Top 16 # Xem Nhiều Nhất Xạ Trị Ung Thư Xương / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Cây Xạ Đen Điều Trị Bệnh Ung Thư Xương Có Hiệu Quả Không ? / 2023

Mẹ em bị ung thư xương chậu (u ác). 3 năm trước, mẹ em đi khám ở Huế và bệnh viên ung bướu tp.Hồ Chí Minh. Thì bác sĩ đều bảo mẹ em chỉ còn sống khoảng 10- 15 ngày: Bệnh mẹ em bắt đầu nặng dần và suy yếu nhanh chóng, chỉ khoảng 2,3 tháng là mẹ không đi được nữa, mà đau nhức lắm.

Sau rồi mẹ có nghe nhiều nười mách nên chuyển sang dùng cây thuốc nam và mẹ cũng uống nhiều loại cây thuốc và thuốc nam rồi: bây giờ u đã tiêu mất, không còn thấy nữa, nhưng không hiểu sao vẫn bị đau, nhức, sưng chân.

Nay em nghe được công dụng của Cây xạ đen trong việc điều điều trị bệnh Ung thư nên em muốn hỏi: Tình hình của mẹ em như vậy thì có dùng thêm cây xạ đen để điều trị được không ? liều lượng như thế nào ạ? Cây xạ đen điều trị bệnh ung thư xương có tốt không ?

Mẹ em đã sống 3 năm rồi mà,đâu có như lời bác sĩ nói đâu nên em mới hỏi công ty xem bây giờ mẹ em nên dùng gì (lá hay thân, hay kết hợp) liều lượng như thế nào ạ!

Caoxaden.com Trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Mẹ em bị u xương, nếu Tây y bó tay, em hoàn toàn có thể chuyển sang dùng các loại cây thuốc nam để điều trị cho mẹ. Xạ đen là cây thuốc nam có tá dụng hỗ trợ điều điều trị bệnh ung thư rất hiệu quả. Minh chứng là mẹ em vẫn khỏe mạnh được 3 năm nhờ vào việc dùng thuốc nam. Hiện nay mẹ em vẫn bị đau nhức xương là do: Khối u trong xương vẫn chưa tiêu hết.

Liều lượng kết hợp giữa lá và thân xạ đen khi sử dụng như sau:

Cây xạ đen: ……………. 30gram

Bạch hoa xà thiệt thảo :…… 30gram

Bán chi liên 15g

Dừa cạn 15g

Lượng nước sử dụng: ….. 1,5lít nước

Đun sôi nhỏ lửa, duy trì sôi trong thời gian 10 phút và chắt nước dùng hàng ngày.

Xạ đen có vị thơm mát, dễ dùng, do đó em có thể cho mẹ uống thay nước hàng ngày. Chắc chắn sẽ có hiệu quả rất tốt.

Một số thông tin xin chia sẻ cùng em. Chúc gia đình em mạnh khỏe và Mẹ sớm bình phục. Thân chào em !

Điều Trị Giảm Đau Do Ung Thư Di Căn Xương Bằng Thuốc Phóng Xạ / 2023

ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU DO UNG THƯ DI CĂN XƯƠNG BẰNG THUỐC PHÓNG XẠ

ĐẠI CƯƠNG

Di căn xương là một trong những biến chứng nghiêm trọng của bệnh ung thư, gặp với tỷ lệ khác nhau ở các bệnh ung thư khác nhau. Di căn xương là do các tế bào ung thư từ nơi khác di chuyển đến theo đường mạch máu, đường bạch huyết hoặc theo cơ chế khác, u di căn phát triển trong cấu trúc xương.Nhiều loại ung thư có thể di căn vào xương, đặc biệt là ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư phổi có tỷ lệ di căn vào xương rất cao.Cột sống là nơi thường có di căn xương nhiều nhất. Mặc dù di căn xương hiếm khi là nguyên nhân gây tử vong nhưng thường dẫn đến các biến chứng nặng nề cho người bệnh: 30-60% có triệu chứng đau ở các mức độ khác nhau, 8% gãy xương bệnh lý, 8-10% có hội chứng tăng canxi máu với các biểu hiện như chán ăn, mệt mỏi, buồn nôn.

Đau là triệu chứng thường gặp nhất của ung thư di căn xương, làm ảnh hưởng đến chất lượng sống của người bệnh.Các phương pháp điều trị giảm đau thường dùng: thuốc giảm đau, thuốc chống hủy xương, hormon và xạ trị.Xạ trị giảm đau có thể xạ trị chiếu ngoài hoặc xạ trị trong (thuốc phóng xạ). Điều trị giảm đau bằng thuốc phóng xạ được chứng minh là có hiệu quả, không gây quen thuốc, giúp cải thiện chất lượng sống và kéo dài thời gian sống cho người bệnh.

Hiệu quả và thời gian duy trì giảm đau bằng thuốc phóng xạ tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: mức độ tổn thương xương, mức độ nhạy cảm phóng xạ, vị trí xương di căn, khả năng đáp ứng điều trị của từng người bệnh.

NGUYÊN NHÂN

Nguyên nhân gây đau xương có thể do: khối u tồn tại trong xương gây chèn ép, kích thích hoặc làm thay đổi cấu trúc tại đó (tuỷ sống, dây thần kinh), sự thâm nhiễm, lan toả của khối u ra các tổ chức xung quanh, kích thích các dây thần kinh và chịu tác dụng của prostaglandin, bradykinin, do sự quá sản của các màng xương nơi có nhiều đầu của các dây thần kinh…

CHẨN ĐOÁN

Lâm sàng

Đau xương là triệu chứng thường gặp nhất nghĩ đến do di căn xương ở người bệnh đã được chẩn đoán ung thư. Đau do ung thư di căn xương thường có đặc điểm: lúc đầu thoảng qua, nhẹ nhàng, đôi khi người bệnh không để ý đến. Tiếp theo đau tăng dần lên, đau liên tục, mức độ đau ngày càng trầm trọng, thường đau nhiều vào ban đêm, không giảm khi nghỉ ngơi, có thể trở nên đau buốt khi cử động. Điều trị bằng các loại thuốc giảm đau phải ngày một tăng liều nhưng hiệu quả kém, khả năng kiểm soát đau ngày càng hạn chế.

Đã có các phương pháp cho điểm đánh giá mức độ và tính chất đau.

Gãy xương bệnh lý thường xảy ra với loại di căn hủy xương.

Xẹp đốt sống, triệu chứng chèn ép tủy sống.

Cận lâm sàng

Xét nghiệm máu:

Tăng canxi máu gặp ở 5-10% các trường hợp khi có sự huỷ xương nhiều.

X- quang xương khớp:

Hình tiêu xương (vùng không cản quang và ranh giới không rõ), hình đặc xương (điểm mờ hoặc đám mờ đường viền không rõ) hoặc hỗn hợp.

CT scaner và cộng hưởng từ:

Thay đổi cấu trúc (phá hủy xương, tiêu xương, đám mờ trong xương). Có thể phát hiện được với kích thước thường từ 1cm trở lên.

Xạ hình xương toàn thân với 99mTc-MDP:

Khảo sát được toàn bộ hệ thống xương. Tổn thương di căn xương là hình ảnh tăng hoặc khuyết hoạt độ phóng xạ hoặc cả hai, đơn ổ hoặc đa ổ, phân bố không đối xứng trên hệ thống xương.

Chụp PET/CT với 18FDG hoặc với 18FNa:

Phát hiện di căn xương ở giai đoạn rất sớm. Tổn thương di căn xương là hình ảnh tăng hấp thu 18 FDG đơn ổ hoặc đa ổtrên hệ thống xương.

Chẩn đoán xác định

Sinh thiết xương làm giải phẫu bệnh là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán di căn xương. Sinh thiết có thể thực hiện dưới hướng dẫn của CT hoặc MRI. Tuy nhiên, đây là phương pháp xâm lấn, khó thực hiện nếu tổn thương ở sâu hoặc ở những vị trí khó sinh thiết. Ngoài ra, nếu lấy mẫu không chính xác vị trí tổn thương sẽ cho kết quả âm tính giả.

Chẩn đoán phân biệt

Với các tổn thương do gãy xương cũ, bệnh u xương lành tính và ác tính nguyên phát, viêm xương, chấn thương xương, ung thư xương nguyên phát, đa u tủy xương…

ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU DO UNG THƯ DI CĂN XƯƠNG BẰNG THUỐC PHÓNG XẠ

Nguyên tắc chung

Dựa vào các đặc tính chuyển hoá đặc hiệu của tổ chức xương đối với canxi và phospho nên thường dùng các đồng vị phóng xạ phát tia E hoặc các hợp chất đánh dấu thuộc hai nhóm này. Tia E với mức năng lượng phù hợp có tác dụng tại chỗ làm giảm đau, giảm quá trình huỷ xương, làm chậm quá trình tiến triển của bệnh.

Chỉ định

Người bệnh có chẩn đoán xác định ung thư bằng mô bệnh học (ung thư phổi, vòm mũi họng, tuyến tiền liệt…) và có dấu hiệu lâm sàng di căn xương. Các căn cứ để chỉ định gồm:

Xạ hình xương: các tổn thương xương tương ứng với vùng bị đau, đồng thời có thể có hoặc không các biểu hiện về hình ảnh tổn thương xương trên các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh khác như X- quang, CT, MRI.

Đau xương đã dùng thuốc giảm đau không đỡ hoặc không còn tác dụng (nhờn thuốc).

Xét nghiệm máu: Bạch cầu ≥3,5 G/l. Bạch cầu đa nhân ≥1,5G/l. Tiểu cầu ≥100 G/l.

Chức năng thận bình thường.

Chống chỉ định

Người bệnh nữ có thai hoặc đang cho con bú.

Các bước tiến hành

Có thể dùng 1 trong các thuốc phóng xạ sau:

Phospho – 32 ( 32 P): dung dịch uống. Liều dùng một lần 5 – 7 mCi hoặc uống 4 liều mỗi liều 3 mCi (tổng liều 12 mCi) uống cách ngày.

Stronti – 89 ( 89 Sr): dung dịch tiêm tĩnh mạch. Liều dùng: 0,3 – 0,4 mCi/kg cân nặng. Tổng liều có thể tới 4,0 mCi.

Rhenium – 186 ( 186 Re): dung dịch tiêm tĩnh mạch. Liều dùng 30 – 35 mCi.

Rhenium – 188 ( 188 Re): dung dịch tiêm tĩnh mạch thường được chiết từ bình sinh phóng xạ (generator). Liều dùng: 31r 6 mCi.

Samarium – 153 ( 153 Sm): dung dịch tiêm tĩnh mạch. Liều dùng: 0,6-1,0 mCi/kg cân nặng.

Chuẩn bị người bệnh:

Giải thích cho người bệnh hiểu rõ để có sự đồng ý của người bệnh hoặc người nhà, để phối hợp điều trị và thực hiện an toàn bức xạ.

Tiến hành

Cho người bệnh uống thuốc phóng xạ theo đúng liều chỉ định vào lúc đói hoặc cách xa bữa ăn tối thiểu 2 giờ.

Theo dõi người bệnh và xử lý kịp thời các phản ứng không mong muốn nếu có.

Đánh giá kết quả điều trị qua lâm sàng và xét nghiệm cận lâm sàng, thang điểm đau.

Biến chứng và xử trí

Điều trị giảm đau bằng thuốc phóng xạ hầu như không có biến chứng nặng nề. Tác dụng độc tính đối với tủy xương có thể gây giảm số lượng tế bào máu hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, thường xuất hiện từ 4-5 tuần sau khi nhận liều điều trị. Sau 6 -7 tuần, các thành phần của máu có thể tự hồi phục, hầu như không cần can thiệp gì. Tác dụng phụ gây suy tủy, thiếu máu cần cân nhắc nếu điều trị nhiều đợt và thời gian sống thêm của người bệnh còn dài.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Mai Trọng Khoa. (2012). Y học hạt nhân. Sách dùng cho sau đại học. Nhà xuất bản Y học.

Christiaan Schiepers. (2006). Diagnostic Nuclear Medicine. Springer – Verlag Berlin Heidelberg.

Ell P.J., S.S. Gambir. (2004). Nuclear Medicine in Clinical Diagnosis and Treatment. Churchill Livingstone.

Hans. Jyrgen Biersack Leonard. M. Freeman. (2007). Clinical Nuclear Medicine; Springer – Verlag Berlin Heidelberg.

Vincent T, Devita, Jr Theodone S. Lawrence Steven A, Rosenberg Wolters Kluwer. (2010). Cancer Principles & Practice of Oncology. Annual Advances, Volume 1. Lippincott William & Wilkins; Philadelphia, USA.

Vai Trò Của Ghi Hình (Xạ Hình) Xương Trong Phát Hiện Ung Thư Thư Di Căn Xương / 2023

Vai trò của ghi hình (xạ hình) xương trong phát hiện ung thư thư di căn xương

10. Xạ hình xương

Hình ảnh tổn thương xương đa ổ dọc theo các đốt sống, xương chậu và xương sườn hai bên nghĩ tới tổn thương thứ phát.

Hình 2. Hình ảnh xạ hình xương

11. Cộng hưởng từ sọ não

Hình ảnh nhồi máu não thùy trán trái, thùy đỉnh phải và bán cầu tiểu não hai bên.

 Hình 3. Hình ảnh cộng hưởng từ sọ nãoCHẨN ĐOÁN

Ung thư phổi di căn màng phổi, màng tim, xương T1cN2M1b, giai đoạn IVa/ theo dõi Bệnh tim thiếu máu cục bộ – Nhồi máu não.

DIỄN BIẾN ĐIỀU TRỊ-      Thở oxy kính 3-5 lít/phút

-      Kháng sinh: Rocephin 1g x 2 lọ/ngày pha truyền với NaCl 0,9%. Truyền tĩnh mạch chia 2 lần cách 12 giờ.

-      Chống đông: Lovenox 0,4ml x 2 bơm/ ngày cách 12 giờ. Tiêm dưới da.

-      Giảm đau: Ultracet 375mg x 2 viên/ ngày.

-      Tiếp tục dẫn lưu dịch màng tim: 220ml dịch màu đỏ sẫm.

-      Chọc hút dịch màng phổi phải: 300ml dịch màu vàng chanh.

TÌNH TRẠNG HIỆN TẠI-      Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt.

-      Khó thở khi gắng sức, không đau ngực, ho khạc đờm trắng.

-      Đã rút dẫn lưu dịch màng tim.

-      Huyết áp: 120/70 mmHg, nhiệt độ 370, nhịp thở: 22 lần/phút, SP02: 95-98%.

-      Tim đều T1 T2 rõ tần số 80 chu kì/phút, phổi rì rào phế nang giảm ở đáy phổi 2 bên.

-      Không liệt thần kinh khu trú.

KẾ HOẠCH ĐIỀU TRỊ

Bệnh nhân cần được làm thêm các xét nghiệm để đánh giá giai đoạn và khẳng định chẩn đoán.

-      Nội soi phế quản, sinh thiết khối u phổi, chụp PET/CT đánh giá giai đoạn.

-      Xét nghiệm gen EGFR.

Thuốc:

-      Aspirin 100mg x 1 viên/ ngày. Uống sau ăn sáng.

-      Pantoprazol 40mg x 1 viên/ ngày uống trước ăn 30 phút.

-      Zestril 5mg x 1 viên/ ngày uống vào 8 giờ sáng.

-      Thuốc chống hủy xương: acid zolendronic.

 ungthubachmai.vn

Xạ Trị Ung Thư Vú / 2023

Xạ trị là một trong những biện pháp quan trọng trong điều trị ung thư vú. Cùng tìm hiểu về phương pháp này trong bài viết cũng như biết cách chuẩn bị kỹ càng về tâm lý, tài chính cũng như các biện pháp giảm tác dụng phụ, nâng cao sức đề kháng giúp cơ thể nhanh chóng thích nghi phương pháp điều trị:

1. Xạ trị ung thư vú là gì?

Điều trị ung thư bằng xạ trị sử dụng tia X-quang mạnh để tiêu diệt tế bào ung thư. Điều trị xạ trị là liệu pháp điều trị phổ biến được sử dụng trong điều trị ung thư vú. Sử dụng các bức xạ chiếu đúng vị trí của khối u, các hạch bạch huyết hoặc thành ngực để ngăn chặn ung thư lan rộng, hoặc giảm nguy cơ tái phát.

Bác sĩ có thể khuyên người bệnh ung thư vú nên thực hiện xạ trị bên trong cơ thể (brachytherapy). Đây là phương pháp điều trị trong đó các mảnh nhỏ chất phóng xạ đặt xung quanh khối u. Tổng thời gian điều trị dao động chỉ từ vài giờ đến khoảng một tuần. Tác dụng phụ của phương pháp điều trị này ít hơn phương pháp xạ trị bên ngoài, và có thể giữ được nhiều mô khỏe mạnh tránh khỏi bị tác động xấu của tia xạ.

2. Tác dụng phụ xạ trị ung thư vú

Người bệnh thực hiện xạ trị ung thư vú có thể phải đối mặt với các tác dụng phụ của xạ trị ung thư sau:

Tác dụng phụ ngắn hạn của xạ trị ung thư vú

Các tác dụng phụ này thường chỉ là tạm thời, và thường mất đi trong vài tuần điều trị cuối cùng bao gồm:

Kích ứng da ở vùng sau điều trị. Sau vài lần điều trị đầu tiên, da sẽ cảm thấy nhạy cảm và bắt đầu chuyển sang màu hồng; cuối cùng có thể bị như cháy nắng, ngứa, bong tróc hoặc bị phồng rộp, thường gây đau nhức. Kích thích có thể tồi tệ hơn khi tiếp tục điều trị.

Rụng lông dưới cánh nếu bức xạ mục tiêu tới khu vực dưới cánh tay của bạn.

Cảm thấy rất mệt mỏi sau những tuần điều trị.

Tác dụng phụ dài hạn

Do bức xạ chỉ hướng đến một khu vực xác định trên cơ thể, nên các bác sĩ sẽ dành nhiều thời gian để “đánh dấu” trước khi thực hiện lần điều trị đầu tiên. Nghĩa là bác sĩ sẽ đo đạc cẩn thận để xem và kiểm tra bức xạ có nhắm trúng vào khu vực ung thư cần điều trị chưa và có ảnh hưởng đến các mô khác xung quanh không. Sau đó, họ sẽ đánh một dấu mực nhỏ trên da để hướng dẫn cho các đợt điều trị sau này. Vết đánh dấu thường được xăm lên da của bạn vĩnh viễn.

Có thể mất nhiều tháng hoặc nhiều năm để làn da trở lại màu sắc bình thường nếu vị trí bức xạ xạm hơn nhiều những vùng khác. Trong một số trường hợp, sự thay đổi màu sắc có thể sẽ là vĩnh viễn, hoặc đôi khi da sẽ săn chắc hơn hoặc dày hơn. Da nhạy cảm hoặc đau đôi khi có thể kéo dài nhiều tháng.

Bên cạnh đó, một số phụ nữ có thể thấy rằng sau xạ trị ung thư vú, vú trở nên nhỏ hơn và săn chắc hơn. Những phụ nữ đã điều trị xạ trị ung thư vú có thể gặp nhiều vấn đề cho con bú sau này.

Tác dụng phụ hiếm gặp

Trong trường hợp người bệnh phải loại bỏ hạch bạch huyết trước khi bức xạ, người bệnh có nguy cơ tắc nghẽn hạch bạch huyết cao (phù do mạch bạch huyết), gây ra sưng cánh tay nơi các hạch bị loại bỏ.

Bên cạnh đó, một số biến chứng hiếm gặp khác người bệnh có thể phải đối mặt bao gồm:

Xương sườn bị gãy do bị suy yếu trong quá trình xạ trị

Mô phổi bị viêm

Bị tổn thương tim khi bức xạ bên trái ngực

Ung thư thứ phát bởi bức xạ

Biện pháp đối phó với tác dụng phụ của xạ trị ung thư vú

Khi thực hiện điều trị xạ trị ung thư vú, người bệnh không thể tránh hoàn toàn tác dụng phụ của xạ trị, tuy nhiên vẫn có thể giảm thiểu các tác dụng phụ, bằng cách:

Mặc quần áo rộng rãi nếu bạn đang kích ứng da. Hãy lựa chọn loại áo ngực không có gọng.

Hãy hỏi bác sĩ các loại mỹ phẩm bạn nên sử dụng trên da khi tắm. Hãy hỏi bác sĩ trước những thứ kem hay thuốc mỡ bạn bôi lên da có ảnh hưởng gì đến quá trình điều trị hay không. Cố gắng không chà xát, gãi và chườm nước đá hay miếng đắp nóng lên vùng điều trị.

Chống mệt mỏi bằng cách nghỉ ngơi nhiều. Cung cấp cho cơ thể bạn các chất dinh dưỡng cần thiết để tự phục hồi. Báo lại với bác sĩ bất kỳ tác dụng phụ nào đang xảy ra.

Tăng cường sức đề kháng, hễ miễn dịch bằng chế độ dinh dưỡng, tâm lý tích cực, tập luyện các bài tập theo chỉ định và sử dụng thực phẩm bảo vệ sức khỏe Fucoidan

King Fucoidan & Agaricus là sự kết hợp tuyệt vời của Fucoidan Nhật Bản từ tảo Mozuku và nắm Agaricus là một sản phẩm cho tác dụng như vậy. Hai thành phần này kết hợp tạo nên tác dụng hiệp đồng giúp tăng khả năng tiêu diệt tế bào ung thư lên một cách đáng kể.

Viện Nghiên cứu Fucoidan Nhật Bản (NPO) đã khẳng định sự phối hợp giữa Fucoidan và Betaglucan trong nấm Agaricus kết hợp cùng các biện pháp điều trị ung thư hiện đại sẽ cho hiệu quả mạnh mẽ nhất, hạn chế các tác dụng không mong muốn trong quá trình hóa, xạ trị, hạn chế di căn và nâng cao chất lượng cuộc sống trong thời gian người bệnh chiến đấu với ung thư

King Fucoidan & Agaricus là sản phẩm Fucoidan Nhật Bản đầu tiên được Bộ Y tế cấp phép lưu hành, là sản được các bác sĩ bệnh viện Ung Bướu hàng đầu Việt Nam khuyên bệnh nhân ung thư nên sử dụng trước, trong và sau quá trình điều trị, giúp hỗ trợ điều trị ung thư, nâng cao sức đề kháng, giảm tác dụng phụ của hóa trị – xạ trị, giúp người bệnh ăn ngon hơn, ngủ ngon hơn, kiểm soát và kéo dài thời gian sống.

King Fucoidan giúp người bệnh giảm được những triệu chứng khó chịu khi điều trị bằng xạ trị

HOTLINE MIỄN CƯỚC 24/7 18000069 (miễn cước), để được tư vấn và mua hàng trực tiếp từ nhà nhập khẩu chính thức sản phẩm.

Dược sĩ: Nguyễn Thị Lan Anh

Lưu ý sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng chữa bệnh. Đây là sản phẩm được khuyên dùng trong xạ trị bởi các bác sĩ điều trị ung thư các bệnh viện chuyên khoa lớn tại Việt Nam