Top 19 # Xem Nhiều Nhất Yếu Tố Nguy Cơ Ung Thư Buồng Trứng / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Các Yếu Tố Nguy Cơ Gây Nên Ung Thư Buồng Trứng / 2023

Ung thư buồng trứng là một trong những bệnh ung thư hay gặp của chị em phụ nữ, có một số yếu tố có thể tăng nguy cơ mắc căn bệnh này.

Ung thư buồng trứng thường hình thành và diễn biến âm thầm. Các chị em phụ nữ thường phát hiện căn bệnh này khi tình cờ đi khám sức khỏe hoặc khám phụ khoa. Hiện nay, nguyên nhân của bệnh ung thư buồng trứng vẫn chưa được biết một cách chính xác.

Tuy nhiên, các nhà khoa học đã chứng minh có một số yếu tố có thể làm tăng nguy cơ mắc căn bệnh này. Nếu có một hoặc nhiều hơn các yếu tố nguy cơ sau, bạn sẽ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn so với những người phụ nữ khác.

Các yếu tố nguy cơ bao gồm:

Tuổi tác

Nguy cơ mắc bệnh tăng dần theo độ tuổi. Bệnh xuất hiện chủ yếu ở phụ nữ trên 50 tuổi, đây là độ tuổi đã mãn kinh hoặc đang trong thời kỳ mãn kinh. Tuy nhiên, bệnh vẫn có thể gặp phải ở những phụ nữ trẻ hơn.

Ở giai đoạn mãn kinh, chị em thường phải trải qua những biến đổi về thể trạng và tâm lý. Hoạt động tiết chế của buồng trứng bắt đầu bị rối loạn và có thể ngưng hoạt động hẳn. Điều này gây suy giảm lượng Estrogen trong máu, nhất là Estradiol. Do đó, nguy cơ mắc ung thư buồng trứng ở giai đoạn này cũng cao hơn.

Do yếu tố sinh sản

Những phụ nữ độc thân không sinh con hoặc mất khả năng sinh sản, hoặc sinh con muộn ở ngoài độ tuổi 30, không cho con bú sữa mẹ cũng có nguy cơ mắc ung thư buồng trứng cao hơn so với những phụ nữ khác.

Các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng việc cho con bú mẹ sẽ giúp trì hoãn thời gian rụng trứng đồng thời làm giảm mức độ Oestrogen trong buồng trứng. Thời kỳ rụng trứng càng nhiều thì rủi ro hình thành nên các tế bào đột biến gây bệnh càng cao.

Đó là lý do mà những chị em phụ nữ không sinh con, sinh ít con hoặc không nuôi con bằng sữa mẹ thường có nguy cơ phải đối mặt với ung thư buồng trứng cao hơn.

Kinh nguyệt

Những người có kinh nguyệt sớm hoặc mãn kinh muộn cũng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn.

Lối sống

Các lối sống thiếu khoa học như thường xuyên ăn nhiều chất béo, hút thuốc lá, uống rượu, lười vận động, béo phì, tăng cân cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

Tiền sử bệnh của bản thân

Những phụ nữ có tiền sử mắc bệnh ung thư vú, ung thư đại trực tràng cũng là một trong những đối tượng có nguy cơ mắc ung thư buồng trứng cao hơn.

Ngoài ra, sử dụng liệu pháp hoocmon sau mãn kinh (uống thuốc, tiêm Estrogen…), dùng thuốc kích thích phóng noãn để điều trị vô sinh… cũng là những yếu tố nguy cơ của ung thư buồng trứng.

Khả năng chữa khỏi căn bệnh này ở chị em phụ nữ còn tùy thuộc vào bệnh được phát hiện vào giai đoạn nào.

Nếu phát hiện sớm, cơ hội chữa khỏi bệnh càng cao. Do đó, khi có những dấu hiệu bất thường trong cơ thể, đặc biệt là khi bạn có một hoặc nhiều các yếu tố nguy cơ trên, thì nên đi khám sức khỏe sinh sản định kỳ để đề phòng và phát hiện sớm bệnh ung thư buồng trứng nếu có.

Các Yếu Tố Nguy Cơ Ung Thư Buồng Trứng Là Gì? / 2023

Một yếu tố nguy cơ là bất cứ điều gì làm tăng khả năng mắc bệnh như ung thư. Các bệnh ung thư khác nhau có các yếu tố nguy cơ khác nhau. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra một số yếu tố nguy cơ ung thư buồng trứng. Tuy nhiên, những yếu tố nguy cơ này không áp dụng cho các loại ung thư buồng trứng ít phổ biến.

Nguy cơ phát triển ung thư buồng trứng sẽ tăng dần theo tuổi. Ung thư buồng trứng hiếm gặp ở phụ nữ dưới 40 tuổi. Hầu hết ung thư buồng trứng phát triển sau khi mãn kinh. Một nửa trong số người bệnh ung thư buồng trứng được tìm thấy ở phụ nữ từ 63 tuổi trở lên.

Có con muộn hoặc chưa từng thai đủ tháng

Phụ nữ mang thai lần đầu đủ tháng sau 35 tuổi hoặc chưa từng mang thai đủ tháng có nguy cơ mắc ung thư buồng trứng cao hơn nhóm ngược lại.

Phụ nữ sử dụng estrogen hoặc kết hợp với progesterone sau khi mãn kinh có nguy cơ phát triển ung thư buồng trứng so với những phụ nữ chưa bao giờ sử dụng hormone.

Có tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư buồng trứng, ung thư vú hoặc ung thư đại trực tràng

Ung thư buồng trứng có thể di truyền theo gia đình. Nguy cơ ung thư buồng trứng của bạn tăng lên nếu mẹ, chị gái hoặc con gái của bạn mắc ung thư buồng trứng. Nguy cơ cũng cao hơn khi bạn có nhiều người thân bị ung thư buồng trứng.

Hội chứng ung thư vú và buồng trứng di truyền

Đột biến gen BRCA1 và BRCA2 cũng là nguyên nhân cho hầu hết các bệnh ung thư buồng trứng di truyền. Đột biến ở BRCA1 và BRCA2 phổ biến hơn khoảng 10 lần ở những người Do Thái Ashkenazi so với những người trong dân Hoa Kỳ nói chung.

Nguy cơ ung thư buồng trứng suốt đời đối với phụ nữ có đột biến BRCA1 được ước tính là từ 35% đến 70%. Điều này có nghĩa là nếu 100 phụ nữ có đột biến BRCA1, thì có khoảng 35 đến 70 trong số họ sẽ bị ung thư buồng trứng. Đối với phụ nữ có đột biến BRCA2, nguy cơ được ước tính là từ 10% đến 30% ở tuổi 70. Những đột biến này cũng làm tăng nguy cơ ung thư biểu mô phúc mạc nguyên phát và ung thư biểu mô ống dẫn trứng. Nguy cơ mắc ung thư buồng trứng đối với phụ nữ trong quần thể nói chung là dưới 2%.

Phụ nữ mắc hội chứng này có nguy cơ mắc ung thư ruột kết rất cao và cũng có nguy cơ phát triển ung thư tử cung (ung thư nội mạc tử cung) và ung thư buồng trứng. Nhiều gen khác nhau có thể gây ra hội chứng này, bao gồm MLH1, MSH2, MSH6, PMS2 và EPCAM. Nguy cơ suốt đời của ung thư buồng trứng ở phụ nữ mắc ung thư đại tràng không do di truyền là khoảng 10%. Có tới 1% các ca ung thư biểu mô buồng trứng xảy ra ở những phụ nữ mắc hội chứng này.

Những người mắc hội chứng di truyền hiếm gặp này phát triển polyp ở dạ dày và ruột khi họ vẫn còn là thanh thiếu niên. Những đối tượng này cũng có nguy cơ mắc ung thư cao, đặc biệt là ung thư đường tiêu hóa (thực quản, dạ dày, ruột non, đại tràng). Phụ nữ mắc hội chứng này có nguy cơ mắc ung thư buồng trứng, bao gồm cả ung thư biểu mô buồng trứng biểu mô (Epithelial ovarian cancer-EOC) và u dây sinh dục nguyên thuỷ với ống hình khuyên (Sex Cord Tumors with Annular Tubules – SCTAT). Hội chứng này do bởi đột biến gen STK11.

Những người mắc hội chứng này phát triển polyp ở ruột kết và ruột non và có nguy cơ ung thư ruột kết cao. Họ cũng có nhiều khả năng phát triển các bệnh ung thư khác, bao gồm ung thư buồng trứng và bàng quang. Hội chứng này do đột biến gen MUTYH.

Phụ nữ đã mang thai và mang thai trước 26 tuổi có nguy cơ mắc ung thư buồng trứng thấp hơn so với những phụ nữ không có con. Nguy cơ càng giảm xuống với mỗi thai kỳ đủ tháng và cho con bú sữa mẹ hoàn toàn có thể làm giảm nguy cơ thấp hơn nữa.

Phụ nữ đã sử dụng thuốc tránh thai có nguy cơ ung thư buồng trứng thấp hơn. Nguy cơ càng thấp khi sử dụng thuốc càng lâu. Nguy cơ thấp hơn này tiếp tục vẫn còn hiệu lực trong nhiều năm sau khi ngừng thuốc. Các hình thức kiểm soát sinh sản khác như thắt ống dẫn trứng và sử dụng dụng cụ tránh thai đặt tử cung cũng làm nguy cơ ung thư buồng trứng thấp hơn.

Phẫu thuật cắt tử cung (cắt bỏ tử cung mà không cắt bỏ buồng trứng) cũng làm giảm khoảng một phần ba nguy cơ mắc ung thư buồng trứng.

Tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec hiện có Gói tầm soát và phát hiện sớm ung thư phụ khoa. Khi đăng ký gói dịch vụ, khách hàng được kiểm tra chức năng phụ khoa; Thực hiện xét nghiệm cần thiết giúp phát hiện sớm các bệnh ung thư cổ tử cung, ung thư buồng trứng ngay cả khi chưa có triệu chứng.

Khi đăng ký Gói tầm soát và phát hiện sớm ung thư phụ khoa, khách hàng sẽ được:

Khám, tư vấn với bác sĩ chuyên khoa Sản phụ khoa.

Tầm soát ung thư cổ tử cung bằng các xét nghiệm như xét nghiệm tế bào học bằng phương pháp Liqui Prep, xét nghiệm HPV genotype PCR hệ thống tự động, xét nghiệm siêu âm tử cung, buồng trứng qua đường âm đạo.

Quý khách có nhu cầu đăng ký khám và tư vấn có thể liên hệ hệ thống Bệnh viện, Phòng khám Vinmec trên toàn quốc TẠI ĐÂY

Các Yếu Tố Nguy Cơ Gây Ung Thư Vú / 2023

Yếu tố nguy cơ là yếu tố ảnh hưởng tới khả năng bị bệnh. Các loại ung thư khác nhau có các yếu tố nguy cơ khác nhau. Ví dụ, da tiếp xúc với ánh sáng mặt trời cường độ mạnh là một yếu tố nguy cơ gây ung thư da. Hút thuốc là yếu tố nguy cơ gây ung thư phổi, miệng, thanh quản, bàng quang, thận và một số cơ quan khác.

Tuy nhiên yếu tố nguy cơ không cho biết tất cả. Có một hoặc thậm chí một vài yếu tố nguy cơ không có nghĩa rằng bạn sẽ mắc bệnh. Phần lớn những phụ nữ có một hoặc một vài yếu tố nguy cơ gây ung thư vú không bao giờ mắc bệnh, trong khi nhiều phụ nữ mắc ung thư trong khi không có yếu tố nguy cơ nào (ngoài việc là một phụ nữ và đang già đi). Thậm chí khi một người phụ nữ có các nguy cơ mắc ung thư, cũng khó để biết rằng cần phải có bao nhiêu yếu tố để mắc bệnh.

1. Yếu tố nguy cơ không thể thay đổi

Giới tính nữ là yếu tố nguy cơ chính gây ung thư vú. Nam giới có thể mắc ung thư vú nhưng căn bệnh này phổ biến ở nữ hơn 100 lần so với nam. Điều này có thể do nam giới có ít hormon nữ (estrogen và progesteron) hơn trong khi các hormon này có thể thúc đẩy sự phát triển của tế bào ung thư vú.

Nguy cơ phát triển ung thư vú tăng lên theo độ tuổi. Khoảng 1/8 ca ung thư xâm lấn xảy ra ở phụ nữ dưới 45 tuổi trong khi 2/3 số ca ở phụ nữ trên 55 tuổi.

Khoảng 5-10% ca ung thư vú được cho là di truyền, có nghĩa là ung thư là kết quả trực tiếp từ các sai sót trong bộ gen (đột biến) di truyền từ bố hoặc mẹ.

ADN là một chất hóa học tồn tại trong mỗi tế bào của cơ thể, tạo nên bộ gen – mã hóa cho các chức năng của tế bào. Chúng ta thường trông giống với cha mẹ do cha mẹ là nguồn gen của chúng ta. Tuy vậy ADN không chỉ ảnh hưởng tới vẻ ngoài.

Một số gen quy định khi nào các tế bào sinh trưởng, nhân đôi thành các tế bào mới và chết đi. Gen làm tăng nhanh sự nhân đôi các tế bào được gọi là oncogen. Các gen làm chậm quá trình nhân đôi hoặc gây chết các tế bào vào thời gian thích hợp, được gọi là các gen ức chế khối u. Một số biến đổi (đột biến) trong ADN gây hoạt hóa các oncogen hoặc bất hoạt các gen ức chế khối u có thể biến tế bào tuyến vú bình thường trở thành tế bào ung thư.

Một số đột biến ADNdi truyền có thể tăng đột ngột nguy cơ phát triển ung thư và là nguyên nhân gây ra ung thư di truyền trong gia đình. Ví dụ, gen BRCA (BRCA1 và BRCA2) là các gen ức chế khối u. Đột biến ở một trong số các gen này có thể được di truyền từ bố mẹ. Khi một trong số các gen này bị đột biến, không còn yếu tố ức chế sự phát triển bất thường, ung thư có nguy cơ phát triển hơn.

Hiện nay, phụ nữ đã bắt đầu được hưởng lợi ích từ việc hiểu được cơ sở di truyền của ung thư vú. Xét nghiệm gen có thể xác định người có đột biến di truyền trên gen ức chế khối u BRCA1 hoặc BRCA2 (hoặc hiếm hơn là đột biến trên gen khác như PTEN hoặc TP53). Những người này có thể áp dụng các biện pháp để giảm thiểu nguy cơ phát triển của ung thư vú và theo dõi sự thay đổi ở tuyến vú một cách thận trọng để phát hiện ung thư ở giai đoạn sớm, có khả năng chữa trị cao hơn.

Xét nghiệm đột biến điểm mắc phải có thể giúp bác sĩ đánh giá chính xác hơn tình trạng ung thư vú. Ví dụ, xét nghiệm có thể xác định những người mắc ung thư vú có quá nhiều oncogen HER2, với những trường hợp này ung thư có xu hướng ác tính hơn. Đồng thời các thuốc được phát triển với đích tác dụng đặc biệt trên loại ung thư này và đã được chứng minh hiệu quả.

BRCA1 và BRCA2 : Nguyên nhân thường gặp nhất gây ung thư vú mang tính di truyền là đột biến di truyền trên gen BRCA1 và BRCA2. Ở các tế bào thường, các gen này giúp ngăn ngừa ung thư bằng cách tổng hợp các protein ngăn tế bào phát triển bất thường. Người mang bản sao đột biến của các gen này di truyền từ bố mẹ có nguy cơ cao mắc ung thư cao hơn trong suốt cuộc đời.

Mặc dù ở một số gia đình mang gen đột biến BRCA1, nguy cơ ung thư vú trong suốt cuộc đời khoảng 80%, trong khi trung bình nguy cơ này nằm trong khoảng 55 – 65%. Với gen BRCA2 đột biến, nguy cơ mắc bệnh thấp hơn, khoảng 45%.

Ở Mỹ, đột biến trên gen BRCA phổ biến ở người Do Thái có nguồn gốc Ashkenazi (Đông Âu) hơn các nhóm chủng tộc và dân tộc khác, tuy vậy điều này có thể xảy ra ở bất kỳ ai.

Biến đổi các gen khác : Các đột biến gen khác cũngcó thể dẫn tới ung thư vú di truyền. Các đột biến gen này hiếm hơn nhiều và thường không làm tăng nguy cơ ung thư vú nhiều như đột biến trên gen BRCA và không phải nguyên nhân thường gặp của ung thư vú di truyền.

Ở những người phụ nữ mà trong gia đình có người quan hệ huyết thống gần mắc bệnh, nguy cơ mắc bệnh sẽ cao hơn.

Nguy cơ mắc ung thư vú tăng khoảng 2 lần khi có quan hệ huyết thống trong phạm vi 1 thế hệ với người mắc bệnh (mẹ, chị hoặc con gái), tăng lên khoảng 3 lần khi có quan hệ huyết thống trong phạm vi 2 thế hệ với người mắc bệnh.

Ở những phụ nữ có cha hoặc anh trai bị ung thư vú, không xác định được chính xác nguy cơ mắc ung thư vú nhưng nguy cơ mắc bệnh ở những người này cũng cao hơn. Nói chung, dưới 15% phụ nữ mắc ung thư vú có thành viên trong gia đình mắc bệnh. Điều này có nghĩa là phần lớn (hơn 85%) phụ nữ mắc ung thư vú không có tiền sử gia đình mắc bệnh.

Nhữngphụ nữ mắc ung thư một bên vú có nguy cơ mắc ung thư mới ở bên vú còn lại hoặc phần khác của bên vú đó cao hơn 3-4 lần. Điều này khác với tái phát ung thư ban đầu.

Nhìn chung, phụ nữ da trắng thường mắc ung thư vú nhiều hơn phụ nữ Mỹ gốc phi, nhưng phụ nữ Mỹ gốc phi thường tử vong do ung thư vú nhiều hơn. Tuy nhiên, ở phụ nữ dưới 45 tuổi, ung thư vú phổ biến ở người Mỹ gốc phi hơn. Người châu Á, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, thổ dân châu Mỹ có nguy cơ mắc ung thư vú và tử vong thấp hơn.

Tuyến vú được tạo thành từ mô mỡ, mô xơ và mô tuyến. Một số người có mô tuyến vú đặc (quan sát trên phim chụp x-quang), tức là có nhiều mô tuyến và mô xơ, ít mô mỡ hơn. Người có tuyến vú đặc trên phim chụp x-quang có nguy cơ ung thư vú cao hơn 1,2 đến 2 lần so với người có mật độ vú trung bình. Tuy nhiên, mô vú đặc cũng khiến phim chụp kém chính xác hơn.

Một số yếu tố có thể ảnh hưởng tới mật độ vú, như tuổi, giai đoạn mãn kinh, một số thuốc (bao gồm liệu pháp hormon thay thế ở giai đoạn mãn kinh), mang thai và gen.

Người mang u tuyến vú lành tình có thể có nguy cơ ung thư vú cao hơn. Một số ảnh hưởng tới nguy cơ ung thư vú hơn những tình trạng còn lại. Bác sĩ thường chia u vú lành tình thành 3 nhóm chính, phụ thuộc vào sự ảnh hưởng của nó tới nguy cơ ung thư vú.

Thương tổn không tăng sinh : Các loại u vú lành tính này không đi kèm với sự tăng sinh mô tuyến vú. Các tình trạng này không ảnh hưởng tới nguy cơ ung thư vú, nếu có thì ảnh hưởng trong phạm vi rất nhỏ. Nhóm này bao gồm:

Xơ hóa và/hoặc nang đơn thuần (thường được gọi là bệnh xơ nang)

Mastitis (viêm vú) không phải một thương tổn, tuy nhiên đây là tình trạng có thể xảy ra mà không làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú.

Thương tổn có tăng sản (không thuộc thể không điển hình) : Các tình trạng này có sự tăng sinh quá mức ở ống dẫn sữa hoặc tiểu thùy ở mô tuyến vú, làm tăng nhẹ nguy cơ mắc ung thư vú ở phụ nữ (1,5-2 lần). Nhóm này bao gồm:

Thương tổn tăng sản không điển hình : Trong các trường hợp này, có sự tăng sinh của tế bào ở ống dẫn sữa hoặc tiểu thùy của mô tuyến vú, trong đó một số tế bào không còn ở trạng thái bình thường. Các tổn thương này ảnh hưởng lớn tới nguy cơ ung thư vú, làm tăng nguy cơ lên 3,5-5 lần. Các loại tổn thương này bao gồm:

Phụ nữ có tiền sử gia đình ung thư vú, đồng thời bị mắc chứng tăng sản hoặc tăng sản không điển hình có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn nhiều.

Trong LCIS, các tế bào giống tế bào ung thư phát triển trong tiểu thùy tuyến tiết sữa, tuy nhiên chúng không phát triển xuyên qua thành tiểu thùy. LCIS (còn được gọi là lobular neoplasia) thường được xếp vào nhóm ung thư vú không xâm lấn cùng với ung thư biểu mô ống dẫn sữa (DCIS – ductal carcinoma in situ) tại chỗ, tuy nhiên khác với DCIS ở chỗ nó không trở thành ung thư xâm lấn khi không điều trị.

Phụ nữ mắc tình trạng này có nguy cơ mắc ung thư xâm lấn gấp 7-11 lần ở cả 2 vú. Do đó, người mắc LCIS nên thường xuyên kiểm tra x-quang vú và thăm khám bác sĩ.

Nguy cơ mắc ung thư vú tăng nhẹ ở những phụ nữ có chu kỳ kinh nguyệt bắt đầu sớm (trước 12 tuổi) và/hoặc mãn kinh muộn (sau 55 tuổi). Mức độ tăng nguy cơ mắc bệnh có thể phụ thuộc vào thời gian phơi nhiễm với hormon estrogen và progesteron.

Nguy cơ mắc ung thư vú tăng đáng kể ở phụ nữ có tiền sử xạ trị ở vùng ngực để điều trị các loại ung thư khác (như lymphoma) khi còn nhỏ hoặc còn trẻ. Nguy cơ này thay đổi theo tuổi của bệnh nhân vào thời điểm xạ trị. Nếu đồng thời sử dụng hóa trị, buồng trứng có thể dừng sản xuất hormon trong một thời gian, điều này làm giảm nguy cơ mắc ung thư vú. Nguy cơ mắc ung thư vú do xạ trị cao nhất khi việc điều trị được thực hiện vào tuổi thiếu niên, khi tuyến vú đang phát triển. Xạ trị sau tuổi 40 dường như không làm tăng nguy cơ ung thư vú.

Từ những năm 1940 đến 1960, một số phụ nữ sử dụng thuốc diethylstilbestrol (DES) trong thời kỳ mang thai do thuốc này được cho là giảm nguy cơ xảy thai. Nguy cơ mắc ung thư vú ở những người này tăng nhẹ so với bình thường. Con của những người này cũng có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn.

2. Lối sống và nguy cơ ung thư vú

Nguy cơ mắc ung thư vú tăng nhẹ ở những phụ nữ không có con hoặc có con đầu lòng sau tuổi 30. Mang thai nhiều lần và mang thai khi còn trẻ làm giảm nguy cơ ung thư vú. Tuy vậy, ảnh hưởng của việc mang thai đối với các loại ung thư vú khác nhau thì khác nhau. Với một số thể ung thư vú , việc mang thai làm tăng nguy cơ ung thư.

Depot-medro xyprogesteron acetat (DMPA; Depo-Provera) là một progesteron dạng tiêm được sử dụng 3 tháng 1 lần để phòng tránh thai. Một vài nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng của DMPA trên nguy cơ ung thư vú. Phụ nữ trong thời gian sử dụng DMPA có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn, tuy nhiên nguy cơ mắc ung thư dường như không tăng lên khi dừng sử dụng thuốc trên 5 năm.

Liệu pháp sử dụng estrogen (thường kết hợp với progesteron) được sử dùng từ nhiều năm này để giảm triệu chứng mãn kinh và ngăn ngừa loãng xương. Các nghiên cứu trước đây đề xuất rằng nó có thể có các lợi ích khác cho sức khỏe, tuy nhiên các lợi ích này không được tìm thấy gần đây qua các nghiên cứu được thiết kế tốt hơn. Liệu pháp này được gọi bằng nhiều tên như liệu pháp hormon sau mãn kinh (post-menopausal hormone therapy), liệu pháp hormon thay thế (hormone replacement therapy) và liệu pháp hormon mãn kinh (menopausal hormon therapy).

Có 2 loại liệu pháp hormon chính. Với người còn tử cung, bác sĩ thường kê đơn cả estrogen và progesteron (được gọi là liệu pháp hormon kết hợp). Progesteron rất cần thiết do estrogen đơn độc làm tăng nguy cơ ung thư tử cung. Với người không còn tử cung (người đã từng phẫu thuật cắt tử cung), có thể kê estrogen đơn độc. Liệu pháp này thường được gọi là liệu pháp thay thế estrogen hoặc liệu pháp estrogen.

Các nghiên cứu cho thấy sử dụng liệu pháp hormon kết hợp sau khi mãn kinh làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú. Nó cũng tăng nguy cơ tử vong do ung thư vú.

Sử dụng estrogen đơn độc saumãn kinh không làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú.

Một số nghiên cứu cho kết quả gợi ý rằng việc cho con bú làm giảm nhẹ nguy cơ mắc ung thư vú, đặc biệt nếu cho bú liên tục từ 1,5 đến 2 năm. Tuy nhiên, điều này rất khó để nghiên cứu, đặc biệt ở các quốc gia như Mỹ, nơi mà việc cho bú trong thời gian dài không phải là phổ biến.

Ảnh hưởng này có thể do việc cho con bú làm giảm số lượng chu kỳ kinh nguyệt trong cuộc đời của người phụ nữ (tương tự với việc bắt đầu chu kỳ kinh nguyệt muộn hoặc sớm).

Sử dụng rượu có mối liên hệ rõ ràng với việc tăng nguy cơ mắc ung thư vú. Nguy cơ tăng lên tỷ lệ với lượng rượu tiêu thụ. So sánh với người không uống rượu, người uống 1 cốc rượu tiêu chuẩn một ngày có nguy cơ tặng rất ít. Người uống từ 2 đến 5 cốc mỗi ngày có nguy cơ cao hơn 1,5 lần so với người không uống rượu. Uống nhiều rượu cũng làm tăng nguy cơ mắc một số loại ung thư khác.

Tuy nhiên, quan hệ giữa cân nặng và nguy cơ ung thư vú rất phức tạp. Ví dụ, nguy cơ ung thư tăng lên ở những phụ nữ tăng cân ở tuổi trưởng thành nhưng có thể không tăng ở những người quá cân khi còn nhỏ. Tương tự, quá nhiều mỡ ở vùng eo có thể ảnh hưởng tới nguy cơ ung thư vú nhiều hơn cùng lượng mỡ đó ở vùng hông và đùi. Các nhà nghiên cứu tin rằng các tế bào mô mỡ ở các vùng khác nhau của cơ thể có sự khác biệt, điều này có thể giải thích cho sự ảnh hưởng phức tạp trên.

Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy hoạt động thể lực dưới dạng các bài tập thể dục làm giảm nguy cơ ung thư vú. Câu hỏi chính là cường độ cần thiết là bao nhiêu. Trong một nghiên cứu từ Cơ quan sáng kiến về sức khỏe phụ nữ, đi bộ nhanh khoảng 1,25 đến 2,5 giờ trên tuần làm giảm nguy cơ ung thư khoảng 18%/người. Đi bộ 10 giờ/tuần giảm nguy cơ hơn một chút nữa.

Nhiều nghiên cứu đã tìm hiểu mối liên hệ giữa chế độ ăn và nguy cơ ung thư vú, nhưng đến nay các kết quả vẫn còn nhiều mâu thuẫn. Một số nghiên cứu cho thấy chế độ ăn có thể đóng một vai trò trong sự phát triển ung thư, trong khi các nghiên cứu khác lại không thấy bằng chứng rằng chế độ ăn ảnh hưởng tới nguy cơ ung thư vú. Ví dụ, một nghiên cứu thấy rằng phụ nữ ăn nhiều thịt đỏ hơn có nguy cơ ung thư vú cao hơn.

Các nghiên cứu cũng chú ý tới nồng độ vitamin, và cũng thu được kết quả không thống nhất. Một số nghiên cứu hiện nay thấy rằng ở phụ nữ có nồng độ cao một số chất dinh dưỡng, nguy cơ ung thư vú tăng lên. Đến nay, không có nghiên cứu nào cho thấy rằng sử dụng vitamin làm giảm nguy cơ ung thư vú. Điều này không có nghĩa chế độ ăn lành mạnh không có lợi ích gì. Một chế độ ăn ít béo, ít các loại thịt đỏ và thịt qua chế biến, nhiều rau và hoa quả có thể có các lợi ích khác với sức khỏe.

Nhiều nghiên cứu đã và đang được thực hiện để đánh giá ảnh hưởng của môi trường lên nguy cơ ung thư vú.

Các hợp chất trong môi trường có tính chất tương tự estrogen được đặc biệt quan tâm, ví dụ, các hợp chất trong một số loại nhựa, một số mỹ phẩm và sản phẩm chăm sóc cá nhân, thuốc trừ sâu (như DDE), và các polychlorinat biphenyl (PCB). Các chất này theo lý thuyết có thể ảnh hưởng tới nguy cơ ung thư vú.

Vấn đề này là mối quan tâm lớn của cộng đồng, nhưng ở thời điểm này các nghiên cứu không cho thấy mối liên hệ rõ ràng giữa nguy cơ ung thư vú và sự phơi nhiễm với các chất này. Đáng tiếc rằng khó thực hiện các nghiên cứu về loại ảnh hưởng này ở người. Cần có thêm nghiên cứu để xác định ảnh hưởng tới sức khỏe của các chất này và các chất tương tự.

Một trọng tâm nghiên cứu hiện nay là việc hút thuốc thụ động có tăng nguy cơ ung thư vú hay không. Cả khói thuốc khi hút thuốc trực tiếp hay gián tiếp đều chứa các chất hóa học gây ung thư vú ở loài gặm nhấm ở nồng độ cao. Các chất hóa học trong khói thuốc tới mô tuyến vú và bài tiết ra sữa.

Bằng chứng nghiên cứu về mối quan hệ nữa hút thuốc thụ động và nguy cơ ung thư vú ở người còn gây tranh cãi, ít nhất một phần nào đó do mối quan hệ này còn chưa rõ ràng. Có thể giải thích cho điều này là khói thuốc lá có thể ảnh hưởng khác nhau với nguy cơ ung thư vú trên người hút thuốc và người chỉ phơi nhiễm với khói thuốc.

Một báo cáo từ Phòng bảo vệ môi trường California năm 2005 kết luận rằng bằng chứng cho thấy chắc chắn có mối quan hệ nhân quả giữa hút thuốc thụ động và nguy cơ ung thư vú ở người trẻ, đặc biệt phụ nữ trước mãn kinh. Báo cáo của Hiệp hội bác sĩ phẫu thuật năm 2004 lại kết luận rằng không có bằng chứng chắc chắn về mối liên hệ này. Trong bất kỳ trường hợp nào, nguy cơ này đủ để có lý do tránh việc hút thuốc thụ động.

Một số nghiên cứu cho thấy rằng phụ nữ làm việc về đêm (như y tá ca đêm) có thể có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn. Gần đây, nhiều nghiên cứu hơn được tiến hành về vấn đề này. Một số nhà nghiên cứu nghĩ rằng ảnh hưởng này có thể do sự thay đổi nồng độ melatonin, một hormon được bài tiết thay đổi dựa theo sự phơi nhiễm của cơ thể với ánh sáng, tuy nhiên các hormon khác cũng đang được nghiên cứu.

4. Các yếu tố còn tranh cãi hoặc chưa được chứng minh

Tin đồn trên internet và e-mail cho rằng các chất hóa học chống đổ mồ hôi dưới cánh tay được hấp thụ qua da, vào hệ bạch huyết, gây độc cho quá trình phát triển của tuyến vú và cuối cùng dẫn tới ung thư vú.

Dựa trên các bằng chứng hiện nay (bao gồm kiến thức về cơ chế hoạt động của cơ thể), có rất ít lý do để tin rằng các chất chống đổ mồ hồi làm tăng nguy cơ ung thư vú.

Tin đồn qua internet và e-mail và ít nhất một quyển sách cho rằng áo ngực gây ung thư vú do gây tắc nghẽn dòng bạch huyết. Không có cơ sở khoa học hay lâm sàng cho khẳng định này, và một nghiên cứu gần đây gồm 1500 phụ nữ cho thấy không có mối liên hệ giữa việc sử dụng áo ngực với nguy cơ ung thư vú.

Một số nghiên cứu cho dữ liệu chắc chắn rằng cả phá thai và xảy thai đều không có ảnh hưởng tới nguy cơ ung thư vú.

Một số nghiên cứu cho thấy rằng việc cấy ghép vú không làm tăng nguy cơ ung thư vú, mặc dù đặt túi silicon có thể gây mô sẹo trong vú. Việc cấy ghép có thể gây khó khăn để quan sát mô vú trong phim chụp x-quang chuẩn của vú, nhưng khi sử dụng hình ảnh thêm (additional x-ray pictures) , được gọi là hình ảnh thay thế cấy ghép (implant displacement view) có thể thăm khám mô vú một cách đầy đủ.

Cấy ghép vú có thể gây lymphoma thể hiếm gọi là lymphoma thểtế bào lớn thoái biến. Biến thể lymphoma này hiếm khi được thấy ở mô vú quanh nơi cấy ghép. Tới nay, có rất ít ca đã biết cho thấy nguy cơ mắc thể lymphoma này cao hơn ở những phụ nữ cấy ghép ngực.

Sinh viên Dược 5, Nguyễn Thị Minh Trang, ĐH Dược Hà Nội (dịch) DS. Võ Thị Hà (hiệu đính) Nguồn: Hội Ung Thư Mỹ http://www.cancer.org/cancer/breastcancer/detailedguide/breast-cancer-risk-factors

Yếu Tố Tăng Nguy Cơ Ung Thư Cổ Tử Cung / 2023

Yếu tố nguy cơ là bất kỳ điều gì có thể làm tăng cơ hội mắc một bệnh nào đó, như ung thư chẳng hạn. Các ung thư khác nhau có những yếu tố nguy cơ khác nhau. Ví dụ, tiếp xúc với ánh mặt trời mạnh là yếu tố nguy cơ của ung thư da, nhiễm HPV là yếu tố nguy cơ của ung thư cổ tử cung. Hút thuốc lại là yếu tố nguy cơ của nhiều loại ung thư khác nhau. Nhưng sở hữu một yếu tố nguy cơ, hay thậm chí là nhiều đi nữa, cũng không có nghĩa là bạn sẽ mắc bệnh.

Nhiều yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng phát triển ung thư cổ tử cung. Những phụ nữ không có yếu tố nguy cơ nào trong số này hiếm khi phát triển ung thư cổ tử cung. Mặc dù những yếu tố nguy cơ này làm tăng tỷ lệ phát triển ung thư cổ tử cung, nhiều phụ nữ có những nguy cơ này lại không phát triển bệnh. Khi một người phát triển ung thư cổ tử cung hay các tổn thương tiền ung thư, không thể khẳng định một cách chắc chắn rằng một yếu tố nguy cơ đặc biết nào là nguyên nhân.

Khi suy nghĩ về các yếu tố nguy cơ, nó giúp bạn tập trung vào những yếu tố có thể tránh thay đổi (như hút thuốc hay HPV) hơn là nhưng yếu tố không thể thay đổi được (như là tuổi hay tiền sử gia đình). Dù vậy, việc biết về các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được vẫn rất quan trọng, bởi vì nó thậm chí còn quan trọng hơn cho những phụ nữ có các yếu tố nguy cơ này để tiến hành tầm soát sớm ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm Pap thường quy.

Những yếu tố nguy cơ của ung thư cổ tử cung bao gồm:

Đây là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của ung thư cổ tử cung.

Về vấn đề HPV, mọi người có thể tìm đọc lại bài viết HPV – nguyên nhân chính gây ung thư cổ tử ung & vaccine phòng ngừa.

Khi một người hút thuốc, họ và những người xung quanh đang “hưởng” rất nhiều những chất hoá học gây ung thư vốn tác động lên nhiều cơ quan khác chứ không phải chỉ có phổi. Những chất hoá học nguy hại này được hấp thụ qua phổi rồi theo dòng máu đi khắp cơ thể. Những phụ nữ có hút thuốc có khả năng mắc ung thư cổ tử cung gấp 2 lần người không hút. Những sản phẩm phụ của thuốc lá đã được tìm thấy trong chất nhầy cổ tử cung của những phụ nữ có hút thuốc. Các nhà nghiên cứu tiên rằng những chất này phá huỷ DNA của những tế bào cổ tử cung và có thể góp phần vào sự phát triển của ung thư cổ tử cung. Ngoài ra, hút thuốc còn làm giảm hiệu quả của hệ miễn dịch để có thể chiến đấu chống chọi với HPV.

HIV phá huỷ hệ miễn dịch và đặt phụ nữ vào một nguy cơ mắc HPV cao hơn. Điều này có thể giải thích tại sao phụ nữ mắc AIDS (Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người, do HIV gây ra) có nguy cơ ung thư cổ tử cung cao hơn. Hệ miễn dịch có vài trò quan trọng trong việc tiêu diệt tế bào ung thư cũng như làm chậm sự phát triển và lây lan của nó. ở phụ nữ nhiễm HIV, một tổn thương tiền ung thư cổ tử cung có thể diễn tiến thành ung thư xấm lấn nhanh hơn bình thường.

Một nhóm khác có nguy cơ cao là những phu nữ đang sử dụng thuốc ức chế miễn dịch, ví dụ như những người đang phải điều trị bệnh tự miễn (là bệnh mà hệ miễn dịch của nhầm lẫn mô của cơ thể với các tác nhân từ bên ngoài và tấn công nó) hoặc để chống thải ghép.

Chlamydia là một loại vi khuẩn gây viêm nhiễm sinh dục tương đối phổ biến, lây truyền qua đường quan hệ tình dục. Nhiếm Chlamydia có thể gây ra viêm khung chậu, dẫn đến vô sinh. Một số nghiên cứu đã thấy rằng nguy cơ ung thư cổ tử cung là cao hơn ở những người phụ nữ mà kết quả xét nghiệm máu chỉ ra bằng chứng của việc đã hoặc đang nhiễm chlamydia (so với những phụ nữ có kết quả xét nghiệm trong giới hạn bình thường). Những phụ nữ đã nhiễm chlamydia thường không cảm nhận thấy triệu chứng nào. Thực tế, họ không thể biết mình đã bị nhiễm trừ khi làm xét nghiệm tìm chlamydia khi đến khám phụ khoa.

Những phụ nữ có chế độ ăn không đủ rau và trái cây có thể tăng nguy cơ đối với ung thư cổ tử cung.

Phụ nữ thừa cân tăng nguy cơ mắc ung thư tế bào tuyến nội mạc tử cung.

Sử dụng thuốc tranh thai trong thời gian dài

Chúng tôi đã có đề cập đến sử dụng thuốc tránh thai đường uống với các nguy cơ ung thư, trong đó có ung thư cổ tử cung.

Bạn có thể đọc lại bài viết Thuốc tránh thai – yếu tố nguy cơ hay bảo vệ trước ung thư .

Một nghiên cứ gần đây thấy rằng những phụ nữ đã từng sử dụng dụng cụ tử cung có nguy cơ ung thư cổ tử cung thấp hơn. Hiệu quả này thậm chí cũng được thấy trên những phụ nữ sử dụng dụng cụ tử cung dưới một năm, và hiệu quả bảo vệ còn được duy trì sau khi đã chấm dứt đặt dụng cụ tử cung.

Những phụ nữ có từ 3 lần sinh trở lên có nguy cơ ung thư cổ tử cung cao hơn bình thường. không ai có thể nói chính xác tại sao điều này lại đúng. Một lý thuyết cho rằng những phụ nữ này ắt đã quan hệ tình dục mà không thực hiện các biện pháp bảo vệ , do đó làm tăng nguy cơ nhiễm HPV. Nhiều nghiên cứu cũng hướng đến sự thay đổi hormone trong thai kỳ như một khả năng có thể khiến phụ nữ trở nên nhạy cảm với nhiễm HPV cũng như phát triển ung thư. Một suy nghĩ khác là phụ nữ trong thai kỳ có hệ miễn dịch yếu hơn, cho phép HPV dễ dàng xâm nhập hơn cũng như ung thư dễ phát triển hơn

Phụ nữ sinh con trước 17 tuổi có nguy cơ ung thư cổ tử cung sau này gấp 2 lần so với những người đợi đến 25 tuổi hoặc hơn.

Nhiều phụ nữ có thu nhập thấp không có khả năng để sử dụng đầy đủ dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, bao gồm Pap test. Điều này có nghĩa họ không thể được tầm soát hay điều trị các tổn thương tiền ung thư.

Tiền sử gia đình có người mắc ung thư cổ tử cung

Nếu mẹ hoặc chị của bạn mắc ung thư cổ tử cung, xác suất để bạn có thể mắc cao hơn từ 2 đến 3 lần so với nếu không ai trong gia đình từng mắc nó. Một số nhà nghiên cứu nghi ngờ rằng một số trường hợp mang tính gia đình này bị gây ra bởi một tình trạng được thừa hưởng mà làm cho người phụ nữ ít có khả năng chống chọi HPV hơn so với những người khác. Trong nhiều trường hợp khác, những phụ nữ trong cùng gia đình với bệnh nhân đã được chẩn đoán nhiều khả năng có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ đã chỉ ra ở trên.

Mặc dù, yếu tố nguy cơ của ung thư cổ tử cung thì có nhiều, nhưng quan trọng nhất vẫn là HPV. Việc nhận thức được các yếu tố nguy cơ cùng với tiêm ngừa HPV cũng như tầm soát ung thư cổ tử cung sẽ góp phần đáng kể trong việc giảm tỉ lệ phát triển ung thư và tử vong do ung thư cổ tử cung.

Chịu trách nhiệm thông tin: Đặng Phước Hưng. Cố vấn Y học: Dr. Dustin Nguyen, chúng tôi Inc. USA.

‘;