Top 5 # Xem Nhiều Nhất Xet Nghiem Ung Thu Thanh Quan Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Dấu Hiệu Nhận Biết Sớm Ung Thu Thanh Quản

Ung thư thanh quản là bệnh lý mà các tế bào ác tính ( ung thư) hình thành trong mô thanh quản.

Thanh quản nằm dưới hầu ở vùng cổ. Thanh quản chứa dây thanh, cái mà rung động và tạo ra âm thanh khi không khí tác động trực tiếp vào nó. Tiếng vang của âm thanh đi qua mũi, miệng, và hầu tạo nên giọng của chúng ta.

Hầu hết các loại ung thư thanh quản là ung thư tế bào gai, mỏng, các tế bào dát đẹt lót trong thanh quản.

Dấu hiệu sớm nhận biết của ung thư thanh quản

Dấu hiệu đầu tiên để nhận biết bệnh nhân mắc ung thư thanh quản là hiện tượng khản tiếng kéo dài, dùng các loại thuốc hỗ trợ nhưng tình trạng không được cải thiện. Khi khối u phát triển nhanh gây chèn ép dây thanh tiếng nói trở nên khan đặc, câu nói ngắn, mất âm sắc. Các bác sỹ khuyên bạn nếu tình trạng khản tiếng kéo dài trên 2 tuần, sử dụng các loại thuốc hỗ trợ không chấm dứt bạn nên đi khám tại các cơ sở chuyên khoa về ung bướu để được phát hiện sớm nhất.

Thời gian đầu hiện tượng này chỉ xuất hiện khi bệnh nhân vận động hay lao động quá sức. Tuy nhiên khi hiện tượng khó thở ngày một trầm trọng bạn nên đi khám vì rất có thể khối u phát triển lớn chèn ép ống dẫn khí.

Khi có các hiện tượng như khó nuốt, đau vướng khi nuốt bạn nên đi thăm khám kịp thời vì đây có thể là biểu hiện của dị vật xuất hiện không loại trừ khả năng khối u phát triển.

Đây là biểu hiện chung cảnh báo nguy cơ bệnh tật mà bạn có thể mắc phải trong đó có bệnh ung thư thanh quản. Khi cơ thể có hiện tượng suy nhược, mệt mỏi không rõ nguyên nhân bạn cần đi khám để có kết luận sớm nhất về tình trạng sức khỏe của mình.

Để chủ động bảo vệ sức khoẻ bản thân, bạn còn cần trang bị cho cho mình những ứng dụng chăm sóc sức khoẻ Online để theo dõi tình hình sức khoẻ hàng ngày, hàng giờ, nhờ đó có thể phát hiện và ngăn chặn kịp thời những diễn biến xấu của bệnh.

Mọi chi tiết xin liên hệ: 024 66885102

Tổng Quan Về Ung Thư Thanh Quản (Larynx Cancer)

13-06-2011

A. Nhắc lại về giải phẫu:

Thanh quản có dạng ống hình lăng trụ tam giác tạo thành bởi sụn giáp (thyroid cartilage) và sụn nhẫn (cricoid cartilage). Góc nhị diện phía trước giống như gáy của một cuốn sách đang mở, dễ nhìn thấy hơn ở nam giới (quả táo Adam). Lỗ trên của ống có nắp đậy bảo vệ thanh quản, không cho thức ăn, thức uống rơi xuống phổi, gọi là thanh thiệt (epiglottis). 1/4 dưới của ống có một chỗ hẹp tạo ra bởi hai thanh đai hai bên, còn gọi là dây thanh (glottis, vocal cords), gồm niêm mạc, cân và cơ. Dây thanh là bộ phận di động, khép lại khi phát âm, mở ra khi hít thở. Lỗ dưới của thanh quản tương ứng với sụn nhẫn, nối với sụn khí quản (tracheal cartilage).

B. Các chức năng của thanh quản

– Thanh quản tham gia vào chức năng hô hấp: Dẫn không khí ra vào phổi. – Chức năng bảo vệ đường hô hấp: Tạo phản xạ ho, sặc khi có vật lạ rơi vào thanh quản, nhằm tống vật lạ ra ngoài. – Chức năng phát âm: Phát âm được thực hiện khi luồng không khí đi qua khe thanh môn tạo ra sự rung sóng niêm mạc, áp lực không khí ở hạ thanh môn tạo ra cường độ cho tiếng nói, nhờ có những thần kinh điều khiển các cơ làm thay đổi tần số, âm sắc tiếng nói. Tiếng nói muốn được hoàn chỉnh phải đi qua các bộ phận như họng, mũi xoang, miệng, lưỡi, răng, môi, khi đó tiếng nói mới có những âm sắc đặc trưng cho từng cá nhân. Khi dây thanh bị thương tổn, sẽ gây khàn tiếng hoặc có khi mất hẳn tiếng.

III. Giải phẫu bệnh lý A. Đại thể

– Thường hay gặp 3 hình thái sau: +Hình thái tăng sinh: Bề ngoài giống như u nhú, một số trường hợp giống như polyp có cuống. +Hình thái thâm nhiễm xuống phía sâu: Bề ngoài niêm mạc có vẻ nguyên vẹn, đôi khi có hình như núm vú, niêm mạc vùng này bị đẩy phồng lên và ít di động. +Hình thái loét thường có bờ không đều, chạm vào dễ chảy máu. Nhưng hay gặp là thể hỗn hợp vừa tăng sinh vừa loét, hay vừa loét vừa thâm nhiễm.

B. Vi thể

– Phần lớn ung thư thanh quản thuộc loại ung thư biểu mô lát, gai có cầu sừng chiếm 93% hoặc á sừng, sau đó là loại biểu mô tế bào đáy, loại trung gian và biểu mô tuyến. – U biệt hoá hiếm gặp ở ung thư thanh quản. Về lâm sàng, loại này tiến triển nhanh nhưng lại nhạy cảm với xạ trị.

IV. Lâm sàng

Tùy thuộc vị trí và độ lan rộng của khối u.

a. Ung thư thượng thanh môn (supraglottis) hay tiền đình thanh quản

– Thường phát sinh cùng một lúc ở cả băng thanh thất và mặt dưới của thanh thiệt. U sẽ lan nhanh sang phía đối diện. Nẹp phễu thanh thiệt và vùng sụn phễu bên bệnh thường to phồng lên do bị u thâm nhiễm hoặc do phù nề. Ở giai đoạn đầu, đáy băng thanh thất và dây thanh còn bình thường. Mắt thường rất khó đánh giá chính xác độ thâm nhiễm vào phía sâu, vì vậy cần phải chụp CT Scan mới đánh giá được hố trước thanh thiệt. – Ung thư xuất phát từ thanh thất Morgagni thường là thể tăng sinh hay loét và thường bắt đầu từ phía đáy thanh thất hay thanh thiệt. Nhìn chung thể loét lan rất nhanh vào các vùng lân cận, xuống dưới dây thanh và hạ thanh môn, lên trên băng thanh thất, ra ngoài sụn giáp có khi xâm lấn cả sụn phễu. Loại này chiếm khoảng 8-10% ung thư thanh quản. Các triệu chứng thường xuất hiện muộn do vị trí ung thư ở trong lòng thanh thất. Khi bệnh nhân khàn tiếng khi u lan vào niêm mạc dây thanh và sụn phễu. Nuốt đau xảy đến ở giai đoạn muộn do u lan vào họng, thanh quản

b. Ung thư thanh môn (glottis=dây thanh)

– Là loại hay gặp nhất và thương tổn u thường còn giới hạn ở mặt trên hay bờ tự do của dây thanh nếu phát hiện sớm. – Thường gặp thể tăng sinh, hiếm gặp thể thâm nhiễm hoặc loét. – Do triệu chứng khó phát âm xuất hiện sớm nên bệnh nhân thường đến khám sớm hơn các loại ung thư khác. Thường gặp là rối loạn giọng nói, giọng khàn, cứng, kéo dài với mức độ tăng dần. Điều trị nội khoa không đỡ, tăng dần đến mức độ nói rất khàn, nói mệt và kèm các dấu hiệu ho kích thích, ho ra đờm có mùi rất hôi. – Ung thư dây thanh tiến triển tương đối chậm, thường sau nhiều tháng, có khi một năm, bởi vì mô liên kết dưới niêm mạc của dây thanh thường dày đặc và màng lưới bạch mạch rất thưa thớt. Mô u lan dần dần từ mặt trên của niêm mạc xuống lớp sâu và sau đó mới bắt đầu phát triển nhanh xuống vùng hạ thanh môn và lên băng thanh thất. – Các dấu hiệu xuất hiện muộn: Ho khạc đờm nhày lẫn máu, đau vùng cổ, trước thanh quản, có thể đau lan lên tai, khó chịu ở họng, cảm giác như có dị vật, khó thở thanh quản; khi khối u lan rộng che lấp lòng thanh quản, rối loạn về nuốt; có khi khối u lan ra ngoài thanh quản đến hạ họng gây ra nuốt vướng, nghẹn, đau, nuốt tắc. – Ung thư biểu mô của dây thanh thường khu trú ở một bên khá lâu rồi mới lan sang phía dây thanh đối diện.

c. Ung thư hạ thanh môn (subglottis)

– Ít gặp hơn so với hai loại trên nhưng khám, phát hiện cũng khó khăn hơn. Muốn xác định, phải soi thanh quản trực tiếp và chụp cắt lớp. Loại này thường gặp là thể thâm nhiễm và thường ở phía dưới dây thanh, vì vậy được cánh sụn giáp làm vật chắn, nên u khó lan ra ngoài. U thường bắt đầu từ mặt dưới dây thanh và lan rộng xuống phía dưới niêm mạc, thâm nhiễm vào phía sâu, nhưng bờ tự do của dây thanh vẫn bình thường, vì vậy nếu sinh thiết soi qua gián tiếp, ít khi lấy được chính xác thương tổn u mà phải soi thanh quản trực tiếp, thậm chí có khi phải mở sụn giáp (thyrotomy). -Ung thư thường phát triển nhanh sang phía đối diện vượt qua mép trước thanh quản, sau đó lan xuống dưới sụn nhẫn. Có trường hợp u lan xuyên qua màng giáp nhẫn hoặc thâm nhiễm ra phía mặt sụn nhẫn. Thường gặp là u lan lên trên và ra sau khớp nhẫn phễu làm cho dây thanh bị cố định

A. Các triệu chứng lâm sàng của ung thư thanh quản:

Tuỳ theo vị trí của ung thư khác nhau mà các triệu chứng lâm sàng cũng khác nhau, kể cả thời gian xuất hiện.

1. Triệu chứng cơ năng

– Khàn tiếng ngày càng tăng và dẫn đến phát âm khó khăn, khàn đặc, mất tiếng. – Khó thở xuất hiện và tăng dần. Mặc dù triệu chứng này đã có từ lâu nhưng ở mức độ nhẹ, bệnh nhân thích ứng được, sau đó xuất hiện từng cơn khó thở, nguy kịch nhất là khi bị kích thích dẫn đến co thắt thanh quản, đôi khi đi kèm với bội nhiễm thứ phát (đợt viêm cấp do cảm cúm, phù nề do tia xạ) thì khó thở nặng. – Ho: Cũng là triệu chứng thường gặp nhưng kín đáo và mang tính chất kích thích, đôi khi có từng cơn ho kiểu co thắt. – Thở hôi: Do mô ung thư loét hoại tử – Đau: Chỉ xuất hiện khi khối u đã lan đến bờ trên của thanh quản, nhất là khi khối u đã bị loét. Đau thường lan lên tai và đau nhói lúc nuốt. – Đến giai đoạn muộn thì xuất hiện nuốt khó và sặc thức ăn, xuất tiết vào đường thở thì gây nên những cơn ho sặc sụa. Ở giai đoạn này, tổng trạng cũng bị ảnh hưởng.

2. Tóm tắt về các triệu chứng điển hình giúp phát hiện ung thư thanh quản

– Các dấu hiệu chung giúp phát hiện ung thư thanh quản, hạ họng tùy thuộc vào vị trí và sự lan tràn của khối u, bao gồm: + Đối với ung thư thanh quản: Khàn tiếng kéo dài là dấu hiệu quan trọng nhất. Khó thở khi khối u đã to. Nếu khối u lan vào hạ họng sẽ có thêm các triệu chứng của ung thư hạ họng và được gọi là ung thư thanh quản – hạ họng. + Đối với ung thư hạ họng: nuốt khó, nuốt đau, đau tai phản xạ. Nếu khối u lan vào thanh quản sẽ có thêm các triệu chứng của ung thư thanh quản và được gọi là ung thư hạ họng – thanh quản. + Chung cho 2 loại ung thư: hạch cổ, hơi thở hôi, thể trạng gầy sút. – Cần cảnh giác khi các dấu hiệu trên xuất hiện ở nam giới lớn tuổi, nghiện thuốc lá-rượu, không đáp ứng với các điều trị thông thường.

B. Khám lâm sàng

– Thăm khám lâm sàng: + Nhìn, sờ vùng trước thanh quản, sụn giáp. Ở giai đoạn khối u lan rộng ra trước thấy vùng cổ trước cứng như mai rùa và mất dấu hiệu lọc cọc thanh quản. + Soi thanh quản tìm u sùi, loét, thâm nhiễm, bạch sản sừng hóa trắng, u nhú… Đánh giá độ lan rộng của khối u vào hạ họng hay miệng thực quản. + Khám toàn thân tìm tình trạng nhiễm độc của ung thư, có kèm khối u thứ 2 (secondary tumor) hay không, khó thở, tím tái, co kéo cơ hô hấp + Thăm khám thanh quản chú ý các tổn thương sùi, loét hay thâm nhiễm sừng hóa, bạch sản trắng của dây thanh và sự di động của sụn phễu. Khi khối u lan rộng ra hạ họng được gọi là ung thư thanh quản hạ họng (subglottic larynx cancer). – Ung thư biểu mô dây thanh: ở giai đoạn đầu u thường khu trú ở một bên dây thanh dưới hình thức một nụ sùi nhỏ hoặc thâm nhiễm nhẹ và hay gặp ở nửa trước dây thanh hoặc mép trước. Di động của dây thanh ở giai đoạn đầu nếu là thể tăng sinh thì chưa bị ảnh hưởng nhiều, nhưng nếu là thể thâm nhiễm thì di động bị hạn chế nhẹ. – Sự đánh giá độ di động của dây thanh rất có ý nghĩa trong chỉ định điều trị – U ở hạ thanh môn (subglottic): trước hết dây thanh di động bị hạn chế rồi lan ra quá đường giữa nên dễ nhầm với một u của thanh môn. – U ở thượng thanh môn (supraglottic): ít khi phát hiện được ở giai đoạn sớm, băng thanh thất phù nề che lấp dây thanh cùng bên, niêm mạc dày cộm lên, chắc cứng, sau đó loét lan nhanh ra nẹp phễu thanh thiệt và xoang lê. Vì vậy u ở vùng này thường hay gặp ở giai đoạn muộn dưới hình thái thâm nhiễm hay tăng sinh, đôi khi kèm theo loét và lan vào hố trước thanh thiệt. – Nếu không được điều trị, ung thư thanh quản thường chỉ kéo dài được một năm hoặc 18 tháng. Tử vong thường do ngạt thở cấp tính, biến chứng viêm phế quản phổi, suy kiệt hay chảy máu ồ ạt.

IV. Chẩn đoán A. Chẩn đoán xác định

– Ung thư thanh quản nếu được chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời thì có thể khỏi hẳn với tỉ lệ ngày càng cao. Ung thư thanh môn (dây thanh) thường xuất hiện sớm, với các triệu chứng khó nói, khàn tiếng, nên người bệnh tự đi khám sớm hơn. Ngược lại, đối với ung thư thượng thanh môn và ung thư hạ họng, do các triệu chứng ban đầu khá kín đáo, không rầm rộ, nên người bệnh dễ bỏ qua, không đi khám sớm. Những trường hợp có thương tổn một bên thanh quản, thương tổn còn rất khu trú, dây thanh di động hơi khác thường thì phải kiểm tra theo dõi sát, làm đầy đủ các xét nghiệm cần thiết để loại trừ ung thư. – Các xét nghiệm cận lâm sàng giúp chẩn đoán xác định bao gồm: + Chụp film cổ nghiêng (giá trị chẩn đoán thấp) + Chụp tomo thanh quản, + Chụp CT scanner phát hiện độ mờ, độ lan rộng, phá hủy của u. +Siêu âm vùng cổ để phát hiện hạch cổ to, dính, thâm nhiễm xung quanh; + Chụp cộng hưởng từ (MRI) + Sinh thiết tổ chức u để chẩn đoán giải phẫu bệnh, làm hạch đồ xác định tế bào học.

B. Chẩn đoán phân biệt

– Viêm thanh quản mạn tính phì đại, – Viêm thanh quản thể dày da (pachidermic) – Loét do tiếp xúc ở mỏm thanh – Sa niêm mạc thanh thất. – Trong giai đoạn đầu, về lâm sàng cần phân biệt với lao thanh quản (thể viêm dây thanh hay thể u lao tuberculome). Thể thâm nhiễm ở mép sau rất giống thương tổn lao, tuy nhiên tổn thương do lao rất ít xuất phát từ vị trí này. – Thương tổn lupus, thường hay gặp ở bờ thanh thiệt và tiền đình thanh quản nhưng có đặc điểm là cùng tồn tại nhiều hình thái bệnh trong một thời điểm (vừa có loét, vừa có thâm nhiễm, vừa có xơ sẹo) nên chẩn đoán phân biệt không khó khăn lắm. – Giang mai thời kỳ thứ 3, giai đoạn gôm chưa loét cũng dễ nhầm với loại ung thư thâm nhiễm ở vùng thanh thất hay băng thanh thất. Nếu ở giai đoạn đã loét thì cần phân biệt với u tiền đình thanh quản hay ung thư hạ họng thanh quản. Đặc điểm của loét giang mai là bờ loét không đều, loét hình miệng núi lửa, xung quanh rắn, màu đỏ như màu thịt bò, không đau nhiều. – Dây thanh một bên không di động: cần phân biệt với liệt hồi qui (thần kinh quặt ngược) hoặc viêm khớp nhẫn phễu. – Với các u lành tính: cần phân biệt với polyp, u nhú vì chúng dễ ung thư hoá, nhất là ở nam giới, cao tuổi. Vì vậy, những trường hợp này cần được khám theo dõi định kỳ, sinh thiết nhiều lần nếu cần thiết. – Ở giai đoạn muộn, khi các triệu chứng như mất tiếng, khó thở, nuốt khó, hạch cổ cố định v.v. đã rõ ràng, chẩn đoán không gặp khó khăn lắm. Soi thanh quản thấy khối u đã khá rõ, to, choán gần hết vùng thanh quản và có trường hợp đã lan tỏa ra mô lân cận.

VI. Phân loại

Theo phân loại của Hiệp hội quốc tế chống ung thư (UICC): căn cứ độ di động của dây thanh, sự xuất hiện hạch cổ, di căn xa để sắp xếp theo hệ thống T.N.M T (Tumor): khối u.

Ung thư thượng thanh môn Tis: U tiền xâm lấn. T1 : U khu trú ở mặt dưới thanh thiệt, hoặc một bên ở nẹp phễu thanh thiệt, hoặc một bên thanh thất, hoặc một bên băng thanh thất. T2 : U ở thanh thiệt đã lan đến thanh thất hoặc băng thanh thất. T3 : U như T2 nhưng đã lan đến dây thanh. T4 : U như T3 nhưng đã lan ra xoang lê, mặt sau sụn nhẫn, rãnh lưỡi thanh thiệt và đáy lưỡi– U ở thanh môn Tis : U tiền xâm lấn. T1 : U ở một bên dây thanh, dây thanh còn di động bình thường. T2 : U ở cả hai dây thanh, dây thanh di động bình thường hay đã cố định. T3 : U đã lan xuống hạ thanh môn hoặc đã lan lên thượng thanh môn. T4 : Như T1. T2. T3. nhưng đã phá vỡ sụn giáp lan ra da, xoang lê hoặc sau sụn nhẫn.

U ở hạ thanh môn Tis : U tiền xâm lấn. T1: U khu trú ở một bên hạ thanh môn. T2 : U đã lan ra cả hai bên của hạ thanh môn. T3 : U ở hạ thanh môn đã lan ra dây thanh. T4 : Như T1. T2.T3 nhưng đã lan vào khí quản, ra da hoặc vùng sau sụn nhẫn.

N (Node): hạch cổ N0 : Hạch không sờ thấy. N1 : Hạch một bên còn di động. N1a : Đánh giá hạch chưa có di căn. N1b : Đánh giá hạch đã có di căn. N2 : Hạch đối diện hoặc hạch hai bên còn di động. N2a: Đánh giá hạch chưa có di căn. N2b : Đánh giá hạch đã có di căn. N3 : Hạch đã cố định. M Metastasis): di căn xa. M0 : Chưa có di căn xa. M1 : Đã có di căn xa (phổi, xương, gan)

VII. ĐIỀU TRị A. Nguyên tắc điều trị

Phối hợp 4 phương pháp điều trị: phẫu thuật, xạ trị, hóa chất và miễn dịch.

a. Phẫu thuật

– Đối với khối u: Ưu tiên hàng đầu là cắt bỏ rộng khối u cả khối, tôn trọng ranh giới an toàn, kế đến là bảo tồn hoặc phục hồi tái tạo chức năng của vùng họng-thanh quản. Trường hợp đặc biệt: ung thư 1/3 giữa của một dây thanh còn di động tốt, không có hạch cổ. Điều trị: Cắt dây thanh đơn thuần hoặc xạ trị với 70 Gy, kết quả khoảng 90% sống trên 5 năm. – Đối với hạch cổ: Phẫu thuật nạo vét hạch cổ cùng một thì với cắt bỏ khối u.

b. Xạ trị: Xạ trị từ xa với 70 Gy ở liều điều trị và 50 Gy ở liều bổ sung.

c. Hóa trị: Hiệu quả của hóa chất trong điều trị ung thư thanh quản-hạ họng vẫn còn đang được tranh cãi. Hai hóa chất thường được dùng là Cisplatine và 5 Fluoro-uracyl, truyền TM, liều lượng 4-6 ngày/ tuần/ 3 tuần.

d. Miễn dịch liệu pháp – Hiện nay chưa có phương pháp điều trị miễn dịch đặc hiệu đối với 2 loại ung thư này. Điều trị miễn dịch không đặc hiệu nhằm làm tăng sức đề kháng chung của bệnh nhân.

e. Phương pháp điều trị ngắm trúng đích (Targeted therapy)

Điều trị ngắm trúng đích, dùng thuốc hoặc những chất khác như các kháng thể đơn dòng (monoclonal antibodies) để xác định và tấn công các tế bào ung thư chuyên biệt mà không gây hại cho các tế bào bình thường. Một số liệu pháp ngắm trúng đích đối với ung thư tế bào vảy (squamous cell cancers) vùng đầu cổ bao gồm cetuximab, bevacizumab, erlotinib, và reovirus.

B-Điều trị và tiên lượng – Giai đoạn sớm: Cắt dây thanh. – Giai đoạn muộn: Cắt thanh quản bán phần, hoặc cắt thanh quản toàn phần. Phẫu thuật nạo vét hạch cổ kèm theo. Xạ trị hậu phẫu. Hóa trị liệu phối hợp. Nâng thể trạng và tình trạng miễn dịch chung.

Có 3 phương pháp phục hồi tiếng nói sau cắt bỏ toàn bộ thanh quản: – Lắp van phát âm khí-thực quản. – Tập nói giọng thực quản. – Dùng dụng cụ thanh quản điện Phương pháp điều trị có hiệu quả nhất là phối hợp phẫu thuật với xạ trị sau mổ. Có 3 phương pháp chủ yếu: xạ trị đơn thuần, phẫu thuật đơn thuần và phối hợp phẫu thuật với xạ trị. Những trường hợp đến khám ở giai đoạn sớm, còn khu trú, chưa có hạch cổ di căn thì có thể phẫu thuật hoặc tia xạ đơn thuần.

1. Phương pháp phẫu thuật:

– Về nguyên tắc có hai loại, phẫu thuật bảo tồn hay cắt một phần thanh quản, sau phẫu thuật này, người bệnh có thể phát âm thở theo đường sinh lý tự nhiên, còn phẫu thuật tiệt căn hay cắt bỏ thanh quản toàn phần, sau phẫu thuật này người bệnh phải thở qua lỗ của khí quản trực tiếp khâu nối ra vùng da ở cổ và phát âm không qua đường sinh lý tự nhiên được (giọng nói thực quản, qua một thiết bị hỗ trợ phát âm hay qua một phẫu thuật để phát âm). – Chọn lựa phương pháp phẫu thuật tuỳ theo vị trí, độ lan rộng của u, tình trạng di căn hạch cổ: + Cắt bỏ một phần thanh quản. + Phẫu thuật cắt bỏ thanh thiệt kiểu Huet. + Cắt thanh quản ngang trên thanh môn kiểu Anlonso. + Phẫu thuật cắt dây thanh. + Phẫu thuật cắt thanh quản trán bên kiểu Leroux-Robert. + Phẫu thuật cắt thanh quản trán trước. + Cắt nửa thanh quản kiểu Hautant. +Cắt bỏ thanh quản toàn phần.

2. Phương pháp điều trị bằng tia xạ

Cho đến nay, việc sử dụng tia xạ để điều trị các khối u ác tính là một trong những biện pháp quan trọng và cơ bản, nhất là đối với các u vùng đầu cổ. Điều trị bằng tia xạ có nhiều phương pháp khác nhau, nhưng chủ yếu là: – Xạ trị đơn thuần. – Xạ trị phối hợp với phẫu thuật, có thể trước hoặc sau phẫu thuật hoặc phối hợp xen kẽ, xạ trị- phẫu thuật- xạ trị (phương pháp sandwich).

3. Các phương pháp điều trị ung thư thanh quản khác

– Ngoài hai phương pháp cơ bản và hiệu quả nhất trong điều trị ung thư thanh quản đã nêu trên thì trong 10 năm gần đây, một số tác giả, chủ yếu là ở các nước Tây Âu, Mỹ đã phối hợp điều trị hóa chất, nhưng kết quả còn đang bàn cãi.

4. Sau điều trị cần thăm khám định kỳ theo quy định chung của ung thư

– Khám lại mỗi tháng 1 lần trong 3 tháng đầu sau mổ; – Sau đó 3 tháng khám lại 1 lần trong năm đầu tiên (không tính 3 tháng đầu); – Tiếp theo là 6 tháng khám 1 lần trong 2 năm; – Cuối cùng là mỗi năm khám lại 1 lần cho đến khi đủ 5 năm sau sau điều trị.

5. Kết quả điều trị ung thư thanh quản ở Việt Nam

– Đối với ung thư dây thanh, nếu phát hiện sớm và điều trị kịp thời, có thể chữa khỏi hoàn toàn, đạt tỉ lệ 80%. Vì vậy, một số tác giả còn gọi ung thư dây thanh là loại “ung thư lành tính” nhằm mục đích nhấn mạnh kết quả điều trị mỹ mãn của loại ung thư này, mặt khác cũng để nhắc nhở những người thầy thuốc nói chung, bác sĩ chuyên khoa Tai Mũi Họng nói riêng cần phải có tinh thần trách nhiệm cao, khám và theo dõi tỉ mỉ những trường hợp nghi ngờ. Nếu bỏ sót, để lọt lưới một ung thư thanh quản, đặc biệt ung thư dây thanh thì phải xem như một sai sót điều trị vì triệu chứng lâm sàng của loại ung thư này xuất hiện khá sớm, việc khám phát hiện cũng dễ dàng, thuận lợi, không đòi hỏi nhiều trang thiết bị kĩ thuật phức tạp, đắt tiền. – Đối với các thể ung thư thanh quản khác còn khu trú trong lòng thanh quản chưa lan ra vùng hạ họng thì kết quả điều trị ngày càng cải thiện. Tỉ lệ sống còn sau 5 năm đạt trên 45%.

– Bệnh nhân trào ngược dạ dày-thực quản cần được điều trị dứt điểm, tránh gây viêm nhiễm bất thường ở vùng mũi, hầu họng, thanh quản. Khi có biểu hiện ợ chua, cần điều chỉnh thói quen ăn uống: không ăn quá no, ăn xong không được nằm ngay, kê đầu giường cao 15 cm, tránh tăng cân, kiêng hoàn toàn các chất kích thích như rượu, bia, cà phê, thuốc lá, nước giải khát có gaz. – Cần đi khám phát hiện sớm khi có dấu hiệu gợi ý: khàn tiếng kéo dài. – Dấu hiệu đầu tiên nhận biết bệnh là khàn tiếng tăng dần, dùng các thuốc điều trị viêm thanh quản không đỡ. Khi khối u to, dây thanh bị cố định, tiếng nói trở nên khàn đặc, câu nói ngắn, mất hết âm sắc, nghe khó hiểu. – Bệnh nhân bắt đầu khó thở, lúc đầu biểu hiện này chỉ xuất hiện khi người bệnh làm việc gắng sức (lên cầu thang, khiêng vật nặng), về sau khó thở tăng dần và liên tục, có khi xảy ra cơn co thắt thanh quản làm nghẹt thở, đe dọa tính mạng. – Nếu khàn tiếng kéo dài quá hai tuần, đặc biệt ở lứa tuổi trung niên, có uống rượu và hút thuốc lá, đã dùng thuốc kháng sinh, kháng viêm không khỏi thì nên nhanh chóng đến khám chuyên khoa Tai Mũi Họng ngay. – Những bệnh nhân có tiền sử u nhú thanh quản, bạch sản thanh quản cần được kiểm tra sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm những trường hợp có nguy cơ chuyển thành ung thư thanh quản. – Cần chú ý đến tâm lý người bệnh sợ ung thư nên có khi lẩn tránh không đi khám sớm hoặc từ chối các phương pháp điều trị. Đối với thầy thuốc chuyên khoa, phải tránh chẩn đoán nhầm, bỏ sót ung thư thanh quản.

BS. ĐỒNG NGỌC KHANH – BV Đa Khoa Hoàn Mỹ Sài Gòn(Tổng hợp từ tư liệu của một số đồng nghiệp trong và ngoài nước)

Điều Trị Bệnh Ung Thư Thanh Quản Hệ Thống Y Tế Thu Cúc

Ung thư thanh quản là các khối u ác tính xuất phát từ nội thanh quản (gồm 3 tầng) hoặc ở vùng bờ thành của thanh quản. Khi khối u lan rộng vào hạ họng thì còn được gọi là ung thư thanh quản hạ họng. Để có phương pháp điều trị ung thư thanh quản phù hợp và hiệu quả nhất, người bệnh cần tới các bệnh viện có khoa Ung bướu.

Hiện nay, với ung thư thanh quản, người bệnh thường được điều trị bằng xạ trị hoặc phẫu thuật. Đây là các phương pháp điều trị tại chỗ, không ảnh hưởng tới các cơ quan lân cận.

Xạ trị là phương pháp sử dụng những tia có năng lượng cao, chiếu trực tiếp vào vùng có khối u nhằm tiêu diệt các tế bào ung thư và ngăn chặn chúng phát triển.

Phương pháp xạ trị có thể được sử dụng trước phẫu thuật nhằm thu nhỏ kích thước khối u, sau đó phẫu thuật loại bỏ hoàn toàn chúng. Nhiều trường hợp xạ trị dùng sau phẫu thuật để tiêu diệt hoàn toàn những tế bào ung thư còn sót lại. Xạ trị cũng được sử dụng để điều trị những khối u không thể cắt bỏ hoặc dùng sau tái phát ung thư.

Phẫu thuật là phương pháp thường được sử dụng để cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ thanh quản.

Phẫu thuật cắt bỏ 1 phần thanh quản có thể bảo toàn giọng nói. Sau một thời gian hồi phục ngắn, ống mở thông khí quản được rút ra và lỗ thông đóng lại. Bệnh nhân có thể thở và nói chuyện như bình thường. Trong một số trường hợp, giọng nói có thể bị khàn hoặc yếu đi.

Phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ thanh quản tức là toàn bộ hộp âm thanh được cắt bỏ và lỗ thoát được mở vĩnh viễn. Người bệnh phải học nói theo cách mới.

Trong cả hai loại phẫu thuật, bác sĩ phẫu thuật phải mở khí quản, tạo ra một lỗ thoát ra phía trước cổ (lỗ thoát có thể tạm thời hoặc vĩnh viễn). Không khí đi vào và ra khỏi khí quản và phổi qua lỗ mở khí quản này. Một ống mở thông khí quản giữ cho đường dẫn khí mới này ở trạng thái mở.

Phẫu thuật có thể được kết hợp với xạ trị nhằm tiêu diệt hoàn toàn những tế bào ung thư còn sót lại sau phẫu thuật. Trong một vài trường hợp người bệnh cũng cần áp dụng phương pháp điều trị ung thư thanh quản thứ 3 là hóa trị để tăng hiệu quả và ngăn ngừa tái phát.

Hóa trị là phương pháp sử dụng các loại thuốc hóa chất được đưa vào cơ thể qua tiêm vào tĩnh mạch hoặc đường uống. Thuốc hóa chất được truyền đi khắp cơ thể nên có thể tiêu diệt tế bào ung thư nhưng nó cũng gây ra nhiều tác dụng phụ ảnh hưởng tới sức khỏe. Vì thế, khi điều trị ung thư thanh quản bằng hóa trị, người bệnh cần tuân thủ đúng chu kỳ của bác sĩ, sau mỗi đợt dùng thuốc người bệnh cần nghỉ ngơi để hồi phục sức khỏe, sau đó lại tiếp tục với chu kỳ tiếp theo.

Dù điều trị bằng phương pháp nào, người bệnh ung thư thanh quản cũng cần chú ý tuân thủ theo đúng phác đồ điều trị của bác sĩ. Đồng thời, người bệnh cần nghỉ ngơi, ăn uống khoa học, phù hợp, đầy đủ dinh dưỡng; giữ tâm lý thoải mái, tránh căng thẳng, suy nghĩ nhiều mà ảnh hưởng tới sức khỏe.

Hồng Thanh Quang Nhận Mình Là “Người Đàn Ông Của Mùa Thu”

Ngày 6/9 tới, tại Hà Nội, nhà thơ Hồng Thanh Quang cùng các bạn bè, những tâm hồn tri kỷ thực hiện đêm thơ nhạc với tên gọi “Người đàn ông mùa thu”.

Chia sẻ về “Người đàn ông mùa thu”, nhà thơ Hồng Thanh Quang cho biết: Đây thực ra chỉ là một cuộc gặp gỡ giữa những người tri kỷ, giữa nhà thơ với các nghệ sĩ biểu diễn theo dòng nhạc dân gian để cùng tạo nên một đêm hội truyền thống ở chính trên sân khấu Nhà hát Lớn Hà Nội. Và cũng là để dựng nên chân dung nghệ thuật của một người thơ ở độ tuổi sang chiều.

“Với những chiêm nghiệm, trăn trở, xúc cảm và hồi tưởng, tôi muốn được chia sẻ cùng với khán giả như những liều trợ dưỡng tinh thần. Những tác phẩm được lựa chọn từ nhiều giai đoạn sáng tác khác nhau của tôi nhưng rất nhất quán ở mạch cảm xúc, góc nhìn và cách cảm…”, nhà thơ Hồng Thanh Quang nói.

Nhà thơ Hồng Thanh Quang chia sẻ nhiều tâm sự, nhiều câu chuyện trong đêm nhạc thơ “Người đàn ông mùa thu”.

Tổng đạo diễn chương trình, nhạc sĩ Nguyễn Quang Long tiết lộ, với “Người đàn ông mùa thu”, khán giả sẽ thấy một Hồng Thanh Quang lãng mạn, đa tình, luôn vịn vào những câu thơ như điểm tựa cho tâm hồn và luôn cảm thấy thiếu, anh vẫn ngày ngày dệt nên những câu thơ cho cuộc đời; Bên cạnh một Hồng Thanh Quang của gia đình và của bạn bè, một Hồng Thanh Quang với những góc suy tư về con người và cuộc sống…

Tham gia biểu diễn trong chương trình là nhiều nghệ sĩ tên tuổi như nhạc sĩ – NSND Phạm Ngọc Khôi, NSND Thanh Hoài, NSND Thúy Mùi, NSND Quốc Anh, NSƯT Minh Vượng, NSƯT Ngọc Khang, NSƯT Ploong Thiết, nhóm xẩm Hà Thành…

Trong đêm thơ nhạc, nhà thơ Hồng Thanh Quang sẽ tự mình đọc những bài thơ đã đi vào lòng người của anh với phần đệm đàn của NSND Phạm Ngọc Khôi như “Lối ta đi”, “Ủ câu thơ cũ vào men lá”, “Anh sẽ không nhường em cho ai cả”, “Rồi có ngày con trở thành thiếu nữ”, “Đau đớn nhất là khi bạn cũ”, “Anh buồn lắm vì em không hạnh phúc”…

Bên cạnh đó, các bài thơ của Hồng Thanh Quang cũng sẽ được ngâm bởi các nghệ sĩ nổi tiếng: NSND Thúy Mùi, NSND Quốc Anh, Ploong Thiết. Đặc biệt, NSƯT Minh Vượng cũng xuất hiện trên sân khấu sau một thời gian dài vắng bóng qua phần trình bày thơ với tư cách một người bạn của nhà thơ Hồng Thanh Quang.

Về phần âm nhạc, chủ đạo là những bài thơ được thể hiện trên nền các nghệ thuật hát văn, hát xẩm, ngâm thơ cổ, ca Huế, Quan họ… Đồng thời, nhiều bài hát phổ thơ Hồng Thanh Quang nổi tiếng cũng sẽ được trình diễn trên sân khấu như “Mẹ” (nhạc sĩ Phú Quang), “Khúc hát vào thu” (Quang Sơn), “Sớm thu” (Quỳnh Hợp), “Khúc mùa thu” (Phú Quang)…

Một bất ngờ thú vị là Hồng Thanh Quang còn xuất hiện không chỉ với tư cách nhà thơ mà còn là một nhạc sĩ. Bài hát “Noel buồn” do anh phổ thơ Triệu Ngọc Lâm sẽ được trình bày bởi ca sĩ Tuấn Hiệp.

Nguyễn Hằng