Top 19 # Xem Nhiều Nhất Xet Nghiem Tam Soat Ung Thu Duong Tieu Hoa / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Thuoc Thu Y, Thai Duong, Svt Thái Dương., Jsc / 2023

Bệnh Newcatle là một bệnh rất phổ biến và cũng được rất nhiều người chăn nuôi quan tâm, bởi bệnh có tỷ lệ chết rất cao và tỷ lệ lây lan rất nhanh, có thể lây lan trên một diện rộng. Cũng chính bởi tính chất nguy hiểm như vậy mà trong chăn nuôi, bệnh này được người chăn nuôi luôn chú trọng hàng đầu. Tuy nhiên, hiểu biết về bệnh của người chăn nuôi còn hạn chế, hoặc có một số thông tin còn nhiều tranh cãi.

1. Nguyên nhân:

Bệnh do siêu vi trùng thuộc nhóm Paramyxovirus gây bệnh cho gà mọi lứa tuổi, đặc trưng bởi hiện tượng xuất huyết, viêm loét đường tiêu hoá. Bệnh lây lan nhanh gây thiệt hại nghiêm trọng, có thể đến 100% trên đàn gà bệnh. Virus dễ bị diệt bởi thuốc sát trùng thông thường nhưng có thể tồn tại nhiều năm trong môi trường mát. Bệnh lây lan chủ yếu qua đường hô hấp, tiêu hoá, do tiếp xúc gà bệnh.

2. Triệu chứng:

– Thời kỳ nung bệnh thường là 5 ngày, có thể biến động từ 5 – 12 ngày. – Thể quá cấp tính: thường xảy ra đầu ổ dịch, bệnh tiến triển nhanh, gà ủ rũ sau vài giờ rồi chết, không thể hiện triệu chứng của bệnh. – Thể cấp tính: gà ủ rũ, ăn ít, uống nước nhiều, lông xù, gà bị sốt cao 42 – 43°C, hắt hơi, sổ mũi, thở khó trầm trọng, mào và yếm tím bầm, từ mũi chảy ra chất nhớt. Gà rối loạn tiêu hoá, thức ăn ở diều không tiêu, nhão ra do lên men, khi dốc gà ngược thấy có nước chảy ra có mùi chua khắm. Vài ngày sau gà tiêu chảy phân có màu nâu sẫm, trắng xanh hay trắng xám. Niêm mạc hậu môn xuất huyết thành những tia màu đỏ. Gà trưởng thành triệu chứng hô hấp không thấy rõ như ở gà giò. Ở gà đẻ sản lượng trứng giảm hoặc ngừng để hoàn toàn sau khi nhiễm bệnh 7 – 21 ngày. – Thể mãn tính: xảy ra ở cuối ổ dịch. Gà có triệu chứng thần kinh, cơ quan vận động bị tổn thương biến loạn nặng. Con vật vặn đầu ra sau, đi giật lùi, vòng tròn, mổ không đúng thức ăn, những cơn co giật thường xảy ra khi có kích thích. Chăm sóc tốt gà có thể khỏi nhưng triệu chứng thần kinh vẫn còn, gà khỏi bệnh miễn dịch suốt đời.

3. Bệnh tích:

– Thể quá cấp: bệnh tích không rõ, chỉ thấy những dấu hiệu xuất huyết ở ngoại tâm mạt, màng ngực, cơ quan hô hấp. – Thể cấp tính: xoang mũi và miệng đều chứa dịch nhớt màu đục. Niêm mạc miệng, mũi, khí quản xuất huyết, viêm phủ màng giả có Fibrin.- Tổ chức liên kết vùng đầu, cổ, hầu bị thuỷ thủng thấm dịch xuất huyết vàng. – Thể mãn tính: bệnh tích điển hình tập trung ở đường tiêu hoá Niêm mạc dạ dày tuyến xuất huyết màu đỏ, tròn bằng đầu đinh ghim, các điểm xuất huyết này có thể tập trung thành từng vệt.. Dạ dày cơ xuất huyết. Ruột non xuất huyết, viêm. Trong trường hợp bệnh kéo dài có thể có những nốt loét hình tròn, hình bầu dục, cúc áo. Trường hợp bệnh nặng nốt loét có thể lan xuống ruột già, ruột non. Gan có một số đám thoái hoá mỡ nhẹ màu vàng. Thận phù nhẹ có màu nâu xám. Bao tim, xoang ngực, bề mặt xoang ức xuất huyết Dịch hoàn, buồng trứng xuất huyết thành từng vệt từng đám. Trứng non vỡí trong thành xoang bụng.

4. Phòng bệnh:

Virus gây bệnh Newcastle làm tế bào vật chủ sản sinh interferon, vì vậy không tiêm thêm vaccine virus khác sau khi chủng ngừa Newcastle từ 5 – 7 ngày. Hiện nay thường sử dụng phổ biến vaccine do Công ty thuốc thú y TW II sản xuất, lịch chủng ngừa như sau: – Vaccine Newcastle hệ 2 dùng nhỏ mắt mũi cho gà lúc 3 ngày tuổi – Do miễn dịch không bền nên tiếp tục dùng vaccine Newcastle hệ 2 nhỏ mắt tiếp cho gà lúc 21 ngày tuổi hoặc dùng vaccine Lasota pha nước cho gà uống, hoặc nhỏ mắt, nhỏ mũi – Gà 3 ngày tuổi nhỏ mắt hoặc cho uống bằng vaccine Inacti/vac B1-M48 ngừa bệnh Newcastle và viêm phế quản truyền nhiễm – Gà 21 ngày tuổi ngừa bằng vaccine BIO-SOTA Bron MM nhỏ mắt, cho uống hoặc phun sương. – Gà trên 3 tháng tuổi tái chủng bằng INACTI/VAC ND-BD-FC3 tiêm dưới da 0,5ml/ con.

5. Điều trị:

Khi phát hiện gà mắc bệnh Newcastle nên chủng lai váccin cho toàn đàn và  nâng cao sức đề kháng cho toàn đàn bằng các thuốc sau:

– Dùng Sun- Ampicol.P (cốm xanh) hoặc Sun- Amcol 20 (cốm hồng) hòa nước cho uống để phòng các bệnh kế phát

– Sun- Provit hoà nước cho uống với liều 1/ 10 kg thể trọng, uống liên tục 5-7 ngày.

– Sun- Liver plus hoà nước cho uống 1ml/ 5 kg thể trọng, uống liên tục 5-7 ngày.

 

Tam Thất Chữa Ung Thư / 2023

Hiện chưa thực sự có một công trình nghiên cứu mang tính thuyết phục trên lâm sàng điều trị ung thư. Nhưng những kết quả khả quan có thể cho chúng ta những định hướng nghiên cứu tích cực. Ví dụ như phối hợp đa phương tiện trị liệu, vừa phẫu thuật, vừa dùng xạ trị, hóa trị, dùng thuốc đông y, hoặc dùng thuốc đông y để giải quyết những tác dụng phụ mà hoá trị và xạ trị gây ra.

Tam thất thuộc họ nhà sâm và có những hoạt chất cực tốt cho sức khỏe giống như linh chi, nấm lim xanh nên tam thất bắc có công dụng cực tốt trong quá trình điều trị ung thư đặc biệt ở những bệnh nhân giai đoạn cuối cơ thể bị suy kiệt.Tác dụng của tam thất với sức khỏe và điều không phải bàn cãi và đã đuọc Mật Ong Phong Hưởng chia sẻ qua các bài viết sau:

Tac dụng của tam thất với sức khỏe?Các bài thuốc hay về tam thất?Cách ăn tam thất đem lại hiệu quả cao nhất?

Tam thất giúp điều trị ung thư:

Những tác dụng thường thấy của tam thất bắc có thể nói tới như sử dụng làm thuốc để giúp cầm máu xuất huyết nội tạng bên trong hay thổ huyết do lao lực, làm việc nặng nhọc quá sức. Ngoài ra còn giúp điều trị tiểu ra máu hoặc phân có máu do chảy máu trong đường ruột, ngăn ngừa các tác nhân gây nên ung thư dạ dày và trực tràng. Loài cây thuốc này cũng có khả năng giảm đau với những người vừa trải qua giai đoạn phẫu thuật uống vào rất tốt. Không những vậy khi bị di chứng đau tim, co mạch dẫn tới đau thất ngực có thể uống tam thất để ổn định lại hệ mạch phòng chống đột quỵ và chóng mặt do cao huyết áp gây nên.

Ung thư vú, ung thư phổi hay ung thư gan, dạ dày là những trường hợp mà người bệnh sử dụng rất nhiều tam thất. Bởi hoạt chất trong tam thất giúp hỗ trợ hệ miễn dịch, giảm ngăn sự hủy hoại của các tế bào ung thư tác động lên các cơ quan nội tạng bên trong của cơ thể. Trong quá trình xạ trị phải dùng tia điện từ cũng như hóa trị cần truyền rất nhiều loại chất độc hại vào cơ thể thì việc đào thải bớt các dạng chất độc này bằng các loại thuốc tây là không đủ, người bệnh dùng tam thất để hỗ trợ hệ bài tiết cũng như tăng cường sức mạnh cho tế bào lành tính giúp cơ thể trở nên khỏe mạnh hơn, hạn chế tối đa do quá trình điều trị từ hóa chất gây ra.

Không chỉ những trường hợp trên mà kể cả ung thư cổ tử cung, tuyến tiền liệt, ung thư hạch…cũng đều có thể sử tam thất làm phương thuốc hỗ trợ cực tốt. Qua những kết quả khám lâm sàng và thực tế sử dụng cho thấy người dùng tam that kết hợp với những phương pháp điều trị ung thư hiện đại mang lại hiệu quả rất tốt. Nhiều người tái khám đã rất vui mừng khi các tế bào ung thư trong cơ thể không còn và đã có thể trở lại cuộc sống sinh hoạt và làm việc như bình thường.

Khả năng hỗ trợ điều trị ung thư của tam thất đã được khẳng định chắc chắn qua nghiên cứu khoa học và thực tiễn của những người đã trực tiếp sử dụng. Nhiều bài thuốc cũng được ra đới từ loại thảo dược này và đã được đóng hôp cẩn thận. Tuy vậy có thể nhiều người vẫn thích dùng dạng bột tự nhiên hơn nên khi đi mua cũng lựa chọn cẩn thận những cơ sở uy tín đảm bảo chất lượng để đảm bảo sức khỏe của bản thân và gia đình.

Kết hợp Tam Thất với Mật Ong:

Cách tốt nhất để dùng là tán nhỏ thành bột tam thất để uống chung với mật ong ( do củ này hơi đắng nên uống cùng sẽ dễ hơn ) bên cạnh đó cũng do mật ong có khả năng điều trị viêm loét rất hiệu quả thường được dùng trong các bài thuốc điều trị đau dạ dày. Nếu cần có thể cho nước ấm vào cho dễ uống, nên sử dụng vào sau bữa ăn tối là lúc cơ thể hấp thụ được nhiều dưỡng chất nhất.

Tam thất và mật ong là hai vị thuốc cực tốt trong đông y, không những lành tính không gây ra phản ứng phụ với cơ thể, tác dụng của tam thất với mật ong còn được sử dụng để phòng chống ung thư cực kỳ hiệu quả, đặc biệt với những bệnh nhân giai đoạn cuối thể trạng còn yếu nên dùng vị thuốc này bồi bổ có thể nâng cao sức để kháng và tuổi thọ cho bệnh nhân nên càng ngày có nhiều người sử dụng bài thuốc quý giá này.

Theo nghiên cứu dược lý Tây y, tam thất trộn mật ong có tác dụng cầm máu nội tạng như dạ dày, phổi, tử cung, đường ruột, vết thương ngoại khoa do bị đâm chém, ngã; giúp làm tăng hưng phấn thần kinh trung khu, tác dụng của tam thất mật ong chống mệt mỏi, tăng cường khả năng làm việc của trí não và tay chân; tăng nội tiết sinh dục; tăng khả năng hấp thu và chuyển hóa; cải thiện, phục hồi và tăng cường chức năng miễn dịch của cơ thể; bồi bổ cơ thể, có tác dụng thay thế nhân sâm cao ly (các kết quả nghiên cứu cho thấy, mật ong tam thất có nhiều thành phần giống sâm cao ly, nhưng không làm tăng huyết áp và tăng nhịp tim như khi sử dụng sâm cao ly).

Đánh giá thực tế tam thất chữa ưng thư:

TS, BS Hoàng Đình Chân – Giám đốc Bệnh viện Ung bướu cũng không nhớ được đã chữa trị cho bao nhiêu người. 30 năm trong nghề phẫu thuật lồng ngực, những bệnh phổi tại Bệnh viện Phổi trung ương và Bệnh viện K trung ương, TS Chân cho biết, với bệnh nhân ung thư nếu điều trị tốt và kết hợp với các phương pháp điều trị hỗ trợ khác cũng rất tốt.

TS Chân kể, bí quyết của ông đơn giản chỉ là sống khoẻ và ăn tam thất hàng ngày. Với các bác sĩ chuyên khoa ung bướu như TS Chân thì việc kết hợp các loại thuốc đông y để nâng cao thể trạng cho bệnh nhân trong điều trị ung thư là điều cần thiết.

Với bệnh nhân ung thư ngoài những thuốc đặc trị, có thể sử dụng tam thất để tăng tính nhạy cảm của mô ung thư, từ đó có thể sử dụng ít thuốc đặc trị hơn, như vậy sẽ ít gây độc hại hơn cho người bệnh. Nhưng nhấn mạnh rằng tam thất cũng không thể thay thế hoàn toàn thuốc đặc trị ung thư.

Còn anh Ngọc Anh, trú tại phố Trần Khát Chân, Hà Nội là một bệnh nhân của căn bệnh ung thư tiền liệt tuyến, cũng được bạn bè giới thiệu, anh đã sử dụng tam thất nhiều năm nay. Ngoài dùng tam thất, anh Ngọc Anh vẫn phải nhờ tới những phương pháp điều trị khác như xạ trị, hóa trị… Anh cho rằng: Nếu chỉ dùng tam thất, chắc bệnh tình của tôi cũng không khá hơn. Tôi vẫn phải kết hợp những phương pháp điều trị khác.

Theo Tiến sĩ Y khoa Hoàng Lam Dương, bệnh viện Y học Cổ truyền Trung ương khuyến cáo: Trong điều trị căn bệnh ung thư, ngoài những thuốc đặc trị, có thể sử dụng thêm tam thất. Thông thường, người mắc bệnh ung thư vẫn phải được điều trị bằng xạ trị hay hóa trị…

Điều trị kết hợp với tam thất sẽ tăng tính nhạy cảm của mô ung thư, từ đó có thể sử dụng ít hơn thuốc đặc trị, như vậy sẽ ít gây độc hại hơn cho người bệnh. Nhưng nhấn mạnh rằng tam thất cũng không thể thay thế hoàn toàn thuốc đặc trị ung thư.

Ung Thu Khoang Mieng, Ung Thu, Dieu Tri Ung Thu Khoang Mieng, Benh Ung Thu Khoang Mieng, Nguyen Nhan Mac Benh Ung Thu, Phuong Phap Dieu Tri Ung Thu / 2023

Khái niệm về ung thư khoang miệng: bệnh ung thư khoang miệng là một loại bệnh có khối u ác tính trong khoang miệng thường hay gặp. Ung thư vòm họng trong giai đoạn đầu khá giống với bệnh viêm loét khoang miệng, có rất nhiều bệnh nhân khi mắc bệnh ung thư vòm họng trong giai đoạn đầu thường lầm tưởng là mình bị nhiệt miệng, loét miệng đơn thuần hoặc chỉ là một căn bệnh về miệng nào đó, chính điều này đã làm bỏ lỡ mất cơ hội điều trị bệnh sớm nhất và tốt nhất.

Nguy cơ gây ung thư khoang miệng:

Các nguyên nhân dẫn đến ung thư khoang miệng cho đến nay vẫn chưa được xác định rõ ràng, nhưng trong đó vẫn có các yếu tố sau: hút thuốc lá và uống bia rượu là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến mắc bệnh trong một thời gian dài: niêm mạc miệng bị kích thích bởi một chiếc răng nhọn hoặc đôi khi do xương cá đâm vào hoặc bị tác động do ăn trầu thuốc sau một thời gian dài. Ở Việt Nam, những người ăn trầu thuốc (thuốc lào) trong thời gian dài cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư này. Thói quen ăn trầu thuốc, răng lệch lạc, vệ sinh răng miệng kém… có thể gây nên những tổn thương cơ học trong khoang miệng tạo điều kiện thuận lợi cho ung thư phát triển. Bệnh cũng thường gặp ở nhóm nam giới trên 40 tuổi;…

Ung thư khoang miệng có những triệu chứng

1. Đau đớn: giai đoạn đầu thông thường không đau hoặc chỉ một chỗ nào đó trong miệng có cảm giác bất thường khi chạm vào, nếu như xuất hiện vết loét da miệng gây cảm giác đau, theo đà xâm lấn của khối u tới những dây thần kinh xung quanh, có thể dẫn đến đau trong tai và khoang mũi họng.

2. Thay đổi sắc da: Niêm mạc khoang miệng nếu như thay đổi màu sắc, màu nhợt hoặc màu đen lại, có nghĩa là khi đó tế bào biểu mô niêm mạc miệng đang thay đổi. Đặc biệt là niêm mạc miệng chuyển thô, dày hơn hoặc xơ cứng lại, xuất hiện niêm mạc miệng trắng bợt hoặc ban đỏ, rất có thể là biến chứng của ung thư.

3. Loét không khỏi: Vết loét miệng thông thường không thể quá 2 tuần mà không khỏi, nếu như có cảm giác nóng rát, đau quá thời gian 2 tuần vẫn không đỡ nên cảnh giác với ung thư khoang miệng.

4. Sưng hạch: ung thư hạch thường di căn đến vùng hạch cổ gần đó, có khi ổ bệnh nguyên phát rất nhỏ, thậm chỉ triệu chứng còn chưa rõ, nhưng hạch vùng cổ đã bị di căn. Do đó, khi hạch vùng cổ đột ngột sưng to, cần đi kiểm tra chụp CT, để kiểm tra có phải hạch do ung thư hay không.

5. Bên trong khoang miệng chảy máu: Chảy máu là một tín hiệu nguy hiểm lớn của bệnh ung thư khoang miệng. Vì khối u phát triển trong khoang miệng tiếp xúc nhẹ cũng sẽ gây chảy máu.

6. Chức năng gặp trở ngại: Khối u có thể xâm lấn cơ đóng mở miệng và xương cằm làm cho vận động đóng mở của cơ miệng bị giới hạn, gây ra hiện tượng ngậm mở miệng khó khăn.

7. Xương hàm và răng: một vị trí nào đó tại xương hàm sưng to, làm cho mặt bị lệch. Đột nhiên xuất hiện hiện tượng răng lung lay, rụng, khi nhai đồ ăn khó khăn, có cảm giác khó nhai như người lắp răng giả, vùng khoang mũi họng tê, đau, sau khi điều trị thì bệnh không có chuyển biến, nên cảnh giác là căn bệnh ung thư khoang miệng.

8. Vận động của lưỡi và tri giác: tính linh hoạt của lưỡi bị hạn chế, dẫn đến nhai, nuốt hoặc nói khó khăn, hoặc một bên lưỡi mất cảm giác, tê, tất cả đều cần kiểm tra xác định nguyên nhân sớm.

Ngoài ra còn xuất hiện các hiện tượng khác như sự bất thường ở thần kinh mặt, cảm giác tê, chảy máu mũi không rõ nguyên nhân…, cũng phải lập tức đến bệnh viện sớm để kiểm tra tìm nguyên nhân chính xác.

Điều trị sớm, hiệu quả cao

Ung thư khoang miệng được chia làm 4 giai đoạn, trong đó giai đoạn 1 và 2 được coi là giai đoạn sớm. Tùy theo giai đoạn của khối u mà bệnh nhân sẽ được điều trị các biện pháp thích hợp. Ở giai đoạn sớm, việc điều trị ung thư khoang miệng sẽ đơn giản và đạt hiệu quả cao, người bệnh có thể bảo tồn được chức năng của khoang miệng cũng như đảm bảo về mặt thẩm mỹ. Còn ở giai đoạn muộn, việc điều trị sẽ khó khăn hơn rất nhiều, hiệu quả điều trị kém, gây ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sống của người bệnh.

Do đó khi thấy một trong các dấu hiệu đã nêu trên, người bệnh nên đến cơ sở y tế chuyên khoa để khám. Ngoài ra để phòng và hạn chế nguy cơ gây ung thư khoang miệng cần thường xuyên giữ vệ sinh răng miệng, không nên hút thuốc lá, uống rượu, ăn trầu,… giữ cho cơ thể luôn khỏe mạnh.

Phương pháp chẩn đoán ung thư miệng

1. Kiểm tra hình ảnh học

(1) Kiểm tra đồng vị phóng xạ có thể cho biết tình trạng tuyến giáp và di căn xương của ung thư miệng.

(2) Chụp Xquang và chụp cắt lớp, có thể giúp bác sỹ nắm được thông tin tương đối có giá trị về tình trạng bệnh khi ung thư miệng di căn đến xương hàm trên, hàm dưới, xoang mũi và các khoang cạnh mũi.

2. Xét nghiệm tế bào học và sinh thiết

(1)Xét nghiệm tế bào học phù hợp cho tiền ung thư chưa có triệu chứng hoặc ung thư giai đoạn đầu mà phạm vi xâm lấn của ung thư chưa rõ ràng, sử dụng cho những trường hợp kiểm tra sàng lọc, sau đó đối với những kết quả dương tính và hoài nghi ung thư sẽ tiếp tục tiến hành sinh thiết xác định chính xác bệnh.

(2)Đối với chuẩn đoán ung thư miệng biểu mô tế bào vảy thông thường áp dụng chọc hút hoặc cắt một phần khối u đi sinh thiết. Vì niêm mạc bề mặt thường loét hoặc không bình thường, vị trí nông, nên tránh tổ chức hoại tử, lấy tế bào tại nơi tiếp xúc giữa tổ chức ung thư với các tổ chức bình thường xung quanh, khiến cho những tiêu bản lấy được vừa có tế bào ung thư vừa có tế bào thường.

3. Tự kiểm tra

(1)Kiểm tra vùng đầu: Tiến hành quan sát sự đối xứng, chú ý sự thay đổi màu sắc da với vùng đầu và cổ.

(2) Kiểm tra vùng cổ: dùng tay kiểm tra, từ sau tai sờ đến xương hàm, chú ý khi sờ có thấy đau và sưng hay không.

(3) Kiểm tra môi: Trước tiên lật bên trong môi dưới, quan sát môi và niêm mạc trong môi, dùng ngón tay trỏ và ngón tay cái lật môi dưới từ trong ra ngoài, từ bên trái qua bên phải, sau đó kiểm tra môi trên cũng giống như vậy, sờ xem có khối u hay không, quan sát xem có tổn thương gì hay không. Tiếp đó dùng phương pháp tương tự kiểm tra bên trong môi trên.

(4) Kiểm tra lợi: Kéo môi ra, quan sát lợi, và kiểm tra bằng cách sờ vùng má xem có bất thường gì không.

(5) Kiểm tra lưỡi: đưa lưỡi ra, quan sát màu sắc và kết cấu lưỡi, dùng gạc vô trùng bọc đầu lưỡi lại sau đó kéo lưỡi hướng sang phải, rồi sang trái để quan sát 2 bên cạnh của lưỡi.

(6) Kiểm tra vòm miệng phía trên : đối với kiểm tra vòm miệng cần dùng phần tay cầm của bàn chải đánh răng đè lưỡi bẹt xuống, đầu hơi ngả về phía sau, quan sát màu sắc và hình thái của ngạc mềm và ngạc cứng.