Top 21 # Xem Nhiều Nhất Xếp Giai Đoạn Ung Thư Tuyến Giáp / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Chẩn Đoán, Xếp Loại Giai Đoạn Ung Thư Tuyến Giáp / 2023

Ung thư tuyến giáp là ung thư về tuyến giáp, chiếm khoảng 1% các loại ung thư. Nó là ung thư tuyến nội tiết thường gặp nhất.

Đa số ung thư tuyến giáp là carcinôm biệt hoá tốt, tiến triển âm thầm, giai đoạn ẩn bệnh kéo dài, điều trị chính yếu là phẫu thuật.

Đa số bệnh nhân Ung thư tuyến giáp có tiên lượng tốt nếu được chẩn đoán và điều trị sớm và tích cực.

Dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ

Dịch tễ học

Tại Hoa Kỳ ung thư tuyến giáp có khoảng 2 – 4 ca mới/100.000 dân/năm, tỷ lệ nam/nữ là 1/2,7 và tỉ lệ tử vong hằng năm là 0,2 – 2,8/ 100.000 dân.

Các trường hợp thường gặp là nhỏ hơn 20 hoặc lớn hơn 50 tuổi.

Theo ghi nhận của Tổ chức Chống ung thư toàn cầu (Inernational Union against Cancer: IUAC) năm 2002, ở Việt Nam, tỉ lệ mắc bệnh chuẩn theo tuổi là 2,7/100.000 dân đối với nữ và 1,3/100.000 đối với nam.

Các yếu tố nguy cơ

· Tiền căn xạ trị vùng cổ lúc nhỏ vì bệnh lành tính hoặc bị nhiễm phóng xạ (ví dụ sau tai nạn hạt nhân Chernobyl tỉ lệ ung thư tuyến giáp của cư dân vùng này tăng lên) làm gia tăng nguy cơ carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt với đỉnh cao nguy cơ từ 12 đến 25 năm sau tiếp xúc.

· Vùng phình giáp dịch tễ thường gặp carcinôm dạng nang hay carcinôm không biệt hoá. Carcinôm dạng nhú thường gặp ở vùng đầy đủ iod.

· Hoạt hoá các gene tyrosine kinase: tái sắp xếp gene sinh ung RET/PTC ở nhiễm sắc thể 10 xảy ra trong 5-35% carcinôm dạng nhú tự phát.

· Gia tăng biểu lộ gene sinh ung MET có trong 70% carcinôm dạng nhú.

· Đột biến gene sinh ung RET cũng thấy trong carcinôm dạng tuỷ có tính gia đình.

· Gen sinh ung RAS và đường dẫn truyền tín hiệu tế bào: đột biến RAS thường gặp trong carcinôm dạng nang ở vùng thiếu iod.

· Gen đèn nén bướu p53: đột biến điểm gen p53 làm bất hoạt hoá gen này, thấy trong 80% carcinôm không biệt hoá.

Bệnh học và diễn tiến

Bệnh học

Phân loại carcinôm tuyến giáp theo nguồn gốc tế bào:

Carcinôm tuyến giáp dạng nhú thường gặp nhất chiếm 80% ung thư tuyến giáp. Carcinôm tuyến giáp dạng nhú có kích thước nhỏ hơn hay bằng 1 cm được gọi là carcinôm kích thước nhỏ hoặc tiềm ẩn. Loại này ít có ý nghĩa lâm sàng do diễn tiến chậm.Biểu hiện lâm sàng carcinôm tuyến giáp thường là một hạt giáp và không gây rối loạn chức năng. Bướu có thể lan tràn theo mạch bạch huyết trong tuyến giáp giải thích tình trạng đa ổ. Carcinôm dạng nhú rất ưa di căn hạch vùng, tuy nhiên di căn hạch không ảnh hưởng đến tiên lượng sống còn. Các loại carcinôm dạng nhú biệt hoá kém có diễn tiến trung gian gồm các biến thể: loại đảo, loại tế bào cao, tế bào sáng và loại xơ hoá. Carcinôm tuyến giáp dạng nhú ở trẻ con thường có bướu lớn và di căn hạch sớm.

Carcinôm dạng nang chiếm 5-10% ung thư tuyến giáp, thường gặp trong vùng thiếu iod, biểu hiện lâm sàng bởi hạt giáp, và thường là đơn ổ với vỏ bao rõ. Carcinôm dạng nang hay lan tràn qua đường máu và cho di căn xa. Nhìn chung carcinôm dạng nang có tiên lượng xấu hơn carcinôm tuyến giáp dạng nhú. Carcinôm tế bào Hurthle, biến thể của carcinôm dạng nang, có độ biệt hóa kém và diễn tiến mạnh hơn.

Carcinôm dạng tuỷ, nguồn gốc từ tế bào cận nang C, tế bào này sản xuất ra calcitonin. Khoảng 25% carcinôm dạng tuỷ có tính di truyền, liên hệ đến hội chứng đa bướu nội tiếtMEN 2a, MEN 2b, có đột biến gene RET và di truyền theo kiểu tế bào tự thân kiểu trội. Carcinôm dạng tuỷ di truyền có thể tăng calcitonin và CEA trong huyết thanh. Carcinôm dạng tuỷ tự phát biểu hiện lâm sàng bằng khối bướu đơn độc và ưa di căn hạch.

Carcinôm không biệt hoá hiếm gặp, chiếm 1% ung thư tuyến giáp, thường gặp ở ngưới lớn tuổi, phát triển nhanh và cho di căn xa. Loại này có thể bắt nguồn từ carcinôm dạng nang, diễn tiến chậm trong các bệnh nhân ở vùng phình giáp dịch tễ thiếu iod. Hầu hết các trường hợp gây tử vong do bướu xâm lấn tại chỗ, thường là chèn ép khí quản.

Chẩn đoán

Lâm sàng

Tình huống lâm sàng thường gặp nhất là một hạt giáp không có triệu chứng. Đánh giá lâm sàng cần liên hệ đến các yếu tố nguy cơ của hạt giáp. Các yếu tố nguy cơ đó là:

· Hạt giáp lớn nhanh

· Mật độ cứng khi sờ

· Dính vào các cấu trúc lân cận

· Tiền căn gia đình có ung thư tuyến giáp

· Liệt dây thanh (gây khàn tiếng)

· Có hạch cổ

Khối u nhỏ nghi ngờ ung thư phát hiện tình cờ qua siêu âm vùng cổ, qua đánh giá phình giáp đa hạt hoặc bệnh Graves.

Hạch cổ di căn tiềm ẩn của carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt.

Các phương tiện chẩn đoán

Siêu âm

Siêu âm là phương tiện chẩn đoán hình ảnh tiêu chuẩn của tuyến giáp. Phương tiện này có lợi điểm là an toàn, không độc hại, rẻ tiền và rất hiệu quả để đánh giá cấu trúc của tuyến giáp. Ngoài ra siêu âm có thể đánh giá chính xác kích thước, vị trí của hạt giáp và rà tìm các hạt giáp không sờ thấy lâm sàng. Siêu âm ngày càng được sử dụng nhiều để hướng dẫn làm chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA: Fine Needle Aspiration) hạt giáp.

Các dấu hiệu của một hạt giáp nghi ngờ trên siêu âm:

· Tăng sinh mạch máu ở trung tâm

· Hạt giáp phản âm kém

· Bờ không đều

· Vi vôi hoá bên trong

Xạ hình

Xạ hình tuyến giáp dùng để đánh giá sự hấp thu iod của các hạt giáp. Các hạt nóng ít có nguy cơ ác tính hơn các hạt lạnh. Các hạn chế của phương tiện này là: độc hại phóng xạ, mắc tiền và độ ly giải hình ảnh kém. Ngày nay ung thư tuyến giáp thường được chẩn đoán bằng FNA và xạ hình tuyến giáp hiếm khi cần trong đánh giá thường qui của một hạt giáp.

Chụp cắt lớp điện toán và chụp cộng hưởng từ

Chụp cắt lớp điện toán (computerized tomography hay CT) và chụp cộng hưởng từ (magnetic resonance imaging hay MRI) là phương tiện để đánh giá sự lan rộng ung thư tuyến giáp vào cấu trúc lân cận và di căn hạch. CT có chích chất cản quang iod cho thấy hình ảnh chi tiết tuyến giáp và đánh giá di căn hạch tốt hơn MRI, CT cũng ít tốn kém hơn MRI.

Hạn chế của CT khi dùng chất cản quang iod làm ngăn cản khả năng hấp thu iod trên xạ hình sau đó và có thể gây độc giáp trạng trong các trường hợp sử dụng chất cản quang iod có liều cao và ở bệnh nhân có cường giáp tiềm ẩn. MRI có ưu điểm là không dùng chất cản quang iod và không độc hại do phóng xạ và có thể cho thấy rõ tuyến giáp và cấu trúc lân cận.

Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ

Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (fine needle aspiration hay FNA) là phương tiện được lựa chọn hàng đầu để đánh giá hạt giáp. Phương tiện này có độ nhạy và độ đặc hiệu cao trên 90%.

Kết quả FNA gồm: ác tính, lành tính, không xác định được và không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán.

Kết quả FNA không xác định được thường là tổn thương dạng nang có thể lành hoặc ác. Các bệnh nhân này cần được cắt thuỳ tuyến giáp toàn phần và cắt lạnh.

Nhóm FNA không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán chiếm 10-12% khi không dùng siêu âm hướng dẫn và tỉ lệ này cải thiện còn 0% khi có sử dụng hướng dẫn của siêu âm.

Xếp hạng lâm sàng theo T,N,M (Xếp loại giai đoạn ung thư tuyến giáp theo TNM)

· Tx Bướu nguyên phát không thể đánh giá được

· T0 Không có bướu nguyên phát

· T1 Bướu <2 cm

· T4a Bướu ăn lan khỏi vỏ bao giáp và xâm lấn bất cứ cấu trúc nào sau đây: mô mềm dưới da, thanh quản, khí quản, thực quản, thần kinh hồi thanh quản

· T4b Bướu xâm lấn màng cân trước cột sống, mạch máu trung thất hoặc bọc quanh động mạch cảnh

· T4a* Bướu (bất kể kích thước) khu trú trong tuyến giáp (chỉ dành cho carcinôm không biệt hoá)

· T4b* Bướu (bất kể kích thước) ăn lan khỏi tuyến giáp (chỉ dành cho carcinôm không biệt hoá)

· Mx Di căn xa không thể đánh giá được

· M0 Không có di căn xa

· M1 Có di căn xa

Xếp giai đoạn ung thư tuyến giáp theo TNM

Nguyên tắc

· Phẫu trị là phương pháp điều trị chính yếu cho tất cả các loại carcinôm tuyến giáp.

· Liệu pháp kích tố đè nén được chỉ định cho hầu hết các trường hợp carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt.

· Liệu pháp 131I được chỉ định cho các trường hợp carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt có nguy cơ cao như lớn tuổi (trên 45 tuổi), bướu lớn (trên 4 cm), xâm lấn vỏ bao giáp hoặc di căn xa.

· Xạ trị ngoài và hoá trị dành cho các trường hợp carcinôm tuyến giáp biệt hoá kém hay không biệt hoá.

Phương pháp

· Phẫu thuật: mức độ rộng của phẫu thuật còn bàn cãi dựa vào kích thước, mức độ xâm lấn, diễn tiến của bướu, phẫu thuật để tạo thuận lợi cho điều trị hỗ trợ sau đó và theo dõi bệnh.

· Các loại phẫu thuật được chấp nhận hiện nay là:

· Cắt thuỳ giáp toàn phần.

· Cắt giáp quá bán (subtotal thyroidectomy) chừa lại khoảng 2-4 gram mô giáp.

· Cắt giáp gần toàn phần (neartotal thyroidectomy) chừa lại khoảng 1 gram mô giáp và

· Cắt giáp toàn phần.

· Biến chứng phẫu thuật: liệt thần kinh hồi thanh quản và suy giáp khoảng 1%.

· Nạo hạch cổ chức năng (nhóm II, III,IV, VI) thường được lựa chọn nhất

· Liệu pháp kích tố đè nén: dựa vào cơ chế phản hồi ngược, dùng thyroxin liều cao để ức chế TSH, kìm hãm sự phát triển của bướu trong các trường hợp carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt. Liều dùng được cân nhắc với tác dụng phụ của điều trị trên tim mạch, xương, và độc giáp trạng nhất là ở người lớn tuổi. Nồng độ TSH trong máu được duy trì trong khoảng 0,1-0,5 mU/L ở nhóm nguy cơ thấp và nhỏ hơn 0,01 mU/l ở nhóm nguy cơ cao

· Liệu pháp 131I: dựa vào cơ chế hấp thu iốt của các carcinôm biệt hoá tốt. Liệu pháp này được dùng hỗ trợ sau mổ để diệt mô giáp hay bướu còn sót và trong các trường hợp di căn xa có bắt iốt. Liều 131I từ 30 mCi đến 200 mCi tuỳ vào tuổi, mức độ xâm lấn của các bướu hoặc vị trí di căn xa.

· Xạ trị ngoài dành cho các trường hợp carcinôm biệt hoá không phẫu thuật được hoặc không bắt iod, hỗ trợ sau mổ các trường hợp carcinôm dạng tuỷ hoặc carcinôm không biệt hoá.

· Hoá trị ít có vai trò trong carcinôm biệt hoá tốt.

Chỉ định

· Cắt trọn thuỳ chỉ định cho các trường hợp kích thước bướu nhỏ hơn hay bằng 1,5 cm và có nguy cơ thấp kèm theo thyroxin sau mổ

· Cắt giáp gần toàn phần hay toàn phần dùng cho các trường hợp có nguy cơ cao. Sau đó dùng liệu pháp 131I và thyroxin sau mổ.

· Nạo hạch cổ được chỉ định khi có hạch cổ sờ thấy trên lâm sàng hay siêu âm nghi ngờ, hoặc trong lúc mổ nghi ngờ hạch di căn có thể cắt lạnh để quyết định điều trị.

Đối với carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt

Cắt giáp toàn phần, nạo hạch cổ phòng ngừa một bên khi bướu lớn hơn 1 cm và hai bên trong các trường hợp di truyền và xạ trị bổ túc sau mổ khi có nguy cơ tái phát cao. Không có vai trò của liệu pháp 131I.

Đối với carcinôm dạng tuỷ

Cắt giáp toàn phần và nạo hạch cổ phòng ngừa nếu bướu còn khu trú, phẫu thuật giảm thiểu bướu không có lợi vì bướu phát triển nhanh. Xạ trị ngoài và hoá trị được chỉ định trong các trường hợp bệnh tiến xa

Đối với carcinôm không biệt hoá

Tiên lượng theo các yếu tố và giai đoạn ung thư tuyến giáp

Phân nhóm nguy cơ

Tham khảo

· Roman S., Udelsman R.. Endocrine Tumors. UICC Manual of Cinical Oncology 2004, 8th edition, p359-p379.

· Sherman S.I.. Thyroid Carcinoma. Lancet 2003; 361: 501-511. PMID 12583960

· Boone R.T., Fan C.Y., Hanna E.Y.. Well-differentiated Carcinoma of the Thyroid. Otolaryngologic Clinics of North America 2003; 36: 73-90. PMID 12803010

· Kinder B. K.. Well differentiated Thyroid Cancer. Current Opinion in Oncology 2003; 15: 71-77. PMID 12490765

· Lairmore T.C., Moley J.F.. Cancer of the Endocrine System. Cancer: Principles and Practice of Oncology (CD-Rom) 2005, 7th edition. Chapter 34.

· Doulas L. F., Monica S., Virginia L. Thyroid carcinoma. Cancer: Principles and Practice of Oncology, 6th edition. Lippincott Williams & Wilkins, 2001.

Các Giai Đoạn Ung Thư Tuyến Giáp / 2023

Bài viết được viết bởi Bác sĩ chuyên khoa I Nguyễn Thị Minh Thuyên – Bác sĩ Giải phẫu bệnh, Khoa Xét nghiệm – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng.

Sau khi người bệnh được chẩn đoán mắc ung thư tuyến giáp, các bác sĩ sẽ cố gắng tìm hiểu xem nó đã lan rộng chưa, và nếu có thì bao xa. Quá trình này được gọi là phân giai đoạn, giúp xác định mức độ nghiêm trọng của ung thư và cách điều trị tốt nhất.

Ung thư tuyến giáp được xếp từ giai đoạn I (1) đến IV (4). Theo quy định, số càng nhỏ, ung thư càng ít lan rộng. Trong cùng một giai đoạn, chữ cái đứng trước có nghĩa là giai đoạn thấp hơn. Mặc dù ung thư có tính chất cá nhân hóa, nhưng những ung thư có giai đoạn tương tự thường có tiên lượng tương tự và thường được điều trị theo cách tương tự.

Làm thế nào để xác định được giai đoạn?

A. Ung thư tuyến giáp biệt hóa (Dạng nhú hoặc dạng nang (papillary or follicular thyroid cancer))

Những bệnh nhân trẻ tuổi có tỉ lệ tử vong thấp do ung thư tuyến giáp biệt hóa (dạng nhú hoặc dạng nang). Vì vậy, tất cả những bệnh nhân dưới 55 tuổi mắc ung thư này loại này đều ở giai đoạn I nếu không có di căn xa và giai đoạn II nếu có di căn xa.

1. Giai đoạn I

1.1. Bệnh nhân trẻ hơn 55 tuổi

●T bất kỳ N bất kỳ M0

Kích thước u bất kỳ (T bất kỳ)

Có hoặc không lan sang các hạch bạch huyết kế cận (N bất kỳ)

Không lan đến các cơ quan xa (M0)

1.2. Bệnh nhân từ 55 tuổi trở lên

●T1 N0/Nx M0

U không lớn hơn 2cm (0.8 inch) và giới hạn trong tuyến giáp (T1)

Không lan đến các hạch bạch huyết gần đó (N0)

Không lan đến các vị trí xa (M0)

Hoặc

●T2 N0/Nx M0

U lớn hơn 2cm (0.8 inch) nhưng không quá 4 cm và giới hạn trong tuyến giáp (T2)

Không lan đến các hạch bạch huyết gần đó (N0)

Không lan đến các vị trí xa (M0)

2. Giai đoạn II

2.1. Bệnh nhân trẻ hơn 55 tuổi

●T bất kỳ N bất kỳ M1

U có kích thước bất kỳ (T bất kỳ)

Có hoặc không lan đến các hạch bạch huyết kế cận (N bất kỳ)

Đã lan sang các bộ phận khác của cơ thể, như các hạch bạch huyết xa, các cơ quan nội tạng, xương,… (M1)

2.2. Bệnh nhân từ 55 tuổi trở lên

●T1 N1 M0

U không lớn hơn 2cm (0.8 inch) và giới hạn ở tuyến giáp (T1)

Đã lan đến các hạch bạch huyết kế cận (N1)

Không lan đến các cơ quan xa (M0)

Hoặc

●T2 N1 M0

U lớn hơn 2cm (0.8 inch) nhưng không quá 4 cm và giới hạn ở tuyến giáp (T2)

Đã lan đến các hạch bạch huyết kế cận (N1)

Không lan đến các cơ quan xa (M0)

Hoặc

●T3a/T3b N bất kỳ M0

U lớn hơn 4cm nhưng chỉ giới hạn ở tuyến giáp (T3a) hoặc xâm lấn đến các bó cơ quanh tuyến giáp (T3b)

Có hoặc không lan đến các hạch bạch huyết kế cận (N bất kỳ)

Không lan đến các cơ quan xa (M0)

3. Giai đoạn 3: với bệnh nhân từ 55 tuổi trở lên

●T4a N bất kỳ M0

U có kích thước bất kỳ và đã phát triển rộng ra ngoài tuyến giáp đến các mô kế cận ở vùng cổ, như thanh quản, khí quản, thực quản hoặc dây thần kinh thanh quản (T4a)

Có hoặc không lan đến các hạch bạch huyết kế cận (N bất kỳ)

Không lan đến các cơ quan xa (M0)

4. Giai đoạn 4: với bệnh nhân từ 55 tuổi trở lên

●Giai đoạn IVA: T4b N bất kỳ M0

U có kích thước bất kỳ và đã phát triển rộng ra ngoài tuyến giáp về phía cột sống hoặc vào các mạch máu lớn gần đó (T4b)

Có hoặc không lan đến các hạch bạch huyết kế cận (N bất kỳ)

Không lan đến các cơ quan xa (M0)

●Giai đoạn IVB: T bất kỳ N bất kỳ M1

U có kích thước bất kỳ (T bất kỳ)

Có hoặc không lan đến các hạch bạch huyết kế cận (N bất kỳ)

Đã lan sang các bộ phận khác của cơ thể, như các hạch bạch huyết xa, các cơ quan nội tạng, xương,… (M1)

B. Ung thư tuyến giáp không biệt hóa (Anaplastic (undifferentiated) thyroid cancer)

Tất cả các bệnh ung thư tuyến giáp không biệt hóa đều được xem là giai đoạn IV, phản ánh tiên lượng xấu đối với loại ung thư này.

Giai đoạn IVA: T1/T2/T3a N0/Nx M0

U có kích thước bất kỳ nhưng chỉ giới hạn trong tuyến giáp (T1, T2 hoặc T3a)

Không lan đến các hạch bạch huyết kế cận (N0)

Không lan đến các vị trí xa (M0)

Giai đoạn IVB: T1/T2/T3a N1 M0

U có kích thước bất kỳ nhưng chỉ giới hạn trong tuyến giáp (T1, T2 hoặc T3a)

Đã lan đến các hạch bạch huyết kế cận (N1)

Không lan đến các cơ quan xa (M0)

Hoặc T3b N bất kỳ M0

U có kích thước bất kỳ và đã xâm lấn các bó cơ quanh tuyến giáp (T3b)

Có hoặc không lan đến các hạch bạch huyết kế cận (N bất kỳ)

Không lan đến các cơ quan xa (M0)

Hoặc T4 N bất kỳ M0

U có kích thước bất kỳ và đã phát triển rộng ra ngoài tuyến giáp vào các mô kế cận ở vùng cổ, như thanh quản, khí quản, thực quản hoặc dây thần kinh thanh quản hoặc xâm lấn đến phía cột sống hoặc vào các mạch máu lớn gần đó (T4)

Có thể hoặc không lan đến các hạch bạch huyết kế cận (N bất kỳ)

Không lan đến các cơ quan xa (M0)

Giai đoạn IVC: T bất kỳ N bất kỳ M1

U có kích thước bất kỳ (T bất kỳ)

Có hoặc không lan đến các hạch bạch huyết kế cận (N bất kỳ)

Đã lan sang các bộ phận khác của cơ thể, như các hạch bạch huyết xa, các cơ quan nội tạng, xương,.. (M1)

C. Ung thư tuyến giáp dạng tủy (Medullary thyroid cancer)

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số hoặc đăng ký lịch trực tuyến TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn!

Bài viết tham khảo nguồn: Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ

Các Giai Đoạn Của Ung Thư Tuyến Giáp / 2023

Giai đoạn ung thư mô tả sự phát triển kích thước và sự lan rộng ra khỏi cơ quan trong cơ thể xa nơi tế bào ung thư bắt đầu. Các loại ung thư tuyến giáp khác nhau trải qua các giai đoạn khác nhau và thường là phức tạp. Bài viết này cung cấp những thông tin chi tiết các giai đoạn của ung thư tuyến giáp.

Ung thư tuyến giáp là tình trạng nhân lên bất thường của các tế bào tuyến giáp do sự rối loạn phân chia của các vật chất di truyền ADN. Ung thư tuyến giáp có thể gặp ở cả nam giới và nữ giới. Giai đoạn đầu bệnh thường biểu hiện âm thầm, các dấu hiệu ung thư tuyến giáp không biểu hiện rõ ràng, và thường không có triệu chứng nên khó phát hiện dẫn đến việc các tế bào ung thư di căn đến nhiều bộ phận khác trên cơ thể. Đến khi phát hiện ra bệnh thì đã ở giai đoạn muộn và không thể điều trị khỏi. Tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp ung thư tuyến giáp được phát hiện sớm.

Ngày nay khi mà khoa học công nghệ ngày càng phát triển nên càng có nhiều cách phát hiện và điều trị ung thư tuyến giáp. Tuy nhiên, các phương pháp sàng lọc, phát hiện sớm ung thư tuyến giáp cũng theo đó mà đạt được những kết quả tốt hơn. Hầu hết trường hợp phát hiện ung thư tuyến giáp giai đoạn đầu là khi bệnh nhân đi khám sức khỏe định kỳ và qua thăm khám thực thể bác sĩ phát hiện những khối u ở phần cổ phía trước từ đó hướng dẫn bệnh nhân làm các xét nghiệm tiếp theo để có thể chẩn đoán ung thư tuyến giáp.

Ung thư sớm cũng có thể được tìm thấy khi bệnh nhân tiến hành làm các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh như siêu âm hoặc chụp cắt lớp vi tính để kiểm tra các vấn đề sức khỏe khác.

Xét nghiệm máu hoặc siêu âm tuyến giáp thông thường có thể phát hiện ra những thay đổi trong tuyến giáp, nhưng những xét nghiệm này không được khuyến cáo là xét nghiệm sàng lọc ung thư trừ khi một người bệnh tồn tại những yếu tố nguy cơ cao chẳng hạn như tiền sử gia đình có người mắc ung thư hoặc đã từng mắc ung thư tuyến giáp trước đây.

Các giai đoạn của bệnh ung thư có thể mô tả tình trạng tiến triển cũng như mức độ di căn của các tế bào ung thư trong cơ thể. Giai đoạn ung thư là yếu tố quan trọng hàng đầu giúp các bác sĩ quyết định phác đồ điều trị ung thư. Các giai đoạn ung thư được xác định dựa trên việc thực hiện một số xét nghiệm như siêu âm, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ….

2.1. Các giai đoạn ung thư tuyến giáp thể nhú và u nang tuyến giáp

Trong trường hợp ung thư tuyến giáp thể nhú hoặc u nang tuyến giáp, yếu tố tuổi tác quyết định phần lớn đến việc phân chia các giai đoạn của ung thư

2.2. Các giai đoạn ung thư tuyến giáp tủy

Giai đoạn I: Khối u có đường kính dưới 2 cm và vẫn nằm trong tuyến giáp chứ chưa lan đến các hạch bạch huyết gần đó cũng như các cơ quan khác.

Giai đoạn II: Khối u có đường kính từ 2cm đến 4cm, vẫn nằm trong tuyến giáp hoặc có thể phát triển ra ngay bên ngoài tuyến giáp tuy nhiên chúng chưa lan đến các hạch bạch huyết cũng như các cơ quan khác.

Giai đoạn III: Khối u kích thước không xác định. Tế bào ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết nhưng chưa di căn đến các cơ quan khác.

Giai đoạn IVA: Khối u có kích thước không xác định, phát triển ra ngoài tuyến giáp đến khí quản, thực quản và các dây thần kinh. Các tế bào ung thư có thể lan đến hạch bạch huyết nhưng chưa di căn đến các cơ quan khác xa hơn.

Giai đoạn IVB: Khối u kích thước không xác định. Tế bào ung thư đã lan đến mạch máu gần đó hoặc đến các mô gần cột sống nhưng chưa lan đến các cơ quan xa hơn

Giai đoạn IVC: Đây là giai đoạn các tế bào ung thư đã theo máu di căn đến các cơ quan khác trong cơ thể. Bệnh nhân ở giai đoạn này gần như không còn cơ hội điều trị khỏi.

2.3. Các giai đoạn ung thư tuyến giáp không biệt hóa

Giai đoạn IVA: Khối u kích thước không xác định nhưng vẫn nằm trong tuyến giáp, không lan đến các hạch bạch huyết hay các cơ quan khác

Giai đoạn IVB: Khối u kích thước không xác định. Tế bào ung thư có thể lan đến hạch bạch huyết hoặc một số cơ quan gần đó như khí quản, thực quản, dây thần kinh hoặc các mạch máu lớn nhưng chưa di căn đến các cơ quan xa hơn.

Giai đoạn IVC: Tế bào ung thư đã di căn đến các cơ quan nằm xa tuyến giáp. Tương tự như đối với ung thư tuyến giáp tủy. Người bệnh ở giai đoạn này đa số không thể điều trị khỏi bệnh.

Ngày nay ung thư tuyến giáp đang ngày càng trở lên phổ biến. Tùy thuộc vào loại ung thư như ung thư tuyến giáp thể nhú, ung thư tuyến giáp tủy hay ung thư tuyến giáp không biệt hóa… mà các giai đoạn ung thư cũng có những biểu hiện khác nhau. Việc xác định chính xác giai đoạn ung thư là yếu tố quan trọng nhất quyết định các phương pháp điều trị sẽ được áp dụng. Ung thư thường không thể điều trị khỏi khi đã bước vào giai đoạn cuối. Hóa trị hay xạ trị trong thời điểm này chỉ có thể hỗ trợ kéo dài sự sống cho người bệnh.

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec được trang bị thiết bị hiện đại tiên tiến cùng đội ngũ chuyên gia đầu ngành có chuyên môn cao. Bệnh viện hiện có gói TẦM SOÁT, SÀNG LỌC CÁC BỆNH LÝ TUYẾN GIÁP hiệu quả, giúp kiểm tra chức năng tuyến giáp, sàng lọc & phát hiện sớm các bệnh lý về tuyến giáp phổ biến như: bướu cổ đơn thuần, cường giáp, suy giáp, viêm tuyến giáp, nhân tuyến giáp, ung thư tuyến giáp, … để từ đó có biện pháp điều trị thích hợp, kịp thời.

Để đăng ký khám tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec, Quý Khách có thể liên hệ đến Hotline Hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc, hoặc đăng ký khám trực tuyến TẠI ĐÂY.

– Miễn phí khám chuyên khoa và giảm giá 50% Gói sàng lọc Ung thư tuyến giáp như:

+ Gói sàng lọc giáp Tiêu chuẩn

+ Gói sàng lọc giáp Nâng cao

+ Gói sàng lọc giáp Đặc biệt

– Giảm 50% chi phí đối với khách hàng có chỉ định điều trị sau khám. Chương trình áp dụng giới hạn cho kỹ thuật tương ứng từng bệnh viện và cho khách hàng lần đầu thực hiện kỹ thuật điều trị này tại Vinmec.

Triệu Chứng Ung Thư Tuyến Giáp Giai Đoạn Cuối / 2023

1. Các giai đoạn bệnh ung thư tuyến giáp

Ung thư tuyến giáp chiếm khoảng 1% trong các loại ung thư. Đây là ung thư tuyến nội tiết thường gặp nhất. Ung thư tuyến giáp phát triển khi các tế bào của tuyến giáp phát triển và phân chia một cách mất kiểm soát.

Ung thư tuyến giáp bao gồm 4 loại chính:

– Ung thư tuyến giáp dạng nhú: chiếm 70 – 80% trong tất cả các trường hợp bệnh ung thư tuyến giáp, bệnh thường phát triển từ các tế bào nang và có xu hướng phát triển chậm.

– Ung thư tuyến giáp dạng nang: chiếm khoảng 25% các trường hợp ung thư tuyến giáp, bệnh thường phát triển từ các tế bào nang.

– Ung thư tuyến giáp thể tủy: chiếm khoảng 4% của tất cả các bệnh ung thư tuyến giáp, bệnh thường phát triển từ các tế bào parafollicular (tế bào C) và có thể lây truyền trong gia đình.

– Ung thư tuyến giáp không biệt hóa: đây là dạng hiếm của ung thư tuyến giáp, chiếm 1% các trường hợp. Bệnh thường có xu hướng phát triển nhanh chóng và ảnh hưởng đến người cao tuổi.

Bệnh chia thành 4 giai đoạn, bao gồm:

1.1. Giai đoạn I

Lúc này khối u mới hình thành, nhỏ hơn hoặc bằng 2 cm và không phát triển bên ngoài tuyến giáp, không lây lan đến các hạch bạch huyết gần đó hoặc các vị trí khác.

1.2. Giai đoạn II

Khối u nguyên phát có đường kính khoảng 2 – 4cm. Có thể có một hoặc nhiều khối u nhưng các tế bào ung thư chưa xâm lấn tới các hạch bạch huyết hoặc các cơ quan khác trong cơ thể. Ngoài ra, các khối u chính lúc này có thể bắt đầu phát triển bên ngoài của tuyến giáp.

1.3. Giai đoạn III

Các khối u chính lớn hơn 4cm, có thể đã phát triển bên ngoài tuyến giáp nhưng chưa lây lan đến các hạch bạch huyết ở gần hoặc xa hơn.

Khối u có kích thước bất kỳ đã xâm lấn tới các bạch huyết ở cổ nhưng chưa di căn đến các cơ quan khác.

1.4. Giai đoạn IV

Giai đoạn IVA: Ung thư ở giai đoạn này đã phát triển vượt ra ngoài tuyến giáp và đã lây sang các mô lân cận. Ung thư có thể đã lây đến các hạch bạch huyết cổ và trên ngực.

Giai đoạn IVB: Các khối u nguyên phát đã phát triển tới thành xương sống hoặc vào gần các mạch máu lớn.

Giai đoạn IVC: tế bào đã di căn đến các cơ quan khác trong cơ thể như gan, phổi, xương, não.

2. Triệu chứng ung thư tuyến giáp giai đoạn cuối

So với giai đoạn đầu, ung thư tuyến giáp giai đoạn cuối thường có biểu hiện rõ ràng, người bệnh có các triệu chứng sau:

Ở giai đoạn này khối u xâm lấn ra phía trước hoặc sau cổ, nguyên nhân của tình trạng này là do khối u phát triển với kích thước lớn.

2.2. Giọng nói thay đổi

Ở giai đoạn này người bệnh cảm thấy khó thở, thay đổi giọng nói, khàn tiếng kéo dài nguyên nhân của tình trạng này là do khối u phát triển to lên, xâm lấn và chèn ép các cơ quan xung quanh cổ.

2.3. Cảm giác vướng tức, bó chặt ở vùng cổ

Đây là dấu hiệu ung thư tuyến giáp giai đoạn cuối. Lúc này người bệnh sẽ có cảm giác vướng tức, bó chặt ở vùng cổ gây tình trạng khó nuốt, nuốt vướng.

2.4. Nổi hạch to

Khi bệnh đã tiến triển tới giai đoạn cuối, người bệnh sẽ thấy nổi hạch to ở vùng cổ, dọc hai bên khí quản…

Ung thư tuyến giáp giai đoạn đầu thường không có triệu chứng cụ thể nhưng khi tiến triển tới giai đoạn muộn, các dấu hiệu bệnh rõ ràng hơn. Căn cứ vào các dấu hiệu ung thư tuyến giáp giai đoạn cuối kết hợp với các biện pháp chẩn đoán mức độ và giai đoạn bệnh cụ thể như siêu âm tuyến giáp, chụp X – quang, bác sĩ sẽ chỉ định phương pháp điều trị phù hợp.

3. Phương pháp điều trị ung thư tuyến giáp giai đoạn cuối

Phẫu thuật không được thực hiện ở người bệnh ung thư tuyến giáp giai đoạn cuối vì lúc này khối u đã di căn tới các bộ phận khác trên cơ thể. Căn cứ vào mức độ di căn của tế bào ung thư, sức khỏe của người bệnh mà bác sĩ sẽ chỉ định phương pháp điều trị phù hợp:

3.1. Phương pháp hóa trị

Trong các loại ung thư tuyến giáp thì bệnh ung thư tuyến giáp không biệt hóa có mức độ ác tính cao, mức độ xâm lấn nhanh nên phương pháp hóa trị sẽ giúp kiểm soát sự phát triển của khối u, điều trị các triệu chứng. Các bác sĩ có thể sử dụng một loại hóa chất hoặc kết hợp nhiều loại hóa chất để mang lại hiệu quả điều trị ung thư tuyến giáp cao nhất.

3.2. Phương pháp xạ trị

Căn cứ vào loại ung thư bác sĩ sẽ chỉ định người bệnh thực hiện xạ trị trong hoặc xạ trị ngoài. Các chuyên gia ung bướu cho biết các loại ung thư tuyến giáp có sự thích ứng với phương pháp xạ trị rất khác nhau. Đối với ung thư tuyến giáp không biệt hóa quá trình thực hiện phương pháp xạ trị ngoài có hiệu quả khá tốt. Tuy nhiên, ung thư tuyến giáp dạng biệt hóa lại không thích ứng với tia xạ nên xạ trị được chỉ định kết hợp với các phương pháp khác để điều trị bệnh.

3.3. Điều trị phóng xạ I – 131

Các nghiên cứu đã cho thấy điều trị bằng iốt phóng xạ có thể cải thiện sự sống còn đối với bệnh nhân ung thư tuyến giáp khi các tế bào ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết hoặc đến các cơ quan trong cơ thể.

Các dạng phóng xạ I-131 sẽ được tuyến giáp tiếp nhận giống như iốt không phóng xạ. Iốt phóng xạ khi được hấp thụ ở tuyến giáp sẽ phá hủy ADN và tiêu diệt tế bào ung thư. Các tế bào của các cơ quan khác trong cơ thể do không hấp thụ I -131 nên sẽ ít chịu tác động của dược chất phóng xạ này. Vì vậy, đây là phương pháp an toàn và hiệu quả để điều trị ung thư tuyến giáp.

3.4. Điều trị nhắm trúng đích

Điều trị nhắm trúng đích là phương pháp hiệu quả với những bệnh nhân ung thư tuyến giáp giai đoạn cuối, giúp giảm nhẹ triệu chứng, cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân. Dựa trên nguyên lý điều trị trúng đích bác sĩ đưa trực tiếp thuốc vào trong tuyến giáp với nồng độ cao, nhanh chóng tác động vào các tế bào tuyến giáp làm mất đi tính hoạt hóa của tế bào, thu nhỏ kích thước tế bào ung thư, ức chế quá trình phát triển của chúng.

4. Cách phòng ngừa ung thư tuyến giáp

4.1. Có chế độ ăn khoa học

Thiếu iốt trong chế độ ăn hàng ngày cũng là yếu tố làm gia tăng nguy cơ mắc ung thư tuyến giáp. Mặt khác, một chế độ ăn uống thiếu cân bằng các chất dinh dưỡng cũng không có lợi cho sức khỏe, khiến cơ thể dễ dàng bị các tác nhân xấu tấn công, gây bệnh. Vì vậy, chế độ ăn uống cân bằng là điều cần thiết để phòng tránh ung thư tuyến giáp và nhiều vấn đề sức khỏe khác.

Theo các chuyên gia, người lớn nên ăn không quá 6 g muối một ngày, tương đương với một muỗng cà phê muối. Cần chú ý là lượng muối này đã có ở một số loại thực phẩm mà chúng ta ăn hàng ngày như xúc xích, nước sốt cà…

4.2. Hạn chế tiếp xúc bức xạ

Tiếp xúc bức xạ là một yếu tố nguy cơ đã được chứng minh đối với ung thư tuyến giáp. Nguồn bức xạ có thể đến từ yếu tố nghề nghiệp, môi trường sống hay điều trị y tế…

4.3. Có chế độ sinh hoạt khoa học

Rượu bia, các chất kích thích không tốt cho sức khỏe nói chung và tiềm ẩn nhiều mối nguy hại khác, trong đó có tăng nguy cơ ung thư. Vì vậy, để phòng bệnh ung thư tuyến giáp, bạn nên tránh các loại đồ uống này. Ngoài ra, việc duy trì chế độ tập luyện thể thao khoa học, giữ tinh thần thoải mái, tránh lo âu kéo dài… cũng giảm nguy cơ mắc bệnh.

Ung thư tuyến giáp là căn bệnh nguy hiểm ở tuyến nội tiết, ở giai đoạn cuối, bệnh thường di căn đến các cơ quan khác trên cơ thể, do đó để phòng ngừa và ngăn chặn mắc ung thư tuyến giáp điều quan trọng nhất là hãy tầm soát sớm và thăm khám sức khỏe định kỳ và ngay khi có những triệu chứng ung thư tuyến giáp hãy đến các cơ sở y tế để được thăm khám và điều trị kịp thời, bởi tỷ lệ sống cho bệnh nhân ung thư tuyến giáp giai đoạn đầu ở dạng thể nang, thể nhú, thể tủy sau 5 năm là 100%.