Top 15 # Xem Nhiều Nhất Xạ Trị Ung Thư Vòm Hầu / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Giảm Xạ Trị Ung Thư Vòm Hầu Từ 25 / 2023

Ngày 19.3, Bệnh viện Ung Bướu chúng tôi cho hay bệnh viện đã ứng ứng dụng thành công kỹ thuật xạ trị định vị thân (SBRT) trong điều trị ung thư đầu cổ cũng như ung thư vòm hầu giảm xuống chỉ còn 6 lần xạ trị thay vì phải xạ trị từ 25 lần đến 35 lần như phát đồ điều trị trước đây.

Bệnh nhân đầu tiên được ứng dụng thành công kỹ thuật này là một nam thanh niên được chẩn đoán ung thư vòm hầu đã điều trị, tái phát tại chỗ. Kết quả giải phẫu bệnh ở bệnh nhân này là Carcinôm tế bào gai không sừng hóa. Sau khi hội chẩn, ê kíp bác sĩ sĩ các khoa xạ 3, xạ 1 và Kỹ thuật phóng xạ đã quyết định thực hiện kỹ thuật xạ trị SBRT cho bệnh nhân.

Để thực hiện kỹ thuật xạ trị này, bác sĩLâm Đức Hoàng – Trưởng khoa xạ 3 cho biết, bệnh nhân được sử dụng khung định vị TrUpoint Arc và tiến hành xạ trị định vị khu trú thể tích bướu có hướng dẫn hình ảnh.

“Xạ trị định vị thân (SBRT)liều xạ mỗi lần thường rất cao, tập trung vào bướu nhưng ít ảnh hưởng đến mô bướu lành xung quanh, tiên lượng điều trị hiệu quả cao, ít biến chứng”, bác sĩ Hoàng cho biết thêm.

“Trước đây, theo chỉ định điều trị, bệnh nhân ung thưnày tiếp nhận phác đồ điều trị xạ trị phải từ 25đến 35 lần xạ, mỗi ngày một lần. Giờ đây vớikỹ thuật mới này, bệnh nhân chỉ tiếp nhận số lần điều trị xạ trị rút ngắn xuống còn 6 lần. Kỹ thuật xạ trị này được chỉ định cho những trường hợp bệnh nhân phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm và trường hợp tái phát có kích thước bướu nhỏ”, bác sĩ Hoàng chia sẻ.

Theo bác sĩ Hoàng, xạ trị định vị thân (SBRT) là một trong những kỹ thuật xạ trị tiến bộ vận hành trên hệ thống máy xạ trị hiện đại thế hệ mới. Hệ thống máy này có trang bị hệ thống thiết bị hỗ trợ kiểm soát nhịp thở hiện đại (Reaspiratory Gating System) trong suốt quá trình xạ trị.

Hệ thống thiết bị hỗ trợ này có thể tự dò tìm vị trí chuyển động của bướu để phát tia xạ trị một cách chính xác vào đúng vị trí bướu, giảm bớt thể tích xạ trị vào những mô lànhxung quanh bướu. Do đó, kỹ thuật xạ trị này cho phép bệnh nhân xạ trị ở tư thế bình thường với những cử động sinh lý quan trọng (như nhịp thở, nhịp tim, chuyển động của bụng, tưới máu mô…) mà vẫn đạt mức độ chính xác và hiệu quả xạ trị cao hơn so với những kỹ thuật xạ trị trước đây.

Hồ Quang

Tổng Quan Ung Thư Vòm Hầu (Ung Thư Mũi Hầu) / 2023

23-12-2011

I. Giải phẫu: Khoang mũi hầu (vòm hầu) có hình khối lập phương. Thành bên có vòi Eustache và hố Rosenmuller. Phần nóc hơi nghiêng xuống từ trước ra sau, có ranh giới là tuyến yên vùng hầu, amidan hầu, và túi hầu (pharyngeal bursa) với đáy sọ ở trên. Phía trước khoang mũi hầu tiếp xúc với cuốn mũi dưới và khoang mũi, phía sau giáp với các cơ của thành hầu sau. Phía dưới, khoang mũi hầu kết thúc bằng một đường ngang tưởng tượng tạo thành bởi mặt trên của khẩu cái mềm và thành hầu sau.

Ung thư vòm hầu (mũi hầu) có thể phát sinh khi có các yếu tố thuận lợi sau:

– Tổ tiên là người Hoa hoặc người Châu Á.

– Hút thuốc

– Nhiễm virus Epstein-Barr (EBV).

– Uống nhiều rượu.

– Nhiều hạch cổ sưng lớn không đau (gặp ở 75% bệnh nhân, thường ở 2 bên và về phía sau).

– Nghẹt mũi.

– Chảy máu cam.

– Giảm thị lực.

– Ù tai.

– Viêm tai giữa tái phát.

– Rối loạn chức năng các thần kinh sọ (thường là TK II-VI hoặc IX-XII).

– Đau họng.

– Nhức đầu.

Ở những bệnh nhân chỉ có hạch cổ đơn thuần, việc tìm được các mẫu gen của EBV ở mô sau khi khuếch đại DNA bằng phản ứng chuỗi PCR sẽ là bằng chứng mạnh mẽ về sự hiện diện của một khối u vòm hầu (mũi hầu) nguyên phát. Cần tập trung phối hợp tìm kiếm ở vùng này.

– Chẩn đoán dựa trên sinh thiết khối u vùng mũi hầu. Các xét nghiệm bổ sung bao gồm:

Quan sát thật kỹ lưỡng bằng nội soi ống mềm.

Đánh giá kích thước, vị trí của khối u và các hạch.

Đánh giá chức năng của các thần kinh sọ, bao gồm thị lực và thính lực.

CT scan hoặc PET-CT scan.

Chụp MRI để đánh giá sự xâm lấn xuống nền sọ.

Huyết đồ.

Các xét nghiệm sinh hóa.

Hiệu giá (titers) virus Epstein-Barr.

– Tất cả các gợi ý lâm sàng hoặc xét nghiệm về di căn xa cần được đánh giá ngay. Chăm sóc tốt vệ sinh răng miệng rất quan trọng trước khi tiến hành xạ trị. MRI thường có giá trị hơn CT scan trong phát hiện xem tổn thương có lan đến đáy sọ hay chưa và đánh giá độ lan tỏa của khối u.

Nội soi phát hiện u vòm hầu (mũi hầu)

U vòm hầu trên phim MRI

V. Tiên lượng

– Các yếu tố sau đây ảnh hưởng đến tiên lượng điều trị:

U kích thước lớn.

U có giai đoạn (T) muộn.

Có hạch di căn ở cổ.

– Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sống còn bao gồm:

Tuổi.

Phân giai đoạn I theo World Health Organization (WHO).

Khoảng cách thời gian giữa sinh thiết và bắt đầu xạ trị dài.

Suy giảm chức năng miễn dịch vào thời điểm chẩn đoán.

Không phẫu thuất loại bỏ triệt để các hạch di căn.

Thai nghén trong lúc điều trị.

Tái phát tại chỗ.

Một số kiểu mẫu hiệu giá kháng thể EBV (EBV antibody titer patterns).

– Các ung thư nhỏ ở vùng mũi hầu có tỷ lệ xạ trị khỏi khá cao, tỷ lệ sống sót có thể đạt đến 80% to 90%.

– Các thương tổn đã tiến triển vừa phải, chưa có bằng chứng di căn hạch, thường được trị khỏi, tỷ lệ sống còn có thể đạt đến 50% – 70%.

– Việc theo dõi dựa trên:

Định kỳ quan sát vị trí ban đầu của khối u và các hạch cổ.

CT hoặc PET-CT scan.

MRI scan.

Xét nghiệm máu.

Hiệu giá EBV.

– Việc quản lý người bệnh cần bao gồm:

Theo dõi chức năng của tuyến giáp và tuyến yên.

Vệ sinh răng miệng.

Luyện tập động tác nhai để tránh co cứng khớp hàm.

Đánh giá các than phiền có tính hệ thống để phát hiện di căn xa.

– Mặc dù đa số trường hợp tái phát thường xảy ra 5 năm sau chẩn đoán, vẫn có những trường hợp tái phát muộn hơn. Tái phát thường xảy ra với tỷ lệ thấp hơn so với các ung thư đầu cổ khác.

– Tiên lượng xấu hơn trong các trường hợp:

+ Ung thư tế bào vảy biệt hóa kém kết hợp với sự hiện diện của kháng thể EBV,

+ Hiệu giá kháng thể cao đối với kháng nguyên capsid của virus và kháng nguyên sớm, đặc biệt là loại IgA cao, hoặc

+ Hiệu giá cao tiếp diễn sau điều trị.

VII. Phân loại tế bào học ung thư mũi hầu

– Mặc dù rất nhiều loại u ác tính có thể xuất hiện ở vùng mũi hầu, trong bài viết này xin chỉ đề cập đến loại carcinom tế bào vảy, do việc xử trí các thể ung thư khác thay đổi tùy thuộc vào typ mô học.

Phân nhóm carcinom tế bào vảy:

– Phân loại giải phẫu bệnh của Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) mô tả 3 typ ung thư vòm hầu (mũi hầu) như sau:

Carcinom tế bào vảy sừng hóa (keratinizing squamous cell carcinoma).

Carcinom tế bào vảy không sừng hóa (nonkeratinizing squamous cell carcinoma).

Carcinom không biệt hóa (undifferentiated carcinoma): thường gặp nhất.

– Các phân nhóm carcinom mũi hầu trước đây bao gồm cả các u biểu bì lympho (lymphoepithelioma), nay được WHO phân loại vào grade III do đặc tính thâm nhiễm giống- lympho của chúng (lymphoid infiltrate).

– Typ ung thư grade I của WHO kết hợp với việc uống rượu và hút thuốc lá chiếm 20% các trường hợp ở Mỹ. Grade II và III theo phân loại của WHO là dạng ung thư có yếu tố lưu hành dịch tễ ở miền nam Trung Hoa.

– Sự hiện diện của keratin đi kèm với giảm khả năng kiểm soát khối u tại chỗ, tiên lượng sống còn kém.VIII. Phân giai đoạn ung thư vòm hầu (mũi hầu)

AJCC (The American Joint Committee on Cancer) đã đưa ra phân loại TNM về ung thư vòm hầu như sau.

Bảng 4. Giai đoạn giải phẫu/Nhóm tiên lượng

– Điều trị tiêu chuẩn cho bệnh nhân ung thư vòm hầu bao gồm:

Xạ trị đơn độc.

Thực hiện cùng lúc hóa và xạ trị, tiếp theo sau là hóa trị bổ sung.

Phẫu thuật nạo hạch tồn lưu.

Hóa trị đơn độc cho các trường hợp đã di căn.

– Xạ trị liều cao kết hợp với hóa trị là trị liệu bước đầu cho ung thư vòm hầu, ở cả vị trí ung thư nguyên phát lẫn vùng cổ.

– Khi có thể thực hiện được, phẫu thuật thường chỉ áp dụng để nạo những hạch không thoái triển sau xạ trị hoặc hạch tái phát sau khi có đáp ứng lâm sàng hoàn toàn.

– Liều lượng, khu vực xạ trị tùy thuộc vào vị trí, kích thước của khối u nguyên phát và các hạch.

– Mặc dù đa số u đều được chủ yếu xạ trị bằng tia ngoài (external-beam radiation therapy=EBRT), trong một số trường hợp có thể tăng cường thêm bằng implant phóng xạ đặt trong các hốc hoặc kẽ. Có thể tiến hành phẫu xạ trị định hình không gian 3 chiều (stereotactic radiosurgery) nếu đủ điều kiện và phù hợp về giải phẫu.

– Xạ trị với cường độ điều biến (Intensity-modulated radiation therapy=IMRT) ít gây khô miệng (xerostomia) và giúp cải thiện chất lượng sống hơn so với xạ trị 3 chiều hoặc 2 chiều quy ước.

* C-Ung thư vòm hầu giai đoạn III

– Cần thực hiện xét nghiệm chức năng tuyến giáp trước và sau khi xạ trị để đánh giá, theo dõi.

* D-Ung thư vòm hầu giai đoạn IV

– Chọn lựa điều trị chuẩn: Xạ trị liều cao ở vị trí ban đầu của khối u và xạ trị phòng ngừa ở vùng hạch dẫn lưu.

* E-Ung thư vòm hầu tái phát

– Chọn lựa điều trị chuẩn:

BS. ĐỒNG NGỌC KHANH – BV Đa Khoa Hoàn Mỹ Sài Gòn Premier

Hóa xạ trị, tiếp theo sau bởi hóa xạ trị bổ sung,

Xạ trị liều cao ở vị trí ban đầu của khối u và xạ trị phòng ngừa ở vùng hạch dẫn lưu.

– Chọn lựa điều trị chuẩn:

Hóa xạ trị phối hợp.

Hóa xạ trị phối hợp, tiếp theo sau bởi hóa trị bổ sung,

Xạ trị phân đoạn biến đổi (altered fractionation radiation therapy).

Phẫu thuật nạo hạch ở những trường hợp hạch dai dẳng hoặc tái phát, khi khối u nguyên phát đã được khống chế tốt.

Chọn lựa điều trị chuẩn:

Hóa xạ trị, tiếp theo sau bởi hóa xạ trị bổ sung,

Xạ trị phân đoạn biến đổi bao gồm cả xạ trị siêu phân đoạn (hyperfractionation).

Phẫu thuật cổ chỉ nên dành cho những trường hợp hạch dai dẳng hoặc tái phát

Hóa trị cho những bệnh nhân ở giai đoạn IVC.

Chọn lựa điều trị chuẩn:

Những bệnh nhân đã chọn lọc có tái phát tại chỗ có thể được điều trị lại bằng xạ trị tia ngoài với cường độ vừa phải dùng phương pháp xạ trị với cường độ điều biến (IMRT), xạ trị định hình không gian 3 chiều (stereotactic radiation therapy), hoặc xạ trị trong hốc (intracavitary) hoặc xạ trị kẽ (interstitial radiation) ở vị trí tái phát.

Đối với những bệnh nhân đã được chọn lọc kỹ, có thể xem xét phẫu thuật cắt bỏ tổn thương tái phát tại chỗ.

Nên xem xét hóa trị liệu ở những bệnh nhân có di căn xa hoặc tái phát tại chỗ đã quá chỉ định phẫu thuật hay xạ trị.

Tham khảo tài liệu của: cancer.gov, emedicine.medscape, chúng tôi chúng tôi .mayoclinic.com

Ung Thư Vòm Miệng Và Hầu Họng / 2023

Bài viết này đề cập đến các phương pháp điều trị chuẩn cho các loại ung thư miệng và hầu họng. “Điều trị chuẩn” là phương pháp điều trị được đánh giá là tốt nhất. Khi đưa ra quyết định về kế hoạch điều trị, bệnh nhân được khuyến khích tham khảo kết quả các thử nghiệm lâm sàng. Thử nghiệm lâm sàng là nghiên cứu thử nghiệm một cách tiếp cận điều trị mới, rằng phương pháp điều trị mới liệu có an toàn, hiệu quả và có thể tốt hơn điều trị chuẩn hay không. Thử nghiệm lâm sàng có thể là thử nghiệm một thuốc mới, một sự kết hợp mới của phương pháp điều trị chuẩn, hoặc liều mới của thuốc điều trị chuẩn hoặc là một phương pháp điều trị khác. Bác sĩ có thể giúp bệnh nhân xem xét tất cả các lựa chọn điều trị.

Trong nhiều trường hợp, một nhóm các bác sĩ thuộc nhiều lĩnh vực sẽ làm việc cùng nhau để xây dựng một kế hoạch điều trị tốt nhất, còn gọi là ” nhóm điều trị ung thư đa chuyên khoa “, cho từng bệnh nhân cụ thể. Nhóm này có thể bao gồm:

“Nhóm điều trị ung thư đa chuyên khoa” cũng có thể có thêm nhiều chuyên gia y tế khác, như bác sĩ phụ tá, y tá chuyên khoa ung thư, dược sĩ, tư vấn viên, chuyên gia dinh dưỡng và những người khác.

Xây dựng một kế hoạch điều trị toàn diện là vô cùng quan trọng trước khi bắt tay vào điều trị. Bệnh nhân cần được tư vấn bởi nhiều chuyên gia trước khi thiết lập kế hoạch điều trị đầy đủ.

Hãy dành thời gian để tìm hiểu tất cả các lựa chọn điều trị và hỏi kỹ về những điều chưa hiểu rõ. Nói chuyện với bác sĩ về các mục tiêu của mỗi lần điều trị và những gì có thể mong đợi trong khi điều trị.

Nhìn chung, phẫu thuật ung thư miệng và hầu họng thường gây phù nề, khó thở, có thể gây mất vĩnh viễn giọng nói hoặc khó phát âm; khó nhai, nuốt hoặc nói; tê tai; cử động đưa tay qua đầu bị khó khăn; giảm vận động môi dưới; và biến dạng khuôn mặt. Phẫu thuật có thể ảnh hưởng đến chức năng của tuyến giáp, đặc biệt là sau phẫu thuật cắt thanh quản toàn phần hoặc xạ trị.

“nhóm điều trị ung thư đa chuyên khoa” Điều quan trọng là bệnh nhân cần được tư vấn từ các chuyên gia trong trước khi quyết định một can thiệp cụ thể. Mặc dù phẫu thuật là cách nhanh nhất để loại bỏ khối u, vẫn có thể sử dụng các phương pháp điều trị khác để đem lại hiệu quả tương đương. Do đó, nên hỏi bác sĩ về tất cả các lựa chọn điều trị trước khi quyết định.

Cũng cần hỏi để biết trước các tác dụng phụ có thể xảy ra và cách kiểm soát chúng.

Trong Điều Trị Ung Thư Vòm Họng Hầu Rất Giới Hạn / 2023

Ung thư vòm mũi họng xảy ra khi các tế bào ung thư phát triển từ các mô trong vòm hầu, khu vực phía sau khoang mũi và phần trên của họng.

Hiện nay khoa học phát triển ngày càng tiến bộ cho nên việc tiến hành chẩn đoán ung thư vòm họng được tiến hành sử dụng nội soi vòm hầu qua mũi. Một ống soi mềm và nhỏ được đưa qua lỗ mũi vào vùng phía sau của hốc mũi và bất kỳ vị trí nào trông có vẻ bất thường hoặc phát triển bất thường đều cần làm sinh thiết để kiểm tra có phải bệnh lý ác tính hay không. Nếu phát hiện có hạch bạch huyết phình to, bác sĩ có thể chỉ định bệnh nhân làm dùng kim chọc hút lấy mẫu sinh thiết.Đối với các bệnh nhân bị ung thư vòm họng không di căn (giai đoạn I đến IVB), phương pháp điều trị chủ yếu là xạ trị.Xạ trị sử dụng các tia năng lượng cao để tiêu diệt các tế bào ung thư. Xạ trị chỉ tác động đến các tế bào trong khu vực được điều trị. Đối với ung thư vòm hầu, các khu vực được điều trị bao gồm không gian phía sau mũi cũng như hai bên cổ. Hiện nay, các kỹ thuật xạ trị mới hơn như phương pháp xạ trị dưới sự hướng dẫn hình ảnh (IGRT) có thể đưa các bức xạ đến khu vực dự định một cách chính xác hơn, giúp kiểm soát khối bướu tốt hơn và ít tác dụng phụ (bệnh nhân ít bị khô miệng hơn).Với bệnh nhân mắc ung thư vòm hầu ở giai đoạn đầu có thể áp dụng xạ trị đơn thuần.Đối với các bệnh nhân ở ung thư muộn (khối u xâm lấn đáy hộp sọ hoặc kiểm tra thấy có sự xâm nhiễm dây thần kinh sọ) và/hoặc giai đoạn hạch muộn (các hạch lớn, xuất hiện các hạch cổ hai bên hoặc các hạch lan rộng đến nền cổ), sẽ được áp dụng hóa trị cùng với xạ trị nhằm nâng cao hiệu quả điều trị.Vai trò của phẫu thuật trong điều trị ung thư vòm họng hầu rất giới hạn. Phẫu thuật chỉ có thể xem xét áp dụng ở những bệnh nhân có khối bướu tái phát trong vùng mũi sau. Bác sĩ phẫu thuật cũng có thể tiến hành phẫu thuật ở cổ đối với các bệnh nhân vẫn còn sự hiện diện của hạch dù đã trải qua xạ trị, hoặc ở những bệnh nhân tái phát chỉ duy nhất ở hạch cổ.Hóa trị vẫn là phương pháp điều trị chính cho các bệnh nhân bị ung thư di căn, và cho những bệnh nhân bị ung thư tái phát sau xạ trị.