Đề Xuất 12/2022 # Ung Thư Vú Dạng Viêm / 2023 # Top 18 Like | Growcaohonthongminhhon.com

Đề Xuất 12/2022 # Ung Thư Vú Dạng Viêm / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Ung Thư Vú Dạng Viêm / 2023 mới nhất trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hiệu đính: chúng tôi Nguyễn Trần Bảo Chi Bài viết này mô tả ung thư vú dạng viêm, các triệu chứng, chẩn đoán và điều trị. Chúng tôi hi vọng rằng thông tin này giúp trả lời các thắc mắc của bạn và bạn được tham dự càng nhiều càng tốt vào các quyết định điều trị. Chúng tôi khuyến nghị đọc cùng với các cuốn sách “Điều trị ung thư vú nguyên phát” và “Ung thư vú và bạn: đối mặt với chẩn đoán, điều trị và tương lai”.

Ung thư vú dạng viêm là gì?

Ung thư vú dạng viêm là loại ung thư vú hiếm gặp và phát triển nhanh. Ung thư vú dạng viêm có tên như vậy vì da của vú thường nhìn có màu đỏ và bị viêm, gây ra bởi các tế bào ung thư vú làm tắc các mạch bạch huyết tí hon trong vú và da. Các mạch bạch huyết là một phần của hệ thống bạch huyết.

Hệ thống bạch huyết được hình thành từ một mạng lưới các mạch (tương tự các mạch máu) nối với các nhóm hạch bạch huyết nằm trong toàn cơ thể. Hệ thống bạch huyết làm việc gần gũi với hệ thống máu để duy trì sự cân bằng chất dịch trong các mô của cơ thể bằng cách thoát dịch, lọc và vận chuyển dịch bạch huyết đi khắp cơ thể.

Các dấu hiệu và triệu chứng của ung thư vú dạng viêm

Các triệu chứng ung thư vú dạng viêm có thể phát triển rất nhanh. Có thể có hiện diện khối bướu hoặc không có. Các triệu chứng có thể gồm:

Vú có màu đỏ, ấm hoặc sưng lên

Da của vú đổi màu hoặc trông giống bị bầm tím

Xuất hiện vết lõm hoặc dày da hoặc vú trông sần sùi giống như vỏ quả cam (hay còn gọi là dấu “da cam”)

Vú to lên

Vú đau hoặc nhạy cảm đau

Ngứa mãi không hết

Núm vú bị tụt xuống

Sưng hoặc có cục ở nách hoặc cung quanh xương đòn.

Ung thư vú dạng viêm được chẩn đoán như thế nào?

Ung thư vú dạng viêm đôi khi khó chẩn đoán, bởi vì những triệu chứng này tương tự như trạng thái lành tính (không phải ung thư) như viêm vú và áp xe vú – là các bệnh thường được điều trị bằng kháng sinh.

Nếu bạn được chỉ định thuốc kháng sinh nhưng các triệu chứng không giảm đi thì bạn sẽ được giới thiệu tới phòng khám vú, tại đó bạn có thể được làm vài xét nghiệm gồm:

Chụp X-quang tuyến vú

Siêu âm – sử dụng sóng âm cao tần để tạo ra ảnh

Sinh thiết – Lấy mô vú ra để quan sát dưới kính hiển vi. Có thể sinh thiết bằng kim. Bạn cũng có thể được sinh thiết bấm lấy ra một mẩu da tròn.

Nếu bạn bị chẩn đoán ung thư vú dạng viêm thì bạn có thể được làm thêm các xét nghiệm để kiểm tra xem ung thư đã lan ra ngoài vú hay chưa. Các xét nghiệm này gồm:

Chụp CT hay còn được gọi là CAT scan – sử dụng tia X để tạo ra các ảnh chi tiết toàn cơ thể

Xạ hình xương – kiểm tra toàn bộ bộ xương. Nó giúp nhận diện những thay đổi của xương gây ra bởi tổn thương, quá trình làm lành tổn thương hoặc bệnh như là ung thư.

Nếu bạn cần được làm các xét nghiệm này, nhóm bác sĩ điều trị sẽ giải thích thêm.

Ung thư vú dạng viêm vú được điều trị như thế nào?

Do ung thư vú dạng viêm có thể phát triển nhanh nên điều trị thường được bắt đầu càng sớm càng tốt. Điều trị thường bao gồm điều trị toàn cơ thể bằng các loại thuốc (điều trị toàn thân) cũng như điều trị vú bị ung thư và khu vực xung quanh vú (điều trị tại chỗ). Có thể sử dụng kết hợp hóa trị, phẫu thuật, xạ trị, điều trị nhắm trúng đích (đôi khi gọi là điều trị sinh học), nội tiết (hormone) và các thuốc bisphophonate phụ thuộc vào hiện trạng riêng từng cá nhân.

Hóa trị là điều trị dùng thuốc chống ung thư (thuốc độc tế bào) để tiêu diệt các tế bào ung thư. Đó là điều trị đầu tay cho ung thư vú dạng viêm trước phẫu thuật và gọi là hóa trị tân bổ trợ. Hóa trị được chỉ định để điều trị và làm giảm kích thước của khối u trong vú và để tiêu diệt các tế bào ung thư có thể đã lan tới nơi khác trong cơ thể.

Tiếp theo hóa trị, hầu hết mọi người sẽ được phẫu thuật. Thường thì cả vú được cắt bỏ kể cả khu vực núm vú (phẫu thuật đoạn nhũ). Bác sĩ phẫu thuật thường đồng thời sẽ vét tuyến bạch huyết tại hốc nách.

Nếu như bạn muốn tái tạo vú sau đoạn nhũ thì rất có thể bạn được tái tạo vú sau khi hoàn thành tất cả các điều trị, và được gọi là tái tạo vú trì hoãn.

Xạ trị sử dụng tia X năng lượng cao được tính toán và kiểm soát cẩn thận để tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại. Xạ trị thường được thực hiện sau hóa trị và phẫu thuật để điều trị ung thư vú dạng viêm. Khu vực điều trị thường bao gồm toàn bộ khu vực vú và cả khu vực phía trên xương đòn. Bạn cũng có thể được xạ trị vào nách và đôi khi vào hạch bạch huyết sau xương ức.

Để có thêm thông tin về xạ trị, đề nghị đọc cuốn sáchXạ trị cho ung thu vú nguyên phát.

Điều trị nhắm trúng đích (điều trị sinh học)

Đây là một nhóm thuốc chặn sự phát triển và lan rộng của ung thư. Chúng nhằm tới và can thiệp vào quá trình làm ung thư phát triển. Loại liệu pháp nhắm trúng đích bạn được chỉ định phụ thuộc vào các đặc điểm của ung thư vú.

Các liệu pháp nhắm trúng đích được sử dụng sử dụng phổ biến là cho ung thư vú dương tính HER2. HER2 là một protein giúp các tế bào ung thư phát triển.

Có nhiều xét nghiệm đo các mức độ HER2, được thực hiện trên mô vú lấy ra trong khi sinh thiết hoặc phẫu thuật. Chỉ những người mà ung thư vú có HER2 cao (gọi là dương tính HER2) sẽ được lợi từ liệu pháp đích.

Ví dụ về các liệu pháp đích cho ung thư vú dương tính HER2 gồm trastuzumab và pertuzumab.

Nếu ung thư vú của bạn âm tính HER2 thì các liệu pháp đích sẽ không có lợi ích.

Để có thêm thông tin đề nghị xem trên websitewww.breastcancenow.org/targeted-therapy.

Một số loại ung thư vú sử dụng chất estrogen trong cơ thể để giúp chúng phát triển và được gọi là ung thư vú dương tính thụ thể estrogen hay là ung thư vú ER+.

Các liệu pháp nội tiết chặn hoặc làm dừng ảnh hưởng của estrogen lên các tế bào ung thư vú. Các thuốc khác nhau của liệu pháp nội tiết làm việc này theo các cách khác nhau. Chỉ có thể chỉ định liệu pháp nội tiết nếu ung thư vú là ER+.

Nếu ung thư vú không được kích thích bằng estrogen thì gọi là âm tính thụ thể estrogen (ER-) và liệu pháp nội tiết không mang lại lợi ích.

Những phụ nữ tiền mãn kinh có ung thư vú dương tính thụ thể nội tiết cũng có thể được khuyến nghị ức chế buồng trứng. Ức chế buồng trứng là thuật ngữ dùng để mô tả các phương pháp điều trị làm buồng trứng dừng sản sinh ra estrogen, hoặc dừng tạm thời hoặc vĩnh viễn.

Các thuốc biphosphonate

Biphosphonate là nhóm thuốc có thể làm giảm nguy cơ ung thư vú lan tỏa ở những phụ nữ sau mãn kinh. Nhóm thuốc này có thể được dùng không tính đến mãn kinh xảy ra tự nhiên hay do điều trị ung thư vú.

Các thuốc bisphosphonate cũng có thể làm chậm hoặc ngăn ngừa tổn thương xương. Thuốc thường được chỉ định cho những người có nguy cơ bị loãng xương hoặc có nguy cơ loãng xương (khi mà xương mất sự chắc khỏe và trở nên dễ gãy).

Thuốc biphosphonate có thể được dùng ở dạng viên nén hoặc truyền tĩnh mạch.

Nhóm bác sĩ điều trị sẽ cho bạn biết thuốc biphosphonate có phù hợp với bạn hay không.

Bị chẩn đoán mắc ung thư vú dạng viêm có thể là một thời điểm khó khăn và thử thách. Có thể có nhiều thời điểm bạn cảm thấy cô đơn hoặc bị cô lập, đặc biệt ung thư vú dạng viêm là một dạng ung thư vú hiếm gặp. Nhiều người có thể hỗ trợ bạn, do vậy đừng ngại ngần yêu cầu giúp đỡ nếu bạn cần.

https://breastcancernow.org/sites/default/files/publications/pdf/bcc23_inflammatory_breast_cancer_2020_web.pdf

Tìm Hiểu Về Ung Thư Vú Dạng Viêm / 2023

Ung thư vú dạng viêm là một dạng bệnh hiếm gặp nhưng cũng có mức độ nguy hiểm cao. Do đó, việc tìm hiểu về dạng bệnh này của ung thu vú là điều cần thiết.

Ung thư vú dạng viêm là gì?

Ung thư vú dạng viêm – Hay còn gọi là Ung thư vú thể viêm (Viết tắt IBC) là một hình thái phát triển khá hiểm gặp và có tốc độ phát triển nhanh của bệnh ung thư vú. Khác với biểu hiện ban đầu của ung thư vú là xuất hiện một khối u ở ngực, ung thư vú dạng viêm thường bắt đầu từ tình trạng tấy đỏ và sung ở vú. Bệnh sẽ phát triển và lây lan với tốc độ nhanh, các triệu chứng của bệnh sẽ nhanh chóng được phát hiện, thậm chí chỉ sau vài ngày hoặc vài giờ. Tuy vậy, các phương pháp điều trị hiện đại ngày nay, người ta hoàn toàn có thể điều trị được IBC, nếu như được phát hiện và điều trị kịp thời.

Theo các nhà nghiên cứu, độ tuổi trung bình của những người thường mắc IBC là 57 tuổi. IBC thường có xu hướng bắt đầu từ những cảm giác nặng nề ở vú. Một số người bệnh thấy da vú bị ửng đỏ lên, bị viêm trên ngực. Người bệnh sẽ thấy vú bị sung lên do các tế bào ung thư phát triển làm nghẽn các hạch bạch huyết.

Vú bị đỏ: một phần hoặc toàn bộ vú bị đỏ lên, đôi khi triệu chứng này chỉ đến và biến mất.

Sưng vú: Một phần hoặc toàn bộ vú có thể bị sưng, mở rộng và cứng.

Cảm giác ấm ở vú: Phụ nữ có thể cảm thấy vú ấm hơn bình thường.

Da vú sần: Da ở vú có thể bị sần sùi giống vỏ quả cam.

Thay đổi da khác: da vú có thể có màu hồng hoặc tổn thương nhẹ, phát ban, …vv.

Sưng hạch bạch huyết: Các hạch bạch huyết dưới cánh tay hoặc trên xương đòn có thể sưng lên.

Thay đổi núm vú: Các núm vú có thể quay vào trong, hoặc bị dẹt ra.

Đau: ngực của bạn có thể bị đau.

Lưu ý với bạn rằng có một số triệu chứng ở trên khá giống với hiện tượng viêm vú, thường xảy ra ở những phụ nữ đang cho con bú do nhiễm trùng. Không giống như IBC, viêm vú có thể dễ dàng điều trị bằng kháng sinh. Tuy nhiên, để chắc chắn, chúng tôi khuyên bạn nên đi khám bác sỹ nếu thấy có nhiều hơn 1 triệu chứng ở trên xuất hiện.

Các phương pháp điều trị ung thư vú thể viêm

Các phương pháp điều trị ung thư vú viêm bao gồm hóa trị, phẫu thuật, xạ trị và phương pháp điều trị nhắm mục tiêu. Các phương pháp đôi khi được kết hợp với nhau để kiểm soát IBC tốt hơn. Sự khác biệt lớn nhất giữa điều trị IBC và các hình thức khác của bệnh ung thư vú là phẫu thuật không phải là phương pháp điều trị đầu tiên, mà có thể là hóa trị hoặc liệu pháp nhắm mục tiêu.

Ung Thư Vú Dạng Sàng / 2023

Ung thư vú dạng sàng là gì?

Ung thư vú dạng sàng là loại ung thư vú xâm lấn hiếm gặp, chiếm chưa tới 4% tất cả các trường hợp ung thư vú.

Một bác sĩ giải phẫu bệnh (bác sĩ xem xét mô lấy ra trong khi sinh thiết hoặc phẫu thuật) quan sát các tế bào ung thư dưới kính hiển vi để xem ung thư vú thuộc loại nào.

Ung thư vú dạng sàng có thể được tồn tại với các loại ung thư vú khác hoặc có thể là dạng sàng đơn thuần.

Các tế bào ung thư dạng sàng cũng có thể được phát hiện trong ung thư biểu mô ống tuyến vú tại chỗ (DCIS), một loại ung thư vú không xâm lấn.

Mặc dầu mỗi trường hợp là khác nhau, tiên lượng sau điều trị đối với ung thư vú dạng sàng nói chung là tốt, là do các tế bào gần như có độ mô học thấp và phát triển chậm. Độ mô học là hệ thống được sử dụng để phân loại các tế bào ung thư theo cách chúng nhìn khác tế bào thường như thế nào và chúng phát triển nhanh ra sao.

Các triệu chứng của ung thư vú dạng sàng là gì?

Những triệu chứng thường thấy của ung thư vú dạng sàng là một khối nhỏ hoặc một vùng dày da trên vú

Tuy nhiên, loại ung thư vú này thường được phát hiện trong sàng lọc vú thường quy trước khi có bất kỳ triệu chứng nào.

Ung thư vú dạng sàng được chẩn đoán thế nào?

Ung thư vú dạng sàng được chẩn đoán tương tự với các loại ung thư vú khác bằng các cận lâm sàng bao gồm:

Chụp X quang vú (chụp nhũ ảnh)

Siêu âm vú và vùng nách – sử dụng sóng siêu âm để tạo nên hình ảnh

Sinh thiết kim lõi u vú và/hoặc các hạch bạch huyết – sử dụng một kim rỗng để lấy một mẫu mô vú để quan sát dưới kính hiển vi

Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA) vú và/hoặc các bạch bạch huyết – sử dụng một kim nhỏ và bơm tiêm để lấy một mẫu tế bào quan sát dưới kính hiển vi.

Ung thư vú dạng sàng được điều trị như thế nào?

Cũng như với tất cả các loại ung thư vú, điều trị sẽ phụ thuộc vào các đặc điểm của ung thư vú dạng sàng (như là kích thước, độ mô học, tình trạng thụ thể nội tiết và tình trạng HER2).

Điều trị nhắm tới loại bỏ ung thư và làm giảm nguy cơ bệnh tái phát hoặc lan tới các bộ phận khác của cơ thể.

Phẫu thuật thường là điều trị đầu tay cho ung thư vú dạng sàng.

Có hai thể là:

Phẫu thuật bảo tồn, là phẫu thuật cắt rộng u vú sao cho diện cắt (-) nghĩa là không còn tồn tại tế bào ung thư vùng rìa.

Phẫu thuật đoạn nhũ, cắt toàn bộ tuyến vú bao gồm cả núm vú

Kiểu phẫu thuật phụ thuộc vào:

Vị trí khối u

kích thước khối u ung thư so với kích thước vú

Ung thư đơn ổ hay đa ổ.

Nếu bạn cần phẫu thuật đoạn nhũ, bạn thường được đề nghị tái tạo vú hoặc đồng thời với lúc phẫu thuật cắt vú (tái tạo tức thì) hoặc sau này (tái tạo trì hoãn).

Sau phẫu thuật bạn có thể cần các điều trị khác được gọi là điều trị bổ trợ và có thể gồm:

Mục đích của các điều trị này là để giảm nguy cơ các tế bào ung thư vú quay trở lại ở cùng vú hoặc ở vú đối diện hay lan tỏa tới nơi nào khác trong cơ thể.

Đôi khi liệu pháp hóa trị hoặc nội tiết có thể được chỉ định trước phẫu thuật, được gọi là liệu pháp tân bổ trợ.

Nếu bạn được phẫu thuật bảo tồn vú, bạn thường sẽ được xạ trị vào vú để giảm nguy cơ các tế bào ung thư vú quay trở lại cùng vú. Đôi khi bạn được xạ trị vào các hạch bạch huyết dưới cánh tay.

Đôi khi xạ trị vào thành ngực được đề nghị sau phẫu thuật đoạn nhũ, ví dụ khi một vài hạch bạch huyết dưới cánh tay có chứa tế bào ung thư.

Chất nội tiết nữ estrogen có thể thúc đẩy một số loại ung thư vú phát triển. Có nhiều liệu pháp nội tiết hoạt động theo nhiều cách khác nhau để chặn ảnh hưởng của estrogen lên các tế bào ung thư.

Liệu pháp nội tiết sẽ chỉ được chỉ định nếu ung thư vú có các thụ thể bên trong tế bào gắn với chất nội tiết estrogen, được gọi là ung thư vú dương tính thụ thể estrogen hay là ung thư vú ER+.

Ung thư vú xâm lấn được xét nghiệm để tìm thụ thể oestrogen bằng cách sử dụng mô lấy ra từ sinh thiết hoặc sau khi phẫu thuật. Khi estrogen gắn với các thụ thể này, nó có thể kích thích ung thư phát triển.

Nếu không tìm thấy các thụ thể estrogen thì ung thư vú được gọi là âm tính thụ thể estrogen hay là ER-.

Cũng có thể làm các xét nghiệm để tìm các thụ thể progesteron (một chất nội tiết khác).

Lợi ích của liệu pháp nội tiết thì ít có giá trị với những ung thư vú chỉ có thụ thể progesterone dương tính (PR+ và ER-). Rất ít ung thư vú thuộc loại này. Tuy nhiên, nếu bạn thuộc loại này thì bác sĩ sẽ lựa chọn 1 phương pháp nội tiết thích hợp.

Hóa trị tiêu diệt các tế bào ung thư bằng cách sử dụng các loại thuốc chống ung thư. Hóa trị được thực hiện để giảm nguy cơ ung thư vú quay trở lại hoặc lan tràn.

Ung thư dạng sàng thường không điều trị hóa trị. Loại ung thư vày ít di căn hạch nách và thường phát triển chậm hơn so với các loại ung thư vú khác

Liệu bạn có được hóa trị hay không phụ thuộc vào nhiều đặc tính khác nhau của ung thư gồm kích thước khối u ung thư, độ mô học, tình trạng thụ thể nội tiết và tình trạng HER2, và các hạch bạch huyết có bị di căn hay không.

Liệu pháp nhắm trúng đích (liệu pháp sinh học)

Đây là một nhóm thuốc chặn sự tăng trưởng và lan tỏa của ung thư. Chúng nhắm trúng và can thiệp vào các quá trình trong tế bào làm ung thư tăng trưởng.

Liệu pháp nhắm trúng đích được sử dụng rộng rãi nhất là trastuzumab (Herceptin). Chỉ những người mà ung thư có mức độ HER2 cao (được gọi là dương tính HER2) sẽ hưởng lợi từ điều trị bằng trastuzumab. HER2 là một protein làm tế bào ung thư tăng trưởng.

Có nhiều xét nghiệm để đo mức độ HER2 được thực hiện trên mô vú lấy ra trong sinh thiết hoặc phẫu thuật.

Ung thư vú dạng sàng nhiều khả năng âm tính HER2. Nếu bạn mắc ung thư vú âm tính HER2 thì trastuzumab không có bất kỳ lợi ích gì.

Các thuốc bisphosphonate là một nhóm thuốc có thể làm giảm nguy cơ ung thư vú lan tỏa ở phụ nữ sau mãn kinh. Thuốc có thể được sử dụng không tính đến liệu mãn kinh xảy ra tự nhiên hay do điều trị ung thư vú gây ra.

Các thuốc bisphosphonate cũng có thể làm chậm hoặc ngăn ngừa tổn thương xương. Thuốc thường được chỉ định cho những người có nguy cơ loãng xương (khi xương giảm độ chắc khỏe và nhiều khả năng bị gãy).

Các thuốc bisphosphonat có thể được dùng dưới dạng viên nén hoặc truyền tĩnh mạch.

Nhóm bác sĩ chuyên khoa có thể nói cho bạn biết liệu các thuốc bisphosphonate có phù hợp cho bạn hay không.

Tài liệu tham khảo

Cribriform breast cancer

Ung Thư Vú Dạng Viêm Là Gì, Dấu Hiệu, Chẩn Đoán, Cách Điều Trị / 2023

Mỗi năm tại Việt Nam có khoảng 12.000 ca được chẩn đoán mắc mới ung thư vú. Trong đó phổ biến nhất là hai hội chứng ung thư vú xâm lấn và ung thư vú không xâm lấn. Tuy nhiên ung thư vú dạng viêm thường rất hiếm gặp và có xu hướng phát triển nhanh, đột ngột hơn.

1. Ung thư vú dạng viêm là gì?

Theo nghiên cứu, có khoảng từ 75-80% các ca ung thư vú mắc mới được chẩn đoán là ung thư vú xâm lấn. Ung thư vú viêm (Inflammatory Breast Cancer – IBC) cũng chỉ là một trong số các trường hợp của ung thư vú xâm lấn. Tuy nhiên bệnh lý này rất hiếm gặp, với tỉ lệ chưa tới 3% trong tổng số các ca mắc ung thư vú được phát hiện.

Hội chứng IBC cần được điều trị kịp thời và tích cực (Nguồn: amazonaws.com)

Đa phần, các triệu chứng bao gồm sưng đỏ phần lớn diện tích vú, vùng da bị tổn thương gần giống với vỏ cam bị rỗ và lồi lõm. Đây là căn bệnh có nguy cơ lây lan và xâm lấn nhanh nên phải được phát hiện sớm và điều trị rất tích cực. Khối u có thể sưng tấy từ bên trong nhưng đôi khi bạn không thể cảm nhận được, cách duy nhất để kiểm tra là tiến hành khám sức khỏe tổng quát định kỳ từ 6 tháng/lần để phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

2. Ung thư vú dạng viêm có nguy hiểm không?

So với các loại ung thư vú khác, những người mắc IBC thường có độ tuổi trung bình thấp hơn, khoảng 52 tuổi. Vì triệu chứng không rõ ràng, khó kiểm tra, phát hiện nên những trường hợp mắc IBC thường đã ở giai đoạn muộn (3b) nên khả năng điều trị và hồi phục là tương đối khó khăn. Thậm chí, rất nhiều trường hợp chỉ phát hiện khi khối u đã di căn (giai đoạn IV).

IBC có diễn biến nhanh và nguy hiểm hơn so với ung thư vú thông thường (Nguồn: slideplayer.com)

3. Dấu hiệu của ung thư vú dạng viêm

Một trong những dấu hiệu ung thư vú dạng viêm đầu tiên là hiện tượng đỏ, sưng tấy gây đau rát. Vùng da bị tổn thương thường chiếm diện tích lớn, đôi khi xuất hiện các đốm màu tối hơn. Ngay khi phát hiện cần phải tiến hành khám chuyên khoa để xác định được nguồn bệnh.

3.2. Xuất hiện những đường vân hoặc vết hằn trên da vú

Đa số các trường hợp ung thư vú, ngoài việc sưng tấy, những vùng da trên ngực sẽ bị nổi các vết hằn, hoặc rỗ li ti giống như vỏ cam, quýt. Các triệu chứng này sẽ xuất hiện rất nhanh, có thể chỉ sau một đêm và kéo dài từ một tuần trở lên.

Dịch được tiết ra từ núm vú bất thường kèm một ít máu (Nguồn: blogspot.com)

4. Chẩn đoán ung thư vú viêm

Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh thông thường như siêu âm hay chụp XQ đều không thể phát hiện ra những khối u vú dạng viêm, đặc biệt đối với những bệnh nhân có mô vú dày đặc. Để xác định, các bác sĩ phải sử dụng thiết bị siêu âm quét bằng sóng âm thanh để tạo ra hình ảnh của mô vú. Vinmec là bệnh viện đầu tiên ở Việt Nam áp dụng việc sàng lọc ung thư bằng thiết bị siêu âm vú tự động Invenia ™ ABUS với độ chính xác cao và khả năng phát hiện tới 90% các dấu hiệu bất thường tại mô vú.

Bác sĩ sẽ lấy các mẫu nhỏ mô từ vú, sau đó sẽ được kiểm tra dưới kính hiển vi để sàng lọc các dấu hiệu của ung thư. Các bác sĩ cũng có thể lấy sinh thiết từ các hạch bạch huyết dưới cánh tay để xem có bất kỳ tế bào ung thư nào hiện diện không.

4.3. Chọc hút bằng kim nhỏ (FNA)

Sau khi xác định được các bất thường, các bác sĩ sẽ tiến hành một vài thủ thuật nhỏ được gọi chọc hút bằng kim mịn. Một chiếc kim rỗng sẽ được xuyên qua da vào vùng mô bị tổn thương hay khối u để lấy mẫu xét nghiệm. Phương pháp này thường được áp dụng đối với việc chẩn đoán ung thư vú và ung thư tuyến giáp.

Thực phẩm phòng chống ung thư vú (Nguồn: healthplus.vn)

5. Cách chữa ung thư vú dạng viêm

Hóa trị liệu là việc sử dụng thuốc chống ung thư (gây độc tế bào) để tiêu diệt các tế bào ung thư. Hóa trị giúp điều trị và kiểm soát khối u ở vú và giảm sưng tấy. Khi hóa chất di chuyển khắp cơ thể, cũng có thể điều trị bất kỳ vị trí tổn thương nào do các tế bào ung thư vú di căn gây ra.

Phương pháp hóa trị này được đưa ra trước khi phẫu thuật và thường bao gồm cả thuốc Anthracycline cùng Taxane. Các bác sĩ thường khuyên bệnh nhân của mình rằng họ nên thực hiện ít nhất 6 lần hóa trị bổ sung trong vòng 4 đến 6 tháng trước khi khối u được loại bỏ. Trong trường hợp tình trạng bệnh tiếp tục tiến triển các bác sĩ sẽ đưa ra lời khuyên không nên trì hoãn phẫu thuật.

Xạ trị là việc sử dụng tia X với năng lượng cao để tiêu diệt các tế bào ung thư, đồng thời gây hại ít nhất có thể đối với các tế bào bình thường. Xạ trị thường được áp dụng sau khi phẫu thuật cắt bỏ vú để giảm nguy cơ ung thư trở lại.

Liệu pháp điều trị bổ trợ có thể được đề xuất sau phẫu thuật để giảm nguy cơ tái phát ung thư. Liệu pháp này có thể bao gồm hóa trị liệu bổ sung, liệu pháp Hormone, liệu pháp mục tiêu ( Trastuzumab) hoặc một số cách kết hợp giữa các phương pháp điều trị này.

5.5. Phẫu thuật cắt bỏ khối u

Phẫu thuật tiêu chuẩn cho bệnh IBC là phẫu thuật cắt bỏ vú triệt để. Phương pháp này bao gồm việc cắt bỏ toàn bộ vú bị ảnh hưởng và hầu hết hoặc tất cả các hạch bạch huyết dưới cánh tay liền kề. Thông thường, lớp lót trên cơ ngực bên dưới cũng sẽ được loại bỏ, nhưng cơ ngực vẫn được giữ lại. Đôi khi, cơ ngực nhỏ hơn cũng có thể được loại bỏ. Cả trước và sau phẫu thuật, bệnh nhân cần được chăm sóc đặc biệt về sức khỏe cũng như bổ sung thực phẩm giàu dinh dưỡng tăng sức đề kháng và chóng hồi phục.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Ung Thư Vú Dạng Viêm / 2023 trên website Growcaohonthongminhhon.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!