Top 12 # Xem Nhiều Nhất Xét Nghiệm Ung Thư Bạch Huyết / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Ung Thư Bạch Huyết (Lymphoma) / 2023

Hạch bạch huyết hay hạch lympho là một trong vô số các cấu trúc trơn, hình bầu dục dẹp, rải rác dọc theo các mạch bạch huyết, là một phần của hệ bạch huyết. Các hạch bạch huyết có mặt ở khắp cơ thể, tập trung nhiều ở một số vùng như cổ, nách, bẹn. Hạch bạch huyết đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động của hệ miễn dịch. Chúng chứa các tế bào bạch huyết và có chức năng làm bộ lọc hoặc bẫy giữ lại các phần tử ngoại lai, có thể bị viêm và sưng khi làm nhiệm vụ này.

Ung thư bạch huyết là một loại ung thư xuất phát từ các tế bào của hệ miễn dịch được gọi là các tế bào bạch huyết (tế bào lympho). Giống như các loại ung thư khác, ung thư bạch huyết xảy ra khi các tế bào bạch huyết rơi vào tình trạng phát triển và sinh sản mất kiểm soát.

Các tế bào lympho là các bạch cầu di chuyển khắp nơi trong cơ thể bên trong một loại dịch được gọi là dịch bạch huyết. Chúng được vận chuyển bởi một mạng lưới các mạch tạo thành hệ bạch huyết, là một phần của hệ miễn dịch. Hệ bạch huyết, có nhiệm vụ chống lại nhiễm trùng hoặc bất cứ tác nhân nào đe dọa cơ thể, còn bao gồm các hạch bạch huyết nằm khắp nơi trong cơ thể để lọc dịch bạch huyết chảy qua chúng. Các hạch bạch huyết sẽ sưng nề và đau khi có một lượng lớn các vi sinh vật tập trung bên trong, và đó là dấu hiệu của tình trạng nhiễm trùng cục bộ.

Có 2 loại tế bào lympho chính: tế bào B và tế bào T. Cả 2 loại đều được thiết kế để nhận biết và tiêu diệt các tác nhân nhiễm trùng và các tế bào bất thường. Tế bào B sản xuất ra các protein đi khắp nơi trong cơ thể, dính vào các vi sinh vật gây nhiễm và các tế bào bất thường rồi báo động cho hệ miễn dịch biết rằng tác nhân gây bệnh này cần phải được tiêu diệt. Các tế bào T mới thật sự tiêu diệt trực tiếp các tác nhân gây bệnh và thực hiện chức năng điều hòa hệ miễn dịch khi chúng đang ở trong tình trạng kém hoạt động hay hoạt động quá mức.

Ung thư bạch huyết xảy ra khi tế bào B hoặc T trở nên tăng trưởng và sinh sản mất kiểm soát. Các tế bào lympho bất thường tập trung trong một hoặc nhiều hạch bạch huyết hoặc trong các mô bạch huyết như lách hay amidan để rồi cuối cùng tạo thành một khối gồm nhiều tế bào được gọi là khối u. Các khối u lớn lên và xâm lấn vào khu vực của các mô và các cơ quan xung quanh, chiếm đoạt oxy và chất dinh dưỡng của chúng.

Nếu các tế bào lympho di chuyển từ hạch bạch huyết này sang hạch bạch huyết khác hoặc sang những cơ quan khác, ta gọi đây là hiện tượng ung thư di căn. Ung thư bạch huyết tiến triển ra bên ngoài mô bạch huyết được gọi là ung thư bạch huyết ngoài hạch.

Mỗi năm tại Hoa Kỳ có khoảng 54.000 người được chẩn đoán bị ung thư bạch huyết không-Hodgkin, và 7.000 người được chẩn đoán bị ung thư bạch huyết Hodgkin. Nó là loại ung thư máu thường gặp nhất tại Hoa Kỳ. Tại Châu Âu, người ta phát hiện ra khoảng 50.000 trường hợp ung thư bạch huyết không-Hodgkin mỗi năm.

Phân loại ung thư bạch huyết

Có 2 loại ung thư bạch huyết: ung thư bạch huyết Hodgkin (còn được gọi là bệnh Hodgkin) và không-Hodgkin. Cả hai loại này có thể xảy ra ở những vị trí giống nhau và gây ra những triệu chứng tương tự nhau. Sự khác biệt của chúng chỉ nhận biết được qua kính hiển vi.

Ung thư bạch huyết Hodgkin xuất phát từ một dòng tế bào B bất thường đặc hiệu. Có 5 loại ung thư bạch huyết Hodgkin. Ung thư bạch huyết không-Hodgkin có thể xuất phát từ các tế bào B hoặc T bất thường và có khoảng 30 loại được phân biệt bằng những chất đánh dấu di truyền đặc hiệu. Do ung thư bạch huyết có rất nhiều nhóm nhỏ nên việc phân loại chúng rất phức tạp và phải dựa vào những đặc điểm vi thể, di truyền, và hình dạng phân tử.

Mặc dù có vài loại ung thư bạch huyết không-Hodgkin có vẻ tương tự nhau nhưng chúng có cơ chế khác nhau và đáp ứng khác nhau với điều trị. Các thể ung thư bạch huyết Hodgkin được phân biệt dựa trên những khác biệt vi thể quan sát được qua kính hiển vi cũng như mức độ lan rộng của bệnh.

Nguyên nhân ung thư bạch huyết

Về cơ bản thì ung thư là kết quả của các tế bào phát triển không kiểm soát và không chết đi. Các tế bào bình thường trong cơ thể tuân theo một con đường bất di bất dịch là: lớn lên, phân chia và chết đi. Sự chết đi của tế bào theo chương trình được gọi là apoptosis, và nếu như quá trình này bị phá hủy thì ung thư sẽ xảy ra. Các nhà khoa học không biết chính xác nguyên nhân gây ra ung thư bạch huyết nhưng họ đã xác định được một số yếu tố nguy cơ.

Di truyền: Ung thư bạch huyết có thể là kết quả của di truyền từ những thành viên trong gia đình. Một người được sinh ra với những đột biến gen nhất định hoặc một chỗ sai sót trong gen làm cho người này về mặt thống kê dễ phát triển thành ung thư sau này.

Các yếu tố khác: Khi chúng ta càng lớn tuổi thì những đột biến có thể gây ung thư trên DNA càng xuất hiện nhiều hơn. Nguy cơ bị ung thư bạch huyết không-Hodgkin gia tăng khi lớn tuổi và ung thư bạch huyết Hodgkin thường gặp nhất ở độ tuổi từ 16-34 và từ 55 tuổi trở lên. Ngoài ra, những bệnh khác có thể làm gia tăng tỷ lệ bị ung thư bạch huyết bao gồm: nhiễm HIV, nhiễm virus tế bào T type 1 ở người (HTLV-1: human T-lymphocytic virus type 1), nhiễm Epstein-Barr virus, nhiễm Helicobacter pylory, hoặc virus viêm gan B hoặc C; các bệnh tự miễn (chẳng hạn như bệnh lupus); những bệnh cần phải được điều trị ức chế miễn dịch; và những bệnh gây suy giảm miễn dịch khác.

Triệu chứng ung thư bạch huyết

Các triệu chứng của ung thư khá khác nhau và tùy thuộc vào vị trí của ung thư, nơi mà nó lan rộng, và độ lớn của khối u. Ung thư bạch huyết thường có biểu hiện đầu tiên là cảm thấy có những chỗ sưng nề ở cổ, nách, hoặc bẹn. Ngoài ra, có thể thấy những vị trí sưng nề khác ở nơi các hạch bạch huyết xuất hiện, chẳng hạn như ở lách. Thông thường, các hạch bạch huyết lớn có thể xâm lấn khu vực các mạch máu, dây thần kinh, hoặc dạ dày, làm cho bệnh nhân bị sưng nề tay, chân, tê ngứa, hoặc cảm thấy đầy bụng.

Ung thư bạch huyết còn có các triệu chứng không đặc hiệu, chẳng hạn như sốt, lạnh run, sụt cân không rõ nguyên nhân, đổ mồ hôi đêm, lơ mơ, và ngứa ngáy.

Chẩn đoán và phân độ ung thư bạch huyết

Để chẩn đoán bệnh ung thư bạch huyết, các bác sĩ sẽ cần phải khám thực thể cũng như được cung cấp một bệnh sử cá nhân và gia đình đầy đủ rồi sau đó sẽ xem xét các kết quả của một số loại xét nghiệm.

Xét nghiệm máu sẽ được dùng để kiểm tra các tế bào máu, chức năng của thận và gan. Bác sĩ cũng có thể khảo sát một chất hóa học có tên là Lactase Hydrogenase (LDH), khi nồng độ của chất này cao thường là dấu hiệu gợi ý của bệnh ung thư bạch huyết không-Hodgkin thể xâm lấn.

Một số kỹ thuật hình ảnh có thể được sử dụng để tìm sự hiện diện của ung thư và mức độ lan rộng của chúng. Một số kỹ thuật thường dùng bao gồm:

X quang

CT scan

Cộng hưởng từ

Chụp mạch bạch huyết (bạch huyết đồ).

Chụp bằng galli.

PET scan.

Các bác sĩ còn có thể kiểm tra tủy xương để xem ung thư bạch huyết có ảnh hưởng đến tủy xương hay không. Các mẫu tủy xương thường được lấy từ xương chậu để tìm sự hiện diện của các tế bào B hoặc T bất thường.

Cách duy nhất có thể chẩn đoán được ung thư là lấy đi một mẫu nhỏ của khối u và xem xét chúng dưới kính hiển vi bằng một thủ thuật được gọi là sinh thiết. Các bác sĩ sẽ thu thập mẫu bằng cách đâm kim qua da, phẫu thuật, hoặc nội soi. Nhà giải phẫu bệnh học sẽ khảo sát những mẫu lấy được dưới kính hiển vi để xác định xem ung thư có hiện diện hay không.

Sau khi chẩn đoán được thiết lập, các bác sĩ sẽ phân tích mẫu mô và các kết quả xét nghiệm để xem thử ung thư đã lan truyền đến đâu và xác định giai đoạn của ung thư. Giai đoạn ung thư giúp các bac sĩ biết những lựa chọn điều trị nào là thích hợp và nó còn nói lên tiên lượng của bệnh nhân.

Cách phân loại thường gặp và đơn giản của ung thư bạch huyết Hodgkin là xem nó lớn (tiên lượng xấu) hay nhỏ (tiên lượng tốt hơn). Loại không-Hodgkin được phân loại dựa theo tính chất vi thể, vị trí trong cơ thể, và những tính chất gen và phân tử. Nó thường được chia ra làm 3 cấp độ. Cấp độ thấp là các khối ung thư bạch huyết phát triển chậm và thường không cần phải điều trị ngay lập tức. Cấp độ trung bình là khi các khối ung thư phát triển nhanh và cần phải điều trị ngay lập tức. Chúng thường có thể trị khỏi được. Còn cấp độ cao là khi các khối u lớn nhanh và có tính xâm lấn, và cần phải được điều trị ngay lập tức và điều trị tích cực, chúng thường không còn trị khỏi được nữa.

Ung thư bạch huyết Hodgkin và không-Hodgkin có cùng một hệ thống phân độ để diễn tả mức độ lan tràn của bệnh:

Giai đoạn I hoặc bệnh giai đoạn sớm là khi ung thư bạch huyết xuất hiện ở một vùng hạch bạch huyết đơn độc hoặc chỉ có ở một cơ quan đơn độc ngoài hạch bạch huyết.

Giai đoạn II hoặc bệnh tiến triển cục bộ là khi ung thư bạch huyết xuất hiện ở từ hai vùng hạch bạch huyết trở lên ở cùng một phía của cơ hoành hoặc một vùng hạch bạch huyết và mô hoặc cơ quan kế cận.

Giai đoạn III hoặc bệnh tiến triển là khi ung thư bạch huyết ảnh hưởng đến từ hai hạch lympho trở lên hoặc một hạch và một cơ quan ở hai phía đối diện của cơ thể.

Giai đoạn IV hoặc bệnh lan rộng là khi ung thư bạch huyết lan đến lách, tủy xương, xương, hoặc hệ thần kinh trung ương.

Cả 2 loại ung thư bạch huyết còn được phân loại ra thành: A là không có những triệu chứng như sốt và sụt cân, B là có những triệu chứng trên, hoặc E để chỉ khối u đã xâm lấn trực tiếp từ hạch bạch huyết sang một cơ quan nào đó.

Điều trị ung thư bạch huyết

Điều trị tùy thuộc vào loại ung thư, phân độ của ung thư (mức độ lan tràn của nó), tuổi tác, tình trạng sức khỏe, đã từng được điều trị trước đó chưa, và những đặc điểm cá nhân kèm theo. Điều trị ung thư bạch huyết thường nhằm mục tiêu làm bệnh thuyên giảm hoàn toàn, là tình trạng các tế bào ung thư bạch huyết trong cơ thể có thể vẫn còn nhưng không phát hiện ra được và không gây ra triệu chứng gì. Những phương pháp điều trị ung thư bạch huyết thường được dùng bao gồm hóa trị, xạ trị, và liệu pháp sinh học.

Mục tiêu cuối cùng của việc điều trị ung thư bạch huyết là đạt được tình trạng thuyên giảm kéo dài. Nếu ung thư xuất hiện trở lại, tình trạng này được gọi là tái phát. Sau khi điều trị, bệnh nhân có thể sẽ thấy cải thiện (khối u thu nhỏ lại), bệnh ổn định (khối u vẫn giữ nguyên kích thước cũ), tiến triển (bệnh xấu đi), hoặc khó trị (khối u đề kháng với điều trị).

Hóa trị

Hóa trị là cách dùng các hóa chất ngăn cản quá trình phân chia của tế bào – tấn công protein hoặc DNA – làm cho các tế bào tự chết đi. Cách trị liệu này nhắm đến bất kỳ tế bào nào phân chia nhanh chóng (không nhất thiết chỉ có các tế bào ung thư), tuy nhiên các tế bào khỏe mạnh thường có thể tự phục hồi sau khi bị tổn thương trong khi đó các tế bào ung thư thì không thể. Hóa trị thường được dùng để điều trị những loại ung thư đã di căn do những loại thuốc này có thể di chuyển đến khắp cơ thể. Điều trị được thực hiện theo chu kỳ, do đó cơ thể có thời gian để phục hồi giữa các đợt điều trị. Tuy nhiên, vẫn còn một số tác dụng phụ có thể gặp bao gồm: rụng lông tóc, buồn nôn, mệt mỏi, và nôn ói. Các biện pháp điều trị phối hợp thường là kết hợp nhiều cách hóa trị khác nhau hoặc phối hợp giữa hóa trị với những phương pháp điều trị khác.

Xạ trị

Xạ trị tiêu diệt ung thư bằng các hướng chùm tia năng lượng cao đến các tế bào ung thư để gây ra những tổn thương trên các phân tử tào thành các tế bào ung thư và làm cho chúng tự chết đi. Xạ trị sử dung tia gamma năng lượng cao được phát ra từ những kim loại như radium hoặc tia X năng lượng cao được tạo thành từ máy. Xạ trị có thể được sử dụng một mình để thu nhỏ khối u lại hoặc để tiêu diệt các tế bào ung thư, và nó còn được dùng phối hợp với những phương pháp điều trị ung thư khác.

Các tác dụng phụ của hóa trị bao gồm những thay đổi nhẹ trên da tương tự như cháy nắng hoặc rám nắng, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, và mệt mỏi. Các bệnh nhân có khuynh hướng ăn mất ngon, khó giữ được cân nặng cũ, nhưng hầu hết các tác dụng phụ thường sẽ biến mất vài tuần sau khi kết thúc điều trị

Phòng ngừa ung thư bạch huyết

Vẫn chưa phát hiện ra cách nào để phòng ngừa bệnh ung thư bạch huyết. Tuy nhiên, các bác sĩ khuyên nên tránh những yếu tố nguy cơ đã được liệt kê ở phía trên và tránh nhiễm virus và mắc những loại bệnh làm ức chế hệ miễn dịch của cơ thể.

Phân Biệt Ung Thư Bạch Cầu Và Ung Thư Bạch Huyết / 2023

– Ung thư là một trong số những căn bệnh đáng sợ nhất. Ung thư có thể ảnh hưởng đến gần như tất cả các bộ phận của cơ thể, bao gồm cả máu. Bệnh bạch cầu và ung thư bạch huyết là hai loại ung thư máu khá phổ biến. Cùng phân biệt hai căn bệnh ung thư qua các dấu hiệu sau đây. Dấu hiệu nhận biết ung thư máu đã ‘tấn công’ bạn Nguồn gốc bệnh ung thư bạch cầu và ung thư bạch huyết Bạn có thể mắc ung thư máu nếu có triệu chứng nàyCác loại bệnh bạch cầu 7 dấu hiệu bệnh ung thư máu, chị em không được bỏ qua

Cả bệnh bạch cầu và ung thư bạch huyết đều là bệnh của tế bào bạch cầu.

Trong bệnh bạch cầu, tủy xương sản xuất ra quá nhiều tế bào bạch cầu, đồng thời các bạch cầu này không lão hóa và chết đi theo cách thông thường. Thay vào đó, các tế bào này tiếp tục phân chia và cuối cùng, có số lượng nhiều hơn cả tế bào hồng cầu khỏe mạnh. Bệnh bạch cầu thường bắt đầu xuất phát từ các hạch bạch huyết.

Ung thư bạch huyết cũng thường bắt đầu từ các hạch bạch huyết. Đó là các mô nhỏ giúp cơ thể chống lại tình trạng nhiễm trùng. Một số loại ung thư bạch huyết có thể xảy ra do sự lan truyền của các tế bào bạch cầu bất thường đến những phần khác trên cơ thể.

Bệnh bạch cầu có thể là cấp tính hoặc mãn tính. Các trường hợp cấp tính sẽ làm cho tình trạng ung thư lan nhanh hơn. Bệnh bạch cầu mãn tính là dạng phổ biến hơn, phát triển chậm hơn ở giai đoạn đầu.

Có bốn loại bệnh bạch cầu chính, được phân chia dựa vào tỷ lệ phát triển và nguồn gốc tế bào ung thư. Bao gồm:

Triệu chứng của bệnh ung thư bạch cầu

– Bệnh bạch cầu cấp tính thể tủy

– Bệnh bạch cầu mãn tính thể tủy

– Bệnh bạch cầu cấp tính thể lympho

– Bệnh bạch cầu mãn tính thể lympho.

Bệnh bạch cầu là một bệnh thường phát triển rất chậm, bởi vậy bạn có thể không cảm thấy các triệu chứng bệnh ngay lập tức. Theo thời gian, ảnh hưởng của việc có quá nhiều tế bào bạch cầu dư thừa cùng với việc suy giảm số lượng tế bào hồng cầu sẽ ảnh hưởng lớn đến cơ thể. Một số triệu chứng phổ biến bao gồm:

– Dễ bị bầm tím.

– Chảy máu.

Các lựa chọn điều trị bệnh bạch cầu

– Mệt mỏi quá mức.

– Vã mồ hôi vào ban đêm và sốt.

– Tăng các tình trạng nhiễm trùng của cơ thể.

– Đau đầu.

Điều trị bệnh bạch cầu sẽ phụ thuộc vào tình trạng bệnh vào thời điểm chẩn đoán. Nếu bệnh tiến triển chậm, bác sỹ sẽ dùng cách tiếp cận “theo dõi và chờ đợi”. Đây là cách tiếp cận chủ yếu trong bệnh bạch cầu mãn tính thể lympho và thường không có triệu chứng.

Điều trị để ngăn chặn việc hình thành các tế bào bất thường trong máu và trong các hạch bạch huyết bao gồm:

Ung thư bạch huyết dạng Hodgkin và không Hodgkin

– Hóa trị.

– Xạ trị.

Dấu hiệu của ung thư bạch huyết

– Cấy tế bào gốc.

– Trị liệu đích (dùng thuốc để ngặn chặn việc phát triển các tế bào bất thường).

Không giống như bệnh bạch cầu, ung thư bạch huyết thường chỉ ảnh hưởng đến các hạch bạch huyết. Các loại ung thư bạch huyết phụ thuộc vào nguồn gốc của tế bào ung thư. Một số trường hợp bệnh sẽ bắt đầu từ hệ bạch huyết, trong khi một số trường hợp khác bệnh lại bắt đầu ở tế bào bạch cầu giống như trong bệnh bạch cầu thể tủy.

Loại ung thư này còn được gọi là ung thư bạch huyết dạng không Hodgkin. Bệnh xảy ra khi tế bào T hoặc tế bào B bên trong bạch cầu trở nên bất thường. Trái lại, ung thư bạch huyết dạng Hodgkin sẽ thường bắt đầu bằng việc phì đại một hạch bạch huyết. Sau đó, bệnh sẽ lan ra các hạch bạch huyết khác và thậm chí đến các cơ quan khác trong cơ thể (ví dụ như lan vào phổi). Ung thư bạch huyết dạng Hodgkin không phổ biến như dạng không Hodgkin.

Dấu hiệu sẽ phụ thuộc vào việc bạn bị ung thư dạng Hodgkin hay không Hodgkin.

Dạng Hodgkin có thể gây ra các dấu hiệu:

– Sưng nhưng không đau các hạch bạch huyết.

– Không thấy ngon miệng và sụt cân.

– Ngứa ngoài da.

– Sốt và vã mồ hôi ban đêm.

Ung thư bạch huyết dạng không Hodgkin có thể gây ra những triệu chứng tương tự, nhưng cũng có thể bao gồm thêm các triệu chứng sau:

Điều trị ung thư bạch huyết

– Khó thở.

– Đau ngực.

– Sưng, đau bất thường.

– Mệt mỏi quá mức.

Giống như bệnh bạch cầu, điều trị ung thư bạch huyết phụ thuộc vào mức độ bệnh của bạn.

Trong dạng Hodgkin, các tế bào ung thư thường dễ điều trị hơn bởi chúng vẫn còn nằm trong các hạch bạch huyết. Hóa trị và xạ trị là hai cách điều trị phổ biến nhất cho ung thư dạng này.

Hai phương pháp này cũng được dùng để điều trị dạng không Hodgkin nhưng với dạng này cũng có thể áp dụng các phương pháp điều trị như với bệnh bạch cầu. Ví dụ, một bác sỹ chuyên khoa ung thư có thể sử dụng phương pháp trị liệu đích để trực tiếp ngăn chặn tế bào bạch cầu để chúng không trở thành bất thường.

Ung thư bạch cầu và ung thư bạch huyết là hai căn bệnh ung thư máu đáng lo ngại với số lượng bệnh nhân ngày một tăng mạnh. Bởi vậy cần nhân biết các triệu chứng sớm để điều trị kịp thời.

Thu Hiền (tổng hợp)

Ung thư máu là bệnh ác tính có thể gây tử vong cao. Việc điều trị ung thư máu cũng khá tốn kém và phức tạp.

Cậu bé hồn nhiên, tinh nghịch cười đùa, còn làm điệu khi PV giơ máy ảnh lên chụp. Không ai nghĩ rằng, em đang mắc phải căn bệnh hiểm nghèo có thế cướp đi tính mạng bất cứ lúc nào.

Mẹ bỏ việc chăm con, cha làm nghề xe ôm càng ngày thu nhập càng ít. Tính mạng cậu bé cũng đang bị “treo lơ lửng” khi cha mẹ nghèo lại càng trở nên nghèo khó khăn.

Xét Nghiệm Sốt Xuất Huyết Như Thế Nào? / 2023

BSCKII. Nguyễn Thị Thảo – Phó trưởng Khoa Bệnh máu lành tính, Viện Huyết học – Truyền máu TW giải đáp những câu hỏi thường gặp về bệnh sốt xuất huyết

Dấu hiệu của bệnh sốt xuất huyết

Người mắc bệnh sốt xuất huyết Dengue thường có các dấu hiệu sau:

– Sốt cao 39 – 410C, sốt đột ngột và liên tục từ 2 – 7 ngày.

– Xuất huyết: Chấm xuất huyết ở da, chảy máu mũi, chảy máu chân răng, nôn ra máu, đi ngoài ra máu, bầm tím chỗ tiêm.

– Đau bụng (do gan bị sưng to ra).

– Trụy mạch (sốc): Ngày thứ 3 – 6, hết sốt mà li bì hoặc bứt rứt, lạnh chân tay, tím môi, tiểu tiện ít, tử vong nhanh chóng nếu không được cấp cứu kịp thời.

– Chú ý: Trẻ sốt cao liên tục trên hai ngày thì phải khẩn trương đưa trẻ đến các cơ sở khám chữa bệnh.

Thời điểm nên đi xét nghiệm sốt xuất huyết?

Sốt xuất huyết là một bệnh nhiễm virus gây ra triệu chứng đầu tiên là sốt, theo cảnh báo thời gian nguy hiểm nhất của bệnh là từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 của bệnh, do đó bạn nên đi xét nghiệm sốt xuất huyết từ ngày thứ 3 của sốt.

Xét nghiệm sốt xuất huyết như thế nào?

Người bệnh cần làm các xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu để theo dõi số lượng tế bào máu thay đổi hàng ngày và các xét nghiệm chẩn đoán virus gồm xét nghiệm về kháng nguyên và kháng thể.

Chi phí xét nghiệm sốt xuất huyết?

Các chi phí về xét nghiệm chuẩn đoán sốt xuất huyết không quá đắt tiền, đối với các xét nghiệm chuẩn đoán về virus kháng nguyên, kháng thể hết khoảng 500 nghìn, các xét nghiệm về tổng phân tích tế bào máu hàng ngày của bệnh nhân hết khoảng từ 100 – 200 nghìn.

Khi nào người bị sốt xuất huyết cần nhập viện?

Người bệnh sốt xuất huyết cần nhập viện khi có các triệu chứng: vật vã, lờ đờ, li bì, không ăn uống được, đau bụng, nôn ói hoặc khi có các triệu chứng xuất huyết dưới da, xuất huyết niêm mạc…

Người bệnh cũng cần nhập viện ngay nếu khi xét nghiệm nếu tiểu cầu thấp dưới 30 g/L.

Tại sao sốt xuất huyết lại dẫn tới giảm tiểu cầu?

Sốt xuất huyết thường dẫn đến giảm tiểu cầu vì trong quá trình nhiễm virus, cơ thể sinh ra các kháng thể chống lại virus, vô tình các kháng thể đó phá hủy tiểu cầu qua cơ chế miễn dịch. Thứ hai, virus nhiễm có thể gây ức chế tủy gây giảm tiểu cầu tạm thời.

Khi tiểu cầu giảm sẽ dẫn tới xuất huyết như: Xuất huyết dưới da, niêm mạc (chảy máu cam, răng  miệng, vị trí nơi tiêm truyền…). Nghiêm trọng hơn là chảy máu trong: đau bụng, nôn ra máu, đi ngoài phân đen, rong kinh…

Người bệnh có nguy cơ xuất huyết cần nghỉ ngơi tại giường, tránh đi lại, hạn chế can thiệp các thủ thuật (tránh can thiệp vào các tĩnh mạch lớn, khó cầm máu như tĩnh mạch cổ, bẹn, dưới đòn).

Theo quy định mới nhất của Bộ Y tế năm 2019, người bệnh sốt xuất huyết cần truyền tiểu cầu khi số lượng tiểu cầu dưới 50 g/L và có các triệu chứng xuất huyết. Người bệnh không có triệu chứng xuất huyết trên lâm sàng, tiểu cầu dưới 5 g/L thì mới cần truyền tiểu cầu.

Người bệnh sốt xuất huyết nên ăn uống như thế nào?

Đặc điểm nhu cầu dinh dưỡng cho bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue:

– Tăng quá trình dị hoá, tăng sử dụng năng lượng, mất các chất dinh dưỡng.

– Chán ăn, tiêu hoá chậm (xuất huyết tiêu hoá), không ăn bằng miệng được (biến chứng não).

– Cách ăn tuỳ thuộc diễn biến của bệnh.

Chế độ ăn:

– Protein: thường nhu cầu cao hơn bình thường, nên dùng Protein có giá trị sinh học cao: trứng, sữa, thịt, cá.

– Lipid và cacbohydrat: là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu. Tăng tỉ lệ đường đơn, đôi (nước đường, nước trái cây) và lipid thực vật.

– Đủ nước, giàu sinh tố và muối khoáng: nước trái cây, rau quả, mật ong.

– Bữa ăn: Chia nhỏ làm nhiều bữa trong ngày (trẻ em: 6-8 bữa/ngày, người lớn 4- 6 bữa/ngày)

– Thực phẩm: Mềm, lỏng, nhiều nước, không màu như sữa, bột cháo mì, phở.

Người bệnh sốt xuất huyết không biến chứng nên:

– Hạn chế ăn kiêng, nên ăn thức ăn lỏng hoặc mềm.

– Chế độ ăn chủ yếu là sữa, nước đường, nước trái cây. Tăng dần năng lượng bằng cháo thịt, súp, sữa chua, phở, cơm mềm có canh tuỳ theo nhu cầu ăn uống của người.

– Tăng đường đơn giản: fructose, sarcarose như mật ong, trái cây, mía, nếu không có bệnh tiểu đường kèm theo.

– Khuyến khích trẻ ăn nhiều bằng những món ăn hấp dẫn hơn là ép ăn những gì trẻ không thích.

Sốt xuất huyết Dengue có sốc: Trong những ngày đầu nuôi bằng đường tĩnh mạch hoặc qua ống thông dạ dày.

Sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue có xuất huyết tiêu hoá: Nhịn ăn, nuôi bằng đường tĩnh mạch cho đến khi hết xuất huyết tiêu hoá.

Giai đoạn hồi phục: Tăng lượng, tăng đạm, ăn bù một bữa một ngày như tăng bữa phụ (chè, cháo, sữa chua, trái cây). Vẫn nên ăn thực phẩm mềm sau 3 ngày để phòng xuất huyết tiêu hoá.

ĐỊA ĐIỂM XÉT NGHIỆM SỐT XUẤT HUYẾT

1. Viện Huyết học – Truyền máu TW (phố Phạm Văn Bạch, quận Cầu Giấy, Hà Nội):

Thời gian:

Từ thứ 2 – thứ 6: 6h30 – 17h00 (khám theo Bảo hiểm y tế, khám thu phí và khám theo yêu cầu)

Thứ 7: 7h30 – 17h00 (khám theo yêu cầu)

2. Các điểm hiến máu và xét nghiệm ngoại Viện:

Thời gian: Từ thứ 2 – thứ 7: 8h00 – 17h00.

Số 26 Lương Ngọc Quyến, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Số 132 Quan Nhân, quận Thanh Xuân, Hà Nội.

Số 10, ngõ 122 đường Láng, quận Đống Đa, Hà Nội.

Lưu ý: Thời gian nghỉ trưa từ 12h00 – 13h30.

Trương Hằng (tổng hợp)

Ung Thư Hạch Bạch Huyết Ở Mèo / 2023

Ung thư hạch bạch huyết là một loại ung thư có nguồn gốc từ các tế bào bạch huyết. Là một loại bạch cầu, các tế bào bạch huyết đóng vai trò quan trọng và không thể thiếu trong hàng phòng thủ trong hệ miễn dịch của cơ thể.

Ung thư hạch bạch huyết là nguyên nhân gây ra khoảng 90% ung thư máu và khoảng 33% tất cả các khối u ở mèo. Hơn nữa, nó là nguyên nhân phổ biến nhất của chứng tăng canxi huyết ở mèo.

Triệu chứng và phân loại

Dạng trung thất (xảy ra trong không gian giữa túi phổi/phổi) Dạng tiêu hóa (xảy ra ở đường tiêu hóa, bụng, gan) Dạng đa tâm (xảy ra trong các hạch bạch huyết) Solitary form (Dạng đơn độc (có thể xảy ra ở bất kỳ vị trí nào)

Các triệu chứng phụ thuộc vào vị trí

Dạng thận (xảy ra ở thận)

Chán ăn

Nôn mửa

Yếu

Đi tiểu và khát nước nhiều (chứng đái nhiều và chứng khát nhiều)

Nguyên nhân

Chẩn đoán

Bạn sẽ cần phải cung cấp cho bác sĩ thú y một bệnh sử đầy đủ của mèo và sự khởi phát các triệu chứng. Bệnh sử và chi tiết bạn cung cấp có thể cho bác sĩ thú y các đầu mối về những cơ quan đang bị ảnh hưởng chủ yếu. Việc biết điểm khởi phát có thể giúp xác định chẩn đoán dễ dàng hơn. Khi có được lịch sử ban đầu, bác sĩ thú y sẽ tiến hành kiểm tra sức khỏe toàn diện cho mèo. Xét nghiệm thường quy trong phòng thí nghiệm bao gồm xét nghiệm công thức máu, xét nghiệm hóa sinh và phân tích nước tiểu.

Kết quả xét nghiệm máu có thể cho thấy tình trạng thiếu máu, hoặc có sự hiện diện của một số lượng lớn bất thường các nguyên bào lympho trong máu ngoại biên, tình trạng này được gọi là tăng nguyên bào lympho huyết. Nguyên bào lympho là tế bào chưa trưởng thành biệt hóa để hình thành các tế bào lympho trưởng thành; chúng thường xuất hiện trong tủy xương, nhưng nếu chúng sinh sôi nảy nở một cách không thể kiểm soát, chúng có thể di chuyển đến máu ngoại biên, dẫn đến một tình trạng bất thường được gọi là tăng nguyên bào lympho huyết.

Điều trị

Rất khó có thể chữa khỏi bệnh và không có phương điều trị chung nào dành cho ung thư hạch bạch huyết. Mục tiêu chính là cải thiện chất lượng cuộc sống cho mèo bệnh lâu nhất có thể. Hóa trị và xạ trị có thể được sử dụng, nhưng bạn sẽ cần phải tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa ung thư thú y để xác định xem mèo của bạn có phù hợp với loại liệu pháp này hay không. Nó sẽ phụ thuộc vào giai đoạn của ung thư hạch bạch huyết (sớm hoặc đang tiến triển), tuổi của mèo, và tình trạng sức khỏe tổng quát của mèo, và những sự cân nhắc khác. Ngoài ra, tùy thuộc vào loại và giai đoạn của ung thư hạch bạch huyết, phẫu thuật có thể được thực hiện ở một số mèo bệnh. Đây có thể là một giải pháp khả thi đối với một số loại tắc nghẽn đường ruột và để loại bỏ các khối u. Rạch phẫu thuật cũng sẽ cho phép bác sĩ thú y thu thập một mẫu khối u để đánh giá trong phòng thí nghiệm.

Chăm sóc

Điều không may là không có cách chữa trị nào cho căn bệnh này. Cách giải quyết duy nhất trong một số trường hợp là dành nhiều sự quan tâm hơn để cải thiện chất lượng cuộc sống của con vật bị bệnh. Điều quan trọng là theo dõi chặt chẽ lượng thức ăn và nước uống của mèo khi nó đang trong giai đoạn phục hồi. Tiên lượng bệnh này rất đa dạng và phụ thuộc vào sự phản ứng với điều trị ban đầu, loại khối u giải phẫu, tình trạng FeLV và gánh nặng khối u.

Nếu bắt đầu sử dụng hóa trị, bạn có thể cần phải đưa mèo đi đánh giá thường xuyên. Trong mỗi lần khám, bác sĩ thú y sẽ tiến hành xét nghiệm máu để xác định sự phản ứng với điều trị và cũng để kiểm tra tình trạng của bất kỳ biến chứng nào xảy ra do thực hiện điều trị để có thể điều chỉnh khi cần thiết. Nếu các loại thuốc hóa trị đã được kê như là một phần của điều trị tại nhà, hãy chắc chắn làm theo các hướng dẫn một cạch chặt chẽ, vì các loại thuốc hóa trị có độc tính cao đối với sức khỏe con người. Các biện pháp phòng ngừa cơ bản bao gồm đeo găng tay cao su trước khi cho mèo uống thuốc. Nếu được kê thuốc giảm đau, hãy sử dụng chúng cẩn thận và làm theo mọi hướng dẫn một cách cẩn thận, đảm bảo rằng tất cả các thành viên trong nhà đều quen thuộc với lịch uống thuốc; một trong những sự cố có thể ngăn ngừa nhất với thú cưng là dùng thuốc quá liều. Thời gian sống sót rất khác nhau, dao động từ vài tháng đến dưới hai năm