Top 14 # Xem Nhiều Nhất Xét Nghiệm Tầm Soát Ung Thư Đại Tràng / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Tầm Soát Ung Thư Đại Tràng Bằng Xét Nghiệm Máu / 2023

(VnMedia) –Bỏ qua cơ hội sống chỉ vì… sợ khám bệnh Nhiều người đã bỏ lỡ cơ hội được chữa khỏi hoàn toàn bệnh hoặc khả năng kéo dài sự sống chỉ vì… sợ đi khám bệnh, trong đó sợ nhất là nội soi đại tràng. Tuy nhiên, y học hiện đại đã có những biện pháp giúp phát hiện sớm và tầm soát ung thư đại trực tràng

Ước tính mỗi năm Việt Nam có thêm vài chục ngàn người mắc bệnh ung thư đại trực tràng, trong số đó chỉ có khoảng 1/3 được chẩn đoán sớm, còn lại hơn một nửa trong số đó tử vong. Theo thống kê, Việt Nam chi tới gần 9 nghìn tỷ đồng hàng năm để điều trị cho căn bệnh này, chưa kể những bệnh nhân tự đi nước ngoài chữa bệnh.

Ung thư đại trực tràng dù là căn bệnh nguy hiểm, nhiều người mắc, nhưng nếu phát hiện sớm, điều trị kịp thời thì chỉ 11% tái phát trong năm đầu tiên. Nhiều bệnh nhân đã sống khỏe mạnh hơn 20 năm sau khi phát hiện bệnh, hiện đã ngoài 80 tuổi.

Vì vậy, việc phát hiện sớm bệnh ung thư đại trực tràng là điều hết sức quan trọng, ảnh hưởng tiên quyết đến kết quả điều trị.

Tuy nhiên, nhiều người đã bỏ lỡ cơ hội được chữa khỏi hoàn toàn bệnh hoặc khả năng kéo dài sự sống chỉ vì… sợ đi khám bệnh, trong đó sợ nhất là nội soi đại tràng.

Mặc dù người dân được khuyến cáo là cần quan tâm đến các dấu hiệu như rối loạn tiêu hóa (tiêu chảy, táo bón không rõ nguyên nhân), phân có máu, đau bụng không rõ nguyên nhân, chán ăn, sụt cân…, nhưng đây vẫn là những dấu hiệu khá muộn.

Trên thực tế, y học hiện đại đã có những biện pháp giúp phát hiện sớm nguy cơ mắc các bệnh ung thư, đặc biệt là ung thư đại trực tràng.

Mới đây, Trung tâm Trung tâm Kỹ thuật cao và Tiêu hóa Hà Nội thuộc Bệnh viện Xanh Pôn, theo sự chỉ đạo của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung đã lắp đặt hệ thống thiết bị và đầu tư những bộ test để triển khai thí điểm và tiến tới nhân rộng tầm soát ung thư cho người dân Thủ đô.

Chỉ số CEA là gì?

Cũng tại Hà Nội, từ ngày 20-28/4/2017, Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC tổ chức miễn phí xét nghiệm CEA cho khách hàng tại Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC (42 Nghĩa Dũng, Ba Đình, Hà Nội), Phòng Khám Đa khoa số 99 Trích Sài, dịch vụ lấy mẫu tận nơi và tại trụ sở chi nhanh Bắc Ninh.

CEA là tên viết tắt của kháng nguyên carcinoembryonic. CEA có thể tìm thấy trong nhiều tế bào khác nhau của cơ thể, nhưng thường liên kết với các khối u nhất định và sự phát triển của thai nhi.

CEA bình thường được sản xuất bởi tế bào niêm mạc dạ dày, ruột của thai nhi. Sau khi sinh, CEA biến mất và không còn phát hiện trong huyết thanh nữa. Tuy nhiên, CEA có thể tăng trong nhiều bệnh lý như các bệnh ác tính, đặc biệt là ung thư đại tràng và người hút thuốc lá cũng có thể làm tăng lượng CEA.

CEA còn có giá trị trong việc theo dõi đáp ứng điều trị. Với một bệnh lý có tăng CEA, sau điều trị nồng độ CEA giảm thấp nghĩa là các tế bào bài tiết CEA đã được loại bỏ và khi nồng độ CEA tăng trở lại nghĩa là bệnh có khả năng tái phát.

Khi có khối u ở đường tiêu hoá bao gồm cả lành tính và ác tính đều có thể làm tăng mức độ CEA. Ngoài ra, những bệnh ung thư khác như ung thư tuyến tụy, dạ dày, vú, phổi, buồng trứng và tuyến giáp hay hút thuốc, nhiễm trùng, bệnh viêm ruột, viêm tụy, xơ gan và một số khối u lành tính cũng có thể có nồng độ CEA tăng cao.

Định lượng nồng độ CEA được khuyến cáo chỉ định trước và 3 tháng/ lần trong vòng 2 năm đầu sau phẫu thuật cắt bỏ ung thư đại trực tràng. Tình trạng giảm trở về giá trị bình thường sau phẫu thuật ở một bệnh nhân có tăng nồng độ CEA trước mổ mang ý nghĩa là khối u đã được cắt bỏ hoàn toàn, trái lại nồng độ CEA vẫn tiếp tục tăng cao sau phẫu thuật chỉ dẫn vẫn còn ung thư tồn dư.

Các Xét Nghiệm Dùng Trong Tầm Soát Ung Thư Đại Trực Tràng / 2023

Các xét nghiệm tầm soát ung thư đại trực tràng

BS. Đường Hùng Mạnh Cập nhật lần cuối vào tháng 11/2018

Phần lớn ung thư đại trực tràng hình thành từ các bướu tuyến ở đại trực tràng. Phần lớn bướu tuyến ở đại trực tràng có dạng polyp. Diễn biến tự nhiên thường khởi nguồn từ một polyp nhỏ (< 8 mm), phát triển thành polyp lớn (≥ 8 mm), xảy ra quá trình loạn sản, và cuối cùng là hình thành ung thư biểu mô (carcinoma). Quá trình này ở người bình thường cần tối thiểu khoảng 10 năm. Tầm soát có thể giúp phát hiện và cắt bỏ polyp trước khi ung thư hình thành.[4],[16]

Các xét nghiệm dùng trong tầm soát ung thư đại trực tràng hiện nay đều là các xét nghiệm dựa trên mẫu phân được thu thập của người tham gia tầm soát. Các xét nghiệm máu tìm dấu ấn sinh học (marker ung thư) như CEA, CA 19.9… không đem lại lợi ích và không được chấp thuận trong tầm soát ung thư đại trực tràng.

Các phương tiện hình ảnh học trong tầm soát xin xem bài: Các phương tiện hình ảnh học tầm soát ung thư đại trực tràng

Để biết về các khuyến cáo tầm soát xin xem bài: Tầm soát ung thư đại trực tràng

Các yếu tố nguy cơ xin xem bài: Các yếu tố nguy cơ ung thư đại trực tràng

Xét nghiệm Guaiac tìm máu ẩn trong phân (gFOBT)

Xét nghiệm Guaiac xác định hemoglobin trong phân dựa trên phản ứng peroxidase. Nếu có máu trong phân, ion sắt (Fe) trong hemoglobin sẽ đóng vai trò xúc tác tương tự như enzyme peroxidase, lấy oxy từ peroxide (H2O2) và oxy hóa chất màu guaiac. Phản ứng này sẽ khiến cho mảnh giấy tẩm guaiac chuyển sang màu xanh.

Hiện tại trên thị trường có nhiều loại thuốc thử guaiac khác nhau, các loại thuốc thử được chấp nhận trong tầm soát bao gồm: Hemoccult-SENSA (độ nhạy 64 – 80%), Hemoccult-II (độ nhạy 25 – 38%) và Hemoccult-R.

Hiệu quả của xét nghiệm gFOBT

Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để chứng minh hiệu quả tầm soát của gFOBT. Thử nghiệm lâm sàng trên 46,551 tình nguyện viên tuổi từ 50 – 80 sống tại tiểu bang Minnesota – Hoa Kỳ và theo dõi trong 30 năm cho thấy tầm soát bằng gFOBT làm giảm tử vong do ung thư đại trực tràng. Tầm soát với chu kỳ mỗi năm làm giảm nguy cơ tương đối tử vong do ung thư đại trực tràng còn 68% (95% CI 0.56-0.82), tầm soát với chu kỳ mỗi 2 năm làm giảm nguy cơ tương đối tử vong do ung thư đại trực tràng còn 78% (95% CI 0.65-0.93) so với không tầm soát. Một phân tích tổng hợp do Lin và cộng sự thực hiện đã chứng minh tầm soát với gFOBT làm giảm nguy cơ tử vong do ung thư đại trực tràng so với không tầm soát tại thời điểm 20 năm (nguy cơ tương đối = 0.91) và tại thời điểm 30 năm (nguy cơ tương đối = 0.78).[8],[13]

Quy trình lấy mẫu phân

Chế độ ăn nghiêm ngặt trước khi thực hiện xét nghiệm là không cần thiết. Pignone và cộng sự đã thực hiện một phân tích tổng hợp và chứng minh rằng các chế độ ăn kiêng không ảnh hưởng đến tỉ lệ xét nghiệm dương tính nhưng có thể ảnh hưởng đến sự tuân thủ tầm soát. Bổ sung sắt đường uống cũng được chứng minh không làm tăng tăng tỷ lệ dương tính giả, do đó không cần hạn chế sắt trong thời gian lấy mẫu xét nghiệm. Tuy nhiên, sử dụng liều cao vitamin C có thể gây ra âm tính giả, do đó nên giới hạn vitamin C < 250 mg/ ngày trong tối thiểu 3 ngày trước khi lấy mẫu phân. Tuy nhiên một số chuyên gia như Mayo Clinic vẫn khuyến cáo nên tránh sử dụng các thực vật họ cải, thịt đỏ, vitamin C và thuốc giảm đau như aspirin và ibuprofen trước khi thực hiện xét nghiệm 3 ngày.[1],[6],[9],[11]

Để có kết quả chính xác, các mẫu phân cần được lấy nhiều lần từ phân được thải ra thông qua sự đại tiện của bệnh nhân (nhờ chuyển động ruột). Mẫu phân được lấy tại nhà qua 3 lần đại tiện trong 3 ngày liên tiếp. Mỗi lần, người tham gia tầm soát sẽ sử dụng 1 dụng cụ để lấy 2 mẫu phân và phết lên 2 vị trí khác nhau trên 1 tấm thẻ được thiết kế sẵn. Sau đó tấm thẻ này sẽ được gửi về cho bác sỹ hoặc phòng xét nghiệm. Tại dây mẫu phân sẽ được nhỏ thuốc thử guaiac có chứa H2O2 để đánh giá sự đổi màu guaiac. Tổng cộng có 6 mẫu phân sẽ được thử phản ứng này.[9]

Lấy mẫu phân 1 lần thông qua khám hậu môn trực tràng sẽ thuận tiện hơn cho bệnh nhân và bác sỹ. Tuy nhiên các nghiên cứu đã chứng minh lấy mẫu phân 1 lần không đủ độ nhạy để phát hiện tổn thương. Ngoài ra quá trình thăm khám có thể dẫn đến những tổn thương vi thể trên thành trực tràng và gây ra dương tính giả. Theo Collins và cộng sự , độ nhạy phát hiện tổn thương tân sinh tiến triển ở đại trực tràng nếu lấy 6 mẫu phân là 23.9% trong khi lấy mẫu 1 lần tại phòng khám chỉ đạt độ nhạy là 4.9%.[3]

Thuận lợi và khó khăn của gFOBT

Thuận lợi

Xét nghiệm dễ thực hiện, nhân viên y tế có thể thực hiện dễ dàng mà không cần huấn luyện trước

Không cần chuẩn bị ruột

Không xâm lấn

Hiệu quả đã được chứng minh qua các thử nghiệm lâm sàng

Khó khăn

Bướu tuyến thường không chảy máu, do đó gFOBT có thể không phát hiện được. Độ nhạy của gFOBT đối với bướu tuyến tiến triển thấp hơn đáng kể so với ung thư.

Một lượng lớn bệnh nhân bị dương tính giả.

Xét nghiệm miễn dịch tìm máu trong phân (FIT)

FIT là xét nghiệm có độ đặc hiệu cao, dựa trên phản ứng kháng nguyên – kháng thể để tìm globin người nằm trong hemoglobin. Nhờ đó giảm được tỉ lệ dương tính giả do máu từ dạ dày và ruột non (globin trong máu đã được tiêu hóa trong quá trình vận chuyển) và dương tính giả do hoạt tính peroxidase trong thức ăn (do FIT không dựa trên phản ứng peroxidase).

Hiệu quả của FIT

FIT có độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn so với gFOBT. Theo Robertson và cộng sự, trong dân số có nguy cơ bình thường, FIT có độ nhạy khoảng 80% với mục đích phát hiện ung thư đại trực tràng và 20 – 30% với mục đích phát hiện tân sinh tiến triển. Theo Lee và cộng sự, độ nhạy của FIT với mục đích phát hiện ung thư đại trực tràng là 94% và độc đặc hiệu là 79%.[7],[12]

US Multi-Society Task Force khuyến cáo nên sử dụng FIT thay cho gFOBT trong tầm soát ung thư đại trực tràng. Chu kỳ tầm soát bằng FIT thường là 1 năm. Tuy nhiên theo Van và cộng sự, khoảng thời gian giữa các lần sàng lọc có thể được điều chỉnh theo nguồn lực địa phương. Nghiên cứu trên 7501 người Hà Lan tuổi từ 50 – 74, Van đã chứng minh tổng số trường hợp tân sinh tiến triển được phát hiện không thay đổi với chu kỳ tầm soát dao động từ 1 – 3 năm.[12],[14]

Quy trình thực hiện

Người tham gia tầm soát cần gửi mẫu phân về phòng xét nghiệm trong vòng 24h sau khi lấy mẫu. Nếu thời gian gửi bị chậm trễ, mẫu phân cần được làm lạnh. Độ nhạy của FIT giảm nếu mẫu phân sau khi lấy được gửi đến phòng xét nghiệm trễ hoặc tiếp xúc với nhiệt độ cao xung quanh. Trong nghiên cứu của Van và cộng sự, so với không chậm trễ gửi mẫu, việc gửi mẫu trễ hơn 5 ngày sau khi lấy sẽ làm giảm tỉ lệ phát hiện bướu tuyến (Tỉ số chênh [OR] = 0.6).[15]

Xét nghiệm miễn dịch tìm máu trong phân không yêu cầu bất kỳ chế độ ăn uống kiêng cữ nào. Mẫu phân được lấy 1 lần duy nhất tại nhà. Quá trình lấy mẫu sẽ tùy thuộc theo từng bộ kit xét nghiệm. Tuy nhiên về cơ bản thường có một dụng cụ dạng muỗng để lấy phân, sau đó phân sẽ được cất giữ trong bộ đựng kèm theo và gửi về phòng xét nghiệm.[9]

Thuận lợi và khó khăn của FIT

Thuận lợi

Yêu cầu lấy ít mẫu phân hơn so với gFOBT

Có thể được phân tích tự động

Không yêu cầu hạn chế ăn uống trước khi xét nghiệm

Độ đặc hiệu cao hơn gFOBT

Khó khăn

Giá thành cao hơn so với gFOBT

FIT dương tính cần phải theo dõi thêm bằng nội soi đại trực tràng

Xét nghiệm tìm DNA trong phân

Các đột biến gen và thay đổi biểu sinh gây ra quá trình sinh ung có thể được xác định thông qua DNA của các tế bào tân sinh ở đại trực tràng được tìm thấy trong phân. Cologuard là xét nghiệm DNA thế hệ mới (MT-sDNA, FIT-DNA) kết hợp 3 loại xét nghiệm tìm đột biến DNA trong phân, dấu ấn methyl hóa sử dụng kỹ thuật khuyếch đại gene và xét nghiệm FIT. Năm 2016 US Preventive Services Task Force đã đưa xét nghiệm tìm DNA trong phân vào hướng dẫn tầm soát ung thư đại trực tràng.

Hiệu quả của xét nghiệm tìm DNA trong phân

Imperiale và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu so sánh xét nghiệm DNA và FIT trên 9989 người có nguy cơ bình thường. Kết quả cho thấy độ nhạy phát hiện ung thư đại trực tràng của Cologuard là 92.3% so với độ nhạy của FIT là 73.8%. Độ nhạy phát hiện các tổn thương tiền ung của xét nghiệm DNA là 42.4% so với FIT là 23.8%. Tuy nhiên độ đặc hiệu của xét nghiệm DNA thấp hơn FIT (lần lượt là 86.6% và 94.9%).[5]

Quy trình thực hiện

Xét nghiệm miễn dịch tìm máu trong phân không yêu cầu bất kỳ chế độ ăn đặc biệt nào. Bộ kit lấy mẫu thường bao gồm 1 bộ đựng và một dung dịch bảo quản để cho vào mẫu phân trước khi đưa vào bộ đựng. Người tham gia tầm soát sẽ lấy một mẫu phân tại nhà và cho vào bộ kit đã được chuẩn bị sẵn rồi gửi trở lại cho bác sỹ hoặc phòng xét nghiệm.[10]

Centers for Medicare and Medicaid Services khuyến cáo tầm soát bằng xét nghiệm Cologuard mỗi 3 năm cho các đối tượng thỏa các điều kiện sau:[2]

Tuổi từ 50 – 84

Không có dấu hiệu hay triệu chứng của bệnh lý đại trực tràng

Nguy cơ ung thư đại trực tràng ở mức bình thường

Thuận lợi và khó khăn của xét nghiệm tìm DNA trong phân

Thuận lợi

Xét nghiệm tìm DNA trong phân có chu kỳ tầm soát mỗi 3 năm, thuận tiện hơn so với chu kỳ mỗi năm của các xét nghiệm phân khác.

Có thể đạt được hiệu quả về chi phí tốt hơn so với FIT nếu số người tham gia tầm soát lớn.

Khó khăn

Khoảng 10% bệnh nhân có kết quả xét nghiệm DNA dương tính nhưng nội soi không phát hiện bất thường (dương tính giả).

Chi phí còn cao so với các xét nghiệm phân khác

Tài liệu tham khảo

Anderson G. D., Yuellig T. R., Krone R. E., Jr. (1990), “An investigation into the effects of oral iron supplementation on in vivo Hemoccult stool testing”. Am J Gastroenterol, 85 (5), pp. 558-61.

Centers for Medicare & Medicaid Services. Decision Memo for Screening for Colorectal Cancer – Stool DNA Testing. 2018 [cited 2018 4/4]; Available from: https://www.cms.gov/medicare-coverage-database/details/nca-decision-memo.aspx?NCAId=277.

Collins J. F., Lieberman D. A., Durbin T. E., Weiss D. G. (2005), “Accuracy of screening for fecal occult blood on a single stool sample obtained by digital rectal examination: a comparison with recommended sampling practice”. Ann Intern Med, 142 (2), pp. 81-5.

Fearon E. R., Vogelstein B. (1990), “A genetic model for colorectal tumorigenesis”. Cell, 61 (5), pp. 759-67.

Imperiale T. F., Ransohoff D. F., Itzkowitz S. H., Levin T. R., Lavin P., et al. (2014), “Multitarget stool DNA testing for colorectal-cancer screening”. N Engl J Med, 370 (14), pp. 1287-97.

Jaffe R. M., Kasten B., Young D. S., MacLowry J. D. (1975), “False-negative stool occult blood tests caused by ingestion of ascorbic acid (vitamin C)”. Ann Intern Med, 83 (6), pp. 824-6.

Lee J. K., Liles E. G., Bent S., Levin T. R., Corley D. A. (2014), “Accuracy of fecal immunochemical tests for colorectal cancer: systematic review and meta-analysis”. Ann Intern Med, 160 (3), pp. 171.

Lin J. S., Piper M. A., Perdue L. A., Rutter C. M., Webber E. M., et al. (2016), “Screening for Colorectal Cancer: Updated Evidence Report and Systematic Review for the US Preventive Services Task Force”. Jama, 315 (23), pp. 2576-94.

Mayo Foundation for Medical Education and Research Fecal occult blood test. 2018 [cited 2018 04/04]; Available from: https://www.mayoclinic.org/tests-procedures/fecal-occult-blood-test/about/pac-20394112.

Mayo Foundation for Medical Education and Research. Stool DNA test. 2018 [cited 2018 4/4]; Available from: https://www.mayoclinic.org/tests-procedures/stool-dna-test/about/pac-20385153.

Pignone M., Campbell M. K., Carr C., Phillips C. (2001), “Meta-analysis of dietary restriction during fecal occult blood testing”. Eff Clin Pract, 4 (4), pp. 150-6.

Robertson D. J., Lee J. K., Boland C. R., Dominitz J. A., Giardiello F. M., et al. (2017), “Recommendations on fecal immunochemical testing to screen for colorectal neoplasia: a consensus statement by the US Multi-Society Task Force on colorectal cancer”. Gastrointest Endosc, 85 (1), pp. 2-21.e3.

Shaukat A., Mongin S. J., Geisser M. S., Lederle F. A., Bond J. H., et al. (2013), “Long-term mortality after screening for colorectal cancer”. N Engl J Med, 369 (12), pp. 1106-14.

van Roon A. H., Goede S. L., van Ballegooijen M., van Vuuren A. J., Looman C. W., et al. (2013), “Random comparison of repeated faecal immunochemical testing at different intervals for population-based colorectal cancer screening”. Gut, 62 (3), pp. 409-15.

van Rossum L. G., van Rijn A. F., van Oijen M. G., Fockens P., Laheij R. J., et al. (2009), “False negative fecal occult blood tests due to delayed sample return in colorectal cancer screening”. Int J Cancer, 125 (4), pp. 746-50.

Winawer S. J., Fletcher R. H., Miller L., Godlee F., Stolar M. H., et al. (1997), “Colorectal cancer screening: clinical guidelines and rationale”. Gastroenterology, 112 (2), pp. 594-642.

Xét Nghiệm Tầm Soát Ung Thư / 2023

1. Xét nghiệm máu có phát hiện được bệnh ung thư hay không ?

Xét nghiệm máu giúp chúng ta tìm ra các dấu ấn ung thư, đó là các protein đặc biệt, do tế bào ung thư sinh ra hoặc các hormon (ví dụ ung thư gan là AFP, ung thư đại tràng là CEA, ung thư tụy CA19-9, ung thư phổi là CYFRA 21, ung thư buồng trứng là CA 125 …

Xét nghiệm máu tìm gen gây ung thư: Đây là một phương pháp rất mới vì có quan điểm cho rằng ung thư là do đột biến gen gây ra, ví dụ xét nghiệm máu tìm gen ung thư vú BRCA2, ung thư đại tràng là gen APC… Xét nghiệm này có khả năng phát hiện bệnh ung thư từ giai đoạn rất sớm.

2. Xét nghiệm máu không thể hiện 100% bản chất ung thư

Cần khẳng định rằng, xét nghiệm máu không thể hiện 100% bản chất ung thư, vì có thể cho kết quả dương tính giả do máu có những chất tương đồng với khối u. Để xác định có khối u ung thư hay không, thường phải làm lại xét nghiệm sau một thời gian 3- 6 tháng… Nếu đúng là có khối u ung thư thì các chỉ số này sẽ tăng theo tỷ lệ kích thước khối u. Khi các chỉ số tăng lên sẽ kết hợp với các chẩn đoán hình ảnh khác để xác định “đối tượng”. Ví dụ chụp CT toàn thân, chụp hình cộng hưởng khuếch tán toàn thân phát hiện ung thư giai đoạn rất sớm. Nếu là dương tính giả, chỉ số sẽ vọt lên rồi sụt xuống.

Điều lo ngại nhất là hiện tượng âm tính giả, tức là người bệnh thực sự có ung thư nhưng xét nghiệm máu lại không phát hiện được, ví dụ ung thư gan không tiết AFP vào máu. Đây là vấn đề nan giải, vì đôi khi bệnh nhân tưởng mình không mắc bệnh, nhưng thật ra bệnh vẫn âm thầm phát triển.

Dấu ấn ung thư còn được sử dụng để theo dõi điều trị và tiên lượng tình hình bệnh nhân. Trước khi điều trị bác sĩ sẽ chỉ định làm xét nghiệm, ví dụ trước mổ chỉ số là 100 đơn vị, thì sau khi mổ sẽ giảm xuống còn vài chục thậm chí là một-hai đơn vị. Nhưng sau mổ một thời gian, xét nghiệm lại, thấy chỉ số tăng cao là báo hiệu có di căn. Song, giá trị của các chỉ số ung thư không phải tuyệt đối, nó chưa thể kết luận chính xác bạn có mắc ung thư hay không. Tuy nhiên nếu xét nghiệm mà các dấu ấn ung thư tăng cao, bác sĩ sẽ căn cứ vào đó để chỉ định làm thêm các xét nghiệm chẩn đoán chuyên sâu khác.

3. Xét nghiệm máu có thể phát hiện nguy cơ những loại ung thư nào ?

– Chỉ số CEA tăng cao trong máu có thể bệnh nhân bị ung thư đại trực tràng, ung thư thực quản, ung thư vú, ung thư vùng đầu cổ, phổi, dạ dày, gan, tụy, ung thư tuyến giáp, buồng trứng, cổ tử cung.

– Chỉ số AFP tăng cao có thể xuất hiện trong ung thư gan nguyên phát, ung thư buồng trứng, ung thư tinh hoàn.

– CA 125 tăng cao có thể xuất hiện trong ung thư buồng trứng, ngoài ra có thể tăng trong ung thư phổi, ung thư vú, ung thư tử cung và các ung thư đường tiêu hóa.

– CA 19-9 tăng cao có thể xuất hiện trong ung thư dạ dày, tuyến tụy và ung thư đường tiêu hóa khác.

– CA 15-3 tăng cao có thể xuất hiện trong ung thư vú, đôi khi trong ung thư phổi. HCG tăng cao (ngoài kỳ mang thai) có thể xuất hiện trong ung thư tinh hoàn, ung thư màng đệm.

– CYFRA 21-1 tăng cao trong ung thư thực quản, ung thư phổi không tế bào nhỏ, ung thư vú, tuyến tụy, cổ tử cung.Ngoài ra Cyfra 21-1 có thể tăng cao trong các bệnh như viêm phổi, nhiễm trùng máu, suy thận..

– Kháng nguyên PSA (PSA toàn phần và PSA tự do) giúp phát hiện ung thư tuyến tiền liệt.

– CA 72-4 tăng cao có thể xuất hiện trong ung thư dạ dày, ung thư buồng trứng, ung thư tinh hoàn.

– NSE (Neuro Specifc Enolase) tăng cao có thể xuất hiện trong ung thư phổi tế bào nhỏ, u nguyên bào thần kinh, u nội tiết …

Các chỉ số trong xét nghiệm máu tăng cao có thể do rất nhiều nguyên nhân, vì thế để chẩn đoán chính xác bạn có mắc ung thư hay không người bệnh cần làm kết hợp nhiều xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh khác như chụp CT, chụp MRI, chụp PET, siêu âm, nội soi, sinh thiết… (tùy từng trường hợp bệnh cụ thể).

4. Xét nghiệm tầm soát ung thư tại Buôn Ma Thuột

Hiện tại, nếu bạn có nhu cầu xét nghiệm tầm soát ung thư tại Buôn Ma Thuột, bạn có thể đến trực tiếp 2 cơ sở của Trung tâm để được tư vấn cụ thể và lấy mẫu máu xét nghiệm. Các mẫu máu của bạn sẽ được gửi liền xuống Cơ sở Mẹ của Trung tâm ở chúng tôi làm xét nghiệm – Phòng khám đa khoa Hạnh Phúc. Tại Cơ sở Mẹ có đầy đủ các máy móc hiện đại để phục vụ cho việc xét nghiệm tầm soát ung thư, đảm bảo kết quả chính xác, nhanh chóng.

BẢNG GIÁ XÉT NGHIỆM TẦM SOÁT UNG THƯ TẠI TRUNG TÂM

* Cơ sở Chính: Trung tâm xét nghiệm Buôn Ma Thuột

✍️ Địa chỉ: 170 Đinh Tiên Hoàng – TP.BMT

☎️ Hotline: 02626 544 455 (24/7).

Làm việc tất cả các ngày trong tuần từ thứ 2 – Chủ nhật.

Xét Nghiệm Máu Tầm Soát Ung Thư Phổi / 2023

05/05/2018 Tác giả: Tham vấn y khoa bởi: Bệnh viện Thu Cúc Đội ngũ bác sĩ Thu Cúc 718 lượt xem

Xét nghiệm máu tầm soát ung thư phổi có thể hỗ trợ tìm dấu ấn ung thư phổi nhưng không thể khẳng định chính xác bạn có mắc bệnh hay không. Để phát hiện ung thư phổi sớm, bạn cần kết hợp các xét nghiệm, chẩn đoán chuyên sâu khác như chụp cắt lớp vi tính lồng ngực…

Xét nghiệm máu tầm soát ung thư phổi

Xét nghiệm máu tầm soát ung thư phổi là xét nghiệm tìm dấu ấn ung thư phổi, hỗ trợ phần nào trong chẩn đoán ung thư phổi sớm cũng như theo dõi tiến triển và điều trị bệnh.

Xét nghiệm máu tầm soát ung thư phổi có thể bao gồm các xét nghiệm tìm chất chỉ điểm ung thư như SCC, CEA, Cyfra, NSE…

Ung thư phổi là một trong những bệnh ung thư cực kì nguy hiểm, có thời gian tiến triển nhanh và các triệu chứng bệnh ít khi biểu hiện sớm. Chính vì vậy, có đến trên 70% bệnh nhân ung thư phổi đến viện khám phát hiện bệnh khi ung thư đã ở giai đoạn muộn và di căn. Chính điều này đã cản trở đến cơ hội điều trị cũng như cơ hội sống của người bệnh rất nhiều. Tầm soát ung thư phổi là một trong những cách có thể phát hiện bệnh sớm, ngay khi ung thư chưa có biểu hiện, được khuyến khích cho mọi người trưởng thành, đặc biệt là những người có nguy cơ mắc bệnh cao như nghiện thuốc lá, rượu mạnh, tiếp xúc với amiang, tiền sử gia đình có người mắc bệnh…

Các xét nghiệm khác cần kết hợp trong tầm soát ung thư phổi

Xét nghiệm máu không thể khẳng định chính xác bạn có mắc ung thư phổi hay không mà cần phải kết hợp với các phương pháp chẩn đoán chuyên sâu khác.

Chụp CT scan lồng ngực là một trong những phương pháp chẩn đoán hình ảnh chuyên sâu có thể phát hiện những bất thường ở phổi với kích thước nhỏ. Đây cũng là tiêu chuẩn tối thiểu để chẩn đoán và đánh giá giai đoạn bệnh.

Hình ảnh trên CT có thể là khối u hình cầu hay bầu dục, bờ phẳng hay không đều… Khi bơm thuốc cản quang cho phép phát hiện ung thư phổi với độ chính xác 98% và độ đặc hiệu 73%…

Nên tầm soát ung thư phổi ở đâu?

Hiện nay ở Hà Nội có nhiều Bệnh viện thực hiện khám tầm soát ung thư phổi, gồm cả các bệnh viện công lập và ngoài công lập. Là một trong những đơn vị y tế đi đầu trong khám sàng lọc và điều trị ung thư, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Thu Cúc là địa chỉ được nhiều người bệnh tin tưởng.

Ưu điểm khám tầm soát ung thư tại bệnh viện:

Đặt lịch hẹn nhanh chóng qua Tổng đài, người bệnh không phải chờ đợi lâu để thăm khám

Trang thiết bị y tế hiện đại nhất, đạt chuẩn Quốc tế hỗ trợ tối đa trong khám phát hiện bệnh sớm

Môi trường khám bệnh thân thiện, không gian thoải mái

Đội ngũ bác sĩ chuyên môn giỏi, gồm cả bác sĩ Quốc tế và Việt Nam

Bệnh viện có xây dựng và triển khai gói tầm soát ung thư phổi với đầy đủ các xét nghiệm cần thiết nhất, chi phí trọn gói, tiết kiệm

Bệnh phẩm nghi ngờ có thể đem xét nghiệm tại Mỹ, Singapore để cho kết quả chính xác nhất

Trường hợp không may phát hiện ung thư, bệnh nhân sẽ được tư vấn khám và điều trị trực tiếp với đội ngũ bác sĩ Singapore hợp tác với bệnh viện, trong đó có TS. BS Lim Hong Liang. BS Lim là thành viên Hiệp hội Nghiên cứu Quốc tế Ung thư phổi.