Top 18 # Xem Nhiều Nhất Yếu Tố Nguy Cơ Ung Thư Cổ Tử Cung / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Yếu Tố Tăng Nguy Cơ Ung Thư Cổ Tử Cung / 2023

Yếu tố nguy cơ là bất kỳ điều gì có thể làm tăng cơ hội mắc một bệnh nào đó, như ung thư chẳng hạn. Các ung thư khác nhau có những yếu tố nguy cơ khác nhau. Ví dụ, tiếp xúc với ánh mặt trời mạnh là yếu tố nguy cơ của ung thư da, nhiễm HPV là yếu tố nguy cơ của ung thư cổ tử cung. Hút thuốc lại là yếu tố nguy cơ của nhiều loại ung thư khác nhau. Nhưng sở hữu một yếu tố nguy cơ, hay thậm chí là nhiều đi nữa, cũng không có nghĩa là bạn sẽ mắc bệnh.

Nhiều yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng phát triển ung thư cổ tử cung. Những phụ nữ không có yếu tố nguy cơ nào trong số này hiếm khi phát triển ung thư cổ tử cung. Mặc dù những yếu tố nguy cơ này làm tăng tỷ lệ phát triển ung thư cổ tử cung, nhiều phụ nữ có những nguy cơ này lại không phát triển bệnh. Khi một người phát triển ung thư cổ tử cung hay các tổn thương tiền ung thư, không thể khẳng định một cách chắc chắn rằng một yếu tố nguy cơ đặc biết nào là nguyên nhân.

Khi suy nghĩ về các yếu tố nguy cơ, nó giúp bạn tập trung vào những yếu tố có thể tránh thay đổi (như hút thuốc hay HPV) hơn là nhưng yếu tố không thể thay đổi được (như là tuổi hay tiền sử gia đình). Dù vậy, việc biết về các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được vẫn rất quan trọng, bởi vì nó thậm chí còn quan trọng hơn cho những phụ nữ có các yếu tố nguy cơ này để tiến hành tầm soát sớm ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm Pap thường quy.

Những yếu tố nguy cơ của ung thư cổ tử cung bao gồm:

Đây là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của ung thư cổ tử cung.

Về vấn đề HPV, mọi người có thể tìm đọc lại bài viết HPV – nguyên nhân chính gây ung thư cổ tử ung & vaccine phòng ngừa.

Khi một người hút thuốc, họ và những người xung quanh đang “hưởng” rất nhiều những chất hoá học gây ung thư vốn tác động lên nhiều cơ quan khác chứ không phải chỉ có phổi. Những chất hoá học nguy hại này được hấp thụ qua phổi rồi theo dòng máu đi khắp cơ thể. Những phụ nữ có hút thuốc có khả năng mắc ung thư cổ tử cung gấp 2 lần người không hút. Những sản phẩm phụ của thuốc lá đã được tìm thấy trong chất nhầy cổ tử cung của những phụ nữ có hút thuốc. Các nhà nghiên cứu tiên rằng những chất này phá huỷ DNA của những tế bào cổ tử cung và có thể góp phần vào sự phát triển của ung thư cổ tử cung. Ngoài ra, hút thuốc còn làm giảm hiệu quả của hệ miễn dịch để có thể chiến đấu chống chọi với HPV.

HIV phá huỷ hệ miễn dịch và đặt phụ nữ vào một nguy cơ mắc HPV cao hơn. Điều này có thể giải thích tại sao phụ nữ mắc AIDS (Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người, do HIV gây ra) có nguy cơ ung thư cổ tử cung cao hơn. Hệ miễn dịch có vài trò quan trọng trong việc tiêu diệt tế bào ung thư cũng như làm chậm sự phát triển và lây lan của nó. ở phụ nữ nhiễm HIV, một tổn thương tiền ung thư cổ tử cung có thể diễn tiến thành ung thư xấm lấn nhanh hơn bình thường.

Một nhóm khác có nguy cơ cao là những phu nữ đang sử dụng thuốc ức chế miễn dịch, ví dụ như những người đang phải điều trị bệnh tự miễn (là bệnh mà hệ miễn dịch của nhầm lẫn mô của cơ thể với các tác nhân từ bên ngoài và tấn công nó) hoặc để chống thải ghép.

Chlamydia là một loại vi khuẩn gây viêm nhiễm sinh dục tương đối phổ biến, lây truyền qua đường quan hệ tình dục. Nhiếm Chlamydia có thể gây ra viêm khung chậu, dẫn đến vô sinh. Một số nghiên cứu đã thấy rằng nguy cơ ung thư cổ tử cung là cao hơn ở những người phụ nữ mà kết quả xét nghiệm máu chỉ ra bằng chứng của việc đã hoặc đang nhiễm chlamydia (so với những phụ nữ có kết quả xét nghiệm trong giới hạn bình thường). Những phụ nữ đã nhiễm chlamydia thường không cảm nhận thấy triệu chứng nào. Thực tế, họ không thể biết mình đã bị nhiễm trừ khi làm xét nghiệm tìm chlamydia khi đến khám phụ khoa.

Những phụ nữ có chế độ ăn không đủ rau và trái cây có thể tăng nguy cơ đối với ung thư cổ tử cung.

Phụ nữ thừa cân tăng nguy cơ mắc ung thư tế bào tuyến nội mạc tử cung.

Sử dụng thuốc tranh thai trong thời gian dài

Chúng tôi đã có đề cập đến sử dụng thuốc tránh thai đường uống với các nguy cơ ung thư, trong đó có ung thư cổ tử cung.

Bạn có thể đọc lại bài viết Thuốc tránh thai – yếu tố nguy cơ hay bảo vệ trước ung thư .

Một nghiên cứ gần đây thấy rằng những phụ nữ đã từng sử dụng dụng cụ tử cung có nguy cơ ung thư cổ tử cung thấp hơn. Hiệu quả này thậm chí cũng được thấy trên những phụ nữ sử dụng dụng cụ tử cung dưới một năm, và hiệu quả bảo vệ còn được duy trì sau khi đã chấm dứt đặt dụng cụ tử cung.

Những phụ nữ có từ 3 lần sinh trở lên có nguy cơ ung thư cổ tử cung cao hơn bình thường. không ai có thể nói chính xác tại sao điều này lại đúng. Một lý thuyết cho rằng những phụ nữ này ắt đã quan hệ tình dục mà không thực hiện các biện pháp bảo vệ , do đó làm tăng nguy cơ nhiễm HPV. Nhiều nghiên cứu cũng hướng đến sự thay đổi hormone trong thai kỳ như một khả năng có thể khiến phụ nữ trở nên nhạy cảm với nhiễm HPV cũng như phát triển ung thư. Một suy nghĩ khác là phụ nữ trong thai kỳ có hệ miễn dịch yếu hơn, cho phép HPV dễ dàng xâm nhập hơn cũng như ung thư dễ phát triển hơn

Phụ nữ sinh con trước 17 tuổi có nguy cơ ung thư cổ tử cung sau này gấp 2 lần so với những người đợi đến 25 tuổi hoặc hơn.

Nhiều phụ nữ có thu nhập thấp không có khả năng để sử dụng đầy đủ dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, bao gồm Pap test. Điều này có nghĩa họ không thể được tầm soát hay điều trị các tổn thương tiền ung thư.

Tiền sử gia đình có người mắc ung thư cổ tử cung

Nếu mẹ hoặc chị của bạn mắc ung thư cổ tử cung, xác suất để bạn có thể mắc cao hơn từ 2 đến 3 lần so với nếu không ai trong gia đình từng mắc nó. Một số nhà nghiên cứu nghi ngờ rằng một số trường hợp mang tính gia đình này bị gây ra bởi một tình trạng được thừa hưởng mà làm cho người phụ nữ ít có khả năng chống chọi HPV hơn so với những người khác. Trong nhiều trường hợp khác, những phụ nữ trong cùng gia đình với bệnh nhân đã được chẩn đoán nhiều khả năng có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ đã chỉ ra ở trên.

Mặc dù, yếu tố nguy cơ của ung thư cổ tử cung thì có nhiều, nhưng quan trọng nhất vẫn là HPV. Việc nhận thức được các yếu tố nguy cơ cùng với tiêm ngừa HPV cũng như tầm soát ung thư cổ tử cung sẽ góp phần đáng kể trong việc giảm tỉ lệ phát triển ung thư và tử vong do ung thư cổ tử cung.

Chịu trách nhiệm thông tin: Đặng Phước Hưng. Cố vấn Y học: Dr. Dustin Nguyen, chúng tôi Inc. USA.

‘;

Các Yếu Tố Nguy Cơ Của Ung Thư Cổ Tử Cung / 2023

Ung thư cổ tử cung là một loại ung thư xảy ra trong các tế bào của cổ tử cung phần dưới của tử cung kết nối với âm đạo. Khi tiếp xúc với vi-rút, hệ thống miễn dịch của cơ thể thường ngăn chặn vi-rút gây hại. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, virus tồn tại trong nhiều năm, góp phần vào quá trình khiến một số tế bào cổ tử cung trở thành tế bào ung thư. Để giảm nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung, bạn nên kiểm tra sàng lọc và tiêm vắc-xin HPV.

Ung thư cổ tử cung xảy ra khi sự phát triển bất thường của các tế bào (loạn sản) được tìm thấy trên cổ tử cung, nằm giữa âm đạo và tử cung. Nó thường phát triển trong vài năm. Vì có rất ít triệu chứng, nhiều phụ nữ thậm chí không biết mình mắc bệnh.

Thông thường ung thư cổ tử cung được phát hiện trong phết tế bào Pap, khi khám phụ khoa. Nếu nó được tìm thấy kịp thời, nó có thể được xử lý trước khi nó gây ra vấn đề lớn.

Nhiễm trùng papillomavirus ở người (HPV) là một trong những yếu tố nguy cơ bị ung thư cổ tử cung quan trọng nhất để các tế bào phát triển thành ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên, cũng có những yếu tố khác có thể khiến bạn gặp nguy hiểm.

Ung thư cổ tử cung bắt đầu khi các tế bào khỏe mạnh trong cổ tử cung phát triển những thay đổi (đột biến) trong DNA của chúng. Các tế bào khỏe mạnh phát triển và nhân lên với tốc độ xác định, cuối cùng sẽ chết theo thời gian định sẵn. Các đột biến của các tế bào phát triển và nhân lên khỏi tầm kiểm soát và chúng không chết. Các tế bào bất thường tích lũy tạo thành một khối (khối u). Các tế bào ung thư xâm lấn các mô gần đó và có thể vỡ ra từ một khối u để di căn (di căn) ở những nơi khác trong cơ thể.

Không rõ nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung, nhưng chắc chắn rằng HPV là một trong những yếu tố nguy cơ. HPV rất phổ biến và hầu hết những người nhiễm virus không bao giờ bị ung thư. Điều này có nghĩa là các yếu tố khác – chẳng hạn như môi trường hoặc lựa chọn lối sống của bạn – cũng quyết định đến việc bạn có bị ung thư cổ tử cung hay không.

3.1. Nhiễm trùng papillomavirus ở người (HPV)

HPV có thể lây nhiễm các tế bào trên bề mặt da, và những tế bào lót của bộ phận sinh dục, hậu môn, miệng và cổ họng, nhưng không phải máu hoặc các cơ quan nội tạng như tim hoặc phổi.

HPV có thể lây lan từ người này sang người khác trong quá trình tiếp xúc da kề da. HPV cũng thông lây qua hoạt động tình dục, bao gồm cả quan hệ tình dục qua đường âm đạo, hậu môn và thậm chí bằng miệng.

Các loại HPV khác nhau gây ra mụn cóc trên các bộ phận khác nhau của cơ thể. Một số nguyên nhân gây ra mụn cóc phổ biến ở tay và chân; một số trường hợp gây ra mụn cóc trên môi hoặc lưỡi.

3.2. Quan hệ tình dục

Có nhiều bạn tình, số lượng bạn tình càng nhiều thì nguy cơ bị nhiễm virus càng cao. Một số đối tác có nguy cơ cao như người bị nhiễm HPV hoặc có nhiều bạn tình.

Lạc nội mạc tử cung là một bệnh lý ngày càng nhận được sự quan tâm trong thời gian gần đây, trong đó các mô đáng lẽ phát triển trong tử cung lại được tìm thấy ở các bộ phận khác trên cơ thể. Những mô này có thể có đáp ứng hoặc có chức năng khác so với mô phát triển trong tử cung.

3.4. Hút thuốc

Khi ai đó hút thuốc, họ và những người xung quanh tiếp xúc với nhiều hóa chất gây ung thư ảnh hưởng đến các cơ quan khác ngoài phổi. Những chất có hại này được hấp thụ qua phổi và được máu mang đi khắp cơ thể.

Phụ nữ hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao gấp đôi so với người không hút thuốc. Các thành phần của thuốc lá đã được tìm thấy trong chất nhầy cổ tử cung của phụ nữ hút thuốc. Các nhà nghiên cứu tin rằng những chất này làm hỏng DNA của các tế bào cổ tử cung và có thể góp phần vào sự phát triển của ung thư cổ tử cung. Hút thuốc cũng làm cho hệ thống miễn dịch kém hiệu quả trong việc chống lại nhiễm trùng HPV.

3.5. Có một hệ thống miễn dịch yếu

Virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV), loại virus gây ra AIDS, làm suy yếu hệ thống miễn dịch và khiến mọi người có nguy cơ nhiễm trùng HPV cao hơn.

Hệ thống miễn dịch rất quan trọng trong việc tiêu diệt các tế bào ung thư và làm chậm sự phát triển và lây lan của chúng. Ở phụ nữ nhiễm HIV, tiền ung thư cổ tử cung có thể phát triển thành ung thư xâm lấn nhanh hơn bình thường.

Một nhóm phụ nữ khác có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung là những người dùng thuốc để ngăn chặn phản ứng miễn dịch của cơ thể như những người đang điều trị bệnh tự miễn (trong đó hệ thống miễn dịch coi các mô của cơ thể là ngoại lai và tấn công họ).

3.6. Nhiễm Chlamydia

Chlamydia là một loại vi khuẩn tương đối phổ biến có thể lây nhiễm vào hệ thống sinh sản. Nó được lan truyền bởi tiếp xúc tình dục. Phụ nữ bị nhiễm chlamydia thường không có triệu chứng và họ có thể không biết rằng họ bị nhiễm bệnh trừ khi khám phụ khoa. Nhiễm chlamydia có thể là nguy cơ dẫn đến ung thư cổ tử cung, gây viêm vùng chậu, dẫn đến vô sinh.

Một số nghiên cứu đã cho thấy nguy cơ ung thư cổ tử cung cao hơn ở những phụ nữ có xét nghiệm máu và chất nhầy cổ tử cung đã từng nhiễm chlamydia trong quá khứ hoặc hiện tại. Một số nghiên cứu cho thấy vi khuẩn Chlamydia có thể giúp HPV phát triển và sống trong cổ tử cung có thể làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung.

3.7. Sử dụng thuốc tránh thai trong thời gian dài

Có bằng chứng cho thấy uống thuốc tránh thai trong một thời gian dài làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung. Nghiên cứu cho thấy rằng nguy cơ ung thư cổ tử cung tăng lên khi phụ nữ dùng thuốc tránh thai lâu dài, nhưng nguy cơ lại quay trở lại sau khi dừng sử dụng thuốc tránh thai và trở lại bình thường sau nhiều năm.

3.8. Mang thai nhiều lần

Phụ nữ đã mang thai đủ 3 lần trở lên có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao hơn. Người ta cho rằng điều này có lẽ là do sự gia tăng phơi nhiễm với nhiễm trùng HPV với hoạt động tình dục. Ngoài ra, các nghiên cứu đã chỉ ra những thay đổi nội tiết tố trong thai kỳ vì có thể khiến phụ nữ dễ bị nhiễm vi-rút hoặc tăng trưởng ung thư. Một suy nghĩ khác là phụ nữ mang thai có thể có hệ thống miễn dịch yếu hơn, khiến cơ thể bị nhiễm HPV và phát triển thành ung thư.

3.9. Tuổi trẻ khi mang thai đủ tháng

Phụ nữ dưới 20 tuổi mang thai lần đầu tiên sẽ có khả năng bị ung thư cổ tử cung sớm hơn so với những phụ nữ mang thai sau 25 tuổi.

3.10. Tình trạng kinh tế

Nhiều phụ nữ có thu nhập thấp không dễ dàng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đầy đủ, bao gồm sàng lọc ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm Pap và xét nghiệm HPV. Điều này có nghĩa là họ có thể không được sàng lọc hoặc điều trị ung thư cổ tử cung.

Để phòng ngừa ung thư cổ tử cung, bạn nên tiêm phòng vắc-xin HPV. Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec đã và đang triển khai dịch vụ tiêm chủng với nhiều loại vắc-xin đa dạng cho các đối tượng khác nhau, từ trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, người lớn, phụ nữ trước và trong khi mang thai. Trong đó có vắc-xin phòng bệnh ung thư cổ tử cung. Những ưu điểm khi tiêm vắc-xin tại Vinmec bao gồm:

Bệnh nhân sẽ được các bác sĩ chuyên khoa thăm khám, sàng lọc đầy đủ các vấn đề về thể trạng và sức khỏe, tư vấn về vắc-xin phòng bệnh và phác đồ tiêm, cách theo dõi và chăm sóc sau tiêm chủng trước khi ra chỉ định tiêm vắc-xin theo khuyến cáo mới nhất của Bộ Y tế & Tổ chức Y tế thế giới nhằm đảm bảo hiệu quả tốt nhất và an toàn nhất cho trẻ.

Đội ngũ bác sĩ và điều dưỡng nhi giàu kinh nghiệm, chuyên nghiệp, hiểu tâm lý trẻ và áp dụng cách giảm đau hiệu quả cho trẻ trong quá trình tiêm chủng.

100% bệnh nhân được tiêm chủng được theo dõi 30 phút sau tiêm và đánh giá lại sức khỏe trước khi ra về.

Được theo dõi đa khoa trước, trong và sau tiêm chủng tại Hệ thống y tế Vinmec và luôn có ekip cấp cứu sẵn sàng phối hợp với phòng tiêm chủng xử trí các trường hợp sốc phản vệ, suy hô hấp – ngừng tuần hoàn, đảm bảo xử lý kịp thời, đúng phác đồ khi có sự cố xảy ra.

Vắc-xin được nhập khẩu và bảo quản tại hệ thống kho lạnh hiện đại, với dây chuyền bảo quản lạnh (Cold chain) đạt tiêu chuẩn GSP, giữ vắc-xin trong điều kiện tốt nhất để đảm bảo chất lượng.

Để đăng ký tiêm phòng, Quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp đến Hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc hoặc đặt hẹn TẠI ĐÂY.

Nguyên Nhân, Yếu Tố Nguy Cơ Và Cách Phòng Ngừa Ung Thư Cổ Tử Cung / 2023

Bài viết được viết bởi Bác sĩ chuyên khoa I Nguyễn Thị Minh Thuyên – Bác sĩ Giải phẫu bệnh, Khoa giải phẫu bệnh – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng. Ung thư cổ tử cung là bệnh lý ác tính chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Tìm hiểu về các yếu tố nguy cơ và nguyên nhân gây bệnh ung thư cổ tử cung sẽ giúp mỗi người có biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn.

Yếu tố nguy cơ là bất cứ yếu tố gì ảnh hưởng đến khả năng mắc bệnh. Các ung thư khác nhau có các yếu tố nguy cơ khác nhau. Ví dụ, để da tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời là một yếu tố nguy cơ gây ung thư da. Hút thuốc là một yếu tố nguy cơ cho nhiều bệnh ung thư. Nhưng có một yếu tố nguy cơ, hoặc thậm chí một số, không có nghĩa là bạn sẽ mắc bệnh.

Một vài yếu tố nguy cơ có thể làm tăng khả năng mắc ung thư cổ tử cung. Phụ nữ không có bất kỳ yếu tố nguy cơ nào hiếm khi bị ung thư cổ tử cung. Mặc dù các yếu tố nguy cơ này có thể làm tăng tỷ lệ mắc ung thư cổ tử cung nhưng nhiều phụ nữ có những nguy cơ này lại không mắc bệnh.

Khi bạn nghĩ về các yếu tố nguy cơ, nó sẽ giúp bạn tập trung vào những điều bạn có thể thay đổi hoặc tránh (như hút thuốc hoặc nhiễm papillomavirus ở người), hơn là những điều bạn không thể thay đổi (như tuổi và tiền sử gia đình). Tuy nhiên, điều quan trọng là phải biết về các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi, bởi vì những phụ nữ có các yếu tố này cần được kiểm tra sàng lọc thường xuyên để phát hiện sớm ung thư cổ tử cung.

1.1.1 Nhiễm papillomavirus ở người (HPV)

HPV có thể lây nhiễm các tế bào trên bề mặt da, và những tế bào lót bộ phận sinh dục, hậu môn, miệng và cổ họng, nhưng không lây nhiễm trong máu hoặc các cơ quan nội tạng như tim hoặc phổi.

HPV có thể lây lan từ người này sang người khác trong quá trình tiếp xúc da kề da. Một cách lây lan HPV là thông qua quan hệ tình dục, bao gồm cả quan hệ tình dục qua đường âm đạo, hậu môn và thậm chí bằng miệng.

Các loại HPV khác nhau gây ra mụn cóc trên các bộ phận khác nhau của cơ thể. Mụn cóc thường gặp ở tay và chân; một số khác có xu hướng bị mụn cóc trên môi hoặc lưỡi.

Nhiễm HPV là phổ biến và ở hầu hết mọi người, cơ thể có thể tự đào thải. Tuy nhiên, đôi khi, nhiễm virus không mất đi và trở thành mãn tính. Nhiễm bệnh mãn tính, đặc biệt là khi nó do một số loại HPV nguy cơ cao gây ra, có thể là nguyên nhân gây ra một số bệnh ung thư, như ung thư cổ tử cung.

1.1.2 Tiền sử tình dục

Quan hệ tình dục ở độ tuổi trẻ (đặc biệt là dưới 18 tuổi)

Có nhiều bạn tình

Có một bạn tình có nguy cơ cao (người bị nhiễm HPV hoặc có nhiều bạn tình)

1.1.3 Hút thuốc

Khi ai đó hút thuốc, họ và những người xung quanh bị phơi nhiễm với nhiều hóa chất gây ung thư ảnh hưởng đến các cơ quan khác ngoài phổi. Những chất có hại này được hấp thụ qua phổi và theo máu đi khắp cơ thể.

Phụ nữ hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao gấp đôi so với người không hút thuốc. Sản phẩm từ thuốc lá đã được tìm thấy trong chất nhầy cổ tử cung của phụ nữ hút thuốc. Các nhà nghiên cứu tin rằng những chất này phá hủy DNA của các tế bào cổ tử cung và có thể góp phần gây ra ung thư cổ tử cung. Hút thuốc cũng làm cho hệ thống miễn dịch kém hiệu quả trong việc chống lại lây nhiễm HPV.

1.1.4 Hệ thống miễn dịch suy yếu

Một nhóm phụ nữ khác có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung là những người dùng thuốc ức chế đáp ứng miễn dịch, chẳng hạn như những người đang điều trị bệnh tự miễn (bệnh mà hệ thống miễn dịch xem các mô của cơ thể mình là vật lạ và tấn công chúng, xem chúng như là mầm bệnh ) hoặc những người đã được cấy ghép nội tạng.

1.1.5 Nhiễm Chlamydia

Một số nghiên cứu đã cho thấy nguy cơ ung thư cổ tử cung cao hơn ở những phụ nữ có xét nghiệm máu và chất nhầy cổ tử cung có bằng chứng về nhiễm Chlamydia (trong quá khứ hoặc hiện tại). Một số nghiên cứu chỉ ra rằng vi khuẩn Chlamydia có thể giúp HPV phát triển và sống trong cổ tử cung và có thể làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung.

1.1.6 Sử dụng lâu dài thuốc tránh thai đường uống

1.1.7 Mang thai nhiều lần

Phụ nữ đã mang thai đủ 3 lần trở lên có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao hơn. Người ta cho rằng điều này có lẽ là do sự gia tăng phơi nhiễm HPV với hoạt động tình dục. Ngoài ra, các nghiên cứu đã chỉ ra những thay đổi nội tiết tố trong thai kỳ có thể khiến phụ nữ dễ bị nhiễm HPV hoặc hình thành ung thư. Số khác nghĩ rằng phụ nữ mang thai có thể có hệ thống miễn dịch yếu hơn, tạo điều kiện cho phơi nhiễm HPV và phát triển ung thư.

1.1.8 Tuổi mang thai trẻ

Phụ nữ dưới 20 tuổi khi mang thai đủ tháng lần đầu tiên có khả năng bị ung thư cổ tử cung hơn so với những phụ nữ mang thai từ 25 tuổi trở lên.

1.1.9 Tình trạng kinh tế

1.1.20 Chế độ ăn ít trái cây và rau quả

Phụ nữ có chế độ ăn kiêng không đủ trái cây và rau quả có thể tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung.

– DES là một loại thuốc nội tiết được dùng cho một số phụ nữ trong khoảng thời gian từ 1938 đến 1971 để ngừa sảy thai. Phụ nữ có mẹ sử dụng DES (khi mang thai) có nguy cơ phát triển ung thư biểu mô tế bào sáng (clear-cell adenocarcinoma) của âm đạo hoặc cổ tử cung hơn. Những loại ung thư này cực kỳ hiếm gặp ở những phụ nữ không phơi nhiễm với DES. Có khoảng 1 trường hợp ung thư biểu mô tế bào sáng âm đạo hoặc cổ tử cung trong mỗi 1.000 phụ nữ có mẹ đã sử dụng DES trong khi mang thai. Điều này có nghĩa là khoảng 99,9% “con gái DES” không mắc các ung thư này.

Có tiền sử gia đình bị ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung có thể xảy ra ở một số gia đình. Nếu mẹ hoặc chị gái bạn bị ung thư cổ tử cung, khả năng bạn mắc bệnh sẽ cao hơn nếu không có ai trong gia đình mắc bệnh. Một số nhà nghiên cứu nghi ngờ rằng một số trường hợp hiếm gặp có xu hướng gia đình này là do một tình trạng di truyền khiến một số phụ nữ ít có khả năng chống lại nhiễm HPV hơn những người khác. Trong các trường hợp khác, phụ nữ trong cùng một gia đình với bệnh nhân đã được chẩn đoán có thể có nhiều khả năng có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ không di truyền khác.

Một số nghiên cứu cho thấy những phụ nữ đã từng sử dụng dụng cụ tử cung (DCTC) có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung thấp hơn. Điều này được thấy ngay cả ở những phụ nữ sử dụng vòng tránh thai dưới một năm và hiệu quả bảo vệ vẫn còn sau khi không dùng vòng tránh thai.

Không có cách nào để ngăn ngừa hoàn toàn ung thư. Nhưng có những điều bạn có thể làm để giảm nguy cơ. 2 điều quan trọng nhất bạn có thể làm để ngăn ngừa ung thư cổ tử cung là tiêm vắc-xin HPV nếu bạn đủ điều kiện và được xét nghiệm theo khuyến cáo của các chuyên gia.

Dạng ung thư cổ tử cung phổ biến nhất bắt nguồn từ những thay đổi tiền ung thư và có nhiều cách để ngăn chặn chúng phát triển. Cách đầu tiên là tìm và điều trị tổn thương tiền ung thư trước khi chúng phát triển thành ung thư xâm lấn, và cách thứ hai là ngăn ngừa tiền ung thư.

Một cách rõ ràng để ngăn ngừa ung thư cổ tử cung là làm xét nghiệm sàng lọc. Sàng lọc là các xét nghiệm để tìm ra các tình trạng có thể dẫn đến ung thư và tìm tổn thương tiền ung thư trước khi chúng có thể trở thành ung thư xâm lấn. Xét nghiệm Pap (hoặc Pap smear) và xét nghiệm papillomavirus ở người (HPV) là các xét nghiệm đặc hiệu được sử dụng trong quá trình sàng lọc ung thư cổ tử cung. Nếu phát hiện tiền ung thư, nó có thể được điều trị, giữ cho nó không trở thành ung thư cổ tử cung.

Xét nghiệm Pap hoặc phết tế bào là một phương pháp được sử dụng để thu thập các tế bào từ cổ tử cung, chúng được phân tích kỹ lưỡng bằng kính hiển vi trong phòng thí nghiệm để tìm ung thư và tiền ung thư. Điều quan trọng cần biết là hầu hết các bệnh ung thư cổ tử cung xâm lấn được tìm thấy ở những phụ nữ không được xét nghiệm Pap thường xuyên. Xét nghiệm Pap có thể được thực hiện trong khi khám phụ khoa, nhưng không phải tất cả các xét nghiệm phụ khoa đều bao gồm xét nghiệm Pap.

Xét nghiệm HPV có thể được thực hiện đồng thời khi lấy mẫu làm xét nghiệm Pap. Xét nghiệm HPV kiểm tra xem có nhiễm HPV hay không, là một trong những nguyên nhân có thể dẫn đến tiền ung thư.

Dựa vào tuổi tác, sức khỏe tổng thể và nguy cơ cá nhân đối với ung thư cổ tử cung, có một số điều có thể được thực hiện để ngăn ngừa tiền ung thư và các tình trạng dẫn đến tiền ung thư.

Những loại vắc-xin này chỉ có tác dụng ngăn ngừa lây nhiễm HPV – mà không điều trị lây nhiễm đã có sẵn. Đó là lý do tại sao, để có hiệu quả nhất, nên tiêm vắc-xin trước khi tiếp xúc với HPV (như quan hệ tình dục). Những vắc-xin này giúp ngăn ngừa tiền ung thư và ung thư cổ tử cung. Một số vắc-xin HPV cũng được phê duyệt để giúp ngăn ngừa các loại ung thư khác và mụn cóc sinh dục và hậu môn.

Các vắc-xin này cần một số các mũi tiêm, tác dụng phụ thường nhẹ. Phổ biến nhất là đỏ, sưng và đau nhức thời gian ngắn tại chỗ tiêm. Hiếm khi, ở người trẻ tuổi có thể bị ngất ngay sau khi tiêm.

Trung tâm phòng ngừa và kiểm soát bệnh tật khuyến nghị:

Tiêm vắc-xin HPV bắt đầu khi 11 hoặc 12 tuổi (hoặc có thể được tiêm sớm khi 9 tuổi).

Nếu chưa được tiêm phòng, mọi người đều có thể chủng ngừa trong vòng 26 tuổi. Điều quan trọng cần biết là tiêm vắc-xin khi lớn tuổi sẽ ít hiệu quả hơn trong việc giảm nguy cơ ung thư.

Tiêm vắc-xin không được khuyến cáo cho những người trên 26 tuổi. Tuy nhiên, một số người trưởng thành từ 27 đến 45 tuổi chưa được tiêm vắc-xin có thể quyết định tiêm vắc-xin HPV sau khi nói chuyện với nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe về nguy cơ nhiễm HPV mới và lợi ích có thể của việc tiêm phòng. Tiêm vắc-xin HPV trong độ tuổi này có ít lợi ích hơn.

Điều quan trọng cần biết là không có loại vắc-xin nào bảo vệ hoàn toàn chống lại tất cả các chủng HPV gây ung thư, vì vậy vẫn cần sàng lọc ung thư cổ tử cung định kỳ.

HPV được truyền từ người này sang người khác trong quá trình tiếp xúc da kề da với vùng bị nhiễm bệnh trên cơ thể, bao gồm cả quan hệ tình dục qua đường âm đạo, hậu môn và qua miệng. Thậm chí có khả năng nhiễm trùng bộ phận sinh dục lây lan qua tiếp xúc tay với bộ phận sinh dục.

Ngoài ra, nhiễm HPV dường như có thể lây lan từ bộ phận này sang bộ phận khác. Điều này có nghĩa là nhiễm HPV có thể bắt đầu ở cổ tử cung và sau đó lan sang âm đạo và âm hộ.

Có thể rất khó để không tiếp xúc với HPV. Có thể ngăn ngừa nhiễm HPV bằng cách không cho phép người khác tiếp xúc với khu vực hậu môn hoặc bộ phận sinh dục, nhưng thậm chí sau đó bạn bị nhiễm bệnh mà không rõ vì sao.

Hạn chế số lượng bạn tình và tránh quan hệ tình dục với những người đã có nhiều bạn tình khác có thể làm giảm nguy cơ tiếp xúc với HPV. Hãy nhớ rằng HPV rất phổ biến, và ai đó có thể bị nhiễm HPV trong nhiều năm và vẫn không có triệu chứng. Vì vậy, có khả năng những người này mang HPV và lây truyền nó mà không biết.

Bao cao su giúp bảo vệ chống lại HPV nhưng chúng không thể ngăn ngừa hoàn toàn lây nhiễm, lý do là vì chúng không bao phủ tất cả các khu vực bị nhiễm HPV, chẳng hạn như da của bộ phận sinh dục hoặc vùng hậu môn. Tuy nhiên, bao cao su giúp bảo vệ chống HPV và chúng cũng bảo vệ lây nhiễm HIV và một số bệnh lây truyền qua đường tình dục khác.

Không hút thuốc là cần thiết để giảm nguy cơ tiền ung thư và ung thư cổ tử cung.

Những đối tượng nên sử dụng Gói tầm soát và phát hiện sớm ung thư phụ khoa bao gồm:

Những khách hàng nữ, trên 40 tuổi

Khách hàng có nhu cầu có thể sàng lọc bệnh lý về ung thư vú- phụ khoa (cổ tử cung, tử cung, buồng trứng)

Khách hàng có nguy cơ cao mắc các bệnh về ung thư – đặc biệt là khách hàng tiền sử gia đình có bệnh lý ung thư vú, phụ khoa

Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, tiền mãn kinh và mãn kinh

Phụ nữ đang có triệu chứng nghi ngờ ung thư vú, phụ khoa như : đau ở vú, có cục u ở vú, chảy máu ngoài chu kỳ kinh nguyệt, đau vùng bụng, vv…

Để đăng ký khám và điều trị tại Bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec Quý khách có thể liên hệ Hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc hoặc đăng ký khám trực tuyến TẠI ĐÂY.

Bài viết tham khảo nguồn: Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ

XEM THÊM:

Các Yếu Tố Nguy Cơ Ung Thư Phổi / 2023

1. Thuốc lá, xì gà và hút thuốc lào:

Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với ung thư phổi. Thuốc lá, xì gà và hút thuốc lào đều làm tăng nguy cơ ung thư phổi.

Các nghiên cứu cũng cho thấy nguy cơ ung thư phổi do hút thuốc lá tăng theo số lượng thuốc lá hút mỗi ngày và số năm hút thuốc. Những người hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư phổi cao gấp 20 lần so với những người không hút thuốc.

2. Khói thuốc:

Tiếp xúc với khói thuốc lá thụ động cũng là một yếu tố nguy cơ ung thư phổi. Khói thuốc là khói bốc ra từ thuốc lá đang cháy hoặc sản phẩm thuốc lá khác, hoặc bốc ra bởi những người đang hút thuốc. Những người hít phải khói thuốc lá tiếp xúc với các tác nhân gây ung thư giống như những người hút thuốc, mặc dù với số lượng nhỏ hơn. Hít khói thuốc lá được gọi là hút thuốc không tự nguyện hoặc thụ động.

3. Tiền sử gia đình:

Có tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư phổi là yếu tố nguy cơ gây ung thư phổi. Những người có người thân bị ung thư phổi có thể bị ung thư phổi cao gấp đôi so với những người không có người thân bị ung thư phổi. Bởi vì hút thuốc lá có xu hướng tăng trong các gia đình và các thành viên gia đình tiếp xúc với khói thuốc lá, thật khó để biết liệu nguy cơ ung thư phổi gia tăng là từ tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư phổi hay do tiếp xúc với khói thuốc lá.

4. Nhiễm HIV:

5. Yếu tố rủi ro môi trường:

Phơi nhiễm phóng xạ: Tiếp xúc với bức xạ là yếu tố nguy cơ gây ung thư phổi. Bức xạ bom nguyên tử, xạ trị, chẩn đoán hình ảnh và radon là nguồn tiếp xúc với bức xạ

Bức xạ bom nguyên tử: Tiếp xúc với bức xạ sau vụ nổ bom nguyên tử làm tăng nguy cơ ung thư phổi.

Xạ trị: Liệu pháp xạ trị vào ngực có thể được sử dụng để điều trị một số bệnh ung thư, như ung thư vú và ung thư hạch biểu hiện tại trung thất. Xạ trị sử dụng tia X, tia gamma hoặc các loại phóng xạ khác có thể làm tăng nguy cơ ung thư phổi. Liều lượng phóng xạ nhận được càng cao, nguy cơ càng cao. Nguy cơ ung thư phổi sau xạ trị cao hơn ở những bệnh nhân hút thuốc so với những người không hút thuốc.

Chẩn đoán hình ảnh: Các chỉ định chẩn đoán hình ảnh, chẳng hạn như chụp CT, cho bệnh nhân tiếp xúc với bức xạ. Chụp CT xoắn ốc liều thấp làm cho bệnh nhân tiếp xúc với bức xạ ít hơn so với chụp CT liều cao hơn. Trong sàng lọc ung thư phổi, việc sử dụng CT scan xoắn ốc liều thấp có thể làm giảm tác hại của bức xạ.

Radon: Radon là một loại khí phóng xạ xuất phát từ sự phân hủy uranium trong đá và đất. Nó thấm qua mặt đất và rò rỉ vào không khí hoặc nguồn nước. Radon có thể vào nhà thông qua các vết nứt trên sàn, tường hoặc nền móng và mức độ radon có thể tích tụ theo thời gian.

Phơi nhiễm nơi làm việc: Các nghiên cứu cho thấy rằng việc tiếp xúc với các chất sau đây làm tăng nguy cơ ung thư phổi:

Amiăng.

Asen.

Crom.

Niken.

Beryllium.

Cadmium.

Tar và bồ hóng.

Những chất này có thể gây ung thư phổi ở những người tiếp xúc với chúng tại nơi làm việc và chưa bao giờ hút thuốc. Khi mức độ tiếp xúc với các chất này tăng lên, nguy cơ ung thư phổi cũng tăng theo. Nguy cơ ung thư phổi thậm chí còn cao hơn ở những người tiếp xúc và hút thuốc.

6. Ô nhiễm không khí:

Các nghiên cứu cho thấy sống ở những khu vực có mức độ ô nhiễm không khí cao hơn làm tăng nguy cơ ung thư phổi.

7. Bổ sung beta carotene ở người nghiện thuốc lá nặng

Uống bổ sung beta carotene (thuốc viên) làm tăng nguy cơ ung thư phổi, đặc biệt ở những người hút thuốc hút một hoặc nhiều gói mỗi ngày. Nguy cơ cao hơn ở những người hút thuốc có ít nhất một thức uống có cồn mỗi ngày.

Nguồn: cancer.net