Top 15 # Xem Nhiều Nhất Xquang Ung Thư Xương / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Tìm Hiểu Về Dịch Vụ Chụp Xquang Xương Ức Thẳng, Nghiêng / 2023

Khảo sát bàng quang b ng cách chụp X quang bàng quang có bơm thuốc đối quang i-ốt tan trong nước sau khi chọc kim trực tiếp vào bàng quang qua da, trên xương mu.

I. ĐẠI CƯƠNG

Khảo sát bàng quang b ng cách chụp X quang bàng quang có bơm thuốc đối quang i-ốt tan trong nước sau khi chọc kim trực tiếp vào bàng quang qua da, trên xương mu.

II. CHỈ ĐỊNH

VÀ CH NG CHỈ ĐỊNH 1. Chỉ định – Chụp bàng quang trên xương mu có thể được chỉ định chẩn đoán các bất thường về hình thái bàng quang, niệu đạo; chức năng bài xuất nước tiểu bàng quang, niệu đạo. – Kỹ thuật này giúp tránh được tai biến nhiễm khuẩn so với chụp niệu đạo bàng quang ngược dòng ở nam giới. 88

2. Chống chỉ định – Đang nhiễm trùng đường tiểu; nếu nghi ngờ phải xét nghiệm nước tiể u. – Rối loạn đông máu. III. CHUẨN BỊ 1. Người th ực hiện – Bác sỹ chuyên khoa – Kỹ thuật viên điện quang 2. Phương tiện – Máy chụp X quang tăng sáng truyền hình – Phim, cát -xét, hệ thống lưu trữ hình ảnh Vật tư tiêu hao – Bơm tiêm 10; 20ml – Kim chọc tủy số ng 18-20G – Thuốc đối quang i -ốt tan trong nước – Dung dịch sát khuẩn da, niêm mạc – Nước cất ho c nước muối sinh lý – Găng tay, mũ, khẩu trang phẫu thuật – Bộ khay quả đậu, kẹp phẫu thuật. – Bông, gạc phẫu thuật. – Hộp thuốc và dụng cụ cấp cứu tai b iến thuốc đối quang. – Ống thông Foley. – Bô đi tiểu loại nam giới và loại nữ giới có vạch đo dung tích. 3. Người bệnh – Cho thuốc an thần nhẹ 1 giờ trước xét nghiệm. – Bàng quang phải căng đầy là điều kiện chủ yếu. Có thể cho thuốc lợi tiểu để bàng quang chóng đầy (tiêm tĩnh mạch 01 ống Lasilix 20mg). 4. Phi u xét nghiệm – Các xét nghiệm cơ bản. – Nghi ngờ nhiễm khuẩn phải xét nghiệm nước tiểu 89

I

V. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH

1. Chọc kim vào bàng quang – Người bệnh n m ngữa – Sát khuẩn da, trải khăn vô trùng – Chọc kim vào điểm trên đường gi ữa, cách khớp mu 2 đốt ngón tay trong khi chiếu tăng sáng truyền hình. Hướng kim th ng góc da ho c chếch lên phía đầu 100. Cảm giác qua thành bàng quang, đẩy kim vào 2cm, rút nòng, nước tiểu trào ống thông ho c bơm vài ml thuốc đối quang để xác định ống thông đã vào bàng quang. Sau đó luồn dây dẫn vào bàng quang, rồi đẩy ống thông vào theo dây dẫn. 2. Tháo nư ớc tiểu h t bàng quang bằng cách cho người bệnh đi tiểu. – Hứng nước tiểu vào bô có vạch đo dung tích để đo lượng nước tiểu. 3. Bơm thu ốc đối quang vào b àng quang – Bơm lượng thuốc tương đương ho c gần tương đương lượng nước tiểu vừa bài xuất. – Có thể chuyền ho c bơm thuốc đối quang vào bàng quang. – Phim chụp trong quá trình đầy bàng quang: th ng, chếch, đôi khi nghiêng. – Phim chụp lúc bàng quang đầy (300 -400ml thuốc đối quang + nước muối sinh lý), khi người bệnh có cảm giác muốn tiểu: th ng, chếch hai bên, nghiêng. 4. Chụp thì đi ti ểu – Giữ cố định và khoá ống thông. Không bao giờ rút ống thông lúc bàng quang đầy ho c có áp lực cao tránh nguy cơ thoát nước tiểu. – Chụp đứng chếch sau phải ho c chếch sau trái. Đối với nam giới có thể chụp n m. – Chụp lúc đi tiểu tự nhiên và lúc làm tắc niệu đạo b ng kẹp phần sau dương vật, mức độ vừa đủ làm tắc niệu đạo: th ng, chếch hai bên, đôi khi nghiêng. 5. Chụp thì sau đi ti ểu – Rút ống thông sau khi chụp thì đi tiểu. – Cho đi tiểu hết ở nhà vệ sinh. – Chụp th ng ngay sau khi đi tiểu. V. NHẬN Đ ỊNH KẾT QUẢ – Bàng quang bờ đều, đáy bàng quang bình thường ở sát bờ trên khớp mu 90

– Khảo sát khẩu kính và bờ niệu đạo. Niệu đạo nam có 4 đoạn: đoạn tiền liệt, đoạn màng, đoạn hành và đoạn hang. Niệu đạo nữ là ống th ng hướng từ trên xuống dưới và từ sau ra trước. – Không có trào ngược bàng quang niệu quản thụ động ho c chủ động; không sa cổ bàng quang thì đi tiểu. – Không có nước tiểu tồn lưu. VI. TAI BIẾN VÀ X Ử TRÍ Tai biến hiếm g p và không n ng nếu bàng quang đầy – Thất bại do không đưa được ống thông vào bàng quang – Tiêm thuốc đối quang vào thành bàng quang, khoang Retzius, trong phúc mạc. – Thủng trực tràng: rất hiếm – Nhiễm khuẩn: rất hiếm. 91

SIÊU ÂM CHẨN ĐOÁN

Quy trình 26. Siêu âm các khối u có tiêm thuốc đối quang siêu m

Rốn Phổi Đậm Trên Phim Xquang Là Gì? / 2023

Rốn phổi đậm là gì?

Trước khi trả lời cho câu hỏi rốn phổi đậm là gì thì đầu tiên ta cần phải đi tìm hiểu về rốn phổi.

Tổng quan về rốn phổi

Mỗi một lá phổi trong cơ thể người đều được phân ra làm bốn thành phần chính là đỉnh, đáy, rốn và cuống phổi. Rốn phổi và cuống phổi là hai cấu trúc phức tạp được xây chủ yếu bởi phế quản và động mạnh phổi.

Rốn phổi là một vùng lõm hình lòng thuyền lớn nằm trên phổi. Bộ phận này nằm ở vị trí cao hơn so với trung tâm bề mặt phổi và nằm phía sau của dấu ấn tim, gần với bờ sau của phổi. Rốn phổi còn là nơi kết nối giữa hai thành màng phổi ( che phủ khung xương sườn) và màng phổi tạng ( che phủ phổi).

Thêm nữa, rốn phổi nằm đối diện với thân của các xương sườn thứ 5, thứ 6 và thứ 7. Các cấu trúc này tạo thành cuống phổi đi vào và đi ra tại rốn phổi, cho phép xuống phổi được nối với tim và khí quản.

Chức năng chính của rốn phổi là giúp các rễ phổi cố định và có thể giữ cho phổi bám vào tim, khí quản và các cơ quan khác bên trong cơ thể.

Phế quản chính ở một bên, phế quản trên và phế quản dưới ở phía bên kia.

1 động mạch phổi, 2 tĩnh mạch phổi (trên và dưới).

Động mạch phế quản (một ở một bên này và một bên kia Phổi), tĩnh mạch phế quản

Đám rối thần kinh phổi trước và sau, hạch bạch huyết, hạch lympho phế quản và các mô xung quanh.

Rốn phổi đậm là gì?

Rốn phổi đậm là một thuật ngữ được sử dụng trên hình ảnh X-quang. Thuật ngữ này được sử dụng để nói về tình trạng dấu hiệu ở rốn phổi trở nên dày đặc hơn (Dense Hilum Sign). Đây là cách nói để gợi ý về các chứng bệnh đang có dấu hiệu tiến triển ở rốn phổi hoặc ở bên trong phổi mà đặc biệt là ung thư phổi.

Lấy ví dụ: Nếu rốn phổi bên phải có dấu hiệu đậm hơn và lớn hơn so với rốn phổi trái. Thêm vào đóm vòm hoành phải cao hơn so với vòng hoành trái sẽ gợi ý đến tình trạng phổi bị giảm thể tích (còn gọi là xẹp phổi) hoặc kiệt thần kinh hoành.

Khi dấu hiệu rốn phổi đậm lên là do các mô ở vùng rốn phổi ngăn cản tia X nhiều hơn hoặc là do có thể đã có một khối u phát triển ở vùng rốn phổi như hạch bạch huyết hoặc u phổi. Tuy nhiên, mọi chẩn đoán đều chỉ là dự đoán, chỉ bằng vào hình ảnh xquang rất khó có thể chẩn đoán chuẩn xác các bệnh lý. Chẳng hạn, như bệnh hạch bạch huyết có thể sưng to do rất nhiều nguyên nhân khác nhau và một trong số đó có thể là lao phổi và các tác nhân gây viêm nhiễm khác ở phổi.

Bên cạnh đó, khi tia X chiếu qua rốn phổi, có thể vùng phía trước và phía sau rốn phổi có hội chứng đông đặc, chứa đầy dịch trong phế nang, điển hình như trong bệnh viêm phổi nên gây ra hiện tượng chồng hình làm rốn phổi tăng đậm độ. Phim phổi nghiêng có thể được chụp để đánh giá chính xác nguyên nhân gây rốn phổi đậm.

Rốn phổi đậm có nguy hiểm không?

Theo lời khuyên từ các chuyên gia, nếu bạn được chẩn đoán là có tình trạng rốn phổi đậm, tốt nhất đừng nên chủ quan và coi thường. Rất có thể, bạn đang có nguy cơ cao mắc phải các căn bệnh nguy hiểm về đường phổi hoặc thậm chí là cả ung thư phổi. Chính vì thế, khi được chẩn đoán bị rốn phổi đậm thì bạn nên làm theo đúng sự hướng dẫn và các yêu cầu của bác sĩ để có thể có được hiệu quả trị bệnh một cách tốt đẹp nhất.

Nếu không may, bạn bị ung thư phổi thì với tình trạng rốn phổi đậm thì các y bác sĩ có thể chẩn đoán và giúp bạn phát hiện ra bệnh lý này trong giai đoạn bắt đầu. Từ đó, bạn có thể có những biện pháp xử lý, chữa trị hay thậm chí là cơ hội chữa khỏi hoàn toàn căn bệnh này. Thế nhưng nếu coi thường, chủ quan và không quan tâm đến bệnh thì sẽ có thể làm cho căn bệnh ung thư phổi có thể tiến triển và chuyển sang giai đoạn cuối gây ra nhiều khó khăn trong quá trình điều trị và gây nguy hiểm tới tính mạng bản thân.

Do đó, các tốt nhất là bạn nên thường xuyên đi thăm khám và kiểm tra sức khỏe định kỳ. Qua đó, có thể chẩn đoán, xác định nhanh chóng các căn bệnh gây ra nguy hiểm và ảnh hưởng tới sức khỏe để có những biện pháp chữa trị và chăm sóc để đẩy lùi căn bệnh.

Khi bạn có dấu hiệu rốn phổi đậm rất có thể bạn đã mắc phải căn bệnh nguy hiểm, do vậy các cách phòng tránh căn bệnh sẽ giúp bạn không mắc phải căn bệnh có thể sẽ cướp đi sinh mạng của bạn bằng cách như sau:

Không hút thuốc lá, hạn chế sử dụng các chất kích thích là cách phòng tránh căn bệnh ung thư phổi một cách hữu hiệu nhất. Trong thuốc lá có chứa rất nhiều chất gây ung thư và có tác động xấu đến phổi. Hầu hết, đa phần những người bị mắc ung thư phổi là do thói quen sử dụng thuốc lá, các chất kích thích trong thời gian dài khiến phổi và các bộ phận khác bị hủy hoại.

Những người phải hút thuốc lá bị động (thường xuyên hít phải khói thuốc lá mặc dù không hút) cũng có những nguy cơ rất cao bị ung thư phổi, do vậy bạn nên tránh xa những người hút thuốc lá, để phòng tránh căn bệnh ung thư phổi cho chính bản thân mình.

Tình trạng môi trường bị ô nhiễm, khói bụi xuất hiện trong không khí với mật độ cao cũng là một trong các tác nhân lớn gây xuất hiện rốn phổi đậm.

Nên áp dụng chế độ ăn uống lành mạnh, cân bằng và hợp lý. Đảm bảo mỗi bữa ăn đều có đầy đủ các chất dinh dưỡng cho cơ thể và thường xuyên tập luyện thể dục thể thao.

Đau Nhức Xương Khớp Có Phải Ung Thư Xương? / 2023

Đây là một hiện tượng cần có sự cảnh giác do có thể là dấu hiệu ung thư xương. Những lý giải của bác sĩ sẽ giúp bạn biết thêm về điều này.

Đau nhức xương tay và chân, luôn mệt mỏi buồn ngủ

Câu hỏi bởi: Giấu tên

Chào bác sĩ.

Năm nay em 23 tuổi. Mấy năm trước em có bị nhức xương 1 bên chân nghi thấp khớp. Đi khám thì bác sĩ bảo thiếu canxi. Thời gian sau thời tiết thay đổi lại chuyển sang chân khác. Dạo gần đây em luôn mệt mỏi buồn ngủ, thi thoảng lại đau nhức xương ở tay. Liệu em có bị ung thư xương không ạ? Bệnh này có chữa được không?

Cảm ơn bác sĩ!

Triệu chứng đau nhức xương cũng có thể gặp trong bệnh ung thư xương nhưng ngoài ra còn gặp trong nhiều bệnh lý khác như: chấn thương xương khớp, viêm khớp, thấp khớp, loãng xương, thoái hóa xương khớp,… Ung thư xương có một số dấu hiệu sớm có thể thấy được trên phim chụp Xquang. Còn khi ung thư xương đã sờ được các khối u thì đã là giai đoạn muộn. Vì vậy, bạn nên đi khám để bác sĩ kiểm tra cho bạn. Bệnh ung thư xương cũng như các bệnh ung thư khác, hiện nay vẫn chưa có phương pháp nào có thể chữa trị khỏi hoàn toàn được. Các biện pháp chữa trị chủ yếu là để kéo dài thời gian sống thêm.

bị đau và sưng chân trái, co duỗi rất khó khăn

Câu hỏi bởi: Giấu tên

Chào bác sĩ.

Con 22 tuổi cách đây 1 tháng con bị đau và sưng chân trái. Co duỗi rất khó khăn. Con khám bệnh viện chấn thương chỉnh hình bác sĩ kêu con con bị viêm khớp và cho con uống thuốc nhưng không hết. Con đi bệnh viện Chợ Rẫy khám bác sĩ kêu con bị viêm khớp phản ứng và suy van tĩnh mạch 2 chi dưới. Bác sĩ cho con hỏi đây có phải là dấu hiệu của Ung thư xương không?

Cảm ơn bác sĩ.

Đây không phải là dấu hiệu của ung thư xương, vì ung thư xương trước hết là phải có khối u ở xương nổi lên trên mặt da, khối u to nhanh, bệnh nhân rất đau đớn. Bệnh của em chỉ là viêm khớp, bệnh viêm khớp triệu chứng bằng sưng nóng đỏ đau tại khớp, và thường hay đau nhức nhiều về ban đêm, sáng ngủ dậy hay có triệu chứng cứng khớp.

Điều trị viêm khớp, dùng các thuốc chóng viêm giảm đau nhóm Non-steroid. Bệnh của em chữa trị chưa khỏi được vì thứ nhất là em chưa uống đủ liều lượng thuốc, thông thường cần uống từ 6 đến 8 tuần, cho đến khi không còn triệu chứng viêm; thứ hai là em cần hạn chế đi lại trong thời gian chữa trị thì mới chữa trị hiệu quả.

Như vậy em nên tái khám để bác sĩ điều chỉnh đơn thuốc cho đúng. Ngoài ra, em có thể chữa trị vật lý trị liệu sử dụng sóng ngắn có tác dụng chống viêm rất tốt.

Chúc em mạnh khỏe

Rát họng, ho, thỉnh thoảng đau nhức xương khớp tay chân có phải ung thư?

Câu hỏi bởi: tanpopo

Chào bác sĩ!

Em năm nay 25 tuổi. Nửa tháng gần đây em cảm thấy hơi rát họng, ho húng hắng vài tiếng, thỉnh thoảng đau nhức xương khớp tay chân, lúc đánh răng thường xuyên bị chảy máu chân răng. Cách đây 4 tháng em có đi kiểm tra sức khỏe và kết quả xét nghiệm máu bình thường. Liệu bây giờ em có bị ung thư máu không ạ?

Em cảm ơn nhiều!

Nguyên nhân gây chảy máu chân răng thường gặp nhất là do viêm lợi, viêm quanh răng . Đó là tình trạng tổn thương mô nha chu khiến lợi bị viêm, sưng đỏ, sung huyết nên dễ chảy máu khi có ảnh hưởng như đánh răng. Những thói quen như vệ sinh răng miệng kém, không đánh răng, không lấy cao răng định kì, ăn uống thiếu chất dẫn đến viêm lợi và dễ chảy máu khi đánh răng. Ngoài ra một lí do có thể ít gặp hơn nhưng lại nguy hiểm nếu không phát hiện kịp thời đó là chảy máu khi đánh răng do xuất huyết giảm tiểu cầu. Nếu là do lí do này ngoài chảy máu khi đánh răng thường đi kèm với sốt và xuất hiện những mụn nhỏ li ti dưới da mà không biến mất khi làm căng da.

Đối với tình huống của bạn đã làm xét nghiệm máu cho thấy kết quả bình thường, như vậy bạn không nên quá lo lắng. Nếu chảy máu do lí do răng miệng đơn thuần do viêm lợi hoặc viêm quanh răng thì vấn đề không quá nguy hiểm có thể điều trị và phòng ngừa được. Để chữa trị chảy máu khi đánh răng lí do do viêm lợi cần đến các phòng khám Nha khoa lấy cao răng và làm sạch thân chân răng; sử dụng các thuốc chữa trị viêm lợi nếu cần; loại bỏ các thói quen xấu như đánh răng bằng bàn chải cứng, chải răng quá mạnh, dùng tăm xỉa răng…

Để dự phòng chảy máu chân răng cần thực hiện đầy đủ các bước vệ sinh răng miệng; khám răng định kì 6 tháng một lần; đánh răng đúng cách 2 lần một ngày: sáng và tối trước khi đi ngủ; súc miệng sau khi ăn bằng nước súc miệng; nếu có điều kiện nên sử dụng chỉ tơ nha khoa. Bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng, nhất là các vitamin nhóm C.

Đau nhức đầu gối, tê và đau lưng, là bị bệnh gì?

Câu hỏi bởi: Giấu tên

Chào bác sĩ.

Năm nay em 24 tuổi, em bị đau nhức đầu gối chân và nằm cảm thấy tê và đau lưng nay cũng được 3 tháng. Em có tới bệnh viện được xét nghiệm máu và sinh hoá máu thì bình thường. Bác sĩ cho em hỏi liệu em có bị ung thư xương hay bệnh gì khác không ạ?

Em xin cảm ơn bác sĩ.

Tình trạng đau nhức đầu gối của bạn có thể do rất nhiều lí do gây nên. Để loại trừ xem có phải ung thư xương hay không thì bạn cần phải chụp phim X-quang. Nếu là ung thư xương thì trên phim X-quang có một số dấu hiệu chỉ điểm gợi ý cho các bác sĩ lâm sàng ở ngay từ giai đoạn sớm. Khi bệnh đã tiến triển nặng, có thể sờ thấy các khối bất thường bằng việc thăm khám thông thường. Tuy nhiên, tình huống của bạn, ngoài đau chân còn kèm theo đau và tê lưng thì nghĩ nhiều tới lí do là bệnh lý cột sống. Các bệnh lý cột sống hay gặp như: thoát vị đĩa đệm, trượt đốt sống,… Xảy ra ở người trẻ thường là do chấn thương, làm việc sai tư thế,… Gây chèn ép vào các rễ thần kinh và gây đau ở những vùng mà dây thần kinh đó chi phối. Vì vậy, bạn cần đi khám chuyên khoa Xương Khớp để bác sĩ trực tiếp khám và kiểm tra cho bạn.

Chân đau không rõ nguyên nhân có phải do ung thư?

Câu hỏi bởi: Giấu tên

Chào bác sĩ.

Em năm nay 23 tuổi, là nam. 2 năm gần đây em thấy hai ống đồng có triệu chứng đau. Lúc đầu em tưởng là do đá bóng nhiều. Nhưng gần đây về đêm, nó cũng đau mà không bị va chạm hay chấn thương gì. Ngồi một lúc đứng dậy thì càng đau. Đây có phải biểu hiện ung thư xương không thưa bác sĩ?

Cảm ơn bác sĩ!

Trước hết cháu cần biết đôi điều về ung thư xương cẳng chân. Đây là dạng ung thư xương phổ biến nhất ở nam thiếu niên, thường xuất hiện trong giai đoạn dậy thì. Nam bị u xương ác tính nhiều gấp đôi nữ và thường thấy ở những người có chiều cao vượt trung bình.

Nguyên nhân gây bệnh có thể là do gene, hoặc là hậu quả của một dạng ung thư khác, ví dụ như retinoblastoma – u phát triển trong võng mạc có thể là tiền đề của bệnh u xương ác tính. Những thiếu niên được xạ trị để chữa loại ung thư khác thì nhiều khả năng sẽ bị u xương ác tính.

Những biểu hiện phổ biến nhất của u xương ác tính là đau và sưng ở một cánh tay hoặc cẳng chân, đôi khi đi kèm u bướu. Một số người bị đau về đêm hoặc khi tập thể dục. U xương ác tính thường xuất hiện ở các xương quanh đầu gối. Trong một số tình huống hiếm gặp, khối u có thể di căn từ xương tới các dây thần kinh và mạch máu ở chi. Di căn là thuật ngữ được dùng khi các tế bào của một khối u vượt ra khỏi vùng ung thư ban đầu và ‘du ngoạn’ tới các mô và tổ chức khác.

Trường hợp của cháu bị đau 2 xương cẳng chân, đau tăng khi vận động. Triệu chứng này có thể gặp ở ung thư xương nhưng cũng có thể gặp ở nhiều bệnh khác. Do đó để chẩn đoán chính xác cháu nên đi khám chụp X-quang và làm xét nghiệm để phát hiện sớm lí do gây đau.

Chúc cháu chóng khỏe!

Chẩn Đoán Hình Ảnh Xquang Dạ Dày Và Tá Tràng – Virad / 2023

Hiện nay, nội soi kết hợp với sinh thiết có nhiều ưu điểm hơn, nhưng chụp lưu thông dạ dày-tá tràng vẫn giữ nguyên giá trị trong việc chẩn đoán một số tổn thương bệnh lý vùng này. Nó vẫn rất hữu ích để xác định vị trí cũng như mức độ lan rộng tại chỗ của ổ loét hoặc ung thư dạ dày, để chẩn đoán và tiên lượng các thoát vị hoành, để đánh giá tình trạng hẹp dạ dày tá tràng.

1. KỸ THUẬT X QUANG

1.1. Chuẩn bị bệnh nhân

Thăm khám được tiến hành vào buổi sáng với bệnh nhân nhịn đói, không uống, không hút thuốc từ khi ngủ dậy. Bệnh nhân không được uống các chất cản quang ít nhất 3 ngày trước khi chụp.

1.2. Kỹ thuật

1.2.1. Kỹ thuật cổ điển: Dưới sự kiểm tra của chiếu X quang (tốt nhất là chiếu có tăng sáng truyền hình) bệnh nhân uống một ngụm sau đó một cốc (80-100ml) dịch treo barite. Các phim được chụp theo các tư thế khác nhau.

1.2.2. Kỹ thuật đối quang kép: Kỹ thuật này tinh vi hơn, chỉ áp dụng được cho những bệnh nhân có hợp tác tốt và di chuyển dễ dàng trên bàn khám. Hai đối quang được sử dụng: Đối quang âm tính (hơi) và đối quang dương tính (baryte). Sau khi uống một lượng nhỏ dịch treo baryte kèm theo chế phẩm chống bọt khí, dạ dày được làm phồng lên bởi hơi được bơm qua ống thông hoặc được tạo ra bằng các chất sinh hơi. Bệnh nhân tự xoay người cho dịch treo baryte trải đều trên bề mặt dạ dày và các phim được chụp ở các thì khác nhau. Phương pháp này cho phép phát hiện được các tổn thương nhỏ khu trú ở niêm mạc, đặc biệt là các tổn thương ở mặt dạ dày.

Ngày nay, ngoài chụp dạ dày có cản quang, siêu âm, đặc biệt là siêu âm nội soi và chụp cắt lớp vi tính cũng có thể được chỉ định trong một số bệnh lý dạ dày, tá tràng, nhất là bệnh lý khối u.

2. GIẢI PHẪU X QUANG BÌNH THƯỜNG

2.1. Giải phẫu và hình thái

Trên các phim chụp dạ dày cũng được phân chia thành các vùng như trên giải phẫu thường và được mô tả trên hình 1.9. Tuỳ theo trương lực của dạ dày, theo tạng người cao thấp, béo hay gầy mà dạ dày có thể có những hình thái thay đổi như hình 1.10.

2.2 Niêm mạc

Mặt trong của dạ dày và tá tràng được phủ bởi niêm mạc có độ dày khác nhau tạo nên các nếp nằm song song với nhau và với đường bờ.

Hình 2.22. Các tư thế chụp dạ dày-tá tràng theo kỹ thuật cổ điển.

1. Phim lớp mỏng để thấy niêm mạc, 2. Phim đầy thuốc thẳng,3. Chụp tư thế chếch trước phải có ép để thăm khám góc bờ cong nhỏ, 4. Phim ép vào hành tá tràng;5. Phim hàng loạt lấy hang vị và hành tá tràng; 6Phim nằm ngửa toàn bộ để thăm khám mặt sau; 7Phim nằm sấp lấy toàn bộ dạ dày (tư thế c và d chỉ chụp trong những trường hợp cần thiết).

Hình 2.23. Giải phẫu dạ dày trên phim thẳng và phim nghiêng.

1. Thực quản bụng, 2.Tâm vị, 3. Góc His, 4.Phình vị hay túi hơi dạ dày, 5.Bờ cong lớn, 6.Bờ cong nhỏ, 7. Phần đứng hay thân dạ dày, 8. Phần ngang hay hang vị, 9. Ống môn vị, 10. Hành tá tràng, 11. Gối trên, 12. Đoạn 2 tá tràng, 13. Gối dưới, 14. Đoạn 3 tá tràng, 15. Đoạn 4 tá tràng, 16. Góc tá-hỗng tràng hay góc Treitz, 17. Quai hỗng tràng đầu tiên, 18. Sàn phình vị lớn, 19. Mặt sau, 20.Mặt trước, 21. Cơ hoành.

Hình 2.24. Các hình thái của dạ dày. a. Dạ dày nằm ngang, b. Dạ dày thẳng đứng, c. Dạ dày hình thác.

Hình 2.25. Niêm mạc dạ dày và hành tá tràng bình thường. a). Niêm mạc dạ dày; b). Hành tá và tá tràng; c). Niêm mạc đáy hành tá tràng.

1. gan, 2. túi mật, 3. lách, 4. tụy, 5. góc đại tràng, 6. thuỳ trái gan.

Hình 2.27. Đè ép từ ngoài vào dạ dày. a).Lách to, b) Gan to, c) Thân tụy to (phim nghiêng), d) Đầu tụy to.

3. TRIỆU CHỨNG ĐIỆN QUANG

3.1. Hình ổ loét

Là một vết cản quang được tạo nên bởi baryte chui vào trong vùng mất tổ chức của thành dạ dày và được tồn tại thường xuyên và không thay đổi hình dạng trên các phim chụp. Ổ loét dễ dàng thấy được nếu nằm ở bờ dạ dày; nếu ở mặt, nó chỉ được thấy trên các phim chụp nghiêng hoặc phim chụp niêm mạc hoặc chụp đối quang kép. Hình dạng, kích thước của ổ thay đổi tuỳ theo ổ loét nằm trên thành dạ dày bình thường hay thành bị thâm nhiễm và sùi.

Hình 2.28. Ổ loét dạ dày. a) Ổ loét lành tính, b) Ổ loét ác tính (loét thấu kính).

3.1.1. Hình ổ loét trên thành bình thường

Thường là ổ loét lành tính. Nhìn nghiêng, ổ loét có hình tam giác đáy tròn, bờ đều, nhô lên khỏi bờ dạ dày bình thường. Tại vùng tiếp giáp giữa ổ loét và thành bình thường có chỗ lõm nhẹ vào lòng dạ dày gọi là thành ổ loét. Ổ loét mặt biểu hiện như một vết cản quang tròn được bao quanh bởi vòng sáng đều đặn, các nếp niêm mạc hội tụ sát thành ổ loét và không bị biến dạng.

3.1.2. Hình ổ loét trên thành bị thâm nhiễm

Hay còn gọi là ổ loét trừ. Ổ loét này có hình tam giác hoặc hình phẳng nông nằm trên một đoạn bờ dạ dày sụt nhẹ vào trong lòng so với đường bờ bình thường. Nó thể hiện ổ loét nông trên vùng thành dạ dày bị thâm nhiễm hay viêm dày lên.

Ổ loét trên thành bị sùi: ổ loét nằm sụt và đục khoét sâu vào lòng nhiều so với bờ cong dạ dày. Nó phân cách với lòng dạ dày và các nếp niêm mạc bởi một băng sáng rộng, không đều tạo nên gờ ổ loét, xung quanh gờ này nếp niêm mạc hội tụ dày lên và phình to. Ổ loét này thường là ác tính.

3.2. Hình khuyết

– Hình khuyết tròn hoặc bầu dục đường bờ đều và có thể thay đổi hình dáng thường gặp trong các loại u dạ dày lành tính.

– Hình khuyết bờ nham nhở, cứng thường là biểu hiện của ung thư thể sùi.

3.3. Hình cứng

Biểu hiện sự đứng im của một phần hoặc toàn bộ thành dạ dày khi sóng nhu động lan tới. Nếu tổn thương lan rộng thì toàn bộ dạ dày như đông cứng lại. Nếu hình cứng ngắn, sóng nhu động dừng lại tại vùng này và đoạn cứng được nâng lên như”tấm ván trên mặt sóng”. Đoạn cứng có thể cong hoặc thẳng và nếu nằm ở góc bờ cong nhỏ làm cho góc này mở rộng.

3.4. Thay đổi các nếp niêm mạc

Độ dày của các nếp niêm mạc có thể thay đổi tuỳ theo độ căng của dạ dày. Sự thành sẹo hay tiến triển xơ hoá của ổ loét gây co kéo niêm mạc. Viêm dạ dày thể phì đại các nếp niêm mạc phình to, thô; ngược lại viêm teo niêm mạc thì các nếp niêm mạc bị xoá làm cho bề mặt dạ dày nhẵn, đồng đều. Nhưng những hình ảnh này không có giá trị chẩn đoán vì thường không phù hợp với kết quả nội soi sinh thiết.

4. MỘT SỐ BỆNH LÝ DẠ DÀY – TÁ TRÀNG HAY GẶP

4.1. Loét dạ dày

Tất cả các vùng của dạ dày đều có thể bị loét, nhưng vị trí hay gặp nhất là bờ cong nhỏ, sau đó đến ống môn vị, sàn phình vị, các mặt của hang vị và bờ cong lớn.

4.1.1. Loét bờ cong nhỏ: là những ổ loét ở bờ cong nhỏ giải phẫu trừ đoạn sát tâm vị và tiền môn vị.

Dấu hiệu X quang trực tiếp là hình ổ loét, gồm: – Loét nông: ổ loét chỉ nằm ở lớp niêm mạc nên hình lồi rất bé như gai hoa hồng.

– Loét trong thành: ổ loét đã ăn sâu vào lớp cơ có hình đáy tròn hoặc vuông

– Loét sắp thủng: ổ loét đào sâu tới lớp thanh mạc, có cuống như hình nấm hoặc hình dùi trống.

– Loét thủng bít: ổ loét đã bị thủng nhưng sau đó được bít lại, có khi có hình giả túi thừa gọi là ổ loét Haudeck có 3 mức cản quang baryte, dịch ứ đọng và hơi; đôi lúc có hình ngón tay đeo găng. Đôi khi do phù nề xung quanh làm cho chân hay thành ổ loét hơi lõm vào trong lòng dạ dày, hình này nông và mềm mại. Dấu hiệu gián tiếp gồm:

– Các nếp niêm mạc hội tụ về chân ổ loét.

+ Bờ cong nhỏ trên và dưới ổ loét có thể bị cứng trên một đoạn ngắn hoặc bị co rút và dính lại làm cho dạ dày có hình ốc sên. Trong trường hợp này thường ổ loét bị che lấp bởi phần dạ dày dính vào nhau.

+ Bờ cong lớn phía đối diện có ngấn lõm hình chữ V, lúc đầu dấu hiệu này tồn tại không thường xuyên về sau thường xuyên do xơ hoá.

+ Hang vị có thể bị viêm, tăng trương lực. Chẩn đoán xác định loét bờ cong nhỏ chủ yếu dựa vào dấu hiệu trực tiếp; các dấu hiệu gián tiếp quan trọng là các nếp niêm mạc hội tụ, bờ cong nhỏ bị co rút.

Chẩn đoán phân biệt đặt ra với các hình giống ổ loét: Các sóng nhu động, nếp niêm mạc nằm ngang, ổ đọng thuốc nằm giữa các nếp niêm mạc, hình chồng lên của góc treitz hoặc của túi thừa tá tràng… Trên phim chụp hàng loạt hình ổ loét tồn tại thường xuyên, cố định về hình dạng, kích thước, vị trí và số lượng, còn các hình giả ổ loét thường thay đổi.

Hình 2.29. Loét dạ dày. a. Hình ảnh đại thể: 1. Thanh mạc, 2. Lớp cơ, 3. Tổ chức đệm, 4. Lớp cơ niêm, 5. Lớp dưới niêm mạc, 6. Lớp niêm mạc.b. Sơ đồ giải phẫu: Hội tụ niêm mạc và ngấn lõm bờ cong lớn. c. Hình điện quang của ổ loét: 1. ổ loét, 2. cổ, 3. Viền phù nề, 4. Baryte trong lòng dạ dày.

4.1.2. Loét các vị trí khác của dạ dày

Dù vị trí nào khi bị loét cũng có các dấu hiệu như loét bờ cong nhỏ. Tuy nhiên, tuỳ theo đặc điểm hình thái từng vị trí mà có những dấu hiệu khác:

– Loét tiền môn vị: Là ổ loét nằmg sát môn vị, thường ổ loét nhỏ, chân lõm sâu; đồng thời vùng này thường có nhiều hình giả do sóng nhu động, do nếp niêm mạc nằm ngang…tạo nên những hình giống ổ loét. Vì vậy, chẩn đoán loét tiền môn vị nhiều khi gặp khó khăn.

– Loét môn vị: Ổ loét có thể nằm ở ống môn vị hoặc lệch về phía dạ dày hoặc về phía hành tá tràng. Ngoài ổ loét, ống môn vị có thể bị lệch hướng hoặc gập góc.

– Loét phình vị lớn thường gặp vùng dưới tâm vị và vùng sàn, ổ loét thường thấy trên phim chụp nghiêng hoặc dưới dạng vết treo thuốc.

-Loét mặt: Loét mặt sau hay gặp hơn loét mặt trước, thường chỉ thấy trên phim chụp niêm mạc, chụp đối quang kép hoặc phim nghiêng.

-Loét bờ cong lớn: Ổ loét thường lớn và nằm trên một vùng khuyết do bờ cong lớn lõm xuống

Hình 2.30. Các dạng ổ loét dạ dày. 1-9. Loét bờ cong nhỏ: 1.loét nông; 2-5. Loét trong thành (vết treo thuốc ở ổ loét); 6-7 ổ loét thủng bít: 6. hình ngốn tay đeo bao tay; 7. Ổ loét Haudeck; 8 và 9. Bờ cong nhỏ dạ dày co rút che lấp ổ loét; 10 Loét ống môn vị; 11. loét tiền môn vị; 2 và 13: Loét mặt sau chụp thẳng và nghiêng; 14. Loét bờ cong lớn.

4.2. Loét hành tá tràng

4.2. Loét hành tá tràng

Hình ảnh thay đổi tuỳ theo giai đoạn tiến triển của ổ loét:

– Giai đoạn phù nề: Hành tá tràng không biến dạng, ổ loét được bao quanh bởi một viền sáng do phù nề và niêm mạc hội tụ về chân ổ loét. Giai đoạn này thường thấy được trên phim vơi thuốc có ép.

– Giai đoạn xơ phù: Hành tá tràng biến dạng do quá trình xơ hoá co kéo, có nhiều kiểu biến dạng như hình hai cánh, ba cánh, hình đồng hồ cát, hình hai túi một túi giãn to và một teo nhỏ.

– Giai đoạn xơ teo: Hành tá tràng bị teo nhỏ, chỉ còn lại hình ảnh của ổ loét. Giai đoạn này thường kèm theo hẹp môn vị.

Hình 2.32. Loét hành tá tràng. 1.Loét non, 2,3,4. Loét biến dạng hành tá tràng, 5. Loét hành tá tràng teo nhỏ (xơ chai).

4.3. Loét sau hành tá tràng

4.3. Loét sau hành tá tràng

Thường thấy hình ảnh ổ loét với phần tá tràng trước và sau bị teo nhỏ (chủ yếu do phù nề) tạo nên hình ảnh”hạt ngọc xâu chỉ”.

Hình 2.34. Loét sau hành tá tràng. 1. Sau hành tá tràng, 2. Gối trên, 3. Loét D2.

4.4. Ung thư dạ dày

Hình 2.35. Ung thư dạ dày. 1 và 2. Hình cứng khu trú (thể thâm nhiễm), 3. Ung thư thể chai teo, 4. Ung thư thể loét, 5. Ung thư phình vị, 6. Ung thư phần đứng, 7. Ung thư hang vị, 8.Hẹp môn vị, 9. Loét ác tính góc bờ cong nhỏ, 10. Ung thư góc bờ cong nhỏ (góc mở rộng).

4.4.1. Ung thư giai đoạn đầu hay còn gọi là ung thư nông, tổn thương chỉ khu trú ở lớp niêm mạc chưa ăn sâu vào lớp cơ. Hình điện quang được chia làm 3 thể:

– Thể thâm nhiễm: Có thể biểu hiện bằng những hình cứng sau:

+ Một đoạn cứng nằm trên bờ cong.

+ Hình đục khoét là biểu hiện của một vùng cứng sụt thấp vào trong lòng dạ dày.

+ Hình phễu hay hình nón tương ứng với tổn thương thâm nhiễm vòng quanh vùng tiền môn vị

+ Hình uốn sóng hay hình mái tôn hay gặp ở bờ cong lớn. Nếu ung thư khu trú ở môn vị làm môn vị hẹp kéo dài và gập góc. Chẩn đoán phân biệt: Thể này cần phân biệt với viêm xơ hang vị, hình cứng do sẹo loét cũ.

– Thể loét: Thường ổ loét nông và rộng, có thể có các hình sau:

+ Loét hình khay hay hình đĩa: Ổ loét rộng, nông, đáy có thể phẳng hoặc cong

+ Loét thấu kính: Ổ loét rộng, nông, có hình thấu kính, không lồi lên khỏi bờ cong mà nằm trong hình khuyết. Nó biểu hiện của ổ loét ở cả mặt trước và mặt sau, vắt ngang qua bờ cong nhỏ.

+ Loét có chân đục khoét: Có thể là loét lành tính hoặc ác tính. Ổ loét ác tính có chân đục khoét sâu, ổ loét nằm sụt hẳn xuống, giới hạn giữa vùng lành và tổn thương là một góc đột ngột.

+ Ngoài ra một số ổ loét sau cũng có thể có khả năng ác tính: Ổ loét có đáy không đều; loét nằm trong hình khuyết; loét nằm trên một đoạn cứng hoặc ngay dưới ổ loét bờ cong có một đoạn cứng lún.

– Thể sùi: Biểu hiện bằng hình khuyết bờ không đều, cứng.

4.4.2. Ung thư giai đoạn muộn: Chẩn đoán tương đối dễ, các dấu hiệu của giai đoạn sớm rõ hơn, có khi cả ba thể phối hợp với nhau.

-Ung thư phình vị lớn thường là thể u sùi tạo nên hình mờ trong túi hơi dạ dày (hình”núi mặt trăng”)

-Ung thư hang vị làm hang vị hẹp, cứng có hình lõi táo hay hình đường hầm.

-Ung thư phần đứng chia dạ dày thành hai túi, ở giữa thắt hẹp nham nhở.

-Thể chai teo: Thường gặp ở bệnh nhân trẻ. Toàn bộ dạ dày xơ cứng lan toả, teo nhỏ. Thể này tiến triển rất nhanh.

4.5. Dạ dày đã mổ

4.5.1. Các loại phẫu thuật

Hình 2.38. Dạ dày đã mổ. 1.Nối vị tràng, 2. Tạo hình môn vị, 3. Cắt 2/3 dạ dày và nối Péan, 4. Nối Finsterer, 5. Nối polya, 6. Loét quai đi.

– Phẫu thuật bảo tồn có mục đích làm giảm a xít dạ dày bằng cách cắt dây thần kinh X kết hợp với nối dạ dày ruột hoặc tạo hình môn vị.

– Cắt 2/3 dạ dày nối dạ dày-tá tràng (kiểu Péan), nối dạ dày-hỗng tràng (kiểu Polya hoặc Finsterer).

4.5.2. Biến chứng

– Ngay sau mổ: Rò miệng nối, phát hiện bằng chụp dạ dày tá tràng với thuốc cản quang tan trong nước.

– Muộn: Viêm miệng nối; loét miệng nối hoặc loét quai đi, hội chứng quai tới.