (trên 50 tuổi).

Tiểu sử gia đình có người bị ung thư vú, buồng trứng.

Người có kinh nguyệt sớm (trước 12 tuổi), mãn kinh muộn (sau 55 tuổi), rong kinh, kinh nguyệt không đều, u nang – u xơ tuyến vú.

Người có con muộn (sau 35 tuổi), không sinh con, vô sinh, hiếm muộn.

Người sử dụng chất kích thích: thuốc lá, rượu, bia, các chất gây nghiện.

Mang gen đột biến BRCA1, BRAC2 dễ ung thư vú. Trên thế giới có siêu sao minh tinh màn bạc Angelina Jolie mang gen này. Cô đã cắt tuyến vú để phòng ngừa ung thư.

Do môi trường sống bị ô nhiễm nặng: nhiều chất độc hại, khí thải nhà máy, có tia phóng xạ, nhiễm độc thủy ngân, khói do đốt rơm rạ, cháy rừng…

Các dấu hiệu và cách phát hiện bệnh bệnh ung thư vú

Khi bạn phát hiện những dấu hiệu bất thường sau, hãy tới gặp bác sĩ để kiểm tra ngay:

Sờ thấy các cục u quanh vú: thường xuyên sờ nắn núm vú, bầu vú, nếu thấy các cục u tròn, cứng thì phải đi kiểm tra ngay, đừng để tới khi khối u nhìn thấy bằng mắt mới phát hiện bệnh.

Dịch tiết ra ở núm vú.

Núm vú bị tụt sâu vào trong.

Da quanh vú thay đổi màu sắc, trở nên nhăn nhúm, có nếp gấp như da người già. Đôi khi quanh vú mọc mụn nước lốm đốm.

Nổi cục ở nách: đây là thời điểm khối u ở vú bắt đầu di căn sang vùng xung quanh, gần nhất là vùng nách. Khi đó các hạch ở nách sưng to, có thể sờ thấy được.

Nhận thấy các dấu hiệu trên, bạn nên gặp bác sĩ để thăm khám bệnh bằng cách: chụp Xquang, Siêu âm vú, chụp MRI, xét nghiệm mẫu tế bào hay mô ở vú.

Hiện nay có rất nhiều phương pháp điều trị ung thư, một biện pháp rất phổ biến trong chữa trị ung thư vú là xạ trị.

2. Xạ trị ung thư vú là gì?

Xạ trị hay còn gọi là Liệu pháp xạ (Brachytherapy): sử dụng các chùm năng lượng cao hoặc sóng điện từ tần suất cao như tia X – quang, tia Gamma, tia proton… phá hỏng cấu trúc các khối u, tiêu diệt tế bào ác tính, ngăn chặn sự hình thành mới các khối u.

Xạ trị có thể sử dụng đơn lẻ hoặc kết hợp với phương pháp phẫu thuật hoặc hóa trị trong phác đồ điều trị ung thư tùy theo loại bệnh ung thư và tình hình bệnh cũng như thể trạng của ng­ười bệnh.

Công dụng của xạ trị rất cao, làm giảm nguy cơ tái phát ung thư vú từ 35% còn 5 – 10%.

Thời gian xạ trị:

Xạ trị bên ngoài: từ 5 – 7 tuần và 5 ngày/ tuần. Xạ trị vú tăng tốc thì 3 tuần.

Xạ trị bên trong: từ vài giờ tới 7 ngày, có thể tiêu diệt hết các khối u mà không hầu như không có tác dụng phụ như xạ trị bên ngoài.

Các biện pháp xạ trị ung thư vú đều có tác dụng phụ không mong muốn với bệnh nhân trong và sau quá trình điều trị u vú.

3. Khi nào xạ trị ung thư vú

Tùy thuộc vào thể trạng bệnh nhân và giai đoạn ung thư, bác sĩ sẽ chỉ định xạ trị mỗi bệnh nhân với phác đồ điều trị khác nhau.

– Giảm nguy cơ ung thư tái phát: loại bỏ các tế bào ác tính còn sót lại ở vú. Nếu bệnh nhân đã cắt bỏ một phần vú, bác sĩ sẽ chỉ định xạ trị đối với các mô vú còn lại.

– Nếu người bệnh cắt bỏ toàn bộ vú mà ung thư đã di căn đến các hạch bạch huyết dưới cánh tay thì sẽ được xạ trị vùng thành ngực.

Bác sĩ chọn xạ trước, hóa sau; hóa trước, xạ sau; cùng song hành hóa – xạ theo phác đồ phù hợp nhất với tình trạng người bệnh.

Xạ trị khi ung thư vú tiến triển nặng hơn gọi là điều trị giảm nhẹ, kiểm soát bệnh chưa được điều trị ở vú trước đó, giúp giảm các triệu chứng ung thư (như đau, chèn ép tủy sống hoặc các khối u do ung thư xâm lấn – ung thư vú thứ phát) và chỉ trong khoảng thời gian ngắn.

3. Tác dụng phụ của xạ trị ung thư vú

Bệnh nhân K vú thường chịu tác động từ tác dụng phụ của xạ trị ung thư vú với 2 loại cấp tính và mãn tính.

– Tác dụng phụ của xạ trị ung thư vú cấp tính (tác dụng sớm): xuất hiện ở da, niêm mạc, tủy xương… trên tế bào tăng trưởng nhanh trong và sau khi xạ trị với mức độ tăng dần; cao nhất là từ tuần 5 – tuần 7.

– Tác dụng phụ của xạ trị ung thư vú mãn tính (tác dụng muộn): tế bào chết đi (teo mô, tạng, xơ hóa) diễn tiến chậm trong vài tháng tới vài năm, không phục hồi và làm ảnh hưởng, mất chức năng hoạt động của tạng.

Thời gian đầu sau vài lần điều trị: da trên vú bắt đầu chuyển sang màu hồng. Sau đó sạm da (giống khi bị cháy nóng), da ngứa, bong tróc, bỏng rát, phồng rộp. Da bắt đầu có cảm giác đau đớn, nhức. Tới những tuần ở đợt điều trị cuối thì các triệu chứng đau rát, bỏng da này sẽ hết dần.

Sau 4 – 5 tuần: Nếu bạn xạ dưới cánh tay sẽ bị rụng lông dưới cánh tay, ít ra mồ hôi đi, khô da, bong tróc vảy.

Phổ biến nhất là cảm giác mệt mỏi, chán ăn, đau đầu, viêm dạ dày, viêm ruột, thực quản, tiêu chảy…. kéo dài tới tuần cuối xạ trị.

Lời khuyên: Bệnh nhân nên đến trước buổi xạ trị 30 phút để đảm bảo thời gian xạ trị đã xếp lịch với bác sĩ đạt hiệu quả cao nhất.

Tăng hay giảm sắc tố vùng da sạm mất nhiều thời gian để khỏi. Da có thể dày hơn, sần sùi hơn.

Giãn mao mạch, rụng tóc vĩnh viễn.

Viêm loét vùng da trên ngực lâu dài, khó khỏi.

Teo vùng da xạ, xơ hóa vú, phù khu trú.

Mất nhiều thời gian đánh dấu khu xạ trị trong buổi xạ trị đầu tiên, có thể bạn sẽ bị xăm vùng da xạ trị vĩnh viễn.

Tổn thương dây thần kinh, tê, đau nhức, ảnh hưởng lâu dài tới việc phục hồi thương tổn, khả năng cho con bú.

Nếu bạn loại bỏ hạch bạch huyết trước khi bức xạ, bạn có nguy cơ tắc nghẽn hạch bạch huyết cao (phù do mạch bạch huyết), gây ra sưng cánh tay nơi có các hạch bị loại bỏ dẫn tới biến chứng hiếm gặp như:

Hãy gặp bác sĩ ngay nếu bạn gặp các tác dụng phụ của xạ trị ung thư vú này.

Mách bạn một số cách làm giảm bớt các tác dụng phụ này rất hiệu quả:

Mặc quần áo rộng, áo lót rộng, không gọng, vải mềm, không gây kích ứng da.

Dùng dầu tắm nguồn gốc thảo dược, không kỳ cọ, chà xát mạnh, không gãi da, không chườm đá, đắp cao nóng lên vú.

Hỏi ý kiến bác sỹ sử dụng kem/ gel bôi trị rát, bỏng da xạ trị phù hợp, tốt nhất là có nguồn gốc thiên nhiên.

Nghỉ ngơi, thư giãn nhiều, vận động nhẹ nhàng.

Ăn uống đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể.

Ung thư vú là hoàn toàn có thể chữa được nếu phát hiện sớm và điều trị sớm bằng phương pháp xạ trị theo phác đồ của bác sĩ cũng như giảm thiểu tác dụng phụ của xạ trị ung thư vú. Để được tư vấn giải pháp nâng cao thể trạng, giảm tác dụng phụ của hóa xạ trị cho từng trường hợp bệnh nhân hãy gọi chuyên gia tư vấn hoặc để lại thông tin chuyên gia sẽ gọi lại tư vấn.