Top 6 # Xem Nhiều Nhất Yoga Điều Trị Ung Thư Vú Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Growcaohonthongminhhon.com

Yoga Đem Lại Nhiều Lợi Ích Cho Người Bị Ung Thư Vú

Một nghiên cứu mới của Mỹ cho thấy rằng yoga có thể có lợi cho những người bị ung thư vú bằng cách giảm mệt mỏi và viêm. Yoga có rất nhiều dạng bài tập luyện, các nhà nghiên cứu tin rằng bài tập thở và thiền định có thể có tác động lớn nhất đến những người bị ung thư làm giảm mệt mỏi và viêm.

Vào buổi cuối của tuần thứ 12 tại các lớp học yoga, một nhóm phụ nữ đã hoàn thành khóa học, còn một nhóm phụ nữ khác đã hoàn thành điều trị ung thư vú, bao gồm cả phẫu thuật và xạ trị. Kết quả cho thấy, nhóm được hướng dẫn tập Yoga trung bình đã giảm mệt mỏi 57% và giảm viêm đến 20%, so với một nhóm tương tự, không được hướng dẫn yoga.

Các nhà nghiên cứu cũng tìm thấy rằng những phụ nữ thực hành Yoga nhiều hơn thì kết quả nhận được sẽ tốt hơn. Họ báo cáo các kết quả của thử nghiệm ngẫu nhiên trên tạp chí Journal of Clinical Oncology.

Trưởng nhóm nghiên cứu Janice Kiecolt – Glaser, một giáo sư tâm thần học và tâm lý học tại Đại học bang Ohio ở Columbus, cho biết nghiên cứu cho thấy nhiều tháng thực hành yoga có thể có ích đáng kể cho những người bị ung thư vú. Cô cũng cho rằng việc này có thể có ích cho người đang trong tình trạng mệt mỏi và bị viêm khác.

Thử nghiệm lớn nhất về tác động của yoga đối với những người ung thư được biết đến bằng cách sử dụng các biện pháp sinh học

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng yoga có thể đem lại lợi ích cho bệnh nhân ung thư. Ví dụ, trong năm 2010, một nhóm nghiên cứu khác từ Mỹ báo cáo cách giảm mệt mỏi và cải thiện chất lượng giấc ngủ sau 4 tuần tập Yoga của những người bị ung thư, họ thấy phải dùng thuốc ngủ ít hơn và cải thiện được chất lượng cuộc sống.

Tuy nhiên, sau nghiên cứu mới này, các nhà nghiên cứu tin rằng nó là thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên lớn nhất được biết về hiệu quả của yoga đối với những người bị ung thư. Họ đã quyết định tập trung vào những người bị ung thư vú vì điều trị họ phải trải qua quá trình rất nghiêm ngặt và đòi hỏi phải cố gắng rất nhiều.

Trong nghiên cứu, các nhà nghiên cứu lựa chọn 200 phụ nữ đã trải qua điều trị ung thư vú và ngẫu nhiên xếp họ vào vào một trong hai nhóm can thiệp hoặc nhóm kiểm soát Những người tham gia ở độ tuổi 27-76 và đã hoàn thành phẫu thuật hoặc xạ trị trong khoảng 2 tháng đến 3 năm trước khi tham gia thử nghiệm, họ chưa hề tập yoga trước khi họ tham gia nghiên cứu.

Thử nghiệm thiết kế để có thể áp dụng đạt kết quả đối với những người bị bệnh ung thư khác

Họ cố tình tuyển chọn những người tham gia có sự kết hợp độ tuổi khác nhau, bị bệnh ung thư ở các giai đoạn khác nhau (từ 0 đến 3A), và những người đã trải qua một loạt các phương pháp điều trị, vì vậy họ có thể khái quát kết quả trên phạm vi rộng. Nhóm can thiệp được theo học 12 tuần Hatha yoga, mỗi tuần 2 buổi, mỗi buổi 90 phút, và cũng được khuyến khích thực hành ở nhà. Họ cũng lưu giữ một bản ghi tổng số buổi thực hành hàng tuần của họ.

Những người tham gia nhóm kiểm soát sẽ tham gia các lớp học yoga sau khi nghiên cứu đã hoàn thành và đã được yêu cầu không tập yoga trong khi chờ đợi. Kết quả của 2 nhóm được ghi nhận tại ba thời điểm trong thời gian nghiên cứu, một lần vào đầu, sau đó vào cuối 12 tuần của các lớp học yoga, và cuối cùng là 3 tháng sau đó.

Ở cả ba thời điểm, cả hai nhóm hoàn thành bảng câu hỏi để các nhà nghiên cứu đánh giá sự mệt mỏi, mức năng lượng, các triệu chứng của trầm cảm, chất lượng giấc ngủ, chế độ ăn uống và tập thể dục. Họ cũng đã lấy mẫu máu để đo lường mức độ của 3 loại protein gây viêm: interleukin-6 (IL -6), interleukin -1 beta (IL -1B ) và yếu tố gây hoại tử khối u -alpha (TNF- a). Đầu tiên họ đã được tiêm một hợp chất gây ra một phản ứng miễn dịch trước khi lấy các mẫu máu.

Giảm mệt mỏi, tăng sức sống và giảm các dấu hiệu viêm

Kết quả cho thấy ngay sau khi ngừng các lớp học yoga, các nhóm tập yoga báo cáo trung bình giảm 41% các triệu chứng mệt mỏi, và sức sống cao hơn 12%, so với nhóm không tập yoga. Cũng tại thời điểm này, nhóm tập yoga cho thấy trung bình các protein gây viêm thấp hơn nhóm kia: TNF -a thấp hơn 10%, IL -1B IL-6 thấp hơn 11%, và IL-1B thấp hơn15%.

Phân tích sâu hơn cho thấy nhóm tập yoga có sự cải thiện đáng kể về giấc ngủ so với nhóm kiểm soát. Kết quả này cũng cho thấy những phụ nữ tập yoga nhiều hơn thì cải thiện hơn về tình trạng mệt mỏi, sức sống, triệu chứng trầm cảm, kèm theo giảm tăng 2 protein gây viêm.

Giáo sư Kiecolt – Glaser nói: “Chúng tôi đã thực sự ngạc nhiên về các dữ liệu này bởi vì một số nghiên cứu gần đây về tập thể dục cho rằng: tập thể dục có thể không hẳn làm giảm viêm khớp, trừ đối với những người quá thừa cân hoặc có vấn đề về trao đổi chất. Trong nhóm này, những người phụ nữ không bị giảm cân, nhưng chúng tôi đã thấy dấu hiệu giảm viêm”

Có nhiều bài tập yoga, bao gồm thiền định, tập thở, kéo căng và nâng cao. Nhưng các nhà nghiên cứu nghĩ rằng đối với nghiên cứu này, các phần đem lại lợi ích nhất là thực hành thở và thiền định, như Giáo sư Kiecolt – Glaser giải thích: “Chúng tôi nghĩ rằng cải thiện giấc ngủ có thể chính là một phần của cơ chế dẫn đến những gì chúng tôi thấy. Khi người phụ nữ ngủ tốt hơn, tỷ lệ viêm có thể được hạ xuống. Khi giảm được mệt mỏi, phụ nữ sẽ tham gia vào các hoạt động khác theo thời gian. Vì vậy, yoga có thể đã cung cấp thêm một loạt lợi ích ngoài các bài tập yoga “

Điều Trị Xạ Trị Trong Ung Thư Vú

Ung thư vú (UTV) là bệnh ung thư (UT) phổ biến nhất và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do ung thư ở nữ giới. Theo GLOBOCAN 2012, trên toàn thế giới có 1.671.149 trường hợp ung thư vú mới được chẩn đoán và 521.907 phụ nữ tử vong do UTV, đứng hàng thứ 5 trong số các nguyên nhân gây tử vong do ung thư, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 39/100.000 phụ nữ. Tại Mỹ, năm 2016 có khoảng 249.260 ca mới mắc và 40.890 ca tử vong vì UTV. Các phương pháp chính điều trị ung thư vú kinh điển hiện nay bao gồm: Phẫu thuật, hóa chất, xạ trị, nội tiết. Trong thời gian gần đây, một số bệnh nhân ung thư vú có thể được chỉ định điều trị đích hoặc điều trị miễn dịch. Để đạt hiệu quả điều trị tối ưu, ung thư vú cần được điều trị đa mô thức kết hợp các phương pháp điều trị nêu trên.

Chỉ định xạ trị với bệnh nhân ung thư vú

Xạ trị là một trong những phương pháp chính điều trị ung thư vú sau khi đã điều trị phẫu thuật, hóa chất. Xạ trị được chỉ định trong một số các trường hợp:

Sau phẫu thuật bảo tồn tuyến vú, giúp giảm nguy cơ tái phát tại chỗ và hạch vùng.

Ung thư đã có di căn xa đến các vị trí khác như xương hoặc não.

Trong đó, kỹ thuật xạ trị được sử dụng phổ biến nhất là xạ trị chiếu ngoài (EBRT).

Thể tích điều trị

Xạ trị chiếu ngoài là loại xạ trị phổ biến trong điều trị ung thư vú. Chùm tia xạ phát ra từ một máy gia tốc tuyến tính sẽ chiếu vào các khu vực cần xạ trị theo chỉ định của bác sỹ chuyên khoa xạ trị. Thể tích cần điều trị phụ thuộc vào phương pháp phẫu thuật (phẫu thuật bảo tồn hay cắt bỏ toàn bộ tuyến vú), tình trạng di căn hạch nách, và giai đoạn bệnh.

Nếu đã cắt bỏ toàn bộ vú và không di căn hạch nách thì sẽ thể tích chiếu xạ bao gồm thành ngực, sẹo mổ và những vị trí chân dẫn lưu khi mổ.

Nếu phẫu thuật bảo tồn tuyến vú thì thể tích chiếu xạ bao gồm toàn bộ vú và nâng liều xạ vào khu vực giường khối u ( nơi khối u đã bị cắt bỏ) để giúp ngăn chặn tái phát tại chỗ.

Nếu có di căn hạch nách thì khu vực này cần được chiếu xạ. Trong hầu hết các trường hợp, khu vực xạ trị cũng bao gồm cả vùng hạch thượng đòn và hạch vú trong.

Thời gian điều trị

Xạ trị cho những bệnh nhân có chỉ định thường được thực hiện khi bệnh nhân đã hoàn tất quá trình điều trị phẫu thuật cho đến khi vết mổ đã lành, hoặc sau khi kết thúc hóa trị 4 -8 tuần và kéo dài trong 3 – 6 tuần.

Bệnh viện Trung ương quân đội 108 có trang bị các hệ thống máy xét nghiệm sàng lọc ung thư vú như siêu âm, chụp Xquang tuyến vú 3D (mammography), sinh thiết kim giúp phát hiện chẩn đoán sớm ung thư vú cho các phụ nữ có nguy cơ cao bị ung thư vú. Bệnh nhân sau đó được hội chẩn tiểu ban ung thư vú – phụ khoa để thống nhất chẩn đoán và kế hoạch điều trị. Viện Ung thư tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 được thành lập từ tháng 10/2028 đã giúp nâng cao chất lượng điều trị đa mô thức cho bệnh nhân ung thư vú.

Sau khi được phẫu thuật và hóa trị, nếu có chỉ định xạ trị bổ trợ, bệnh nhân ung thư vú sẽ được chuyển đến điều trị ngoại trú tại Khoa Xạ trị – Xạ phẫu. Bệnh nhân được hội chẩn tia xạ và chỉ định điều trị:

Xạ trị toàn bộ vú (trường hợp phẫu thuật bảo tồn): Xạ trị thường là 5 buổi 1 tuần, từ thứ 2 đến thứ 6 trong khoảng 5 – 6 tuần.

Xạ trị toàn bộ thành ngực: nếu đã phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn vú và không có hạch bạch huyết di căn thì thể tích xạ bao gồm toàn bộ thành ngực, có thể bao gồm cả sẹo mổ và chân dẫn lưu. Thời gian điều trị thường 5 ngày 1 tuần và kéo dài 5 – 6 tuần.

Xạ trị bổ trợ hạch vùng: Trong cả hai trường hợp phẫu thuật toàn bộ vú hay phẫu thuật bảo tồn tuyến vú, nếu có di căn hạch nách thì cần chiếu xạ vú/thành ngực và thượng đòn và/hoặc hạch vú trong cùng bên. Thời gian điều trị cũng thường 5 ngày một tuần trong 5 – 6 tuần.

Tại Khoa Xạ trị – Xạ phẫu, Viện Ung thư, Bệnh viện Trung ương quân đội 108 đã áp dụng kỹ thuật xạ trị giảm phân liều giúp thời gian điều trị rút ngắn chỉ còn 3 tuần, giảm chi phí điều trị và tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân điều trị ngoại trú. Với những bệnh nhân phẫu thuật bảo tồn và không di căn hạch nách, xạ trị giảm phân liều đã được chứng minh có tác dụng tương đương với xạ trị liều thông thường trong kiểm soát tái phát tại chỗ và đồng thời tác dụng phụ cũng ít hơn.

Một số tác dụng phụ của xạ trị trong ung thư vú

Viêm da do tia xạ.

Mệt mỏi.

Viêm phổi do tia xạ.

Bệnh mạch vành do tia xạ (ung thư vú trái).

Trong quá trình điều trị, bệnh nhân cần trao đổi mọi thắc mắc với bác sỹ và đội ngũ nhân viên y tế để được tư vấn về quy trình xạ trị và cách dự phòng, khắc phục những biến chứng do xạ trị ung thư vú.

Một số kĩ thuật xạ trị ung thư vú đang được sử dụng hiện nay tại Khoa Xạ trị – Xạ phẫu, Viện Ung thư, Bệnh viện Trung ương quân đội 108:

Kỹ thuật xạ trị 3D- CRT.

Kỹ thuật xạ trị field in filed, xạ trị điều biến liều (IMRT).

Kỹ thuật xạ trị quay điều biến thể tích (VMAT): với độ chính xác cao, giảm liều tia xạ cho cơ quan lành, thời gian điều trị nhanh. Đặc biệt kỹ thuật này được chỉ định trong ung thư vú trái để giảm liều chiếu xạ lên tim.

Một số bệnh nhân ung thư vú trái được điều trị bằng kĩ thuật xạ trị hít sâu nín thở (DIBH – Deep Inhale Breath Hold), giúp điều trị chính xác, giảm thiểu tối đa tác dụng phụ lên cơ quan lành đặc biệt là trên tim. Đây là một kỹ thuật cao, đòi hỏi hệ thống máy xạ trị tiên tiến đồng bộ cho phép thực hiện kỹ thuật beam hold, đồng thời đội ngũ bác sỹ, kĩ sư, kĩ thuật viên được đào tạo có trình độ chuyên môn cao. Kỹ thuật này đã được đưa vào điều trị tại khoa Xạ trị – Xạ phẫu từ năm 2018 trên hệ thống máy xạ trị -xạ phẫu TrueBeam STx với hệ thống theo dõi bề mặt quang học (OSMS – Optical Surface Monitoring System) và kính lười tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân theo dõi nhịp thở của mình và phối hợp tốt hơn trong điều trị. Khoa Xạ trị – Xạ phẫu, Viện Ung thư, Bệnh viện Trung ương quân đội 108 là một trong những trung tâm đầu tiện tại Việt Nam thực hiện thành công kỹ thuật này. Hiện nay kỹ thuật xạ trị hít sâu nín thở đã được thực hiện thường quy cho các bệnh nhân ung thư vú trái nhằm nâng cao chất lượng điều trị, giảm tác dụng phụ trên tim, phổi cho bệnh nhân.

Bệnh nhân ung thư vú trái được điều trị bằng kĩ thuật xạ trị hít sâu nín thở (DIBH) trên máy xạ trị – xạ phẫu TrueBeam STx tại khoa Xạ trị – Xạ phẫu, Viện Ung thư, Bệnh viện Trung ương quân đội 108

Bệnh nhân cần tư vấn về xạ trị ung thư vú xin liên hệ Khoa Xạ trị – Xạ phẫu, Tầng hầm B2 Tòa nhà Trung tâm, Viện Ung thư, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Số 1 Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng, Hà Nội. Điện thoại: 024.62784163

Website: https://benhvien108.vn/gioi-thieu-khoa-xa-tri-xa-phau.htm

Fanpage: https://www.facebook.com/xatri108

Người viết bài: BS Nguyễn Thị Hà- Khoa Xạ trị – Xạ phẫu, Viện Ung thư, Bệnh viện Trung Ương Quân đội 108

Nguồn:

https://www.cancer.org/cancer/breast-cancer/treatment/radiation-for-breast-cancer.html

Bệnh Ung Thư Vú Và Cách Điều Trị Ung Thư Vú Hiệu Quả

Ở phụ nữ, ung thư vú đang là một trong những nguyên nhân gây tử vong cao nhất. Vào năm 1998, cơ quan Nghiên cứu Ung thư thế giới (IARC) đã đưa ra con số xuất độ chuẩn hóa theo tuổi của ung thư vú ở phụ nữ trên toàn thế giới là 67,48 (trên 100.000 dân). Con số này ở Hà Nội là 20,3 và ở thành phố Hồ Chí Minh là 16. Đây cũng là 2 thành phố có tần suất ung thư vú cao nhất nước ta.

Tỉ lệ mắc ung thư vú ở nữ giới tăng dần theo tuổi tác. Theo thống kê, tỉ lệ mắc ung thư vú trước tuổi 40 là 10%, trước tuổi 50 là 25% và sau tuổi 50 là trên 50%. Ở nam giới cũng có những trước hợp mắc ung thư vú tuy nhiên rất hiếm. So với phụ nữ, tỉ lệ mắc ung thư vú ở nam giới ít hơn 100 lần.

– Tiền căn thai sản;

– Tiền căn phơi nhiễm bức xạ vùng ngực;

– Những bệnh lý tuyến vú lành tính;

– Chế độ ăn uống và tình trạng thừa cân;

– Các liệu pháp nội tiết;

– Các nguy cơ mang tính gia đình;

Cách phòng tránh bệnh ung thư vú

– Duy trì trọng lượng của cơ thể ở mức cân bằng với chỉ số BMI dưới 25.

– Không uống hoặc hạn chế uống rượu bởi chất cồn sẽ khiến nguy cơ ung thư vú tăng 20-25%.

– Các chất phytochemical có nhiều trong rau quả đặc biệt là rau họ cải có tác dụng tốt trong việc bảo vệ cơ thể chống lại bệnh ung thư. Do đó, ăn càng nhiều trái cây và rau quả càng tốt.

– Kiểm soát chất béo của bạn: giảm tiêu thụ chất béo omega 6, chất béo bão hòa và chất béo trans, thay vào đó hãy tiêu thụ các chất béo omega 3 và các loại dầu không bão hòa đơn bởi những thực phẩm này có đặc tính chống ung thư.

– Kiểm soát lượng đường huyết: giảm tiêu thụ những thực phẩm có chỉ số đường huyết cao, thay vào đó là các sản phẩm giàu chất xơ và chất lignan như ngũ cốc nguyên hạt, cây họ đậu bởi chúng giúp hạn chế ung thư vú.

– Trong chế độ dinh dưỡng hàng ngày, nếu bạn thêm vào các chế phẩm từ đậu nành thì không chỉ giúp giảm cholesterol xấu, bổ sung đầy đủ dưỡng chất cho cơ thể mà còn giúp bạn ngừa được bệnh ung thư vú.

– Cẩn thận khi bổ sung estrogen thay thế.

– Phòng ngừa bệnh ung thư vú bằng thuốc.

– Duy trì một cuộc sống tích lực, lạc quan.

– Ung thư tại chỗ: điều trị chủ yếu là đoạn nhũ. Với phương pháp này tỉ lệ khỏi bệnh lên đến 99% và chỉ có 1-2% trường hợp tái phát.

– Phẫu thuật điều trị ung thư vú: Tuy mang lại kết quả nhưng phương pháp này khiến bầu ngực bị tàn phá làm mất thẩm mĩ nên ngày nay ít được sử dụng.

– Xạ trị: không chỉ giúp thu nhỏ khối ung thư, tiêu diệt các tế bào ung thư nhanh chóng mà phương pháp này còn giúp giảm nguy cơ tái phát ung thư vú. Đây cũng là một phần của phương pháp phẫu thuật bảo tồn.

– Liệu pháp toàn thân ngăn chặn triệt để ung thư vú: Do phải dùng hóa trị nên phương pháp này thường khiến bệnh nhân mệt mỏi. Tuy nhiên, xét về mặt lâu dài, đây vẫn là cơ hội cuối cùng của người bệnh.

– Sử dụng các sản phẩm từ thảo dược để hỗ trợ điều trị và phòng ngừa ung thư.

Trước khi quá muộn, hãy tầm soát ung thư vú thường xuyên đồng thời áp dụng các biện pháp phòng chống ung thư vú để đảm bảo mình luôn có một sức khỏe thật tốt.

Thu Thủy

Các Phương Pháp Điều Trị Ung Thư Vú

BVK – Ung thư vú là một căn bệnh vô cùng nguy hiểm đối với phụ nữ – đối tượng có nguy cơ mắc bệnh cao nhất. Tại Việt Nam, theo ước tính năm 2010, tỷ lệ mới mắc ung thư vú chuẩn theo tuổi là 29,9/100.000 phụ nữ, cũng trong năm 2010, ước tính có 12.533 ca mới mắc trong đó, giai đoạn sớm (I, II): 35,8%, giai đoạn muộn (III, IV): 64,2%. Năm 2018, tại Việt Nam ghi nhận 15.229 trường hợp mắc mới và 6.103 ca tử vong vì căn bệnh này. Giai đoạn 1: Giai đoạn xâm lấn

Đây là giai đoạn sớm nhất của ung thư vú. Có u rất nhỏ, đường kính lớn nhất chỉ khoảng 2cm hoặc nhỏ hơn. Không có hạch di căn tới vùng nách.

Giai đoạn 2: Giai đoạn phát triển

Ở giai đoạn 2A, các tế bào ung thư vú đang phát triển nhưng vẫn ít ảnh hưởng đến các cơ quan khác.

Chưa có dấu hiệu xuất hiện của u nguyên phát. Hạch nách di căn cùng bên và di động.

– Ban đầu có u nhỏ, đường kính ≤ 2cm. Có di căn hạch nách cùng bên, di động.

– U lớn dần và có đường kính từ 2-5cm. Không di căn tới hạch vùng.

Giai đoạn 2-B:

– U vẫn giữ kích thước như ở cuối giai đoạn IIA nhưng có di căn hạch nách cùng bên và di động.

– U lớn dần lên và có đường kính lớn hơn 5cm. Không còn di căn tới hạch vùng nách.

Giai đoạn 3: Giai đoạn lan rộng

Ở giai đoạn này, các tế bào ung thư đã phát triển mạnh và lan đến các hạch bạch huyết nhưng không lan sang các cơ quan khác. Giai đoạn này được chia thành ba loại: 3A, 3B và 3C, dựa trên kích thước khối u và khối lượng của hạch bạch huyết.

U nguyên phát không có dấu hiệu xuất hiện. Hạch di căn cùng bên dính nhau hoặc dính liền vào bộ phận khác, hoặc hạc có hạch di căn vú cùng bên nhưng không có di căn hạch nách.

– Có u nguyên phát đường kính từ 2 đến 5 cm. Có di căn hạch nách dính liền nhau cùng bên hoặc dính vào bộ phận xung quanh nó, hoặc có di căn hạch vú trong cùng bên nhưng không có hạch nách.

– U với mọi kích thước nhưng xâm lấn trực tiếp tới thành ngực hoặc da. Không di căn tới hạch vùng.

– U với mọi kích thước nhưng xâm lấn trực tiếp tới thành ngực hoặc da. Di căn hạch nách cùng bên, di động.

– Có u với nhiều kích thước và chúng trực tiếp xâm lần tới vùng thành ngực hoặc da vùng ngực. Có xuất hiện di căn hạch nách cùng bên dính liền nhau hoặc hạch dính liền với các khu vực xung quanh, hoặc di căn hạch vú trong cùng bên nhưng di căn hạch nách không có.

Giai đoạn 4: Giai đoạn di căn

– Có khối u với nhiều kích thước khác nhau. Hạ đòn xuất hiện hạch di căn hoặc trong vú có di căn hạch ở cùng một bên.

Ở giai đoạn 4, ung thư vú đã lan rộng hoặc di căn đến các cơ quan khác ở xa trong cơ thể, thường là xương, gan, não, hoặc phổi. Đây được gọi là giai đoạn ung thư vú di căn.

Dựa vào rất nhiều yếu tố như: giai đoạn bệnh; kích thước khối u, tình trạng sức khỏe của bệnh nhân mà bác sĩ sẽ đưa ra các phương pháp điều trị ung thư vú thích hợp. Vậy có những phương pháp nào dùng để điều trị ung thư vú?

Phẫu thuật

Các phương pháp điều trị ung thư vú bao gồm:

Phẫu thuật là việc thực hiện cắt bỏ khối u, các bác sĩ phẫu thuật loại bỏ các tế bào ung thư và chừa phần còn lại của vú. Đây là một sự lựa chọn khả thi khi khối u chưa lan rộng. Bac ssix có thể phẫu thuật chỉ loại bỏ khối u trong vú; hoặc cắt bỏ hoàn toàn tuyến vú. Phẫu thuật này nhằm loại bỏ toàn bộ vú có tế bào ung thư, các hạch bạch huyết dưới cánh tay, lớp thành ngoài cơ ngực.

Xạ trị

Tại bệnh viện K thông thường trước các ca phẫu thuật các bác sĩ sẽ tiến hành hội chẩn để đảm bảo vừa loại bảo khối u và tạo hình ngực cho bệnh nhân đảm bảo về tính thẩm mỹ.

Hóa trị

Xạ trị là sử dụng chùm tia năng lượng cao hoặc các dạng tia phóng xạ khác để tiêu diệt các tế bào ung thư hay ngăn ngừa chúng phát triển và giảm nguy cơ tái phát.

Liệu pháp hormone

Hóa trị là sử dụng thuốc để làm các tế bào ung thư ngừng phát triển. Phương pháp này có thể được sử dụng để làm giảm sự phát triển của khối u trước khi phẫu thuật loại bỏ. Hóa trị cũng có thể được dùng sau phẫu thuật để ngăn ngừa khối u tái phát triển.

Đây là liệu pháp sử dụng thuốc hoặc các hóa chất khác nhằm tiêu diệt tế bào ung thư mà không gây hại đến các tế bào khỏe mạnh xung quanh.

Tùy thuộc vào giai đoạn bệnh; kích thước khối u, tình trạng sức khỏe của bệnh nhân mà bác sĩ sẽ chỉ định một hoặc nhiều phương pháp kết hợp.